Hiện nay chưa có một khái niệm được công nhận chính thức về hệ thống tài chính xanh, hoặc ở các khái niệm đơn lẻ, riêng biệt về các bộ phận, chủ thể tham gia trong hệ thống tài chính xan
Trang 1ĐẦU TƯ XANH CHO PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
ĐỖ HỒNG NHUNG 1 NGUYỄN VĂN MINH 2 Email: nhungdh@gmail.com
1 Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
2 VP các chương trình trọng điểm cấp Nhà nước, Bộ Khoa học và Công nghệ
Tóm tắt
Nghiên cứu này phân tích thực trạng và cơ sở tiền đề xây dựng nhận thức và hoạt động đầu tư xanh của các doanh nghiệp Việt Nam Việc lấy Chính phủ là trọng tâm cho phát triển đầu tư xanh tại Việt Nam là cần thiết Bằng việc khảo sát nhận thức về phát triển bền vững và đầu tư xanh của các doanh nghiệp Nghiên cứu phân tích những điều kiện cần thiết cho phát triển đầu tư xanh của các doanh nghiệp Việt Nam Trên
có sở đó, một số khuyến nghị hình thành và phát triển đầu tư xanh tại Việt Nam được đề xuất
Từ khoá: Đầu tư xanh, tín dụng xanh, trách nhiệm xã hội, phát triển bền vững
1 GIỚI THIỆU
Đầu tư xanh là hoạt động sử dụng nguồn vốn xanh huy động của cả hai khu vực
tư nhân và nhà nước để đầu tư vào trong các lĩnh vực:
(i) Cung cấp hàng hóa và dịch vụ môi trường* như xử lý nước thải, bảo vệ sự đa dạng của hệ sinh thái và cảnh quan thiên nhiên;
(ii) Ngăn ngừa, giảm thiểu hoặc đền bù các tổn hại tới môi trường hoặc khí hậu ví
dụ như tiết kiệm năng lượng hay sử dụng năng lượng tái tạo (UNESCAP, 2010)
* Theo định nghĩa của Eurostat thì nhóm sản phẩm và hàng hóa môi trường là “những sản phẩm được chế tạo phục vụ mục đích ngăn ngừa, giảm bớt hoặc loại bỏ ô nhiễm môi trường hoặc các tác động tiêu cực khác tới môi trường (nhằm bảo vệ môi trường), gìn giữ
và duy trì và qua đó phòng ngừa việc suy kiệt các nguồn lực tự nhiên” (http://epp.eurostat ec.europa.eu/statistics_explained/index.php?title=Environmental_goods_and_services_ sector&stable).
Trang 2Tại Việt Nam, đầu tư xanh là một cấu phần quan trọng trong chiến lược hình thành và phát triển hệ thống tài chính xanh, là một phương thức quan trọng trong chiến lược tăng trưởng xanh; với việc ban hành chương trình hành động của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (tại Quyết định số 1552/QĐ-NHNN) và Bộ Tài chính (tại Quyết định số 2183/QĐ-BTC), khuôn khổ cho tăng trưởng xanh liên quan đến ngân hàng - tài chính đã được hình thành Trong bối cảnh còn sơ khai
đó, một số hoạt động đã được hình thành trong phạm vi ngân sách quốc gia còn
eo hẹp và sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế về vốn Nguồn vốn xanh cho hoạt động đầu tư xanh còn rất nhiều hạn chế Kênh huy động vốn cho đầu tư xanh hiện nay chủ yếu dưới dạng tín dụng xanh và trái phiếu xanh Tín dụng huy động thông qua các NHTM cho các dự án phát triển bền vững và giảm phát thải môi trường Một số sản phẩm TPCP hoặc trái phiếu phát hành bởi chính quyền địa phương với mục đích huy động vốn nhằm phục vụ cho các dự án kinh tế xanh; hoặc cũng có một số doanh nghiệp phát hành trái phiếu doanh nghiệp để phục
vụ cho các dự án xanh
Đây là những bước đi ban đầu cho thấy sự manh nha của các sản phẩm tài chính xanh trong nền tài chính tổng thể tại Việt Nam Một số dự án đầu xanh tại Việt Nam được đầu tư cùng với sự hợp tác hoặc tài trợ của các tổ chức quốc tế, cụ thể: Hiện đại hóa tài chính công (EU-PFMO) (tài trợ EU và GIZ), Xây dựng bộ công cụ đánh giá rủi ro môi trường xã hội (IFC và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam), Xây dựng các bộ chuẩn mực “Nguyên tắc xích đạo” (WB và ADB)
Như vậy, có thể nói các dự án còn rất hạn chế Nhận thức về đầu tư xanh và những khó khăn về vốn và cơ sở hạ tầng cần thiết cho phát triển hoạt động đầu
tư xanh tại Việt Nam Nghiên cứu này nhằm phân tích thực trạng và cơ sở điều kiện để phát triển hoạt động đầu tư xanh cho phát triển bền vững của các doanh nghiệp tại Việt Nam
2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ ĐẦU TƯ XANH
Khái niệm hệ thống tài chính xanh
Khái niệm về hệ thống tài chính xanh, bộ phận quan trọng của nền kinh tế xanh cũng chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ, thống nhất trong các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam Hiện nay chưa có một khái niệm được công nhận chính thức về hệ thống tài chính xanh, hoặc ở các khái niệm đơn lẻ, riêng biệt về các
bộ phận, chủ thể tham gia trong hệ thống tài chính xanh như: ngân hàng xanh, tài chính xanh, cổ phiếu xanh, trái phiếu xanh… Theo Höhne và cộng sự (2012), tài chính xanh là một khái niệm rộng bao gồm những khoản đầu tư tài chính để
hỗ trợ cho các sáng kiến và dự án phát triển bền vững, các sản phẩm môi trường
Trang 3và các chính sách khuyến khích phát triển kinh tế bền vững Trần Thị Thanh Tú và cộng sự (2017) đưa ra khái niệm Tài chính xanh là một tập hợp đầy đủ các hình thức tài trợ cho công nghệ, dự án, ngành công nghiệp hay doanh nghiệp thân thiện với môi trường Có thể thấy, các học giả hiện nay vẫn chưa đề cập đến khái niệm hệ thống tài chính xanh một cách tổng thể, mới chỉ đưa ra các khái niệm mang tính đơn lẻ về một hoặc một vài bộ phận của hệ thống tài chính xanh.Trong các nghiên cứu trước đây cũng chưa đưa ra được một định nghĩa toàn diện
và thống nhất về khái niệm về hệ thống tài chính xanh Theo nhóm nghiên cứu, cấu trúc chung hệ thống tài chính xanh cũng không khác biệt so với hệ thống tài chính thông thường Sự khác biệt nằm trong đặc điểm của các thành phần tham gia vào quá trình luân chuyển vốn cũng như mục đích sử dụng nguồn vốn huy động được Như vậy trong nghiên cứu này, hệ thống tài chính xanh được hiểu là:
“Hệ thống tài chính cho phép luân chuyển nguồn tài chính tới các hoạt động đầu tư thông qua các trung gian tài chính và thị trường tài chính mà các hoạt động đầu tư
đó phải đảm bảo các điều kiện xanh, bảo vệ môi trường và hướng tới phát triển bền vững Khi đó, các bộ phận cấu thành của hệ thống tài chính xanh sẽ mang đặc điểm xanh, bao gồm: trung gian tài chính xanh, thị trường tài chính xanh, công cụ huy động vốn xanh hay nguồn vốn xanh, và đầu tư xanh ”.
Khái niệm Đầu tư xanh: Đây là hoạt động sử dụng nguồn vốn xanh huy động
của cả hai khu vực tư nhân và nhà nước để đầu tư vào trong các lĩnh vực:
(i) Cung cấp hàng hóa và dịch vụ môi trường như xử lý nước thải, bảo vệ sự đa dạng của hệ sinh thái và cảnh quan thiên nhiên;
(ii) Ngăn ngừa, giảm thiểu hoặc đền bù các tổn hại tới môi trường hoặc khí hậu ví
dụ như tiết kiệm năng lượng hay sử dụng năng lượng tái tạo (UNESCAP, 2010)
Các hình thức Đầu tư xanh và lợi ích của Đầu tư xanh
Như đã đề cập ở phần trên, hệ thống tài chính xanh sẽ bao gồm hai thành phần chính là nguồn vốn xanh và đầu tư xanh Nói cách khác, đầu tư xanh là một bộ phận cấu thành của hệ thống tài chính xanh
Đầu tư xanh có thể được giải thích theo những cách khác nhau Theo OECD đầu
tư xanh là một thuật ngữ khá rộng, có thể liên quan rất gần với các thuật ngữ đầu tư khác, chẳng hạn SRI - socially responsible investing (Đầu tư gắn với trách nhiệm xã hội); ESG -environmental, social and governance investing (đầu tư gắn với môi trường, xã hội và quản trị), đầu tư bền vững, đầu tư dài hạn hoặc các khái niệm tương tự (OECD, 2012)
Báo cáo của IMF gần đây do Eyraud et al (2011) đề cập đến đầu tư xanh là “đầu
Trang 4tư cần thiết để giảm hiệu ứng khí nhà kính và ô nhiễm không khí mà không làm giảm đáng kể sản xuất và tiêu thụ hàng hóa năng lượng hoặc phi năng lượng” Theo đó, đầu tư xanh bao gồm cả đầu tư của nhà nước và tư nhân Có ba thành phần chính của đầu tư xanh: Nguồn cung cấp năng lượng phát thải thấp (bao gồm cả năng lượng tái tạo, nhiên liệu sinh học và hạt nhân); Sử dụng năng lượng hiệu quả (trong lĩnh vực cung cấp năng lượng và tiêu thụ năng lượng); Hấp thụ cacbon (bao gồm phá rừng và nông nghiệp)
Bảng 1: Cấu trúc đầu tư xanh theo quan điểm IMF
Nguồn: IMF (2011)
Rõ ràng hơn, trong báo cáo năm 2012 về đầu tư xanh, OECD đi tìm câu trả lời cho
2 câu hỏi nghiên cứu sau:
Cung cấp năng lượng hấp thụ thấp
+ Cung cấp điện năng hấp thụ thấp
- Năng lượng nguyên tử
- Nguồn điện tái tạo Thuỷ điện
Điện gió Năng lượng mặt trời Sinh khối
+ Nông nghiệp + Tàn phá rừng + Thu giữ cacbon Nhân tố
yêu cầu Hiệu quả trong
lĩnh vực tiêu thụ năng lượng
+ Hộ gia đình + Nghành công nghiệp + Vận tải
+ Dịch vụ + Nông nghiệp Nhân tố
hỗn hợp Hiệu quả năng lượng trong lĩnh vực tiêu thụ năng lượng (Kinh tế chung, truyền tải, phân phối).
Trang 5(i) Có sự đồng thuận rộng rãi về các định nghĩa “đầu tư xanh” hay là thuật ngữ này được sử dụng theo những cách khác nhau và trong các bối cảnh khác nhau?; (ii) Có thể đề xuất xây dựng một định nghĩa rộng rãi về “đầu tư xanh” ?
Báo cáo cho rằng: “Không có một định nghĩa duy nhất giữa các nhà đầu tư về
những gì mà đầu tư xanh đòi hỏi Tuy nhiên, với mục đích của báo cáo, các khoản đầu tư “xanh” đề cập đến các khoản đầu tư có lợi cho môi trường và phát thải cacbon thấp và các dự án tài trợ chủ yếu trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, công nghệ sạch, công nghệ môi trường hoặc các thị trường liên quan đến sự bền vững, các khoản đầu
tư trong lĩnh vực biến đổi khí hậu.”
Các hình thức đầu tư xanh có thể bao gồm trực tiếp và gián tiếp Việc các doanh nghiệp, tổ chức hay Chính phủ đầu tư vào các dự án sản xuất xanh, chính là đầu
tư trực tiếp xanh Bên cạnh đó, các nhà đầu tư, thường là nhà đầu tư tư nhân hoặc tổ chức chuyên nghiệp cũng có thể lựa chọn đầu tư gián tiếp, đó chính là đầu tư vào các trái phiếu xanh, cổ phiếu xanh hoặc các chứng chỉ xanh với mục tiêu kiếm lợi nhuận Khi thị trường tài chính xanh càng phát triển, bên cạnh các nhà đầu tư trực tiếp cần vốn sẽ phát hành chứng khoán xanh, sẽ xuất hiện ngày càng nhiều các nhà đầu tư gián tiếp mong muốn đầu tư vào chứng khoán xanh
để kiếm lợi nhuận
Vai trò của Chính phủ trong phát triển đầu tư xanh
Hình 1 Các yêu cầu về hình thức hỗ trợ từ phía Chính phủ đối với tài chính xanh
Nguồn UAE Green Agenda 2015-2030
Trang 6Đầu tư xanh là bước tiến quan trọng trong tiến trình chuyển đổi từ nền kinh tế phát thải cacbon cao sang nền công nghiệp ít cacbon Để thực hiện tốt nhiệm
vụ này thì vai trò của Chính phủ là vô cùng quan trọng Chính phủ và các tổ chức quốc tế đã thực hiện các bước cần thiết để xây dựng các công cụ thúc đẩy sự thay đổi trong hoạt động của con người đối với môi trường Tất cả những hành động này đều có mục đích giúp chuyển đổi sang nền kinh tế có ít khí thải và sử dụng tài nguyên hiệu quả cao (Mccahery và Vermeulen, 2014)
Lợi ích của đầu tư xanh
Xét trong ngắn hạn, lợi ích của đầu tư xanh không dễ dàng nhận ra Thậm chí, nhiều DN sẽ sụt giảm lợi nhuận vì chi phí bỏ ra để thực hiện các khoản đầu tư xanh bao giờ cũng lớn hơn (Cohen, 2006) Các nhà đầu tư cũng không thấy hấp dẫn vì họ chưa nhìn nhận ra các tác hại môi trường nhưng lại nhìn thấy rõ ràng nguồn tiền của mình đang sụt giảm Đó là lý do tại sao các nền kinh tế phát triển kéo dài thời kỳ nền kinh tế “nâu” lâu đến như vậy Nếu không có vai trò dẫn dắt của Chính phủ cũng như những quy định chặt chẽ trên khía cạnh pháp lý thì rất khó để doanh nghiệp tự nguyện tham gia
Bảng 2: Công việc tạo ra trên mỗi một triệu đô la đầu tư vào năng lượng xanh
Nguồn năng lượng
Tổng số việc làm trực tiếp trên mỗi
1 triệu USD đầu tư
Tổng số việc làm gián tiếp trên mỗi
1 triệu USD đầu tư
Tổng số việc làm gián tiếp
và trực tiếp trên mỗi 1 triệu USD đầu tư
Việc làm gián tiếp và trực tiếp liên quan đến dầu (% thay đổi) Nhiên liệu
Hiệu quả sử dụng năng lượng
Đường hàng không/
đường sắt vận chuyển
Năng lượng tái tạo
Source: Robert Pollin và cộng sự (2009)
Trang 7Mặc dù vậy, không thể phủ nhận vai trò của đầu tư xanh trong dài hạn, dưới cả góc độ nền kinh tế, doanh nghiệp và nhà đầu tư Xét trên góc độ nền kinh tế, báo cáo của Natural Economy Northwest (2009) cho rằng các khoản đầu tư xanh vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng sẽ tạo ra 7 lợi ích lớn, bao gồm: Thích ứng và Giảm nhẹ Biến đổi khí hậu, Giảm nhẹ Lũ lụt và Quản lý nước, Chất lượng chỗ ở, Sức khoẻ
và Sự khoẻ mạnh, Giá trị đất đai và tài sản, Năng suất lao động và Du lịch Ngoài
ra, Amara và cộng sự (1999), trong nghiên cứu của họ về lĩnh vực nông nghiệp,
đã tìm ra mối liên hệ tích cực giữa các phương thức sản xuất thân thiện với môi trường và giảm ô nhiễm nguồn nước và suy thoái đất
Nghiên cứu của Robert Pollin và cộng sự (2009) đã cho thấy đầu tư xanh có khả năng tạo ra nhiều công ăn việc làm hơn Nghiên cứu tình huống ở Mỹ, các tác giả cho rằng chi đầu tư ở bất kỳ khu vực nào của nền kinh tế Mỹ sẽ tạo ra công ăn việc làm vì người ta cần có sản phẩm hay dịch vụ mà nền kinh tế cung cấp Điều này đúng bất kể chi tiêu do các doanh nghiệp tư nhân, hộ gia đình hoặc tổ chức Chính phủ thực hiện Tuy nhiên, chi tiêu cho một chương trình đầu tư năng lượng sạch sẽ có tác động tích cực lớn hơn đến việc làm hơn là chi tiêu trong các lĩnh vực khác, bao gồm cả ngành công nghiệp dầu mỏ ngay cả khi xem xét tất cả các giai đoạn sản xuất dầu, tinh chế, vận chuyển và tiếp thị
Peter L và cộng sự (2005) chia rào cản khi đầu tư vào các dự án năng lượng xanh hay năng lượng tái tạo thành 03 nhóm: Nhóm rào cản về mặt cung, nhóm rào cản
về mặt cầu và nhóm rào cản liên quan tới điều kiện (khung khổ) thực hiện các dự
án Cụ thể, các rào cản về cầu bắt nguồn từ các đặc tính của các dự án xanh và các
vấn đề nội bộ của các nhà tài trợ, bao gồm:
(i) Các dự án xanh yêu cầu chi phí cao;
(ii) Các dự án xanh cần nguồn vốn lớn có độ nhạy cảm với cấu trúc và điều kiện của việc cấp vốn;
(iii) Các nhà tài trợ dự án xanh thường không có đủ dữ liệu để phân tích dự án một cách chi tiết, cẩn thận;
(iv) Các nhà tài trợ dự án xanh phải đối mặt với một số rủi ro cao và không rõ ràng liên quan đến các yếu tố thiết yếu như nguồn nguyên, nhiên liệu hoặc rủi ro về hiệu suất
và tất nhiên là các sự kiện bất khả kháng Nói cách khác, rủi ro sẽ xảy ra khi thông tin về nguồn nhiên liệu không đáng tin cậy, dẫn đến việc sản xuất năng lượng không thể thực hiện được theo cách có thể đoán trước và đáng tin cậy, hoặc nhà máy sẽ không thể hoạt động đảm bảo về mặt thời gian và công suất như kì vọng; (v) Thời gian dài của các dự án xanh không chỉ gây ra các loại rủi ro mà đặc biệt là các rủi ro liên quan tới dòng tiền như kỳ hạn quá dài hay các mức lãi suất thấp hơn mức trung bình trên thị trường
Trang 8Những đặc điểm của dự án xanh đòi hỏi phải có nguồn tài trợ đủ lớn, đủ dài để giải quyết bài toán lợi nhuận kỳ vọng và rủi ro cũng như các vấn đề phát sinh liên quan tới số tiền và thời hạn đầu tư
Các điều kiện khung cho các dự án xanh hay các dự án thuộc lĩnh vực năng lượng,
theo Fukuhara K., (2016) gồm 3 khía cạnh: thị trường đầu tư (như thị trường năng lượng), các quy định về đầu tư xanh và các đối tác Thị trường đầu tư xanh bao gồm cơ chế thị trường và các điều kiện khung về tài chính, pháp lý và thể chế liên quan tới lĩnh vực đầu tư xanh Các quy định về đầu tư xanh tập trung vào các vấn
đề liên quan tới chính sách và quy định khuyến khích hoạt động này Khía cạnh cuối cùng liên quan tới đối tác trong hoạt động đầu tư xanh nêu rõ vai trò của
“uy tín” của các bên tham gia đủ để các dự án xanh được thực hiện Các điều kiện khung được đánh giá là tốt chỉ khi góp phần thu hút sự tham gia của các nhà đầu
tư tư nhân (Fukuhara K., 2016) Các chính sách về năng lượng xanh phải có nhiệm
vụ làm giảm và chia sẻ rủi ro (rủi ro thị trường, rủi ro chính sách, rủi ro công nghệ)
ở các giai đoạn khác nhau của quá trình phát triển và hoạt động của dự án và cải thiện doanh thu dự kiến trong khi các chính sách về tài chính xanh có trách nhiệm nâng cao khả năng chi trả cũng như khả năng tài chính Như vậy, các điều kiện khung cho các dự án xanh có thể trở thành gánh nặng hoặc rào cản đối với tài chính xanh
Về phía nguồn cung tài chính xanh, nhu cầu tài chính xanh ở nhiều nước đang
phát triển phải đối mặt với những trở ngại nghiêm trọng, bao gồm:
(i) Thiếu vốn và/hoặc các điều kiện tài chính không phù hợp;
(ii) Thiếu các công cụ và thiếu sót của các tổ chức tài chính địa phương;
(iii) Thiếu kiến thức ngành và sẵn sàng đầu tư vào năng lượng xanh, mức độ nhận thức và hiểu biết về năng lượng xanh cũng thấp và không đủ thông tin để phân tích đầu tư một cách cẩn thận;
(iv) Các yêu cầu về thế chấp cao
Nhìn chung, thiếu nguồn tài chính dài hạn là vấn đề cốt lõi của việc tài trợ năng lượng xanh ở các nước đang phát triển (Fukuhara K., 2016) Ở các nước đang phát triển, nơi thị trường vốn chưa phát triển tốt, khu vực tư nhân rất khó tiếp cận thị trường tín dụng, đặc biệt là các quỹ dài hạn vì thị trường vốn chỉ có một
số công cụ tài chính tối thiểu và nói chung không có bất kỳ một công cụ tài chính giảm thiểu rủi ro nào, đồng thời các định chế tài chính cung cấp các quỹ trung
và ngắn hạn, chủ yếu do sự bất ổn của thị trường
Động cơ cho sự phát triển và tài trợ các hoạt động đầu tư xanh được chia thành
04 nhóm:
Trang 9(i) Các đánh giá về mặt tài chính bao gồm lợi nhuận, rủi ro, đa dạng hóa, các đánh giá rủi ro dài hạn,…;
(ii) Các đánh giá phi tài chính bao gồm sinh thái học, khoa học, tôn giáo, đạo đức, chính trị;
(iii) Danh tiếng của nhà đầu tư, danh tiếng của các công ty, công cụ Marketing, các
áp lực từ phía phương tiện truyền thông;
(iv) Việc tuân thủ và thực hiện các nghiệp vụ ủy thác: quy định và pháp luật trong nước, các công ước quốc tế, mã ngành nghề đầu tư…
(Marian C V., Mirela P., Irina R., 2015) Trong đó, nhóm đánh giá về mặt tài chính được coi là nhóm chỉ tiêu chính là cơ sở cho việc ra quyết định đầu tư 03 nhóm còn lại rất khó xác định về mặt định lượng, được coi là có vai trò trợ giúp kết quả tài chính tốt hơn, thông qua việc góp phần nâng cao danh tiếng của công ty trong giới kinh doanh (Sum, V., Chorlian, J , 2014)
Ở cấp độ vi mô, tiếp cận tài chính là một trong những rào cản chính cho các doanh nghiệp xanh phát triển Các rào cản về tài chính là một vấn đề đặc biệt đối với những doanh nghiệp mới thành lập có hồ sơ hạn chế và nguồn tài chính hạn hẹp (Linnanen, 2002) Trong bối cảnh nguồn tài chính công còn hạn chế, các doanh nghiệp xanh gặp khó khăn trong việc tìm kiếm các nhà đầu tư chia sẻ giá trị và mục tiêu môi trường, đồng thời có kiến thức về thị trường xanh Tài chính xanh
tư nhân vẫn còn khan hiếm do một loạt các thách thức kinh tế vi mô, bao gồm các vấn đề về môi trường, sự không đối xứng về thông tin (giữa các nhà đầu tư
và người nhận), khả năng phân tích của các nhà phát hành và nhà đầu tư không đầy đủ (Green- Win project report) Các nhà đầu tư có thể thấy các doanh nghiệp xanh phải chịu thêm gánh nặng tài chính, ít có khả năng tăng trưởng và tạo ra lợi nhuận tài chính từ đầu tư Hơn nữa, thời gian ngắn hạn của người tiết kiệm và nhà đầu tư không phù hợp với bản chất lâu dài của các dự án đầu tư xanh, thường kéo dài hơn một thập niên
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Dữ liệu nghiên cứu
Nghiên cứu đã tiến hành thu thập dữ liệu thông qua khảo sát 210 doanh nghiệp
tại Việt Nam (xem phụ lục bảng hỏi) Các doanh nghiệp này thuộc nhiều ngành,
lĩnh vực hoạt động khác nhau Mục tiêu khảo sát nhằm đánh giá việc các doanh nghiệp có quan tâm tới;
(i) Đầu tư xanh;
Trang 10(ii) Phát triển bền vững không
Các doanh nghiệp khảo sát được phân loại tiêu chí ngành kinh doanh theo các ngành cụ thể như sau:
Biểu đồ 1: Cơ cấu theo ngành kinh doanh của doanh nghiệp
Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp
Lĩnh vực hoạt động chính của doanh nghiệp phân bố khá đồng đều ở các lĩnh vực, trong đó lĩnh vực hoạt động nhiều nhất là hàng tiêu dùng chiếm 22.73% Các lĩnh vực hoạt động chính khác cũng chiếm một tỷ lệ đáng kể với 40.15% Điều này cho thấy các doanh nghiệp hoạt động chính trên các lĩnh vực đa dạng khác nhau Bên cạnh thông tin sơ cấp, nghiên cứu phân tích, đánh giá đầu tư xanh cho phát triển bền vững của doanh nghiệp kết hợp với các thông tin thứ cấp Thông tin thứ cấp được tập hợp từ nguồn dữ liệu tin cậy trong các nghiên cứu chính sách và nghiên cứu khảo sát của các tổ chức có uy tín như UNDP, GGGI, GEF KOICA, GIZ, ADB, USAID, WB
3.2 Biến và mô hình nghiên cứu
Những nhân tố tác động tới đầu tư xanh cho phát triển bền vững của các doanh nghiệp được phân tách thành 2 nhóm nhân tố, cụ thể:
Nhóm nhân tố thuộc về phát triển bền vững của doanh nghiệp, bao gồm:
Biến Nhân tố tác động thuộc về phát triển bền vững
SU1 Chiếc lược phát triển bền vững của doanh nghiệp
SU 2 Chính sách, chứng chỉ quy định nhằm hạn chế ảnh hưởng tới môi trường
Hàng tiêu dùng
Trang 11SU 3 Chiến lược phát triển gắn với bảo vệ môi trường và trách nhiệm xã hội
SU 4 Đối thủ cạnh tranh tác động tới chiến lược phát triển của doanh nghiệp gắn với môi trường và xã hội
SU 5 Chính sách tiết kiệm năng lượng
SU 6 Chính sách sử dụng nguồn năng lượng thay thế, năng lượng tái tạo
SU 7 Chính sách phát triển sản phẩm giảm phát thải môi trường
SU 8 Nhân sự chuyên trách đảm bảo trách nhiệm xã hội và bảo vệ môi trường
SU 9 Điều kiện cơ sở hạ tầng
SU 10 Chính sách tăng cường hiểu biết và trách nhiệm của nhân sự đối với môi trường và xã hội
SU 11 Chính sách khai thác tài chính
SU 12 Sử dụng các nguyên liệu, sản phẩm hạn chế phát thải, tăng cường sử dụng sản phẩm tái chế
SU 13 Lựa chọn nhà cung cấp có trách nhiệm xã hội
SU 14 Chính sách đào tạo về môi trường và trách nhiệm xã hội trong doanh nghiệp
SU 15 Nghiên cứu phát triển sản phẩm mới tích hợp bảo vệ môi trường
SU 16 Phúc lợi cho hoạt động nghiên cứu và phát triển sản phẩm bảo vệ môi trường và trách nhiệm xã hội
Nhóm nhân tố thuộc về lựa chọn đầu tư xanh của doanh nghiệp, bao gồm:
Biến Nhân tố tác động thuộc về đầu tư xanh
GI 1 Mục tiêu lựa chọn dự án đầu tư xanh
GI 2 Nhóm dự án đầu tư xanh
GI 3 Nguồn vốn tiếp cận cho đầu tư xanh
GI 4 Chính sách ưu đãi cho doanh nghiệp lựa chọn dự án đầu tư xanh
GI 5 Chính sách của Chính Phủ hỗ trợ phát triển đầu tư xanh
GI 6 Chính sách của Ngân hàng hỗ trợ phát triển đầu tư xanh
Trên cơ sở thông tin khảo sát, nhân tố tác động tới đầu tư xanh được thực hiện kiểm định xác định và nhận diện những nhân tố tác động tới đầu tư xanh cho phát triển bền vững của các doanh nghiệp nghiên cứu
4 THỰC TRẠNG VÀ KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA ĐẦU TƯ XANH CHO PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TẠI VIỆT NAM 4.1 Thực trạng đầu tư xanh tại Việt Nam
4.1.1 Chính sách của Nhà nước thúc đẩy đầu tư xanh
Có thể nói, tăng trưởng xanh hay cụ thể hơn là đầu tư xanh đang là một vấn đề được xã hội hết sức quan tâm bởi những tác động tích cực và tính bền vững của
Trang 12nó Ở Việt Nam cũng không ngoại lệ, kinh tế xanh là một nội dung quan trọng của phát triển bền vững, trong đó đầu tư xanh được sử dụng làm phương thức thúc đẩy quá trình thay đổi các mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế, nhằm khai thác tối đa lợi thế cạnh tranh của quốc gia
Là một nước đi sau trong việc xây dựng, tổ chức thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh, Việt Nam chú trọng học tập kinh nghiệm của những quốc gia đi trước để đưa ra các chiến lược đầu tư xanh phù hợp Quan điểm phát triển bền vững cũng
đã được thể hiện xuyên suốt trong các Chiến lược phát triển kinh tế xã hội tại nhiều kỳ đại hội Đảng Ngày 25/9/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1393/QĐ - TTg phê duyệt chiến lược quốc gia về tăng trưởng Xanh thời
kỳ 2012 - 2020 và tầm nhìn đến 2050 với 3 mục tiêu cụ thể dẫn trở thành chỉ tiêu quan trọng trong phát triển kinh tế- xã hội:
(i) “Xanh hóa” sản xuất;
(ii) Giảm cường độ phát thải khí nhà kính và thúc đẩy sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo;
(iii) Xanh hóa lối sống và thúc đẩy tiêu dùng bền vững
Nguồn: Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011-2020 và tầm nhìn đến năm
2050 của Việt Nam
Chiến lược và định hướng chính sách tăng trưởng xanh của Việt Nam
Mục tiêu chung về tăng trưởng xanh của Việt Nam
Tiến tới nền kinh tế cacbon thấp, làm giàu vốn tự nhiên trở thành xu hướng chủ đạo trong phát triển kinh tế bền vững;
Giảm phát thải và tăng khả năng hấp thụ nhà kính dần trở thành mục tiêu bắt buộc và quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội.
Giảm cường độ phát triển nhà
kính và thúc đẩy sử dụng năng
lượng sạch, năng lượng tái tạo
Xanh hóa sản xuất Xanh hoá lỗi sống và thúc
hoạt động năng lượng từ 20-30%
so với phương án phát triển bình
Tỷ lệ các cơ sở sản xuất kinh doanh đạt tiêu chuẩn về môi trường là 80%.
Áp dụng công nghệ sạch hơn 50%, đầu tư phát triển các ngành hỗ trợ bảo vệ môi trường và làm giàu vốn tự nhiên phấn đấu đạt 3-4% GDP
Tỷ lệ đô thị hóa loại III có hệ thống thu gom và xử lý nước thải đạt quy chuẩn quy định: 60% với đô thị loại IV, loại V và các làng nghề: 40%.
Cải thiện môi trường khu vực
bị ô nhiễm nặng 100%.
Tỷ lệ chất thải được thu gom,
xử lý hợp tiêu chuẩn theo
QĐ 2149/QĐ-TTg, diện tích cây xanh đạt tương ứng tiêu chuẩn đô thị, tỷ trọng dịch vụ vận tải công cộng ở đô thị lớn
và vừa 35-45% Tỷ lệ đô thị lớn
và vừa đạt tiêu chí đô thị xanh phấn đấu đạt 50%.
Trang 13Ngoài ra, Luật Đầu tư 2014 với vai trò là đạo luật “quy định về hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam và hoạt động đầu tư kinh doanh từ Việt Nam ra nước ngoài”, đã dành nhiều quy định thể hiện yêu cầu phát triển bền vững của hoạt động đầu tư kinh doanh như: Nhà nước có chính sách khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh, phát triển bền vững các ngành kinh tế; công nghệ cao, sản phẩm công nghiệp hỗ trợ công nghệ cao sao cho Doanh nghiệp vừa duy trì được hoạt động kinh doanh có hiệu quả nhưng vẫn đảm bảo lợi ích môi trưởng và thực hiện trách nhiệm xã hội Nhà nước đặc biệt dành nguồn tài chính hỗ trợ đối với doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh hàng hóa dịch vụ thân thiện với môi trường phục vụ cho hoạt động của doanh nghiệp từ các khoản dành cho ưu đãi, hỗ trợ vốn, giá, cơ sở hạ tầng, thuế cho DN hoạt động và sản phẩm bảo vệ môi trường đến hỗ trợ riêng dự án đầu tư theo cơ chế phát triển sạch CDM
Cơ chế chính sách hỗ trợ các sản phẩm năng lượng tái tạo, năng lượng sinh học như: chính sách hỗ trợ phát triển các dự án diện gió tại Việt Nam; cơ chế hỗ trợ phát triển các dự án điện sinh khối tại Việt Nam; đề án phát triển nhiên liệu sinh học đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2020 cũng được hết sức quan tâm
Về các hoạt động thu hút nguồn lực cho đầu tư xanh, bộ KHĐT cũng phối hợp với
WB và các nhà tài trợ đánh giá và cung cấp nguồn vốn ODA cho các hành động của chiến lược tăng trưởng xanh, xác định nhu cầu nguồn lực và thứ tự ưu tiên thực hiện trong thời gian tới để phân bổ nguồn vốn hiệu quả Kết quả vận động được 5 triệu EUR từ Bỉ, 2 triệu USD từ chính phủ Hàn Quốc và 3.6 triệu USD từ Chương trình phát triển Liên hợp quốc UNDP thông qua các dự án thực hiện
4.1.2 Tổ chức quốc tế tham gia đầu tư xanh tại Việt Nam
Thông qua các cam kết trong thực hiện chiến lược đầu tư, ngày càng nhiều đối tác phát triển đã tham gia Liên minh xanh với Việt Nam như UNDP, GGGI, GEF KOICA, GIZ, Belgium, EU, ADB, USAID, World Bank Không chỉ hỗ trợ đơn thuần về mặt cung cấp vốn, mà các tổ chức này còn trực tiếp tham gia đồng thực hiện, hỗ trợ kĩ thuật một số dự án đầu tư xanh tại Việt Nam
Điển hình như UNDP có những chính sách và quỹ tài chính sử dụng cho mục tiêu phát triển bền vững toàn cầu cũng có chính sách hỗ trợ vốn đầu tư cho Việt Nam trong nhiều lĩnh vực giúp bảo vệ môi trường như Sản xuất và tiêu dùng có trách nhiệm; Hành động vì môi trường; Công nghiệp, Đổi mới công nghiệp và Cơ sở hạ tầng; Năng lượng sạch; Cuộc sống dưới nước; Cộng đồng và thành phố bền vững; Làm sạch nguồn nước