Vấn đề dân tộc là một vấn đề có ý nghĩa chiến lược của cách mạng XHCN và hiện nay cũng đang là một vấn đề thực tiễn nóng bỏng. Hàng ngày, hàng giờ qua các phương tiện thông tin đại chúng, chúng ta luôn được nghe, được thấy các cuộc chiến tranh đã, đang và nhiều nơi trên thế giới có nguy cơ xảy ra chiến tranh giữa các dân tộc, sắc tộc. Những vấn đề về chiến tranh dân tộc đang đặt ra trên thế giới đòi hỏi phải được giải quyết một cách đúng đắn và thận trọng.Thế giới đã có những giải pháp khác nhau từ đàm phán chính trị đến quân sự… nhưng nó chỉ có thể tạm lắng xuống vào từng thời điểm và luôn có nguy cơ bùng nổ trở lại. Sở dĩ như vậy là vì các giải pháp đưa ra không hoàn chỉnh, triệt để, thậm chí chỉ là những mưu lược để “nén” vấn đề dân tộc lại. Để giải quyết tốt vấn đề dân tộc, cần hiểu rõ vấn đề dân tộc và mối quan hệ giữa các dân tộc cần giải quyết ra sao, qua đó xác định được tầm quan trọng của việc giải quyết vấn đề dân tộc, xác định xu hướng khách quan của sự phát triển dân tộc và từ đó đề ra phương hướng giải quyết tốt nhất, triệt để nhất. Điều đó chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở nghiên cứu và vận dụng các quan điểm khoa học và cách mạng của chủ nghĩa MácLênin về vấn đề dân tộc. Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện đã gặt hái được những thành tựu to lớn; tuy nhiên, bên cạnh đó các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại với thủ đoạn ngày càng tinh vi hơn; thì vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc lại càng có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Vì thế, tôi chọn đề tài: “Phân tích những điểm cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin trong việc giải quyết vấn đề dân tộc.Liên hệthực tiễn giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam hiện nay” làm vấn đề nghiên cứu của bản thân.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Vấn đề dân tộc là một vấn đề có ý nghĩa chiến lược của cách mạng XHCN
và hiện nay cũng đang là một vấn đề thực tiễn nóng bỏng Hàng ngày, hàng giờ qua các phương tiện thông tin đại chúng, chúng ta luôn được nghe, được thấy các cuộc chiến tranh đã, đang và nhiều nơi trên thế giới có nguy cơ xảy ra chiến tranh giữa các dân tộc, sắc tộc Những vấn đề về chiến tranh dân tộc đang đặt ra trên thế giới đòi hỏi phải được giải quyết một cách đúng đắn và thận trọng Thế giới đã có những giải pháp khác nhau từ đàm phán chính trị đến quân sự… nhưng nó chỉ có thể tạm lắng xuống vào từng thời điểm và luôn có nguy cơ bùng
nổ trở lại Sở dĩ như vậy là vì các giải pháp đưa ra không hoàn chỉnh, triệt để, thậm chí chỉ là những mưu lược để “nén” vấn đề dân tộc lại Để giải quyết tốt vấn đề dân tộc, cần hiểu rõ vấn đề dân tộc và mối quan hệ giữa các dân tộc cần giải quyết ra sao, qua đó xác định được tầm quan trọng của việc giải quyết vấn
đề dân tộc, xác định xu hướng khách quan của sự phát triển dân tộc và từ đó đề
ra phương hướng giải quyết tốt nhất, triệt để nhất Điều đó chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở nghiên cứu và vận dụng các quan điểm khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề dân tộc
Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện đã gặt hái được những thành tựu to lớn; tuy nhiên, bên cạnh đó các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại với thủ đoạn ngày càng tinh vi hơn; thì vấn đề dân tộc
và đoàn kết dân tộc lại càng có ý nghĩa cực kỳ quan trọng Vì thế, tôi chọn đề tài:
“Phân tích những điểm cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin trong việc giải quyết vấn đề dân tộc Liên hệ thực tiễn giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam hiện nay”
làm vấn đề nghiên cứu của bản thân
Trang 22 Mục đích và đối tượng nghiên cứu
Làm sáng tỏ tính khoa học trong giải quyết các vấn đề dân tộc của Chủ nghĩa Mác – Lênin, sự vận dụng của Đảng ta trong thực tiễn cách mạng Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Quan điểm về dân tộc, cương lĩnh dân tộc của Lênin, một số sự kế thừa và phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta trong giải quyết vấn đề dân tộc Đi sâu vào các quan điểm, chủ trương, biện pháp giai đoạn hiện nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập phân tích tài liệu: thông qua các giáo trình, sách tham khảo, các bài báo khoa học để làm rõ nội dung của mục tiêu nghiên cứu
Phương pháp phân loại hệ thống hóa kiến thức: thông qua các tài liệu thu thập được nhằm hệ thống và sắp xếp các tài liệu khoa học theo chủ đề, theo đơn
vị kiến thức để nội dung của bài tiểu luận dễ nhận biết và nghiên cứu
5 Ý nghĩa nghiên cứu
Góp phần xây dựng nhận thức đúng đắn về các vấn đề dân tộc, đẩy lùi các hoạt động chống phá, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch đối với nước
ta trên cơ sở lợi dụng các vấn đề dân tộc
Trang 3Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC THEO QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VÀ CHỦ TỊCH HỒ CHÍNH 1.1 Một số vấn đề chung về dân tộc
Dân tộc là cộng đồng người ở ổn định, hình thành trong lịch sử, tạo lập một quốc gia, trên cơ sở cộng đồng bền vững về: lãnh thổ quốc gia, kinh tế, ngôn ngữ, truyền thống, văn hóa, đặc điểm tâm lí, ý thức về dân tộc và tên gọi của dân tộc Khái niệm này được hiểu:
+ Các thành viên cùng dân tộc sử dụng một ngôn ngữ chung (tiếng mẹ đẻ)
để giao tiếp nội bộ Các thành viên cùng chung những đặc điểm sinh hoạt văn hoá, vật chất, tinh thần, tạo nên bản sắc văn hoá dân tộc
+ Dân tộc được hiểu theo nghĩa cộng đồng quốc gia dân tộc, là một cộng đồng chính trị - xã hội, được chỉ đạo bởi một nhà nước, thiết lập trên một lãnh thổ chung như: dân tộc Việt Nam, dân tộc Lào, dân tộc Trung Hoa…
Tình hình quan hệ dân tộc trên thế giới
Quan hệ giai cấp, dân tộc diễn biến phức tạp, khó lường do sự tác động của cách mạng khoa học công nghệ, xu thế toàn cầu hoá kinh tế diễn ra mạnh
mẽ Đảng ta nhận định: Toàn cầu hoá và các vấn đề toàn cầu làm cho sự hiểu biết lẫn nhau và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các dân tộc tăng lên, thúc đẩy xu thế khu vực hoá Đồng thời các dân tọcc đề cao ý thức độc lập, tự chủ, tự lực tự cường, chống can thiệp áp đặt và cường quyền
Quan hệ sắc tộc, dân tộc hiện nay trên thế giới vẫn diễn ra rất phức tạp, nóng bỏng ở cả phạm vi quốc gia, khu vực và quốc tế Mâu thuẫn, xung đột dân tộc, sắc tộc, xu hường li khai, chia rẽ dân tộc đang diễn ra ở khắp các quốc gia, các khu vực, các châu lục trên thế giới Đảng ta nhận định: “Những cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp, lật đôt, li khai, hoạt động khủng bố, những tranh chấp biê
Trang 4giới, lãnh thổ, biển đảo và các tài nguyên thiên nhiên tiếp tục diễn ra ở nhiều nơi với tính chất ngày càng phức tạp” Điều này gây nên những hậu quả nặng nề về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, môi trường cho các quốc gia, đe doạ hoà bình,
an ninh khu vực và thế giới
1.2 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc
Vấn đề dân tộc là những nội dung nảy sinh trong quan hệ giữa các dân tộc diễn ra trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội tác động xấu đến nỗi dân tộc và quan
hệ giữa các dân tộc, các quốc gia dân tộc với nhau cần phải giải quyết
Dân tộc là vấn đề rộng lớn, bao gồm những quan hệ về tư tưởng chính trị, kinh tế, lãnh thỗ, pháp lý, tư tưởng và văn hoá giữa các dân tộc, các nhóm dân tộc và bộ tộc
Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin, dân tộc là sản phẩm của quá trình phát triển lâu dài của lịch sử Mác và Ăngghen đã đặt nền móng tư tưởng cho việc giải quyết vấn đề dân tộc một cách khoa học
Hình thức cộng đồng dân tộc tiền dân tộc như thị tộc, bộ tộc, bộ lạc Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản dẫn đến sự ra đời của các dân tộc tư bản chủ nghĩa Chủ nghĩa tư bản bước sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, các nước đế quốc thi hành chính sách vũ trang xâm lược, cướp bóc, nô dịch các dân tộc nhỏ
từ đó xuất hiện vấn đề dân tộc thuộc địa Mác và Ăngghen nêu lên quan điểm cơ bản có tính chất phương pháp luận để nhận thức và giải quyết vấn đề nguồn gốc, bản chất của dân tộc, những quan hệ cơ bản của dân tộc, thái độ của giai cấp công nhân và Đảng của nó về vấn đề dân tộc
Lênin đã phát triển quan điểm này thành hệ thống toàn diện và sâu sắc về vấn đề dân tộc, làm cơ sở cho cương lĩnh, đường lối, chính sách của các Đảng cộng sản về vấn đề dân tộc Lênin đã đặt ra một loạt các vấn đề có tính nguyên lý
và những phương hướng giải quyết các vấn đề dân tộc của chủ nghĩa quốc tế vô
Trang 5sản trong sáng Ở đó các dân tộc đều có quyền bình đẳng và quyền tự quyết về vận mệnh của dân tộc mình trên tinh thần hợp tác và xích lại gần nhau giữa các dân tộc Đây là sự phát triển, hoàn thiện lý luận chủ nghĩa Mác về vấn đề dân tộc của Lênin vấn đề dân tộc còn tồn tại lâu dài Bởi do dân số và trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các dân tộc không đồng đều; do sự khác biệt về lợi ích; do
sự khác biệt về ngôn ngữ, văn hoá, tâm lí; do tàn dư tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, tự ti dân tộc; do thiếu sót, hạn chế trong hoạch định, thực thi chính sách kinh tế - xã hội của nhà nước cầm quyền; do sự thống trị, kích động chia rẽ của các thế lực phản động đối với các dân tộc
Giải quyết vấn đề dân tộc theo quan điểm của Lênin
Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng là các dân tộc không phân biệt lớn nhỏ, trình độ phát triển cao hay thấp, đều có quyền lợi và nghĩa vụ ngang nhau trên mọi lĩnh vực, trong quan hệ giữa các dân tộc trong quốc gia đa dân tộc và giữa các quốc gia dân tộc với nhau trong quan hệ quốc tế; xoá bỏ mọi hình thức áp bức, bóc lột dân tộc Quyền bình đẳng dân tộc phải được pháp luật hóaà thực hiện trên thực tế Đây là quyền thiêng liêng, là cơ sở để thực hiện quyền dân tộc
tự quyết, xây dựng quan hệ hữu nghị hợp tác giữa các dân tộc
Các dân tộc được quyền tự quyết, là quyền làm chủ vận mệnh của mỗi dân tộc: quyền tự quyết định chế độ chính trị, con đường phát triển của dân tộc mình, bao gồm cả quyền tựu do phân lập thành quốc gia riêng và quyền tựu nguyện liên hiệp với các dân tộc khác trên cơ sở bình đẳng, tự nguyện, phù hợp với lợi ích chính đáng của các dân tộc Kiên quyết đấu tranh chống việc lợi dụng quyền
tự quyết để can thiệp, chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc
Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc là sự đoàn kết công nhân các dân tộc trong phạm vi quốc gia và quốc tế và cả sự đoàn kết quốc tế của các dân tộc, các lực lượng cách mạng dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân để giải quyết tốt vấn đề dân tộc, giai cấp, quốc tế
Trang 61.3 Cương lĩnh dân tộc của V.I.Lênin
Trước tiên, dân tộc là một cộng đồng người ổn định, được hình thành và phát triển trong lịch sử, sống trên cùng một lãnh thổ nhất định, có chung một mối
quan hệ về kinh tế, ngôn ngữ, văn hóa, tâm lý Đặc trưng chung cơ bản và quan
trọng nhất của một dân tộc là có chung một phương thức sinh hoạt kinh tế - đây
là cơ sở nền tảng cho sự vững chắc của cộng đồng dân tộc
Trên thế giới, sự hình thành của các cộng đồng dân tộc diễn ra không đồng đều Ở Châu Âu, dân tộc ra đời gắn liền với sự ra đời và phát triển của CNTB; còn ở châu Á, trước khi CNTB thâm nhập, do trong quá trình đấu tranh chống giặc ngoại xâm và thiên nhiên để sinh tồn, các cộng đồng người kết hợp lại với nhau hình thành một quốc gia độc lập, vì thế dân tộc được ra đời sớm hơn khi CNTB hình thành
Từ khi dân tộc ra đời, vấn đề dân tộc luôn luôn được đặt ra và thu hút sự chú ý của mọi giai cấp và tầng lớp xã hội quan tâm Nội dung của vấn đề dân tộc, trước tiên là quan hệ giữa các tộc người trong một xã hội nằm trong khuôn khổ một quốc gia dân tộc về các lĩnh vực: kinh tế, xã hội, văn hóa, ngôn ngữ…
và những vấn đề này thường kết hợp với những lợi ích giai cấp, nên các phong trào dân tộc đều mang tính giai cấp sâu sắc Ngày nay, tình hình dân tộc trên thế giới diễn biến rất phức tạp, đa dạng và gay gắt, giảii quyết vấn đề này ở từng lúc, từng nơi có khi phải bằng vũ trang quân sự Giải quyết vấn đề dân tộc là một trong những vấn đề quyết định đến sự ổn định, phát triển hay khủng hoảng, tan
rã của một quốc gia dân tộc, như ở Tiệp Khắc cũ, Liên Xô cũ, Nam Tư cũ, Inđônêsia hay vấn đề ở Đông Timor Vấn đề dân tộc còn đề cập đến quan hệ giữa các quốc gia dân tộc và sự phát triển của thế giới nói chung với tư cách là công đồng quốc tế của các dân tộc
Vấn đề dân tộc luôn gắn với tính giai cấp và mỗi giai cấp đều xuất phát từ lợi ích của giai cấp mình trong quan niệm và tham gia phong trào dân tộc Đối
Trang 7với các nước XHCN thì bao giờ quan hệ dân tộc và quan hệ giai cấp cũng gắn bó với nhau, giải quyết vấn đề dân tộc chính là giải quyết vấn đề giai cấp và ngược lại Còn đối với các nước TBCN thì giai cấp thống trị luôn lợi dụng vấn đề dân tộc để phục vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị, vì thế quan hệ dân tộc và quan
hệ giai cấp tách rời nhau, lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp tách rời nhau
Khi nghiên cứu vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc trong điều kiện của CNTB, Lênin đã phát hiện ra hai xu hướng khách quan trong phong trào dân tộc
Một là xu hướng phân lập, do sự thức tỉnh, trưởng thành của ý thức dân
tộc mà các cộng đồng dân cư muốn tách ra thành lập quốc gia dân tộc độc lập
Hai là xu hứơng liên hiệp giữa các dân tộc lại với nhau, do sự phát triển của
LLSX, của khoa học và công nghệ Ngày nay, các dân tộc có xu hướng liên kết, hợp tác với nhau trong quan hệ thị trường mở rộng dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng và cùng có lợi (Ví dụ như thị trường chung châu Âu, châu Á (ASEAN)…)
Tuy nhiên, hai xu thế này là một thể thống nhất, mỗi nước đều có chủ quyền độc lập, quyền tự chủ, tự quyết nhằm xây dựng quốc gia dân tộc mình phồn vinh, công bằng, văn minh bên cạnh sự hòa nhập cộng đồng quốc tế Hiện nay, vấn đề dân tộc, giai cấp đã trở thành một vấn đề vừa có tính quốc gia, vừa
có tính quốc tế, vừa có tính thời sự vừa có tính lâu dài
Dựa trên sự phân tích hai xu hướng khách quan của phong trào dân tộc và dựa trên sự tổng kết kinh nghiệm phong trào cách mạng thế giới trong việc gỉai quyết vấn đề dân tộc, Lênin đã đưa ra Cương lĩnh Dân tộc với 3 vấn đề chính bao gồm :
- Một là các dân tộc hoàn toàn bình đẳng: Quyền bình đẳng của các dân
tộc là quyền thiêng liêng, không phân biệt dân tộc đông người hay ít người, lớn hay nhỏ, trình độ phát triển cao hay thấp, không phân biệt chủng tộc, màu da… Nghĩa là tất cả đều có nghĩa vụ và quyền lợi ngang nhau Thực chất của bình đẳng dân tộc là xóa bỏ sự nô dịch của dân tộc này đối với dân tộc khác Từng
Trang 8bước xóa bỏ sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa các dân tộc Bình đẳng phải được thực hiện trên tất cả các mặt: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… Trong một quốc gia có nhiều dân tộc, quyền bình đẳng giữa các dân tộc phải được pháp luật bảo vệ và phải được thể hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Trên phạm vi giữa các quốc gia, đấu tranh cho quyền bình đẳng dân tộc trong giai đoạn hiện nay phải gắn với cuộc đấu tranh chống phân biệt chủng tộc, chống chủ nghĩa sôvanh (nước lớn bắt nạt nước bé), chống sự áp bức, bóc lột của các nước tư bản phát triển đối với các nước chậm phát triển về kinh tế
- Hai là các dân tộc được quyền tự quyết: là quyền làm chủ của mỗi dân tộc
đối với vận mệnh của dân tộc mình, quyền tự quyết định chế độ chính trị xã hội và con đường phát triển riêng không bị lệ thuộc vào bên ngoài Đây cũng là quyền thiêng liêng cơ bản của mỗi dân tộc Bao gồm: Quyền tự do độc lập về chính trị, quyền thành lập một quốc gia dân tộc độc lập vì lợi ích của các dân tộc chứ không phải xuất phát từ mưu đồ lợi ích của một nhóm người nào đó Và quyền tự nguyện liên hiệp với các dân tộc khác trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi để có đủ sức mạnh chống nguy cơ xâm lược từ bên ngoài, giữ vững độc lập chủ quyền quốc gia dân tộc Khi xem xét quyền tự quyết của dân tộc cần phải đứng trên lập trường giai cấp công nhân, kiên quyết đấu tranh chống âm mưu thủ đoạn, lợi dụng chiêu bài dân tộc
tự quyết để can thiệp vũ trang và áp bức các dân tộc khác
- Ba là liên hiệp công nhân giữa các dân tộc: đó là sự đoàn kết của giai
cấp công nhân các dân tộc trên toàn thế giới để đấu tranh chống lại chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, nhằm hoàn thành sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Đó là tư tưởng cơ bản trong Cương lĩnh, nó phản ánh bản chất quốc tế của phong trào công nhân Điều đó xuất phát từ bản chất quốc tế, tinh thần quốc tế
vô sản của giai cấp công nhân giải phóng dân tộc mình và giải phóng các dân tộc khác cùng cảnh ngộ; do chủ nghĩa đế quốc, giai cấp tư sản trong các nước tư bản cấu kết nhau, bắt tay nhau chống lại phong trào công nhân, phong trào cách
Trang 9mạng Vì vậy, giai cấp công nhân phải đoàn kết liên hiệp lại với nhau để đấu tranh chống lại chúng Vì vậy đoàn kết giai cấp công nhân giữa các quốc gia dân tộc là nhân tố quan trọng để giải quyết các vấn đề dân tộc
Cả ba nội dung trên đều quan trọng, khi vận dụng cần sáng tạo không được xem nhẹ vấn đề nào Thực tiễn cách mạng trên thế giới trong thời gian qua
đã chứng minh được tính đúng đắn, khoa học, cách mạng của Cương lĩnh Những nơi nào, thời điểm nào quốc gia nào vận dụng đúng đem lại thành quả hết sức to lớn, ngược lại khi vận dụng sai hoặc bóp méo lý luận dẫn đến thất bại, trì trệ thậm chí bị tan rã, sụp đổ …
Nhìn chung, Cương lĩnh dân tộc của Lênin đã có những tác dụng tích cực
cho các nước trong tiến trình cách mạng XHCN Đó là cơ sở cho đoàn kết công nhân quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc; đoàn kết giai cấp công nhân gắn với phong trào giải phóng dân tộc giúp cho các nước bị thực dân, đế quốc xâm lược có lối thoát trên cơ sở đó tạo điều kiện cho cách mạng vô sản ở các nước sớm nổ ra Đồng thời, cương lĩnh còn giúp cho các nước khi giai cấp công nhân
và nhân dân lao động giành được chính quyền, cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới thực hiện chính sách dân tộc phù hợp với cương lĩnh mà Lênin đã nêu ra
Chương 2 CHÍNH SÁCH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN
VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 2.1 Khái quát đặc điểm của các dân tộc ở Việt Nam hiện nay
Việt Nam là một quốc gia dân tộc thống nhất gồm 54 dân tộc cùng sinh sống Các dân tộc Việt Nam có các đặc trưng sau:
Một là, các dân tộc ở Việt Nam có truyền thống đoàn kết, gắn bó xây dựng
quốc gia dân tộc thống nhất Đây là đặc điểm nổi bật trong quan hệ giữa các dân tộc ở Việt Nam Các dân tộc Việt Nam đều có chung cội nguồn, chịu ảnh hưởng chung của điều kiện tự nhiên, xã hội, chung vận mệnh dân tộc, chung lợi ích cơ
Trang 10bản - quyền được tồn tại, phát triển Đoàn kết, thống nhất đã trở thành giá trị tinh thần truyền thống quí báu của dân tộc, là sức mạnh để dân tộc ta tiếp tục xây dựng và phát triển đất nước
Hai là, các dân tộc thiểu số ở Việt Nam cư trú phân tán và xen kẽ trên địa
bàn rộng lớn, chủ yếu là miền núi, biên giới, hải đảo Không có dân tộc thiểu số nào cư trú duy nhất trên một địa bàn mà không xen kẽ với một vài dân tộc khác Nhiều tỉnh miền núi các dân tộc thiểu số chiếm đa số dân như: Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Lào Cai, Sơn La, Lai Châu…
Ba là, các dân tộc ở nước ta có qui mô dân số và trình độ phát triển không
đồng đều Theo số liệu điều tra dân số năm 1992, nước ta có 54 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh có 65,9 triệu người, chiếm 86,2% dân số cả nước, 53 dân tộc thiểu
số có 10,5 triệu người, chiếm 13,8 dân số cả nước Dân số của các dân tộc thiểu
số cũng chênh lệch Trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các dân tộc không đều nhau Có dân tộc đã đạt đến trình độ phát triển cao, đời sống đã tương đối khá như dân tộc Kinh, Hoa, Tày, Mường, Thái…, nhưng cũng có những dân tộc trình độ phát triển còn thấp, đời sống còn gặp nhiều khó khăn như một số dân tộc
ở Tây Bắc, Trường Sơn, Tây Nguyên
Bốn là, mỗi dân tộc ở Việt Nam đều có sắc thái văn hoá riêng, góp phần
làm nên sự đa dạng, phong phú, thống nhất của văn hoá Việt Nam Các dân tộc đều có sắc thái văn hoá về nhà cửa, ăn mặc, ngôn ngữ, phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo và ý thức dân tộc riêng Đồng thời các dân tộc cũng có điểm chung thống nhất về văn hoá, ngôn ngữ, phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo, ý thức quốc gia dân tộc Sự thống nhất trong đa dạng là đặc trưng của văn hoá các dân tộc ở Việt Nam
2.2 Quan điểm, chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta hiện nay
Trong các giai đoạn cách mạng, Đảng ta luôn có quan điểm nhất quán:
“Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc tạo mọi