BẤT CẬP, HẠN CHẾ TRONG CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CẤP TÍN DỤNG THEO YÊU CẦU PHÁT TRIỂN KINH TẾ XANH Một là, quan niệm về tín dụng xanh, định hướng xây dựng sản phẩm tín dụng xanh ở Việt N
Trang 1VỐN TÍN DỤNG CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ XANH
TỪ THỰC TIỄN PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Viên Thế Giang * , Võ Thị Mỹ Hương **
Tóm tắt: Việc chuyển đổi nền kinh tế nước ta sang nền kinh tế xanh là cần thiết, vì nền kinh tế nước
ta đã trải qua hơn 30 năm hoạt động theo cơ chế thị trường Để thực hiện thành công chiến lược phát triển kinh tế xanh cần phải dựa vào nguồn vốn tín dụng của các tổ chức tín dụng Để bảo đảm
sự tham gia của tổ chức tín dụng vào việc phát triển kinh tế xanh đòi hỏi pháp luật phải có quy định
về cấp tín dụng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xanh Trên cơ sở khảo sát nội dung quy định pháp luật hiện hành về cấp tín dụng, nghiên cứu này tập trung làm rõ những bất cập, hạn chế của pháp luật cấp tín dụng theo yêu cầu phát triển kinh tế xanh và đề xuất giải pháp khắc phục.
Từ khóa: Pháp luật cấp tín dụng, tín dụng xanh, kinh tế xanh.
1.KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KINH TẾ XANH VÀ TÍNH TẤT YẾU PHẢI CHUYỂN ĐỔI SANG MÔ HÌNH KINH TẾ XANH Ở VIỆT NAM
Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về kinh tế xanh và mỗi quốc gia, tùy thuộc vào điều kiện phát triển cũng định hình các hướng phát triển kinh tế xanh khác nhau Tuy nhiên, kinh tế xanh là gì vẫn chưa được định nghĩa và nhận thức một cách rõ ràng, đầy đủ, nhưng việc chuyển đổi sang mô hình kinh tế xanh được xem là chiến lược để các nước hướng tới phát triển bền vững, trong đó phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường được bảo đảm cân đối, hài hòa với nhau (Kim Ngọc, Nguyễn Thị Kim Thu, 2014, tr.10) Các quan điểm về kinh tế xanh thường được đề cập nhiều đến là: Quan điểm về kinh tế xanh của Ủy ban Kinh tế - Xã hội khu vực Châu Á Thái Bình Dương của Liên hợp quốc (ESCAP), quan điểm về kinh tế xanh của Chương trình môi trường Liên hợp quốc (UNEP), quan điểm về kinh tế xanh của OECD, quan điểm về kinh tế xanh của Liên minh Châu Âu…(Trần Ngọc Ngoạn, 2016, tr.8-15)
Kinh nghiệm của các quốc gia cho thấy hiện có một số cách tiếp cận để thúc đẩy tăng trưởng xanh,
đó là cách tiếp theo từng khu vực của nền kinh tế, hoặc đó là cách tiếp cận liên
ngành xuyên suốt các lĩnh vực như sử dụng hiệu quả tài nguyên, sản xuất và tiêu dùng bền vững (Kim Ngọc, Nguyễn Thị Kim Thu, 2015, tr.9-17) Tuy nhiên, với bất kì cách tiếp cận nào thì nội dung của tăng trưởng xanh chủ yếu bao gồm các vấn đề sau (Nguyễn Văn Huy, 2011):
(i) Sản xuất và tiêu dùng bền vững;
(ii) Giảm phát thải khí nhà kính và thích ứng với biến đổi khí hậu;
(iii) Xanh hóa các hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua phát triển công nghệ xanh, phát triển
* Trường Đại học Kinh tế TP HCM - Email: giangvt@ueh.edu.vn
** Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM
Trang 2các ngành công nghiệp cao, sử dụng ít tài nguyên, áp dụng các biện pháp sản xuất sạch;
(iv) Xây dựng cơ sở hạ tầng bền vững;
(v) Bảo vệ, khai thác và sử dụng hiệu quả tài nguyên;
(vi) Cải tổ và áp dụng các công 0cụ kinh tế;
(vii) Xây dựng và thực hiện các chỉ số sinh thái
Tại Việt Nam, yêu cầu phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường, sử dụng tiết kiệm nguồn tài nguyên thiên nhiên hay tăng trưởng kinh tế đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đã được ghi nhận trong nhiều văn kiện đảng và các nghị quyết chuyên đề của Ban chấp hành trung ương đảng1 Thể chế hóa quan điểm của Đảng, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản để thực thi quan điểm
về phát triển bền vững của Đảng, trong đó đáng chú ý là Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2050 Ban hành kèm theo Quyết định số 1393/QĐ-TTg ngày 25/9/2012 của Thủ tướng Chính phủ thể hiện rõ ràng yêu cầu phát triển nền kinh tế Việt Nam theo tiêu chí nền kinh tế xanh hay tăng trưởng xanh
Thực tiễn vận hành nền kinh tế nước ta thời gian qua cho thấy đã phát sinh nhiều hậu quả, nhất là tình trạng tài nguyên thiên nhiên bị suy thoái nghiêm trọng, tăng trưởng kinh tế còn nặng theo chiều rộng,
sử dụng năng lượng hóa thạch là nguyên liệu đầu vào, trong khi trình độ sử dụng công nghệ mới để giảm tiêu hao vật chất còn thấp Nhận thức và năng lực của toàn hệ thống (con người, cơ sở hạ tầng, tài chính và thể chế) còn thấp, làm cho những thói quen cũ trong sản xuất, đời sống và quản lý chậm thay đổi, phải có những chuyển biến mang tính chiến lược hơn
Ngoài ra, những công nghệ sản xuất cũ, lạc hậu còn phổ biến, công nghệ sản xuất năng lượng tái tạo chưa phát triển; trình độ phát triển khoa học công nghệ còn thấp… là những rào cản cơ bản cho việc chuyển đổi mô hình kinh tế Việt Nam theo yêu cầu tăng trưởng xanh Vì vậy, việc chuyển đổi mô hình kinh tế Việt Nam sang mô hình tăng trưởng xanh là cần thiết, phù hợp với xu hướng phát triển của thế giới
Tính tất yếu phải chuyển đổi sang mô hình kinh tế xanh ở Việt Nam có thể luận giải trên các khía cạnh sau đây:
Thứ nhất, quá trình chuyển đổi mô hình kinh tế Việt Nam đã trải qua 30 năm (1986-2016), Đảng ta
đã tiến hành tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn của quá trình đổi mới, trong đó có đổi mới
về kinh tế Lý luận và thực tiễn đổi mới đòi hỏi phải chuyển đổi mô hình kinh tế Việt Nam sang mô hình kinh tế xanh Sự chuyển đổi này được thể hiện như là sự phát triển về tư duy lý luận và phúc đáp những đòi hỏi từ thực tiễn phát triển Nói cách khác, phát triển kinh tế xanh là điều kiện quan trọng cho việc bảo đảm phát triển bền vững nền kinh tế trong giai đoạn chuyển đổi và hội nhập quốc
tế hiện nay
1 Xem cụ thể tại:
- Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010.
- Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020.
- Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15-11-2004 của Bộ Chính trị, nhằm tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước;
- Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 3-6-2013 về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo
vệ môi trường, tại Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI.
Trang 3Thứ hai, những hậu quả xấu phát sinh trong quá trình vận hành nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa ngày càng bộc lộ rõ nét, cần phải có những điều chỉnh để bảo đảm phát triển bền vững, trong đó, bảo vệ môi trường sử dụng nguồn nhiên liệu hóa thạch tiết kiệm, tăng cường sử dụng nguồn năng lượng tái tạo phải được thực hiện triệt để Muốn thực hiện mục tiêu này, nền kinh tế Việt Nam phải chuyển đổi sang mô hình kinh tế xanh với hệ thống sản xuất sạch và tiêu dùng bền vững
Thứ ba, những hiểm họa môi trường phát sinh từ hoạt động sản xuất kinh doanh phát sinh ngày càng
nhiều, quy mô và mức độ ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường tới đời sống sinh hoạt cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh của người dân ngày càng nghiêm trọng Để khắc phục hậu quả và chuyển hướng phát triển nền kinh tế theo hướng tăng trưởng xanh, yêu cầu sản xuất xanh, tiêu dùng bền vững, đổi mới công nghệ, tiết kiệm năng lượng và sử dụng năng lượng tái tạo là những giải pháp cơ bản, lâu dài, có ý nghĩa quyết định thực hành thành công chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh
Thứ tư, việc ban hành Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011-2020 và tầm nhìn đến
năm 2050 Ban hành kèm theo Quyết định số 1393/QĐ-TTg ngày 25/9/2012 của Thủ tướng Chính phủ
đã tạo lập cơ sở pháp lý cho tăng trưởng xanh ở Việt Nam Để thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2050 Ban hành kèm theo Quyết định số 1393/ QĐ-TTg ngày 25/9/2012 của Thủ tướng Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định số 403/QĐ-TTg ngày 20/3/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2014-2020 với những hoạt động, hoạt động ưu tiên và giải pháp thực hiện cho thấy quyết tâm của Chính phủ trong việc bảo đảm tăng trưởng xanh trong quá trình quản lý, điều hành nền kinh tế quốc dân
2 BẤT CẬP, HẠN CHẾ TRONG CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CẤP TÍN DỤNG THEO YÊU CẦU PHÁT TRIỂN KINH TẾ XANH
Một là, quan niệm về tín dụng xanh, định hướng xây dựng sản phẩm tín dụng xanh ở Việt Nam chưa
được quan tâm ở cả góc độ định hướng chính sách, cơ chế quản lý cũng như từ thực tiễn hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng Dưới góc độ định hướng chính sách và hoạt động quản lý, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành một số văn bản để thực hiện Quyết định 1393/QĐ-TTg ngày 25/9/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh; Quyết định 403/QĐ-TTg ngày 20/3/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2014-2020 trong ngành ngân hàng như:
- Quyết định số 1552/QĐ-NHNN ngày 6/8/2015 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Ban hành kèm theo Quyết định này Kế hoạch hành động của ngành ngân hàng thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh đến năm 2020
- Quyết định số 1604/QĐ-NHNN, ngày 7/8/2018 về việc phê duyệt Đề án phát triển ngân hàng xanh tại Việt Nam
- Chỉ thị số 3/CT-NHNN ngày 24/3/2015 về việc thúc đẩy tín dụng xanh và quản lý rủi ro môi trường
và xã hội trong hoạt động cấp tín dụng Chỉ thị này đặt ra mục tiêu và nhiệm vụ tổng quát là:
(i) Thực hiện Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh, ngay từ năm 2015, hoạt động cấp tín dụng của ngành ngân hàng cần chú trọng đến vấn đề bảo vệ môi trường, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, năng lượng; cải thiện chất lượng môi trường và bảo vệ sức khỏe con người, đảm bảo phát triển bền vững;
Trang 4(ii) Thực hiện rà soát, điều chỉnh và hoàn thiện thể chế tín dụng cho phù hợp với mục tiêu tăng trưởng xanh; tập trung nguồn lực để cấp tín dụng cho các dự án, phương án sản xuất kinh doanh thân thiện với môi trường và xã hội, góp phần hỗ trợ các doanh nghiệp thực hiện tăng trưởng xanh, qua
đó thực hiện được mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển kinh tế bền vững
Tuy nhiên, quan điểm, định hướng về tín dụng xanh mới chỉ thể hiện trong một văn bản điều hành của Ngân hàng Nhà nước là “chỉ thị”, là giải pháp mang tính tình thế; là sự “hưởng ứng”, cụ thể hóa
Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2014-2020 tại Quyết định số 403/QĐ-TTg ngày 20/3/2014 của Thủ tướng Chính phủ Trong khi đó, để bảo đảm phát triển tín dụng xanh cần phải được cụ thể hóa trong các văn bản quy phạm pháp luật, nhất là Luật các tổ chức tín dụng và các văn bản hướng dẫn thi hành về hoạt động cấp tín dụng Thực tiễn cho thấy, khi yêu cầu phát triển tín dụng xanh được quy định trong các văn bản pháp luật lúc đó việc cấp tín dụng cho các dự án sản xuất kinh doanh đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế xanh phải là trách nhiệm, nghĩa vụ của tổ chức tín dụng, là biện pháp để thực hiện trách nhiệm xã hội trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng Nói cách khác, định hướng nguồn vốn tín dụng phục vụ cho phát triển kinh tế xanh chưa được nhìn nhận như một định hướng chiến lược, một kế hoạch dài hạn với nhiều biện pháp cụ thể để thực hiện Đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng, các tổ chức tín dụng mới chỉ tập trung phát triển và đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng, đặc biệt là huy động vốn, cấp tín dụng, thanh toán với chất lượng cao và mạng lưới phân phối phát triển hợp lý nhằm cung ứng đầy đủ, kịp thời, thuận tiện các dịch vụ, tiện ích ngân hàng cho nền kinh tế trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; phát triển hệ thống dịch vụ ngân hàng đa dạng, đa tiện ích được định hướng theo nhu cầu của nền kinh
tế trên cơ sở tiếp tục nâng cao chất lượng và hiệu quả các dịch vụ ngân hàng truyền thống, đồng thời tiếp cận nhanh hoạt động ngân hàng hiện đại và dịch vụ tài chính, ngân hàng mới có hàm lượng công nghệ cao theo yêu cầu tại Chiến lược phát triển ngành ngân hàng đến năm 2010, tầm nhìn đến năm
2020 Sản phẩm tín dụng xanh chưa được các tổ chức tín dụng quan tâm xây dựng
Khi xác lập giao dịch cấp tín dụng đối với khách hàng, tổ chức tín dụng phải quan tâm tìm kiếm các
dự án đầu tư, kinh doanh khả thi nhằm bảo đảm thu hồi khoản tiền đã cấp tín dụng Luật các tổ chức tín dụng 2010 quy định khi xét duyệt cấp tín dụng, tổ chức tín dụng phải yêu cầu khách hàng cung cấp tài liệu chứng minh phương án sử dụng vốn khả thi, khả năng tài chính của mình, mục đích sử dụng vốn hợp pháp, biện pháp bảo đảm tiền vay trước khi quyết định cấp tín dụng2 Ngoài quy định về bảo đảm tiền vay, Luật các tổ chức tín dụng 2010 quy địnhtrong trường hợp khách hàng không trả được
nợ đến hạn, nếu các bên không có thỏa thuận khác thì tổ chức tín dụng có quyền xử lý nợ, tài sản bảo đảm tiền vay theo hợp đồng cấp tín dụng, hợp đồng bảo đảm và quy định của pháp luật3
Như vậy, các quy định pháp luật về cấp tín dụng hiện hành mới chỉ quan tâm đến khả năng thu hồi khoản tiền đã chuyển giao cho khách hàng, mà chưa quan tâm nhiều đến quy định về lựa chọn dự án đầu tư kinh doanh thân thiện với môi trường hoặc có mục đích bảo vệ môi trường Khi xem xét, thẩm định tín dụng, yếu tố môi trường chưa quy định là một trong những điều kiện để được cấp tín dụng cũng như trong quá trình giám sát việc sử dụng vốn vay, nhằm thúc đẩy các công nghệ, dự án, công nghiệp và kinh doanh có trách nhiệm với môi trường và công nghệ cac bon thấp
Hai là, phát triển kinh tế xanh chưa được đề cập trong các quy định của pháp luật về cấp tín dụng của
tổ chức tín dụng và khách hàng Cụ thể:
2 Khoản 1 Điều 94 Luật các tổ chức tín dụng 2010.
3 Khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng 2010.
Trang 5Pháp luật về cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng hiện hành chưa có quy định về hoạt động cho vay đối với dự án đầu tư, kinh doanh đáp ứng yêu cầu của phát triển kinh tế xanh mà chỉ quy định một nguyên tắc cho vay là “Hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng được thực hiện theo thỏa thuận giữa tổ chức tín dụng và khách hàng, phù hợp với quy định tại Thông tư về cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng và các quy định của pháp luật có liên quan bao gồm
cả pháp luật về bảo vệ môi trường”4 nên có thể suy luận, tổ chức tín dụng có thể cho bất kỳ khách hàng nào có nhu cầu vay vốn nếu không rơi vào những nhu cầu vốn không được cho vay Mặt khác, khái niệm “pháp luật về bảo vệ môi trường” cũng rất rộng, vì Luật bảo vệ môi trường 2014 quy định
về hoạt động bảo vệ môi trường; chính sách, biện pháp và nguồn lực để bảo vệ môi trường; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân trong bảo vệ môi trường5 Thông tư 7/2015/TT-NHNN ngày 25/6/2015 của Ngân hàng Nhà nước quy định về bảo lãnh ngân hàng cũng chỉ dừng lại ở việc quy định về nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.6 Yêu cầu về bảo lãnh ngân hàng phục vụ cho phát triển kinh tế xanh không được đê cập trong điều kiện để được cấp bảo lãnh7
Đối với hoạt động cho thuê tài chính được xác định là việc cấp tín dụng trung hạn, dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài chính và cũng chỉ đề cập đến điều kiện để được thực hiện hoạt động cho thuê tài chính.8
Đối với nghiệp vụ bao thanh toán; nghiệp vụ chiết khấu công cụ chuyển nhượng và các giấy tờ có giá khác,Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN ngày 6/9/2004 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Ban hành Quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng và Thông tư 4/2013/TT-NHNN ngày 1/3/2013 của Ngân hàng Nhà nước quy định về hoạt động chiết khấu công cụ chuyển nhượng và các giấy tờ có giá khác không có quy định ưu tiên hoặc đáp ứng điều kiện về môi trường để được tổ chức tín dụng bao thanh toán khi khách hàng có nhu cầu
Việc không quy định về phát triển kinh tế xanh trong pháp luật cấp tín dụng hiện hành sẽ dẫn tới hệ quả là tổ chức tín dụng có thể nói không đối với các dự án đầu tư kinh doanh đáp ứng yêu cầu phát
4 Khoản 1 Điều 4 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.
5 Điều 1 Luật Bảo vệ môi trường 2014.
6 Thông tư số 13/2017/TT-NHNN ngày 29-09-2017 của Ngân hàng Nhà nước sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư
số 07/2015/TT-NHNN ngày 25 tháng 6 năm 2015 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về bảo lãnh ngân hàng cũng không có quy định nào thể hiện nội dung TCTD bảo lãnh cho tổ chức, cá nhân phát triển kinh tế xanh được vay vốn ngân hàng để thực hiện các dự án đầu tư kinh doanh đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xanh.
7 Theo quy định tại Điều 10 Thông tư 07/2015/TT-NHNN ngày 25-6-2015 của Ngân hàng Nhà nước quy định về bảo lãnh ngân hàng thì Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài xem xét, quyết định cấp bảo lãnh, bảo lãnh đối ứng, xác nhận bảo lãnh cho khách hàng khi khách hàng có đủ các điều kiện sau đây:
- Có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật.
- Nghĩa vụ được bảo lãnh là nghĩa vụ tài chính hợp pháp.
- Được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cấp bảo lãnh đánh giá có khả năng hoàn trả lại số tiền mà tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải trả thay khi thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.
8 Điều 113 Luật các tổ chức tín dụng 2010 quy định một trong những điều kiện để được cấp tín dụng dưới hình thức cho thuê tài chính là:
- Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được nhận chuyển quyền sở hữu tài sản cho thuê hoặc tiếp tục thuê theo thỏa thuận của hai bên;
- Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được quyền ưu tiên mua tài sản cho thuê theo giá danh nghĩa thấp hơn giá trị thực tế của tài sản cho thuê tại thời điểm mua lại;
- Thời hạn cho thuê một tài sản phải ít nhất bằng 60% thời gian cần thiết để khấu hao tài sản cho thuê đó;
- Tổng số tiền thuê một tài sản quy định tại hợp đồng cho thuê tài chính ít nhất phải bằng giá trị của tài sản đó tại thời điểm
ký hợp đồng.
Trang 6triển kinh tế xanh Bởi lẽ, các dự án đầu tư kinh doanh theo yêu cầu tăng trưởng xanh đòi hỏi vốn đầu
tư lớn, thời gian thu hồi vốn chậm, hàm lượng khoa học công nghệ trong sản phẩm kinh tế xanh cao hơn… Do vậy, trong thực tiễn kinh doanh, các tổ chức tín dụng vẫn chú trọng vào việc tìm kiếm dự
án đầu tư kinh doanh có thời gian quay vòng vốn nhanh, khả năng thu hồi vốn được bảo đảm
Ba là, pháp luật cấp tín dụng hiện hành chưa có quy định về sản phẩm tín dụng cho tăng trưởng xanh Tăng trưởng tín dụng xanh mới chỉ dừng lại ở các biện pháp mang tính khuyến nghị chủ động triển khai xây dựng chương trình, chính sách tín dụng xanh nhằm tăng dần tỷ trọng tín dụng xanh trong cơ cấu danh mục đầu tư tín dụng của tổ chức tín dụng như:
(i) Xây dựng và triển khai thực hiện các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng tín dụng xanh nhằm khuyến khích hoạt động kinh doanh thân thiện với môi trường và xã hội: nghiên cứu và phát triển sản phẩm tín dụng xanh, triển khai các chương trình tín dụng có các chính sách khuyến khích đối với các dự án, phương án sản xuất kinh doanh có mục tiêu tăng trưởng xanh;
(ii) Cải thiện chất lượng dịch vụ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tăng trưởng tín dụng xanh, quan tâm tài trợ các dự án, phương án sản xuất kinh doanh thực hiện tăng trưởng xanh;
(iii) Tập trung ưu tiên cấp tín dụng xanh cho các ngành kinh tế thực hiện bảo tồn, phát triển và sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên; sử dụng các thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến; sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; sử dụng công nghệ, thiết bị thân thiện với môi trường, sản xuất những sản phẩm thân thiện với môi trường
Do đó, các tổ chức tín dụng chưa đầu tư phát triển sản phẩm tín dụng xanh đáp ứng yêu cầu cần tăng trưởng xanh ở nước ta hiện nay Việc không quy định về sản phẩm tín dụng xanh là rào cản rất lớn đối với tổ chức, cá nhân có nhu cầu vốn phục vụ cho tăng trưởng xanh
3 HOÀN THIỆN KHUÔN KHỔ PHÁP LUẬT BẢO ĐẢM NGUỒN VỐN TÍN DỤNG CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ XANH Ở VIỆT NAM
Một trong những nhiệm vụ của Ngân hàng Nhà nước được quy định Quyết định số 403/QĐ-TTg ngày 20/3/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2014 - 2020 là: Hoàn thiện thể chế và tăng cường năng lực hoạt động tài chính - tín dụng của các ngân hàng thương mại phục vụ tăng trưởng xanh với ba giải pháp được xác định là:
- Rà soát, điều chỉnh và hoàn thiện thể chế về tài chính và tín dụng cho phù hợp với những mục tiêu tăng trưởng xanh
- Tổ chức đào tạo, tập huấn nhằm tăng cường năng lực cho các ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính trong hoạt động tài chính - tín dụng xanh
- Xây dựng và phát triển các dịch vụ tài chính- ngân hàng hỗ trợ các doanh nghiệp thực hiện tăng trưởng xanh
Trong các giải pháp nêu trên thì việc rà soát, điều hỉnh và hoàn thiện thể chế về tài chính và tín dụng cho phù hợp với những mục tiêu tăng trưởng xanh, trong đó việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý nhằm bảo đảm nguồn vốn cho phát triển nền kinh tế xanh là cần thiết, vì thông qua hoạt động xây dựng pháp luật, chủ trương, chính sách về tăng trưởng xanh mới có thể đi vào cuộc sống
Từ định hướng chính sách, thực trạng pháp luật bảo đảm nguồn vốn tín dụng cho phát triển kinh tế xanh ở Việt Nam, chúng tôi khuyến nghị:
Trang 7Thứ nhất, Ngân hàng Nhà nước cần khẩn trương ban hành chính sách phát triển ngân hàng xanh và
tín dụng xanh, bởi lẽ, việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng và tài chính xanh có vai trò quan trọng, quyết định đến sự thành công của mô hình tăng trưởng xanh
Các tác giả Nguyễn Thị Minh Huệ, Trần Thị Thanh Tú cho rằng ngân hàng xanh được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp từ đó đưa ra mô hình ngân hàng xanh với năm cấp độ 9 Chúng tôi đồng tình về cách tiếp cận ngân hàng xanh phải tiếp cận theo nghĩa rộng Tuy nhiên, trong điều kiện Việt Nam hiện nay, cần tiếp cận từng bước theo hướng xây dựng ngân hàng xanh theo nghĩa hẹp, nghĩa là xác định cụ thể những ngành nghề lĩnh vực được ưu tiên cấp tín dụng nhằm hình thành mảng tín dụng xanh trong hoạt động cấp tín dụng của tổ chức tín dụng Khi tín dụng xanh đã được định hình sẽ tiến hành xây dựng ngân hàng xanh theo nghĩa rộng, tức là xây dựng ngân hàng phát triển bền vững
Thứ hai, luật hóa yêu cầu phát triển nền kinh tế xanh hay tăng trưởng xanh trong các văn bản pháp
luật về cấp tín dụng Các phân tích ở trên cho thấy, hiện nay, chưa có văn bản pháp luật nào quy định
về tín dụng xanh, hay quy định bảo đảm các vấn đề về môi trường, các yêu cầu phát triển bền vững, sản xuất xanh… Yêu cầu phát triển kinh tế xanh mới chỉ dừng lại ở định hướng chính sách thông qua các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, trong các văn bản điều hành (chỉ thị) của Ngân hàng Nhà nước Thực trạng này khó có thể hiện thực hóa bảo đảm nguồn tín dụng phục vụ phát triển nền kinh
tế xanh Để khắc phục nhược điểm này chúng tôi kiến nghị:
- Bổ sung nguyên tắc bảo vệ môi trường trong hoạt động cấp tín dụng Theo đó, các dự án đầu tư, kinh doanh có nhu cầu sử dụng vốn phải đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường hoặc gây thiệt hại cho môi trường thấp nhất
- Ưu tiên hỗ trợ về lãi suất và các điều kiện tiếp cận nguồn vốn tín dụng đối với các dự án đầu tư thân thiện với môi trường như cấp tín dụng ưu đãi cho dự án giảm CO2, sản xuất và sử dụng năng lượng sạch, sản phẩm sạch; các dự án tiết kiệm năng lượng, nước, nhiên liệu; để giảm chất thải hoặc
ô nhiễm; để xây dựng và khai thác các cơ sở năng lượng tái tạo (địa nhiệt, năng lượng sinh học, thủy điện, năng lượng gió, năng lượng mặt trời…
- Nghiên cứu thành lập Quỹ tín dụng xanh cấp quốc gia với mục đích huy động nguồn vốn phục vụ cho việc phát triển tín dụng xanh như hỗ trợ vốn để các tổ chức tín dụng cho vay đối với các dự án
9 Nguyễn Thị Minh Huệ, Trần Thị Thanh Tú trong nghiên cứu “Vai trò và các sản phẩm của ngành ngân hàng hướng tới phát triển và đầu tư xanh (ngân hàng xanh)” cho rằng: Theo nghĩa rộng ngân hàng xanh là ngân hàng bền vững, trong đó, các quyết định đầu tư cần nhìn vào bức tranh lớn và hành động một cách có lợi cho người tiêu dùng, kinh tế, xã hội và môi trường Ngân hàng chỉ có thể phát triển bền vững nếu đặt các lợi ích của ngân hàng gắn liền với các lợi ích của xã hội, môi trường Theo nghĩa hẹp, “Ngân hàng xanh” chỉ các hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng khuyến khích các hoạt động vì môi trường và giảm phát thải cacbon Nói cách khác, Ngân hàng xanh là ngân hàng khi cung cấp các dịch vụ có gắn với các cam kết về môi trường hoặc đầu tư cho vay sản xuất xanh, sạch
Mô hình Ngân hàng xanh 5 cấp độ, cụ thể là: Cấp độ 1: Thực hiện các hoạt động phụ, bằng cách tài trợ cho các sự kiện
“xanh” và tham gia các hoạt động công cộng (hầu hết các ngân hàng đều đang ở cấp độ này); Cấp độ 2: Tách bạch phát triển
dự án và hoạt động kinh doanh, trong đó, ngân hàng phát triển thêm các sản phẩm và dịch vụ xanh riêng biệt (chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ) bổ sung vào danh mục các sản phẩm ngân hàng truyền thống; Cấp độ 3: Hoạt động kinh doanh có hệ thống, trong
đó, hầu hết các quy trình, sản phẩm của ngân hàng đều tuân thủ nguyên tắc “xanh”, cơ cấu tổ chức của ngân hàng được thiết
kế để hỗ trợ tác động “xanh” ở trên 4 giác độ: con người, quy trình, nguyên tắc và mục đích; Cấp độ 4: Sáng kiến cân bằng
hệ sinh thái tầm chiến lược, hoạt động ngân hàng xanh không chỉ giới hạn ở phạm vi các nghiệp vụ đơn lẻ mà được mở rộng thành mạng lưới, liên minh, đối thoại cộng đồng, hay toàn hệ sinh thái nhằm đạt được tính bền vững của các yếu tố xã hội - môi trường và tài chính và Cấp độ 5: Sáng kiến cân bằng hệ 4 sinh thái chủ động, trong đó, các hoạt động ngân hàng xanh tương tự như cấp độ 4 song được thực hiện một cách chủ động, có mục đích, chứ không phải là hoạt động ứng phó sự thay đổi bên ngoài như sáng kiến tầm chiến lược ở cấp độ 4.
Nguồn:http://gdprte.ueb.edu.vn/Fuploads/Vai%20tro%20cua%20Ngan%20hang%20xanh%20huong%20toi%20phat%20 trien%20va%20dau%20tu%20xanh.pdf
Trang 8xanh; bảo lãnh cho các dự án xanh tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng Quy định tỷ lệ trích các nguồn thu từ phí thuế bảo vệ môi trường, thuế tài nguyên, lệ phí bảo vệ môi trường để bổ sung cho nguồn vốn hoạt động của quỹ tín dụng xanh quốc gia
Thứ ba, để bảo đảm tính khả thi khi thực hiện pháp luật về bảo đảm nguồn vốn tín dụng cho phát triển
kinh tế xanh ở Việt Nam, với tư cách là “mắt xích” quan trọng, tổ chức tín dụng cần phải được đối
xử như một doanh nghiệp tham gia vào quá trình hiện thực hóa nền kinh tế xanh thông qua hoạt động cung cấp nguồn vốn tín dụng Những chính sách ưu đãi dành cho các doanh nghiệp tham gia vào hoạt động phát triển nền kinh tế xanh cũng được áp dụng cho các tổ chức tín dụng, nhất là chính sách thuế Ngoài ra, đối với các tổ chức tín dụng còn cần đề cập đến những chính sách ưu tiên là:
- Nghiên cứu xây dựng cơ chế điều hành lãi suất riêng cho các hoạt động tín dụng xanh Theo đó, trong điều hành lãi suất cần giảm đến mức thấp nhất những tác động của sự biến động lãi suất đối với các dự án sử dụng nguồn vốn tín dụng xanh
- Các quy định bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng cần được giảm thiểu tối đa để bảo đảm duy trì nguồn vốn tín dụng cho các dự án sản xuất kinh doanh xanh, thân thiện với môi trường
Thứ tư, cụ thể hóa chính sách “Đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư cho bảo vệ môi trường”10 để tổ chức tín dụng tham gia được tham gia như một chủ thể cung ứng nguồn vốn tín dụng phục vụ cho phát triển kinh tế xanh ở Việt Nam Với quy định này, tổ chức tín dụng chủ động xây dựng chiến lược kinh doanh góp phần thúc đẩy nhanh hơn quá trình chuyển đổi nền kinh tế Việt Nam sang mô hình tăng trưởng hay phát triển kinh tế xanh Đồng thời với giải pháp trên, pháp luật về cấp tín dụng dụng cần có quy định rõ ràng hơn quy định về quyền từ chối cấp tín dụng đối với các dự án đầu tư sản xuất kinh doanh là những hành vi bị cấm theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường 201411 Cụ thể là:
- Khai thác nguồn tài nguyên sinh vật bằng phương tiện, công cụ, phương pháp hủy diệt, không đúng thời vụ và sản lượng theo quy định của pháp luật
- Thải chất thải chưa được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường; các chất độc, chất phóng xạ và chất nguy hại khác vào đất, nguồn nước và không khí
- Đưa vào nguồn nước hóa chất độc hại, chất thải, vi sinh vật chưa được kiểm định và tác nhân độc hại khác đối với con người và sinh vật
- Thải khói, bụi, khí có chất hoặc mùi độc hại vào không khí; phát tán bức xạ, phóng xạ, các chất ion hóa vượt quá quy chuẩn kỹ thuật môi trường
- Gây tiếng ồn, độ rung vượt quá quy chuẩn kỹ thuật môi trường
- Nhập khẩu, quá cảnh chất thải từ nước ngoài dưới mọi hình thức
Sản xuất, kinh doanh sản phẩm gây nguy hại cho con người, sinh vật và hệ sinh thái; sản xuất, sử dụng nguyên liệu, vật liệu xây dựng chứa yếu tố độc hại vượt quá quy chuẩn kỹ thuật môi trường
4 KẾT LUẬN
Có thể khẳng định, việc chuyển sang mô hình kinh tế xanh là tất yếu, phù hợp với xu hướng phát triển chung hiện nay Để bảo đảm chuyển đổi sang mô hình kinh tế xanh hiệu quả, yêu cầu bảo đảm nguồn vốn tín dụng cho quá trình này là rất cần thiết, bởi lẽ, nguồn vốn tín dụng có vai trò quyết định sự
10 Khoản 5 Điều 5 Luật Bảo vệ môi trường 2014.
11 Xem cụ thể Điều 7 Luật Bảo vệ môi trường 2014.
Trang 9thành công của quá trình chuyển đổi Những kỳ vọng ở trên chỉ có thể đạt được nếu như các quy định pháp luật về cấp tín dụng được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu tăng trưởng xanh, nghĩa là phải được cụ thể hóa trong các văn bản quy phạm pháp luật, cùng với kế hoạch hành động, triển khai
cụ thể trong thực tiễn Để làm được điều này, các tổ chức tín dụng cũng phải chủ động trong việc nghiên cứu xây dựng và cung ứng dịch vụ ngân hàng xanh hoặc tín dụng xanh theo lộ trình:
- Ở giai đoạn đầu của quá trình chuyển đổi, việc cung ứng sản phẩm tín dụng xanh nên được quy định
là biện pháp khuyến khích các tổ chức tín dụng thông qua các quy định về ưu đãi thuế, hỗ trợ khả năng thanh toán, ưu tiên vay vốn từ Ngân hàng Nhà nước Những biện pháp khuyến khích, ưu đãi này dần thu hẹp lại cùng với quá trình chuyển đổi sang mô hình kinh tế xanh
- Khi nền kinh tế Việt Nam đã chuyển mạnh, sâu theo hướng tăng trưởng xanh, việc cung ứng dịch
vụ ngân hàng xanh là nghĩa vụ bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng Khi đó, sản phẩm dịch vụ ngân hàng xanh mang tính phổ biến, mọi tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng phải đáp ứng yêu cầu của tín dụng xanh
- Để bảo đảm phát triển kinh tế xanh một cách thực chất và bền vững đòi hỏi sự liên kết giữa tổ chức tín dụng với các doanh nghiệp được xem là giải pháp mang tính lâu dài, quyết định sự bền vững của tăng trưởng xanh nhằm tháo gỡ những khó khăn đối với doanh nghiệp trong tiếp cận nguồn vốn tín dụng theo hướng nếu doanh nghiệp không chuyển sang sản xuất xanh thì tổ chức tín dụng có quyền
từ chối cấp tín dụng Về lâu dài, cần luật hóa nội dung “hoạt động cấp tín dụng phải đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế” như một điều kiện để cấp tín dụng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020.
[3] Viên Thế Giang, Phát triển kinh tế xanh ở Việt Nam nhìn từ góc độ chính sách, pháp luật, Tạp chí Luật học
số 12 (211)/2017, tr.13-27.
[4] Viên Thế Giang, Tài chính cho phát triển kinh tế xanh ở Việt Nam: Khuôn khổ chính sách, pháp luật và
thực tiễn thực thi, Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ (Đại học quốc gia TP.HCM), tập 20, Q.2,
2017, tr.55-69.
[5] Nguyễn Thị Minh Huệ, Trần Thị Thanh Tú, Vai trò và các sản phẩm của ngành ngân hàng hướng tới phát triển và đầu tư xanh (ngân hàng xanh), http://gdprte.ueb.edu.vn/Fuploads/Vai%20tro%20cua%20 Ngan%20hang%20xanh%20huong%20toi%20phat%20trien%20va%20dau%20tu%20xanh.pdf.
[6] Nguyễn Văn Huy, Tăng trưởng xanh và một số định hướng ưu tiên cho Việt Nam, truy cập ngày 24-10-2011, http://isponre.gov.vn/home/dien-dan/761-tang-truong-xanh-va-mot-so-dinh-huong-uu-tien-cho-viet-nam.
[7] Kim Ngọc, Nguyễn Thị Kim Thu, Xu hướng phát triển kinh tế xanh trên thế giới, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam số 5(90)-2015, tr.9-17.
[8] Trần Ngọc Ngoạn, Chính sách thúc đẩy tăng trưởng xanh kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tr.8-15.
[9] Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15-11-2004 của Bộ Chính trị, nhằm tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
[10] Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 3-6-2013 về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, tại Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI.