Thanh tra là một chức năng quan trọng góp phần tạo nên hiệu quả trong quản lý nhà nước. Thông qua thanh tra, nhiều vụ việc vi phạm pháp luật, tham nhũng đã được phát hiện, từ đó các chủ thể quản lý nhà nước nắm bắt được tình hình thực hiện pháp luật và nhiệm vụ mà Nhà nước giao cho các đối tượng quản lý thuộc thẩm quyền, phát hiện những ưu khuyết điểm trong quản lý; trong công tác điều hành, chỉ đạo, từ đó kịp thời ban hành những quyết định hay biện pháp khắc phục, sửa chữa cũng như các biện pháp tác động phù hợp nhằm củng cố trật tự pháp luật và phát huy dân chủ trong đời sống xã hội. Tổ chức và hoạt động thanh tra Việt Nam được hình thành và phát triển qua nhiều giai đoạn. Sau khi ban hành Sắc lệnh thành lập Ban thanh tra đặc biệt, từ 1945 đến 1990, Nhà nước ta đã ban hành gần 40 văn bản các loại (1 luật, 6 sắc lệnh và lệnh, 20 nghị định, nghị quyết, 5 quyết định, 6 thông tư, 1 nội quy) quy định về việc thành lập, giải thể, quy định về chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan thanh tra cũng như của người đứng đầu cơ quan thanh tra... Các hình thức cơ quan Thanh tra lần lượt ra đời như Cục tổng thanh tra Quân đội, Nha Tổng thanh tra tài chính, Nha Thanh tra của Bộ Canh nông... Đến năm 1969, Uỷ ban thanh tra Chính phủ được thành lập lại và được củng cố, tăng cường cả về tổ chức và chức năng, nhiệm vụ. Từ đó, hoạt động của Uỷ ban thanh tra Chính phủ và các tổ chức Thanh tra đã bám sát vào nhiệm vụ chính trị của đất nước trong từng giai đoạn cách mạng, góp phần to lớn vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước.
Trang 1KHOA PHÁP LUẬT HÀNH CHÍNH
TÊN ĐỀ TÀI GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG CƠ QUAN ĐƯỢC GIAO CHỨC NĂNG THANH TRA CHUYÊN NGÀNH HIỆN NAY
BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN Học phần: Pháp luật về thanh tra, khiếu nại, tố cáo
Giảng viên giảng dạy:TS Phạm Thị Anh Đào
Mã phách: ………
Quảng Nam-2021
Trang 2NĐ Nghị định
Trang 3MỞ ĐẦU 1
Chương I 3
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THANH TRA CHUYÊN NGÀNH HIỆN NAY 3
1.1 Khái niệm và đặc trưng của thanh tra chuyên ngành hiện nay 3
1.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của những người tiến hành thanh tra chuyên ngành thì 5
Chương II 7
THỰC TIỄN HỆ THỐNG CƠ QUAN ĐƯỢC GIAO CHỨC NĂNG THANH TRA CHUYÊN NGÀNH HIỆN NAY 7
2.1 Hệ thống cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành 7
2.2 Thực tiễn hệ thống cơ quan được giao chức năng thanh tra chuyên ngành 12
Chương III 22
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG CƠ QUAN ĐƯỢC GIAO CHỨC NĂNG THANH TRA CHUYÊN NGÀNH HIỆN NAY 22
3.1 Đổi mới nhận thức về tổ chức và hoạt động thanh tra chuyên ngành và kiểm tra trong quản lý nhà nước 22
3.2 Quy định rõ về nội dung, thẩm quyền thanh tra chuyên ngành và kiểm tra của thủ trưởng cơ quan quản lý 23
3.3 Quy định về trình tự, thủ tục thanh tra chuyên ngành và kiểm tra chuyên ngành phải phù hợp với tính chất của mỗi hoạt động này 24
3.4 Quy định cụ thể giá trị pháp lý của hoạt động kiểm tra, việc kế thừa, sử dụng các kết quả này trong các hoạt động thanh tra 24
KẾT LUẬN 26
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thanh tra là một chức năng quan trọng góp phần tạo nên hiệu quả trongquản lý nhà nước Thông qua thanh tra, nhiều vụ việc vi phạm pháp luật, thamnhũng đã được phát hiện, từ đó các chủ thể quản lý nhà nước nắm bắt được tìnhhình thực hiện pháp luật và nhiệm vụ mà Nhà nước giao cho các đối tượng quản
lý thuộc thẩm quyền, phát hiện những ưu khuyết điểm trong quản lý; trong côngtác điều hành, chỉ đạo, từ đó kịp thời ban hành những quyết định hay biện phápkhắc phục, sửa chữa cũng như các biện pháp tác động phù hợp nhằm củng cốtrật tự pháp luật và phát huy dân chủ trong đời sống xã hội Tổ chức và hoạtđộng thanh tra Việt Nam được hình thành và phát triển qua nhiều giai đoạn
Sau khi ban hành Sắc lệnh thành lập Ban thanh tra đặc biệt, từ 1945 đến
1990, Nhà nước ta đã ban hành gần 40 văn bản các loại (1 luật, 6 sắc lệnh vàlệnh, 20 nghị định, nghị quyết, 5 quyết định, 6 thông tư, 1 nội quy) quy định vềviệc thành lập, giải thể, quy định về chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan thanhtra cũng như của người đứng đầu cơ quan thanh tra Các hình thức cơ quanThanh tra lần lượt ra đời như Cục tổng thanh tra Quân đội, Nha Tổng thanh tratài chính, Nha Thanh tra của Bộ Canh nông Đến năm 1969, Uỷ ban thanh traChính phủ được thành lập lại và được củng cố, tăng cường cả về tổ chức và chứcnăng, nhiệm vụ Từ đó, hoạt động của Uỷ ban thanh tra Chính phủ và các tổchức Thanh tra đã bám sát vào nhiệm vụ chính trị của đất nước trong từng giaiđoạn cách mạng, góp phần to lớn vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đấtnước
Trên thực tế, theo Luật Thanh tra năm 2010, bên cạnh những thành tựu đãđạt được, chức năng hoạt động thanh tra thời gian qua cũng còn bộc lộ nhiều yếukém, bất cập như: tổ chức thanh tra còn dàn trải, thiếu tập trung, không thốngnhất, hoạt động thanh tra còn chồng chéo, trùng lặp cả về phạm vi, đối tượng.Những yếu kém, bất cập trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng, hiệu quả
Trang 6thanh tra, làm cho chức năng thanh tra yếu kém chưa đáp ứng được yêu cầu củaquản lý và mong mỏi của nhân dân trong công cuộc đổi mới, thực hiện côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Cùng với việc tiến hành cải cách bộ máy nhànước, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội theo đường lối đổi mới củaĐảng, việc đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan thanh tra là một yêucầu cấp thiết được Đảng và nhà nước quan tâm chỉ đạo Với những bất cập nêutrên, việc nghiên cứu đề tài “ giải pháp hoàn thiện hệ thống cơ quan được giaochức năng thanh tra chuyên ngành hiện nay” sẽ hoàn thiên và nâng cao chứcnăng của thanh tra.
3 Ý nghĩa
Phân tích, đánh giá, những ưu điểm, kết quả đạt được và những vấn đềkhó khăn, vướng mắc, bất cập trong việc thực hiện chức năng của thanh trachuyên ngành Đề xuất được các giải pháp, kiến nghị nhằm sửa đổi các quy địnhpháp luật về thanh tra phù hợp với yêu cầu của thực tiễn để kiện toàn tổ chức vànâng cao hiệu quả chức năng thanh tra, trong đó có các giải pháp thiết thực, cụthể như giải pháp về hoàn thiện quy định pháp luật, giải pháp về tổ chức bộ máy,giải pháp về tổ chức thực hiện pháp luật Phát hiện những vấn đề khó khăn,vướng mắc, chồng chéo của thanh tra, từ đó đề ra các giải pháp nhằm nâng caonăng lực, hiệu quả công tác thanh tra
Trang 7Chương I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THANH TRA CHUYÊN NGÀNH HIỆN
NAY 1.1 Khái niệm và đặc trưng của thanh tra chuyên ngành hiện nay
1.1.1 Khái niệm về thanh tra chuyên ngành
Theo cách hiểu thông thường, Thanh tra chuyên ngành được hiểu sơ khainhất là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo ngành,lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức và cá nhân trong việc chấp hành pháp luậtchuyên ngành, quy định về chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản lý thuộc ngành,lĩnh vực đó
Hoạt động thanh tra chuyên ngành được quy định tại Khoản 3 Luật
Thanh tra 2010: “là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hànhpháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản lýthuộc ngành, lĩnh vực đó”
Ví dụ: Thanh tra chuyên ngành về bảo hiểm xã hội như: Trong sau thángđầu năm 2020, ngành Bảo hiểm xã hội đã thực hiện tốt chức năng thanh trachuyên ngành về đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm y tế.Qua quá trình thanh tra chuyên ngành đó, đã chấn chỉnh những tồn tại, vi phạm
và đề ra những biện pháp để các đơn vị kịp thời khắc phục, sửa chữa
1.1.2 Đặc điểm của thanh tra chuyên ngành
Thanh tra chuyên ngành không phải là hoạt động thanh tra trong nội bộ
mà là hoạt động thanh tra hướng ra bên ngoài Đối tượng của hoạt động thanhtra chuyên ngành là mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân Nội dung thanh tra là việcchấp hành các quy định của pháp luật chuyên ngành, các tiêu chuẩn về chuyênmôn, nghiệp vụ, kỹ thuật trong từng ngành, lĩnh vực cụ thể Về đặc điểm củathanh tra chuyên ngành như sau:
Trang 8Thứ nhất,là hoạt động thanh tra do các cơ quan có chức năng quản lý nhà
nước về ngành, lĩnh vực tiến hành, như Bộ, Sở, Thanh tra bộ, Thanh tra sở, cơquan được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành (Tổng cục, Cụcthuộc bộ, Chi cục thuộc sở)
Thứ hai, đối tượng thanh tra chuyên ngành là mọi cơ quan, tổ chức, cá
nhân chịu sự điều chỉnh của pháp luật chuyên ngành
Thứ ba,nội dung của thanh tra chuyên ngành là xem xét, đánh giá việc
chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn, kỹ thuật, qui tắcquản lý của ngành, lĩnh vực Khi xem xét, các cơ quan tiến hành có quyền xửphạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm
Xuất phát từ đó, Luật Thanh tra đã quy định cụ thể về thẩm quyền raquyết định thanh tra; nội dung quyết định thanh tra; nhiệm vụ, quyền hạn củaTrưởng đoàn thanh tra, thanh tra viên… Cụ thể như sau:
Để bảo đảm tính nhanh nhạy, kịp thời, linh hoạt và đa dạng, đồng thời hạnchế sự tùy tiện trong hoạt động thanh tra chuyên ngành, Điều 51 Luật thanh tra
đã quy định cụ thể về thẩm quyền ra quyết định thanh tra chuyên ngành và phâncông Thanh tra viên, người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyênngành tiến hành thanh tra độc lập như sau:
Chánh thanh tra bộ, Chánh thanh tra sở, Thủ trưởng cơ quan được giaothực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành ra quyết định thanh tra và thành lậpĐoàn thanh tra để thực hiện quyết định thanh tra Khi xét thấy cần thiết, Bộtrưởng, Giám đốc sở ra quyết định thanh tra và thành lập Đoàn thanh tra
Thanh tra viên, người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyênngành tiến hành thanh tra độc lập theo sự phân công của Chánh Thanh tra bộ,Chánh Thanh tra sở, Thủ trưởng cơ quan được giao thực hiện chức năng thanhtra chuyên ngành
Trang 9Trong trường hợp phân công Thanh tra viên, người được giao nhiệm vụthanh tra chuyên ngành tiến hành thanh tra độc lập thì Chánh Thanh tra bộ,Chánh Thanh tra sở, Thủ trưởng cơ quan được giao thực hiện chức năng thanhtra chuyên ngành phải xác định rõ phạm vi, nhiệm vụ, thời hạn tiến hành thanhtra.
Khi tiến hành thanh tra độc lập, Thanh tra viên phải xuất trình thẻ thanhtra, người được giao nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành phải xuất trình thẻ côngchức
Nội dung quyết định thanh tra chuyên ngành được quy định tại Điều 52,trong đó khi ban hành quyết định thanh tra chuyên ngành, người ra quyết địnhphải ghi rõ các nội dung sau: Căn cứ pháp lý để thanh tra; Phạm vi, đối tượng,nội dung, nhiệm vụ thanh tra; Thời hạn thanh tra; Trưởng đoàn thanh tra, Thanhtra viên và các thành viên khác của đoàn thanh tra…
1.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của những người tiến hành thanh tra chuyên ngành thì
Đối với Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành: Trong quá trình thanh tra,
Trưởng đoàn thanh tra có các nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Điều 53của Luật Thanh tra So với quy định hiện hành thì Trưởng đoàn thanh tra chuyênngành được bổ sung thêm yêu cầu tổ chức tín dụng phong tỏa tài khoản của đốitượng thanh tra Ngoài ra, Điều 53 tiếp tục ghi nhận những quyền hạn, nhiệm vụriêng của Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành và quy định rõ những quyền hạn,nhiệm vụ khác được thực hiện như Trưởng đoàn thanh tra hành chính Cách thểhiện này bảo đảm tính thống nhất, cụ thể, rõ ràng và dễ thực hiện
Đối với thành viên Đoàn thanh tra, Thanh tra viên người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành, người ra quyết định thanh tra chuyên ngành thì:Khi tiến hành thanh tra theo đoàn, thành viên Đoàn thanh tra, Thanh
tra viên người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành có nhiệm
vụ, quyền hạn quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 54 của Luật Thanh tra
Trang 10Khi tiến hành thanh tra độc lập, thanh tra viên, người được giao thực hiệnnhiệm vụ thanh tra chuyên ngành có nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Khoản 3Điều 54 của Luật Thanh tra.
Nhiệm vụ, quyền hạn của người ra quyết định thanh tra chuyên ngànhđược quy định tại Điều 55 của Luật thanh tra
Trang 11Chương II THỰC TIỄN HỆ THỐNG CƠ QUAN ĐƯỢC GIAO CHỨC NĂNG
THANH TRA CHUYÊN NGÀNH HIỆN NAY 2.1 Hệ thống cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành
2.1.1 Hệ thống cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên nghành
Cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành gồmTổng cục và tương đương, Cục thuộc Bộ như Cục Quản lý thị trường, Cục Hóachất, Cục Kỹ thuật an toàn và Môi trường công nghiệp (Bộ Công Thương);Tổng cục Đường bộ Việt Nam, Cục Đường sắt Việt Nam, Cục Đường thủy nộiđịa Việt Nam, Cục Hàng hải Việt Nam, Cục Hàng không Việt Nam (Bộ Giaothông vận tải); Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư);
Cục thuộc Tổng cục và tương đương được giao thực hiện chức năng thanhtra chuyên ngành gồm: Cục Dự trữ Nhà nước khu vực; Cục Hải quan; Kho bạcNhà nước tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Cục thuế; Cục Thống kê
Chi cục thuộc Sở, Chi cục thuộc Cục và tương đương được giao thực hiệnchức năng thanh tra chuyên ngành gồm: Cảng vụ Hàng không, Cảng vụ Hànghải, Cảng vụ Đường thủy nội địa thuộc Cục Đường thủy nội địa Việt Nam; Chicục Thuế; Trung tâm Tần số khu vực; Chi cục Quản lý thị trường thuộc Sở CôngThương; Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm, Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa giađình thuộc Sở Y tế; Chi cục về bảo vệ thực vật, thú y, thủy sản, quản lý chấtlượng nông lâm sản và thủy sản, thủy lợi, đê điều, lâm nghiệp, phát triển nôngthôn thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Để đảm bảo được yêu cầu xử lý nhanh chóng, kịp thời các hành vi viphạm pháp luật, nhất là các vi phạm xảy ra ngày càng nhiều trong một số lĩnhvực liên quan đến đời sống sinh hoạt của nhân dân và khắc phục được khó khăn
Trang 12trên, Luật thanh tra đã giao chức năng thanh tra chuyên ngành ở ngành, lĩnh vựccho các tổng cục, cục thuộc bộ, chi cục thuộc sở thực hiện Đây là nội dung phảnánh sự đổi mới về nhận thức trong tổ chức thực hiện hoạt động thanh tra chuyênngành Tuy nhiên, điểm cần lưu ý là theo quy định của Luật thanh tra năm 2010thì không phải bất kỳ tổng cục, cục thuộc bộ, chi cục thuộc sở nào cũng đượcgiao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành mà việc giao chức năng thanhtra chuyên ngành phải xuất phát từ yêu cầu công tác quản lý nhà nước và các cơquan nào được giao thực hiện chức năng thanh tra này sẽ do Chính phủ quy địnhtheo đề nghị của Tổng Thanh tra Chính phủ sau khi đã thống nhất với Bộtrưởng.
Ngoài ra, để tránh việc thành lập các cơ quan thanh tra ở các cơ quanđược giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành, Luật Thanh tra cũngkhẳng định rõ các cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyênngành không thành lập cơ quan thanh tra chuyên ngành độc lập mà hoạt độngthanh tra ở các cơ quan này do Thủ trưởng cơ quan được giao thực hiện chứcnăng thanh tra chuyên ngành thực hiện, tức là Thủ trưởng có trách nhiệm trựctiếp xây dựng kế hoạch thanh tra, quyết định thanh tra, thành lập Đoàn thanh tra,
cử cán bộ, công chức thực hiện nhiệm vụ thanh tra, kết luận thanh tra Hoạtđộng thanh tra của các cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyênngành do chính các công chức của cơ quan được giao thực hiện chức năng thanhtra chuyên ngành đó thực hiện Quá trình thực hiện nhiệm vụ thanh tra, các côngchức được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành có quyền yêu cầuđối tượng thanh tra cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung thanhtra, được quyền xử phạt vi phạm hành chính và chịu trách nhiệm trước pháp luật
về các quyết định, hành vi của mình trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thanhtra
Trang 132.1.2 Đặc điểm và nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan được giao chức năng thanh tra chuyên ngành
Thứ nhất, cơ quan tiến hành thanh tra chuyên ngành mang tính quyền lực
Nhà nước và thực hiện quyền lực Nhà nước để tiến hành các hoạt động thanhtra
Thanh tra là một hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước Để thực hiệnchức năng quản lý Nhà nướccơ quan tiến hành thanh tra phải tác động tích cựcnhằm thực hiện quyền lực của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý Tínhquyền lực Nhà nước của hoạt động thanh tra thể hiện ở chỗ, các cơ quan, tổchức, cá nhân là cơ quan tiến hành thanh tra đều có nhiệm vụ, quyền hạn đượcxác định và khả năng thực hiện những quyền hạn đó
Trong hoạt động thanh tra, các cơ quan tiến hành thanh tra chuyên ngành,như trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành; các thành viên đoàn thanh tra chuyênngành; thanh tra viên, người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyênngành tiến hành thanh tra độc lập; người ra quyết định thanh tra chuyên ngànhđược thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại các Điều 53, 54, 55 LuậtThanh tra Ngoài ra, thực hiện quyền trong hoạt động thanh tra còn được quyđịnh từ Điều 34 đến Điều 42 Nghị định 86/2011/NĐ-CP ngày 22/9/2011 củaChính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanhtra
Thứ hai, cơ quan, tổ chức, cá nhân chỉ thể hiện vai trò cơ quan tiến hành
thanh tra chuyên ngành trong giai đoạn lịch sử cụ thể hoặc khoảng thời gian nhấtđịnh theo quy định của pháp luật, tùy thuộc vào vị trí, chức năng, nhiệm vụ củatừng chủ thể
Năng lực cơ quan tiến hành thanh tra của cơ quan thanh tra Nhà nước phátsinh khi cơ quan đó được thành lập và chấm dứt khi cơ quan đó bị giải thể Nănglực này được pháp luật của Nhà nước quy định cụ thể về chức năng, nhiệm vụ,quyền hạn của cơ quan quản lý chuyên ngành, lĩnh vực, chuyên môn - kỹ thuật,
Trang 14như bộ, sở Đối với tổng cục, cục, chi cục thuộc sở, chi cục thuộc cục và tươngđương chỉ được thực hiện chức năng chuyên ngành khi pháp luật quy định Biểuhiện cụ thể là sau khi Nghị định 07/2012/NĐ-CP ngày 9/2/2012 của Chính phủquy định về cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành vàhoạt động thanh tra chuyên ngành được ban hành, nhiều tổng cục, cục thuộc 12
bộ, 5 cục thuộc tổng cục và tương đương, 6 chi cục thuộc sở, chi cục thuộc cục
và tương đương đã được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành
Năng lực cơ quan tiến hành thanh tra của các cá nhân cán bộ, công chứcphát sinh khi họ được Nhà nước giao đảm nhiệm một công vụ, chức vụ nhấtđịnh trong cơ quan thanh tra Nhà nước, cơ quan được giao thực hiện chức năngthanh tra chuyên ngành, đoàn thanh tra hoặc nhiệm vụ thanh tra độc lập và chấmdứt khi không còn đảm nhiệm chức vụ, công vụ đó Biểu hiện cụ thể là cácquyết định bổ nhiệm cán bộ vào các vị trí lãnh đạo quản lý (bộ trưởng, giám đốc
sở, thủ trưởng cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành,chánh thanh tra bộ, chánh thanh tra sở) Đối với cán bộ tham gia các đoàn thanhtra với vai trò trưởng đoàn, phó trưởng đoàn, thành viên đoàn thanh tra, thanh traviên, người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành tiến hànhthanh tra độc lập, năng lực chủ thể của các cá nhân phát sinh khi quyết địnhthanh tra được ban hành và chấm dứt khi hết thời hạn thanh tra hoặc hoàn thànhnhiệm vụ thanh tra
Thứ ba, cơ quan là chủ thể tiến hành thanh tra chuyên ngành (thanh tra bộ,
thanh tra sở), người trực tiếp tiến hành thanh tra chuyên ngành có tính độc lậptương đối với cơ quan quản lý Nhà nước
Thanh tra luôn gắn liền với quản lý Nhà nước Trong mối quan hệ giữaquản lý và thanh tra thì quản lý Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, chi phối hoạtđộng của thanh tra Xét về cơ cấu, chức năng của quản lý thì thanh tra chỉ lànhững công cụ, phương tiện để quản lý Nhà nước, tuy nhiên thanh tra cũng cótính độc lập tương đối với quản lý Nhà nước
Trang 15Luật Thanh tra 2010 đã xác định tính độc lập tương đối của các cơ quanthanh tra với cơ quan quản lý Nhà nước cùng cấp, cụ thể là chánh thanh tra cấp
sở, bộ có thẩm quyền quyết định việc thanh tra theo kế hoạch và thanh tra độtxuất khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật và chịu trách nhiệm về quyết định củamình, có quyền yêu cầu thủ trưởng cơ quan được giao thực hiện chức năngthanh tra chuyên ngành cùng cấp tiến hành thanh tra trong phạm vi quản lý của
cơ quan đó khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật Trường hợp thủ trưởng
cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành không đồng ýthì có quyền ra quyết định thanh tra, báo cáo và chịu trách nhiệm trước thủtrưởng cơ quan quản lý Nhà nước cùng cấp về quyết định của mình
Ngoài ra, chánh thanh tra bộ, chánh thanh tra sở, thủ trưởng cơ quan đượcgiao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành còn có quyền ra quyết địnhphân công thanh tra viên, người được giao nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành tiếnhành thanh tra độc lập, trong khi thủ trưởng cơ quan quản lý Nhà nước không cóthẩm quyền này
Thứ tư, chủ thể tiến hành thanh tra chuyên ngành được áp dụng 3 hình
thức tiến hành thanh tra là thanh tra theo kế hoạch, thanh tra thường xuyên vàthanh tra đột xuất, trong khi đó thanh tra hành chính chỉ có 2 hình thức (thanhtra theo kế hoạch và thanh tra đột xuất)
Ngoài ra, Luật Thanh tra còn quy định khi tiến hành thanh tra chuyênngành, chánh thanh tra bộ, chánh thanh tra sở, thủ trưởng cơ quan được giaothực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành căn cứ vào kế hoạch thanh tra đãđược phê duyệt có thẩm quyền ra quyết định phân công thanh tra viên, ngườiđược giao nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành tiến hành thanh tra độc lập; để tiếnhành các hoạt động thanh tra hành chính là chủ thể tiến hành thanh tra (thủtrưởng cơ quan thanh tra Nhà nước hoặc thủ trưởng cơ quan quản lý Nhà nước)chỉ có thẩm quyền ra quyết định thanh tra và thành lập đoàn thanh tra để thực
Trang 16hiện quyết định thanh tra, không có thẩm quyền ra quyết định tổ chức thanh trađộc lập.
2.1.3 Thời hạn thanh tra của Đoàn thanh tra chuyên ngành
Nghị định nêu rõ, cuộc thanh tra chuyên ngành do Thanh tra bộ, Tổngcục, Cục thuộc Bộ tiến hành không quá 45 ngày; trường hợp phức tạp có thể kéodài hơn, nhưng không quá 70 ngày
Cuộc thanh tra chuyên ngành do Thanh tra sở, Chi cục thuộc Sở tiến hànhkhông quá 30 ngày; trường hợp phức tạp có thể kéo dài hơn, nhưng không quá
Chậm nhất 15 ngày, kể từ ngày kết thúc cuộc thanh tra, Trưởng đoànthanh tra phải có văn bản báo cáo kết quả thanh tra, trừ trường hợp nội dung kếtluận thanh tra phải chờ kết luận về chuyên môn của cơ quan, tổ chức có thẩmquyền
Căn cứ báo cáo kết quả thanh tra, nội dung giải trình của đối tượng thanhtra (nếu có), chậm nhất 15 ngày kể từ ngày nhận được báo cáo kết quả thanh tra,người ra quyết định thanh tra phải ra văn bản kết luận thanh tra; trừ trường hợpnội dung kết luận thanh tra phải chờ kết luận về chuyên môn của cơ quan, tổchức có thẩm quyền
2.2 Thực tiễn hệ thống cơ quan được giao chức năng thanh tra chuyên ngành
Luật Thanh tra năm 2010 và Nghị định số 07/2012/NĐ-CP của Chính phủ
đã góp phần tạo lập khung pháp lý quan trọng trong việc hoàn thiện tổ chức và