Đặc biệt là các đơn vị có lợi ích công chúng gồm Tổ chức tín dụng, Tổ chức tài chính, Doanh nghiệp bảo hiểm, Tổ chức phát hành, Tổ chức niêm yết và Tổ chức kinh doanh chứng khoán… là cá
Trang 1GIẢI PHÁP HẠN CHẾ THAO TÚNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI VIỆT NAM
TỪ GÓC ĐỘ HIỆP HỘI NGHỀ NGHIỆP
TS Hà Thị Ngọc Hà Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam Email: hangocha@vacpa.org.vn
Tóm tắt
Có thể nói, tính minh bạch là yếu tố sống còn và quyết định mức độ hiệu quả của thị trường chứng khoán Tuy nhiên, thao túng báo cáo tài chính (BCTC) xuất phát từ nhiều nguyên nhân và thường có tác động tiêu cực đối với nhiều bên liên quan như nhà đầu tư, cổ đông và bên cung cấp vốn cho doanh nghiệp (DN) Đặc biệt là các đơn
vị có lợi ích công chúng (gồm Tổ chức tín dụng, Tổ chức tài chính, Doanh nghiệp bảo hiểm, Tổ chức phát hành, Tổ chức niêm yết và Tổ chức kinh doanh chứng khoán…) là các doanh nghiệp, tổ chức có liên quan nhiều đến công chúng do tính chất và quy mô hoạt động mà việc lập và trình bày BCTC và việc kiểm toán BCTC của các đơn vị này nếu không đúng đắn sẽ có ảnh hưởng nghiêm trọng đến lòng tin của công chúng Do vậy việc xây dựng và triển khai các giải pháp để hạn chế thao túng BCTC của các đơn
vị có lợi ích công chúng tại Việt Nam là một vấn đề cần ưu tiên và đẩy mạnh trong thời gian tới Công việc này cần phải triển khai đồng bộ trên các mặt thể chế, quy định pháp lý; triển khai thực hiện và kiểm tra, giám sát
Từ khóa: hiệp hội nghề nghiệp, hạn chế thao túng BCTC, bên liên quan, lợi ích công
chúng
Giới thiệu
Trong các năm năm qua, thị trường chứng khoán Việt Nam đã có những bước phát triển nhất định, trở thành một kênh huy động vốn quan trọng trong nền kinh tế thị trường Để thu hút được lòng tin của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán, thông tin
về tổ chức phát hành phải minh bạch, tức là phải công khai, trung thực, chính xác và được cung cấp đầy đủ, kịp thời cho thị trường Tuy nhiên, thực tế trên thị trường chứng khoán đã phát sinh một số vấn đề phức tạp, đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa các nhà hoạch định chính sách, cơ quan quản lý Nhà nước, hiệp hội nghề nghiệp và các bên liên quan Các vấn đề đó là:
- Sự đảo chiều mạnh mẽ và đôi khi bất ngờ về kết quả hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính của các đơn vị có lợi ích công chúng gây ra thiệt hại đáng
kể về tài chính đối với nhà đầu tư;
Trang 2- Việc phát hiện các vấn đề không tuân thủ chuẩn mực, chế độ kế toán của các đơn vị có lợi ích công chúng, ngay cả những đơn vị có quy mô lớn và có uy tín
- Việc sữa chữa, cải chính thông tin trên BCTC của các đơn vị có lợi ích công chúng;
- Áp lực ngày càng gia tăng đối với ban Giám đốc của các đơn vị có lợi ích công chúng và đối với DNKT và KTV trong môi trường kinh tế hiện nay;
- Quan ngại về sự giám sát đối với KTV, bao gồm cả các vấn đề liên quan đến sự độc lập và hiệu quả của cách thức đánh giá chất lượng kiểm toán hiện nay và quy định về xử lý kỷ luật;
Do vậy việc xây dựng và triển khai các giải pháp để hạn chế thao túng BCTC của các đơn vị có lợi ích công chúng tại Việt Nam là một vấn đề cần ưu tiên và đẩy mạnh trong thời gian tới Công việc này cần phải triển khai đồng bộ trên các mặt thể chế, quy định pháp lý; triển khai thực hiện và kiểm tra, giám sát Đứng trên góc độ hiệp hội nghề nghiệp, chúng tôi cho rằng để hạn chế thao túng BCTC tại Việt Nam cần thực hiện các giải pháp sau:
I Về mặt thể chế, quy định pháp lý
1 Cần sớm áp dụng chuẩn mực lập và trình bày BCTC quốc tế (IFRS) vào Việt Nam
Các chuẩn mực lập và trình bày BCTC quốc tế (IFRS) khi được áp dụng tại Việt Nam, đặc biệt là các đơn vị có lợi ích công chúng sẽ tăng cường trách nhiệm giải trình, nâng cao tính minh bạch của BCTC và khả năng so sánh giữa các DN với nhau cũng như trong các giai đoạn khác nhau của cùng một DN IFRS yêu cầu các giao dịch phải được phản ánh theo bản chất, phù hợp với cách thức vận hành hơn là tên gọi hay hình thức pháp lý của chúng, điều này sẽ giúp cho kết quả hoạt động kinh doanh của DN được phản ánh khách quan, trung thực, DN không thể tùy tiện điều chỉnh hoặc giấu lãi hoặc lỗ theo ý muốn chủ quan của mình Những thông tin về giá trị hợp lý theo từng cấp độ, giá trị hiện tại, giá trị thanh lý có thể thu hồi, giá trị thuần có thể thực hiện được, yêu cầu ghi nhận kịp thời các khoản tổn thất, suy giảm tài sản, giúp đánh giá đúng năng lực tài chính của DN
Đồng thời, áp dụng IFRS giúp cung cấp cho người sử dụng BCTC nhiều thông tin hữu ích do Ban giám đốc phải công bố chi tiết căn cứ cho việc ghi nhận và trình bày BCTC, giải trình nguyên nhân cụ thể trong những trường hợp không thể tuân thủ Chuẩn mực, thuyết minh rõ những rủi ro và chính sách quản lý rủi ro mà DN có thể gặp phải trong quá trình hoạt động, như: Căn cứ xác định giá trị hợp lý của tài sản và
nợ phải trả, các sự kiện đã phát sinh sử dụng làm căn cứ trích lập dự phòng phải trả, căn cứ ghi nhận các khoản lỗ ước tính trong tương lai từ các hợp đồng có rủi ro lớn,
Trang 3thuyết minh về các rủi ro trong hoạt động kinh doanh, rủi ro tín dụng, rủi ro suy giảm lãi trên cổ phiếu và suy giảm dòng tiền trong tương lai, từ đó hỗ trợ quá trình đưa ra quyết định kinh tế của nhà đầu tư, chủ nợ, nhà cung cấp Mặt khác, việc cung cấp thông tin rõ ràng, minh bạch sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát ngay trong nội bộ DN cũng như từ phía cơ quan quản lý Nhà nước
Trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế, BCTC của DN được minh bạch với chất lượng cao, phù hợp với thông lệ, chuẩn mực kế toán (CMKT) quốc tế là nền tảng cho một nền kinh tế và hệ thống tài chính vận hành hiệu quả Các vụ bê bối về tài chính và kế toán dẫn đến sự sụp đổ các tập đoàn kinh tế hàng đầu thế giới mà điển hình là Enron… càng khẳng định rõ BCTC lành mạnh là điều kiện cần thiết cho sự ổn định và tăng trưởng của tài chính toàn cầu Do vậy yêu cầu xây dựng thể chế và năng lực kỹ thuật để cải thiện chất lượng BCTC là hết sức cần thiết Những năm qua có rất nhiều thay đổi quan trọng trong công tác kế toán và BCTC Trên bình diện quốc tế, các
tổ chức ban hành CMKT quốc tế đang trong quá trình bổ sung, sửa đổi, xây dựng trên
cơ sở nền kinh tế thị trường phát triển cao, theo hướng cố gắng hài hoà các nguyên tắc
kế toán được thừa nhận của Mỹ (USGAAP) và IFRS Liên minh Châu Âu yêu cầu tất
cả các tổ chức niêm yết của các nước là thành viên EU áp dụng CMKT quốc tế, các quốc gia ban hành Chuẩn mực của mình theo hướng gần với IFRS Đến nay ở Việt Nam đã ban hành 26 CMKT theo 5 đợt từ năm 2001 đến năm 2005 Tuy nhiên, theo CMKT quốc tế thì tất cả 26 CMKT Việt Nam đã được bổ sung, sửa đổi Các CMKT Việt Nam đến nay được đánh giá là không phù hợp hoặc chưa đầy đủ, chưa đáp ứng yêu cầu thực tế tại Việt Nam, cũng như chưa phù hợp với CMKT quốc tế, trong đó nguyên nhân quan trọng là chưa CMKT về giá trị hợp lý Năm 2015, Quốc hội đã thông qua Luật kế toán sửa đổi, bổ sung số 88/2015/QH13, trong đó một trong các nội dung quan trọng được bổ sung đó là qui định các nguyên tắc kế toán liên quan đến giá trị hợp lý (các qui định về giá trị hợp lý được đề cập trong 3 Điều là Điều số 3, số 6 và Điều số 28 Luật kế toán năm 2015) Theo Điều 6 Luật kế toán năm 2015 thì “Bộ Tài chính quy định chuẩn mực kế toán trên cơ sở chuẩn mực quốc tế về kế toán phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam” Do vậy Bộ Tài chính cần nghiên cứu đồng bộ các CMKT quốc tế để cập nhật các CMKT đã và sẽ ban hành mới, đặc biệt là giá trị hợp lý, công cụ tài chính vì nó liên quan đến nhiều CMKT khác và để đáp ứng nhu cầu sử dụng công cụ tài chính phái sinh như một đòn bẩy kinh tế hoặc một công cụ quản trị
và ngăn ngừa rủi ro phổ biến của nhà đầu tư Việc nghiên cứu để ban hành các CMKT cần được tiến hành trên cơ sở tiếp cận, áp dụng các thông lệ, CMKT quốc tế phù hợp với hệ thống luật pháp, trình độ, kinh nghiệm kế toán của Việt Nam theo lộ trình phù hợp để đáp ứng nhu cầu minh bạch thông tin tài chính của các đơn vị có lợi ích công chúng mà Việt Nam cần khẩn trương thực hiện
Trang 4Đồng thời với việc sớm áp dụng IFRS, Việt Nam cần quy định thống nhất việc lập và trình bày BCTC của tất cả các doanh nghiệp nói chung phải trên cơ sở CMKT
và chỉ trên cơ sở CMKT, tránh việc yêu cầu DN lập và trình bày BCTC vừa trên cơ sở CMKT vừa trên cơ sở cơ chế tài chính như hiện nay, điều này làm mất đi tính có thể
so sánh được của thông tin trên BCTC do việc xử lý khác nhau giữa cơ chế tài chính
và CMKT Thực tế đã chứng minh việc xử lý khác biệt giữa CMKT và cơ chế tài chính (về chênh lệch tỷ giá, về trích lập dự phòng đầu tư chứng khoán, ) tạo ra kẽ hở cho các đơn vị lợi dụng để biến lãi thành lỗ hoặc lỗ thành lãi, dẫn đến sự thiếu minh bạch của BCTC và gây khó khăn cho hoạt động thanh kiểm tra, kiểm toán của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
2 Đối với các đơn vị có lợi ích công chúng
2.1 Cần quy định và nâng cao vai trò của bộ phận kiểm toán nội bộ trong các doanh nghiệp đối với việc kiểm tra, soát xét BCTC trước khi công bố
Kiểm toán nội bộ là công cụ giúp phát hiện và cải tiến những điểm yếu trong hệ thống quản lý của DN và đem lại cho DN rất nhiều lợi ích Một DN có kiểm toán nội
bộ sẽ làm gia tăng niềm tin của các cổ đông, các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán về hệ thống quản trị ở đây Các thống kê trên thế giới cho thấy các DN có bộ phận kiểm toán nội bộ thường có báo cáo đúng hạn, BCTC có mức độ minh bạch và chính xác cao, khả năng gian lận thấp và hiệu quả sản xuất kinh doanh cao hơn
Yêu cầu về kiểm toán nội bộ ở Việt Nam mới được quy định trong Luật kế toán năm 2015 và Bộ tài chính đã trình Chính phủ dự thảo Nghị định về kiểm toán nội bộ trong các tổ chức, doanh nghiệp, trong đó yêu cầu các đơn vị có lợi ích công chúng, các doanh nghiệp nhà nước và các DN có vốn nhà nước trên 50% vốn điều lệ bắt buộc phải kiểm toán theo luật định Việc sớm ban hành Nghị định này và các văn bản hướng dẫn, trong đó đề cao vai trò kiểm tra, soát xét BCTC trước khi công bố của kiểm toán nội bộ cũng sẽ góp phần quan trọng hạn chế hiện tượng thao túng BCTC từ chính bản thân các doanh nghiệp
2.2 Yêu cầu thiết lập Ủy ban kiểm toán trong các đơn vị có lợi ích công chúng
Các đơn vị có lợi ích công chúng theo qui định hiện hành chưa phải thiết lập Ủy ban kiểm toán Để phù hợp với thông lệ các nước, cần qui định các đơn vị có lợi ích công chúng phải thiết lập một Ủy ban kiểm toán Các thành viên của Uỷ ban kiểm toán không phải là những người chịu trách nhiệm quản lý, điều hành, kế toán trưởng của đơn vị được kiểm toán Trong Uỷ ban kiểm toán phải có ít nhất 1 thành viên là độc lập
và có chuyên môn về kế toán hoặc kiểm toán, trong đó cần qui định rõ các nội dung sau:
Trang 5(1) Trách nhiệm của Uỷ ban kiểm toán:
- Giám sát quá trình lập BCTC; Xem xét, đánh giá tính hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ của đơn vị và hệ thống chính sách quản lý rủi ro;
- Giám sát hoạt động kiểm toán theo luật định đối với BCTC và BCTC hợp nhất hàng năm;
- Kiểm tra và giám sát tính độc lập của KTV và DNKT Trong đơn vị có lợi ích công chúng, việc bổ nhiệm KTV và DNKT theo luật định phải dựa trên đề nghị của
Uỷ ban kiểm toán
(2) KTV và DNKT theo luật định phải báo cáo cho Uỷ ban kiểm toán về những nội dung quan trọng phát hiện trong quá trình kiểm toán theo luật định, đặc biệt là những yếu kém quan trọng trong kiểm soát nội bộ liên quan đến quá trình lập BCTC (3) Tính độc lập: Để kiểm tra và giám sát tính độc lập của KTV và DNKT, cần qui định DNKT thực hiện kiểm toán BCTC của đơn vị có lợi ích công chúng phải:
- Ký cam kết bằng văn bản với Ủy ban kiểm toán về tính độc lập của DNKT và của KTV và được Uỷ ban kiểm toán xác nhận bằng văn bản về tính độc lập của DNKT với đơn vị được kiểm toán;
- Báo cáo cho Uỷ ban kiểm toán về các dịch vụ đã cung cấp cho đơn vị được kiểm toán; và thảo luận với Uỷ ban kiểm toán về những nguy cơ ảnh hưởng đến tính độc lập của DNKT và những biện pháp ngăn chặn nguy cơ có thể phát sinh làm ảnh hưởng đến tính độc lập của KTV và các thành viên ban lãnh đạo của DNKT
2.3 Cần quy định các hình thức xử phạt hành vi thao túng BCTC một cách nghiêm khắc hơn
Hiện nay, các biện pháp xử phạt hành vi thao túng BCTC chưa được quy đầy đủ, rõ ràng trong các văn bản pháp luật hiện hành Đồng thời mức xử phạt một số hành vi
có liên quan đến việc thao túng BCTC chưa đủ sức răn đe, ví dụ trong Nghị định 105/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán đưa ra mức phạt tiền còn thấp Hiện nay Chính phủ đang rà soát để ban hành Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán độc lập thay thế Nghị định 105 nói trên Tuy nhiên trong dự thảo nghị định, mức xử phạt đối với đơn vị lập BCTC vẫn chưa phù hợp và chưa tương xứng với các đơn vị có lợi ích công chúng, tổ chức niêm yết trên thị trường chứng khoán Vì vậy, trong thời gian tới, các
cơ quan quản lý Nhà nước, đặc biệt Ủy ban Chứng khoán nhà nước, Ngân hàng nhà nước cần đề xuất và đưa ra các biện pháp xử lý nghiêm khắc hơn đối với các DN thuộc lĩnh vực chứng khoán, tổ chức tín dụng nếu có hành vi này
Trang 63 Đối với các doanh nghiệp kiểm toán
Những năm qua nhiều sự kiện gây xôn xao dư luận về các Tập đoàn kinh tế lớn phá sản trong khi BCTC công khai có nhiều sai sót trọng yếu nhưng vẫn được KTV hành nghề (sau đây gọi tắt là KTV) và DNKT xác nhận là trung thực và hợp lý càng khẳng định thêm về tình trạng khẩn cấp và yêu cầu phải tăng cường hơn nữa các qui định bổ sung liên quan đến kiểm toán theo luật định đối với BCTC của các đơn vị có lợi ích công chúng
3.1 Xây dựng và ban hành Bộ chỉ số chất lượng kiểm toán
Kiểm toán độc lập có vai trò quan trọng trong việc kiểm tra, xác nhận tính trung thực và hợp lý của BCTC, vì vậy đánh giá và nâng cao chất lượng dịch vụ kiểm toán độc lập cũng góp phần hạn chế hiện tượng thao túng BCTC Tuy nhiên, từ trước đến nay, đánh giá chất lượng kiểm toán khá phức tạp do việc định nghĩa, đo lường hoặc xác định các tiêu chí đánh giá chất lượng kiểm toán vẫn là một thách thức và chưa có
sự thống nhất chung hoặc được chấp nhận rộng rãi trên toàn cầu Những năm gần đây, một giải pháp nổi bật được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các tổ chức nghề nghiệp về kế toán, kiểm toán có uy tín trên thế giới lựa chọn để bổ sung, hỗ trợ cho các cách thức đánh giá chất lượng kiểm toán hiện nay là xây dựng Bộ chỉ số chất lượng kiểm toán (Audit quality indicators) Đây là giải pháp mới, được sử dụng kết hợp và
bổ sung cho các cách thức hiện tại đang áp dụng để nâng cao chất lượng kiểm toán Tính chất mới của giải pháp này thể hiện chủ yếu ở chỗ đối tượng chính thực hiện đánh giá chất lượng kiểm toán là đơn vị đươc kiểm toán và nhà đầu tư Bộ chỉ số giúp đơn vị được kiểm toán và các cổ đông lựa chọn được doanh nghiệp kiểm toán (DNKT)
có các chỉ số tốt, thể hiện khả năng cung cấp dịch vụ kiểm toán có chất lượng cao Bộ chỉ số sẽ cung cấp cơ sở thống nhất cho việc so sánh chất lượng giữa các cuộc kiểm toán và giữa các DNKT
Trong thời gian tới, Bộ Tài chính, UBCKNN và VACPA cần phối hợp xây dựng
bộ chỉ số chất lượng kiểm toán để đảm bảo tính lành mạnh trong cạnh tranh giá phí kiểm toán, nâng cao chất lượng cuộc kiểm toán và các thông tin được công bố trên thị trường chứng khoán Bộ chỉ số này do cơ quan Nhà nước ban hành và trên cơ sở đó, các DNKT lập và đính kèm trong hồ sơ thầu dịch vụ kiểm toán, là cơ sở để khách hàng
là các đơn vị có lợi ích công chúng so sánh, lựa chọn DNKT Đồng thời, với các chỉ số chung sẽ được công bố trong Báo cáo minh bạch của DNKT Các chỉ số do DNKT lập, trước tiên sẽ được các đơn vị có lợi ích công chúng theo dõi, so sánh trong quá trình cung cấp dịch vụ kiểm toán của DNKT Bộ chỉ số đó cũng được các cơ quan Nhà nước
sử dụng làm cơ sở đánh giá rủi ro, từ đó lựa chọn DNKT vào danh sách được kiểm soát chất lượng hàng năm Thông qua Bộ chỉ số này, cổ đông và nhà đầu tư hiểu được
cơ sở mà các đơn vị có lợi ích công chúng lựa chọn DNKT Quan trọng hơn, đó là
Trang 7động lực mạnh mẽ để các DNKT tăng tính cạnh tranh thông qua việc cải thiện chất lượng, từ đó nâng cao các chỉ số của DN mình Hiện nay, Liên đoàn kế toán (IFAC) đã ban hành Khuôn khổ về chất lượng kiểm toán (tháng 2/2014) và ở một số thị trường chứng khoán phát triển, các cơ quan quản lý như Ủy ban giám sát các công ty kiểm toán được chấp thuận (PCAOB) ở Hoa Kỳ, Hội đồng BCTC (FRC) ở Anh, Hội đồng giám sát kiểm toán (FAOA) ở Thụy Sỹ, Cơ quan ban hành chính sách kế toán và doanh nghiệp (ACRA) ở Singapore đã ban hành hoặc chuẩn bị ban hành các Bộ chỉ số chất lượng kiểm toán Các DNKT ở các nước là thành viên Liên minh Châu Âu cũng
đã thực hiện việc công bố các chỉ số về chất lượng trong báo cáo minh bạch của mình Các bộ chỉ số này có thể đơn giản hoặc phức tạp hơn ở các nước khác nhau nhưng đều bao gồm một số chỉ số chung nhất định Ở Việt Nam, Bộ Tài chính và UBCKNN cũng cần nghiên cứu, ban hành bộ chỉ số này để đáp ứng thông lệ quốc tế
3.2 Các thông tin tài chính trong bản cáo bạch của tổ chức phát hành và BCTC quý của các tổ chức niêm yết cần phải được kiểm tra, soát xét
Tháng 5/2015, Bộ Tài chính đã ban hành 10 chuẩn mực đợt 2, trong đó có 2 chuẩn mực (CM) về soát xét thông tin tài chính quá khứ (CM 2400 và CM 2410) và 3
CM về dịch vụ đảm bảo khác ngoài kiểm toán và soát xét, gồm: CM số 3000 - Hợp đồng dịch vụ đảm bảo ngoài dịch vụ kiểm toán và soát xét thông tin tài chính quá khứ,
CM số 3400 - Kiểm tra thông tin tài chính tương lai, CM số 3420 - Hợp đồng dịch vụ đảm bảo về báo cáo tổng hợp thông tin tài chính theo quy ước trong bản cáo bạch Để các chuẩn mực này được triển khai thực hiện, thời gian tới, UBCKNN cần nghiên cứu
và đề xuất với Bộ Tài chính để quy định cho phù hợp với thông lệ chung của các nước
đó là yêu cầu các thông tin tài chính do các tổ chức niêm yết, phát hành công bố (ví dụ thông tin tài chính, thông tin giả định trong bản cáo bạch, thông tin tài chính tương lai, thông tin tài chính trong báo cáo phát triển bền vững, ) phải được kiểm tra, xác nhận bởi các DNKT để nâng cao độ tin cậy của các thông tin trên thị trường chứng khoán
Cụ thể, bản cáo bạch là một tài liệu quan trọng để nhà đầu tư quyết định mua chứng khoán phát hành Tuy nhiên, hiện nay Hồ sơ đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng mới chỉ quy định phải có BCTC của tổ chức phát hành trong hai năm gần nhất được kiểm toán Trong khi đó, bản cáo bạch còn chứa đựng nhiều thông tin tài chính khác chưa được kiểm tra, soát xét như các phân tích đánh giá về tình hình tài chính và kết quả hoạt động của tổ chức phát hành đưa ra hoặc các thông tin tài chính
dự báo trong tương lai Do vậy, tồn tại rủi ro các thông tin tài chính khác trong bản cáo bạch có sai sót, ảnh hưởng đến quyết định nhà đầu tư Theo đó, để nâng cao độ tin cậy của thông tin trong bản cáo bạch và bảo vệ nhà đầu tư, cần có quy định của pháp luật
để ràng buộc trách nhiệm của tổ chức phát hành và đơn vị tư vấn/bảo lãnh phát hành đối với thông tin công bố trong bản cáo bạch thông qua việc bắt buộc các thông tin tài
Trang 8chính trong bản cáo bạch phải được kiểm tra, soát xét bằng dịch vụ đảm bảo bởi DNKT độc lập
Theo quy định hiện nay (Thông tư số 162/2015/TT-BTC ngày 26/10/2015 của
Bộ Tài chính “Hướng dẫn việc chào bán chứng khoán ra công chúng, chào bán cổ phiếu để hoán đổi, phát hành thêm cổ phiếu, mua lại cổ phiếu, bán cổ phiếu quỹ và chào mua công khai cổ phiếu” và Thông tư số 202/2015/TT-BTC ngày 18/12/2015 của
Bộ Tài chính “Hướng dẫn về niêm yết chứng khoán trên Sở giao dịch chứng khoán”) trong hồ sơ đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng và hồ sơ đăng ký niêm yết chứng khoán tại Sở Giao dịch chứng khoán phải có bản cáo bạch và bản cáo bạch phải bao gồm BCTC của tổ chức phát hành trong hai năm gần nhất được kiểm toán bởi DNKT được chấp thuận Trường hợp ngày kết thúc kỳ kế toán của BCTC gần nhất cách thời điểm gửi hồ sơ đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng đầy đủ và hợp
lệ cho UBCKNN quá 90 ngày, tổ chức phát hành phải nộp BCTC bổ sung đến tháng hoặc quý gần nhất theo quy định của pháp luật về kế toán Trường hợp có những biến động bất thường sau thời điểm kết thúc niên độ của báo cáo tài chính gần nhất, tổ chức phát hành cần nộp BCTC bổ sung đến tháng hoặc quý gần nhất Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa có quy định BCTC tháng hoặc quý gần nhất này phải được soát xét bởi DNKT độc lập như thông lệ quốc tế Ngoài ra, bản cáo bạch trong hồ sơ đăng ký chào bán chứng khoán có thể chứa đựng nhiều thông tin tài chính khác ngoài BCTC mà có thể chưa được kiểm tra soát xét kỹ càng bởi người có chuyên môn độc lập Do vậy, có rủi ro là BCTC và các thông tin tài chính khác trong bản cáo bạch ngoài BCTC đã kiểm toán có thể có sai sót ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư Vì vậy để nâng cao độ tin cậy của thông tin trong bản cáo bạch cần có quy định phải soát xét BCTC tháng hoặc quý gần nhất tính đến thời điểm gửi hồ sơ đăng ký chào bán chứng khoán
ra công chúng
Việc yêu cầu BCTC tháng/quý bao gồm trong bản cáo bạch phải được tổ chức kiểm toán độc lập soát xét là rất cần thiết và không phức tạp để thực hiện Để thực hiện việc soát xét BCTC tháng/quý, tổ chức kiểm toán có thể áp dụng CM số 2400 – Dịch vụ soát xét BCTC quá khứ hoặc CM số 2410 – Soát xét thông tin tài chính giữa niên độ do KTV độc lập của đơn vị được thực hiện, tùy hoàn cảnh cụ thể của hợp đồng dịch vụ
3.3 Hệ thống kiểm soát nội bộ của các đơn vị có lợi ích công chúng cần phải được kiểm tra, soát xét bới doanh nghiệp kiểm toán
Về việc nâng cao chất lượng hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) trong đơn vị có lợi ích công chúng, cho đến nay pháp luật có nhiều quy định về vấn đề này
Trang 9Điều 40, Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 quy định tổ chức tín dụng phải xây dựng hệ thống KSNB và hoạt động của hệ thống KSNB của tổ chức tín dụng phải được kiểm toán nội bộ, tổ chức kiểm toán độc lập đánh giá định kỳ;
Điều 57 Luật Kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12 quy định trách nhiệm của đơn vị có lợi ích công chúng là xây dựng và vận hành hệ thống KSNB phù hợp và có hiệu quả;
Điều 39, Luật Kế toán năm 2015 quy định đơn vị kế toán phải thiết lập hệ thống KSNB
Tuy nhiên nếu đơn vị có lợi ích công chúng thiết lập và vận hành hệ thống KSNB nhưng không được kiểm tra, xác nhận bởi dịch vụ đảm bảo thì chất lượng hệ thống KSNB và tính hiệu quả, hiệu lực của nó sẽ không cao Theo thông lệ quốc tế, hàng năm các đơn vị có lợi ích công chúng phải lập báo cáo về hệ thống KSNB và báo cáo này phải được bên thứ 3 độc lập kiểm tra, xác nhận Cụ thể, để đảm bảo mức độ tin cậy của BCTC, các nước như Mỹ và Nhật Bản qui định hàng năm DNKT phải kiểm tra tính hữu hiệu của hệ thống KSNB liên quan đến lập và trình bày BCTC của các tổ chức niêm yết Hiện nay, Bộ Tài chính đã ban hành CM số 3000 - Hợp đồng dịch vụ đảm bảo ngoài dịch vụ kiểm toán và soát xét thông tin tài chính quá khứ (ban hành theo thông tư số 66/2015/TT-BTC ngày 08/05/2015), đây là cơ sở hướng dẫn thực hiện dịch vụ kiểm tra, xác nhận báo cáo về hệ thống KSNB của các đơn vị Do đó, trong thời gian tới, cần quy định về việc đơn vị có lợi ích công chúng phải phải lập báo cáo về hệ thống KSNB và báo cáo này phải được kiểm tra, xác nhận bởi DNKT tương
tự như đã quy định đối với các tổ chức tín dụng, để từng bước nâng cao chất lượng hoạt động KSNB các đơn vị có lợi ích công chúng Đồng thời, để các hướng dẫn thực hiện dịch vụ này được đầy đủ, Bộ Tài chính cần phối hợp VACPA tiếp tục nghiên cứu, cập nhật đầy đủ các chuẩn mực về dịch vụ đảm bảo mà quốc tế đã ban hành, trong đó
có CM số 3402 – “Báo cáo đảm bảo về các kiểm soát trong một tổ chức dịch vụ”, để
có cơ sở pháp lý cho DNKT cung cấp dịch vụ kiểm tra, đánh giá hệ thống KSNB
4 Cần quy định kiểm toán viên hành nghề phải là hội viên bắt buộc của tổ chức nghề nghiệp về kiểm toán
Cần luật hóa việc quy định điều kiện KTV hành nghề phải là hội viên của tổ chức nghề nghiệp về kiểm toán phù hợp với thông lệ quốc tế Ở hầu hết các nước, người hành nghề kiểm toán đều phải là hội viên của một trong các tổ chức nghề nghiệp được Nhà nước thừa nhận, là hội viên bắt buộc là một trong các điều kiện hành nghề của KTV Việc quy định KTV hành nghề phải là hội viên của tổ chức nghề nghiệp sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm tra chất lượng KTV Tổ chức nghề nghiệp là đơn vị kiểm tra, giám sát việc tuân thủ chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán
Trang 10của các KTV hành nghề Đây là tiêu chí quan trọng để tạo điều kiện cho tổ chức nghề nghiệp phát huy vai trò kiểm tra, giám sát và các KTV hành nghề tuân thủ pháp luật
.II Về mặt triển khai thực hiện
1 Cần thành lập và kiện toàn bộ phận có chức năng kiểm tra, đánh giá BCTC
Bộ phận có chức năng kiểm tra, đánh giá BCTC có vai trò quan trọng và góp phần hiệu quả trong việc hạn chế các hành vi gian lận, sai sót, bao gồm thao túng BCTC của các tổ chức niêm yết, đơn vị có lợi ích công chúng Trên thực tế, ở các nước có thị trường chứng khoán phát triển đều có cơ quan này với nguồn lực mạnh và thẩm quyền lớn Ở Việt Nam, bộ phận/cơ quan này ở Bộ Tài chính và UBCKNN còn hạn chế về nguồn lực Do đó, trong thời gian tới các cơ quan có chức năng kiểm tra, đánh giá BCTC cần có cơ chế tuyển dụng các nhân sự có năng lực phù hợp để nâng cao khả năng phát hiện các sai sót, gian lận và thao túng BCTC
Để đảm bảo chất lượng, Bộ Tài chính phải thiết lập hệ thống kiểm soát chất lượng để thực hiện kiểm soát chất lượng dịch vụ kiểm toán các DNKT Hệ thống kiểm soát chất lượng tối thiểu phải đáp ứng được yêu cầu sau:
a) Hệ thống kiểm soát chất lượng phải được tổ chức độc lập với các KTV và các DNKT theo luật định và phải được giám sát công khai theo quy định;
b) Nguồn vốn cho hệ thống kiểm soát chất lượng do các đơn vị có lợi ích công chúng đóng góp và không chịu bất kỳ ảnh hưởng không hợp lý nào từ phía các đơn vị này;
c) Hệ thống kiểm soát chất lượng phải có các nguồn lực thích đáng;
d) Người thực hiện kiểm tra, soát xét chất lượng phải có trình độ chuyên môn phù hợp, có kinh nghiệm về kiểm toán theo luật định BCTC và phải được đào tạo kỹ năng về soát xét đảm bảo chất lượng;
e) Việc chọn lựa cán bộ kiểm tra, soát xét cho từng hồ sơ kiểm toán theo luật định phải đảm bảo không bị xung đột về lợi ích giữa cán bộ kiểm tra, soát xét với KTV
và DNKT được kiểm tra, soát xét;
f) Phạm vi kiểm tra, soát xét đảm bảo chất lượng, bao gồm: kiểm tra các hồ sơ kiểm toán, kiểm tra, đánh giá việc tuân thủ chuẩn mực kiểm toán và các yêu cầu về tính độc lập, đạo đức nghề nghiệp, về số lượng và chất lượng của việc sử dụng các nguồn lực, về phí dịch vụ kiểm toán đã thu và về hệ thống kiểm soát chất lượng nội bộ của DNKT;
i) Kết quả tổng thể của hệ thống kiểm soát chất lượng phải được công khai hàng năm;