Đặc biệt là nhóm nhân tố về nhận thức đầu tư xanh, nhận thức về tiếp cần nguồn vốn xanh, vai trò của Chính phủ và các công cụ huy động vốn xanh tác động khá mạnh tới việc thực hiện đầu t
Trang 1NHẬN DIỆN NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI ĐẦU TƯ XANH CHO PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CỦA DOANH NGHIỆP - NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
Vũ Thị Hà 3
Email: nhungdh@gmail.com
1 Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội
2,3 Đại học Kinh tế Quốc dân
Tóm tắt
Đầu tư xanh có vai trò quan trọng cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp Để phát triển hoạt động đầu tư xanh cho phát triển bền vững, cần nhân diện nhân tố tác động tới đầu tư xanh và phát triển bền vững của doanh nghiệp Bằng phương pháp nghiên cứu nhân tố khám cho
bộ dữ liệu khảo sát 208 doanh nghiệp thuộc các ngành kinh doanh khác nhau Kết quả cho thấy, phần lớn các nhân tố được đưa vào khảo sát có
độ tin cậy và hội tụ theo các nhóm nhân tố và có ý nghĩa thống kê Đặc biệt là nhóm nhân tố về nhận thức đầu tư xanh, nhận thức về tiếp cần nguồn vốn xanh, vai trò của Chính phủ và các công cụ huy động vốn xanh tác động khá mạnh tới việc thực hiện đầu tư xanh của các doanh nghiệp Trên cơ sở đó, những khuyến nghị được đề xuất tập trung vào vai trò trọng tâm của Chính phủ, khung khổ pháp lý, kênh và công cụ huy động vốn xanh cũng như nhận thức của doanh nghiệp tiếp cận và
sử dụng những công cụ huy động vốn này
Từ khóa: đầu tư xanh, phát triển bền vững, nhân tố tác động, vốn xanh
1 GIỚI THIỆU
Thực tế cho thấy, hậu khủng hoảng do đánh đổi giữa phát triển kinh tế và môi trường được thể hiện khá rõ nét trong rất nhiều báo cáo môi trường, biến đổi khí hậu và phát triển bền vững Biến đổi khí hậu ngày càng diễn ra mạnh mẽ, gây tổn hại tới sự phát triển chung của nền kinh tế, tạo ra sự mất cân bằng sinh thái
và gây ra sự phát triển kém bền vững Cần thiết có những giải pháp ứng phó với biển đổi khí hậu, việc lựa chọn đầu tư xanh là cần thiết đối với các nền kinh tế nói chung và Việt Nam nói riêng Để khắc phục tổn thất gây ra hậu khủng hoảng và
Trang 2biến đổi khí hậu, bên cạnh vai trò của hệ thống ngân hàng tài chính trong tái cơ cấu hệ thống tài chính, tái cơ cấu nền kinh tế là không thể phủ nhận vai trò quan trọng của các doanh nghiệp
Khi mà các quốc gia phải đánh đổi biến đổi khí hậu cho sự phát triển kinh tế, các doanh nghiệp là hạt nhân, có vai trò quan trọng trong thúc đẩy phát triển kinh tế theo hướng xanh hơn, chuyển từ nền kinh tế “nâu” sang “xanh” với việc đầu tư vào những dự án bảo vệ môi trường và hướng tới phát triển bền vững, có trách nhiệm
xã hội Vì vậy, đầu tư xanh là “đầu tư cần thiết để giảm hiệu ứng khí nhà kính và
ô nhiễm không khí mà không làm giảm đáng kể sản xuất và tiêu thụ hàng hóa năng lượng hoặc phi năng lượng” Theo đó, đầu tư xanh bao gồm cả đầu tư của nhà nước và tư nhân Có ba thành phần chính của đầu tư xanh: Nguồn cung cấp năng lượng phát thải thấp (bao gồm cả năng lượng tái tạo, nhiên liệu sinh học và hạt nhân); Sử dụng năng lượng hiệu quả (trong lĩnh vực cung cấp năng lượng và tiêu thụ năng lượng); Hấp thụ cacbon (bao gồm phá rừng và nông nghiệp) (IMF (2011), Eyraud et al (2011))
Trong ngắn hạn, việc đánh đổi hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hôi đã tạo ra áp lực trong việc các doanh nghiệp lựa chọn các dự án có trách nhiệm xã hội và bảo vệ môi trường Những dự án lựa chọn thường có quy mô vốn đầu tư lớn và thời gian dài Cũng không thể nhìn thấy lợi ích của đầu tư xanh trong ngắn hạn Vì vậy, vốn chính là một trong những rào cản ảnh hưởng lớn tới quyết định đầu tư xanh của các doanh nghiệp Bên cạnh những rào cản về vốn, nhận thức đầu tư xanh, còn thiếu chính sách hỗ trợ doanh nghiệp phát triển xanh, (iii) trách nhiệm đối với môi trường của doanh nghiệp còn hạn chế (Hồ Thanh Thủy, 2018)
Nhân tố sự nhận thức của các cơ quan công quyền về chiến lược tăng trưởng xanh chưa có quan điểm cụ thể Tính đến tháng 7/2016, có 05/22 bộ, ngành và 30/63 chính quyền các tỉnh, thành ban hành kế hoạch thực hiện Chiến lược tăng trưởng xanh của Việt Nam (Bùi Quang Tuấn, et al., 2017) Theo nhìn nhận của nhóm tác giả, vấn đề cụ thể hoá thực thi Chiến lược tăng trưởng xanh quốc gia vẫn chưa trở thành một nhiệm vụ tối quan trọng cấp thiết cần ưu tiên thực hiện
Từ những phân tích trên có thể thấy, việc nhận diện các nhân tố tác động đến quyết định đầu tư xanh cho phát triển bền vững của các doanh nghiệp, để tạo lập cơ sở tăng cường đầu tư xanh của các doanh nghiệp tại Việt Nam là cần thiết
2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ ĐẦU TƯ XANH VÀ NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI ĐẦU TƯ XANH
Khái niệm Đầu tư xanh: đây là hoạt động sử dụng nguồn vốn xanh huy động
của cả hai khu vực tư nhân và nhà nước để đầu tư vào trong các lĩnh vực:
Trang 3(i) Cung cấp hàng hóa và dịch vụ môi trường1 như xử lý nước thải, bảo vệ sự đa dạng của hệ sinh thái và cảnh quan thiên nhiên;
(ii) Ngăn ngừa, giảm thiểu hoặc đền bù các tổn hại tới môi trường hoặc khí hậu ví
dụ như tiết kiệm năng lượng hay sử dụng năng lượng tái tạo (UNESCAP, 2010)
Các hình thức Đầu tư xanh và lợi ích của Đầu tư xanh
Như đã đề cập ở phần trên, hệ thống tài chính xanh sẽ bao gồm hai thành phần chính là nguồn vốn xanh và đầu tư xanh Nói cách khác, đầu tư xanh là một bộ phận cấu thành của hệ thống tài chính xanh
Đầu tư xanh có thể được giải thích theo những cách khác nhau Theo OECD đầu
tư xanh là một thuật ngữ khá rộng, có thể liên quan rất gần với các thuật ngữ đầu tư khác, chẳng hạn SRI - socially responsible investing (Đầu tư gắn với trách nhiệm xã hội); ESG -environmental, social and governance investing (đầu tư gắn với môi trường, xã hội và quản trị), đầu tư bền vững, đầu tư dài hạn hoặc các khái niệm tương tự (OECD, 2012)
Báo cáo của IMF gần đây do Eyraud et al (2011) đề cập đến đầu tư xanh là “đầu
tư cần thiết để giảm hiệu ứng khí nhà kính và ô nhiễm không khí mà không làm giảm đáng kể sản xuất và tiêu thụ hàng hóa năng lượng hoặc phi năng lượng” Theo đó, đầu tư xanh bao gồm cả đầu tư của nhà nước và tư nhân Có ba thành phần chính của đầu tư xanh: Nguồn cung cấp năng lượng phát thải thấp (bao gồm cả năng lượng tái tạo, nhiên liệu sinh học và hạt nhân); Sử dụng năng lượng hiệu quả (trong lĩnh vực cung cấp năng lượng và tiêu thụ năng lượng); Hấp thụ cacbon (bao gồm phá rừng và nông nghiệp)
Bảng 1: Cấu trúc đầu tư xanh theo quan điểm IMF
Cung cấp năng lượng hấp thụ thấp
- Cung cấp điện năng hấp thụ thấp + Năng lượng nguyên tử
+ Nguồn điện tái tạo
Trang 4- Nghiên cứu và phát triển (R&D) với năng lượng sạch Hấp thụ Cacbon
Hiệu quả trong lĩnh
vực tiêu thu năng
hỗn hợp Hiệu quản năng lượng trong lĩnh vực tiêu thụ năng lượng (Kinh tế chung, truyền tải, phân phối)
Nguồn: IMF (2011)
Hình 3: Tháp “Đầu tư xanh”
Trang 5Rõ ràng hơn, trong báo cáo năm 2012 về đầu tư xanh, OECD đi tìm câu trả lời cho
2 câu hỏi nghiên cứu sau:
(i) Có sự đồng thuận rộng rãi về các định nghĩa “đầu tư xanh” hay là thuật ngữ này được sử dụng theo những cách khác nhau và trong các bối cảnh khác nhau?; (ii) Có thể đề xuất xây dựng một định nghĩa rộng rãi về “đầu tư xanh” ?
Báo cáo cho rằng: “Không có một định nghĩa duy nhất giữa các nhà đầu tư
về những gì mà đầu tư xanh đòi hỏi Tuy nhiên, với mục đích của báo cáo, các
khoản đầu tư “xanh” đề cập đến các khoản đầu tư có lợi cho môi trường và phát thải cacbonthấp và các dự án tài trợ chủ yếu trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, công nghệ sạch, công nghệ môi trường hoặc các thị trường liên quan đến sự bền vững, các khoản đầu tư trong lĩnh vực biến đổi khí hậu.”
Các định nghĩa trên có điểm chung là nhìn nhận đầu tư xanh dưới góc độ tác động của nó tới xã hội Trong khi đó, các nghiên cứu về đầu tư xanh trong thời gian gần đây xem xét định nghĩa “đầu tư xanh” dưới ba khía cạnh:
(i) Tác động của đầu tư xanh đến xã hội;
(ii) Chi phí bỏ ra;
(iii) Công cụ tài chính để thực hiện đầu tư xanh
Như vậy, có rất nhiều quan điểm về đầu tư xanh Tuy nhiên, trong nghiên cứu này,
nhóm nghiên cứu quan niệm rằng “Đầu tư xanh là một quá trình đưa ra các quyết
định đầu tư dựa trên các tiêu chí bảo vệ môi trường với mục đích:
(i) Tác động tích cực đến của môi trường;
(ii) Tạo ra một khoản lợi nhuận tài chính nhất định đối với các khoản đầu tư được thực hiện”
Các nhân tố tác động đến đầu tư xanh
(Eurora Kodra; Kleopatra Partalidou, 2017) thể hiện sự tương quan giữa cá nhân
tố hiệu quả tài chính và hiệu quả môi trường của doanh nghiệp trong hoạt động kinh tế của doanh nghiệp như: giá trị vốn hóa doanh nghiệp, độ lớn của doanh nghiệp và tỷ lệ giá trị sổ sách trên giá trị thị trường của doanh nghiệp Ngành có hiệu quả môi trường cao thì ảnh hướng tích cực đến lợi nhuận trung bình, do vậy, hiệu quả tài chính của doanh nghiệp tốt Nói cách khác, thị trường tài chính Châu
Âu dường như thưởng cho việc đầu tư vào môi trường xanh Bài viết cũng đưa
ra những ngành có hiệu quả môi trường cao như: Dịch vụ ngân hàng, Thiết bị công nghệ, Phần mềm và công nghệ thông tin; và những ngành có hiệu quả môi trường thấp như: năng lượng nhiên liệu hóa thạch, Hóa hc, Tài nguyên khoáng sản và dịch vụ tiện ích
Trang 6Nghiên cứu của (Kanak Tara , Saumya Singh ; Ritesh Kumar; Muniyan Sundararajan, 2019) khám phá ra 5 động lực ảnh hưởng đến hơn 60% lên quá trình đầu tư thay đổi theo hướng kinh doanh xanh của tổ chức tại Roma Dẫn đầu nhóm này là Sự cạnh tranh trong thị trường, tiếp đến Nguồn nhiên liệu khan hiếm, Các quy định mới của chính phủ, Công nghệ thông minh, cuói cùng Tri thức và sự đổi mới Trong khi đó, 3 động lực như Năng lượng cacbonđược thải thấp (37%), Văn hóa xanh (22%) và Tài chính xanh (5%) có ảnh hưởng thấp hơn đến quá trình đầu tư Đánh giá của các nhân viên ngân hàng tại Ni giê ri a về cách tiếp cận bền vững của ngân hàng thực hiện bởi tác giả (Adedayo O Ajibare; Oluwaseun J Oguntuase; , 2019) : Sự phát triển kinh tế của ngân hàng được cho là quan trọng nhất, tiếp đến là mối quan tâm đến lợi ích xã hội, cuối cùng là bảo vệ môi trường Vị trí của
3 yếu tố này đang thay đổi nhưng khá chậm Địa điểm ngân hàng khác nhau của mỗi người trả lời thuộc ảnh hưởng đến việc đáp ứng ngân hàng xanh, từ đó phát hiện ra vị trí địa lý của ngân hàng ảnh hưởng đến việc đáp ứng ngân hàng xanh.Hơn nữa, sản phẩm kinh doanh của ngân hàng là tiền tệ, có tác động không nhỏ đến việc cung ứng vốn cho các doanh nghiệp thực hiện đầu tư xanh Tuy nhiên, bài nghiên cứu trên và tác giả (Kanak Tara , Saumya Singh ; Ritesh Kumar; Muniyan Sundararajan, 2019) cũng chỉ ra rằng các dịch vụ tài chính xanh còn chưa phát triển tại các ngân hàng, trong khi lĩnh vực này lại có sự tăng trưởng cao nhất trong 20 năm gần đây
Những nhóm nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn nhà cung cấp: Đứng đầu, nhóm Trách nhiệm và hình phạt môi trường, nhóm Cam kết về môi trường của nhà cung cấp, nhóm Chi phí mô trường Những nhóm nhân tố cản trở mua xanh theo thứ tự giảm dần: nhóm Thiếu ý thức về môi trường của doanh nghiêp mua và doanh nghiệp bán và đội ngũ quản lí, nhóm Đầu tư vì môi trường, nhóm Những quy định về môi trường lỏng lẻo Công ty có số lượng mua lớn thì có tương quan mạnh về thực hiện mua xanh (đặc biệt tái chế) hơn Quan tâm đến trách nhiệm môi trường tăng lên, các doanh nghiệp mua có ý thức tuân thủ quy định về về môi trường hơn trong việc mua xanh tích cực hơn Nhiều doanh nghiệp mua có
ý thức mua xanh là cách phản ứng lại những quy định về môi trường để tránh
vi phạm luật môi trường hơn là gắn vào mục tiêu môi trường trong chính sách mua dài hạn của doanh nghiệp Vì vậy, các doanh nghiệp coi thực hiện chương trình vì môi trường như là chi phí hơn là lợi nhuận Doanh nghiệp mua nhận ra cơ hội tiét kiệm chi phí khi phân tách rác thải tại thời điểm đầu của chuỗi cung ứng Những chi phí tăng lên liên quan trong hoạt động đầu tư kinh tế được yêu cầu trong những chương trình mua xanh là trở ngại lớn nhất trong thực hiện những chương trình này (Hokey Min; William P.Galle, 2001)
Trang 7Những doanh nghiệp lớn có khả năng áp dụng đổi mới môi trường tốt hơn Chỉ
DN có 1 phần của nhóm đa quốc gia, có trụ sở nước ngoài thì mới có thể có đổi mới môi trường Tồn tại ảnh hưởng thay thế giữa những hoạt động đổi mới trong
nỗ lực phát triển Eis DN đầu tư vào nhiều hơn 1 loại đổi mới công nghệ, nó có thể áp dụng những đổi mới với những lợi ích về môi trường, do đó làm giảm ảnh hưởng đến môi trường Chiến lược của doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng hơn việc DN thuộc ngành nào, như sẵn sàng thay thế công nghệ thân thiện môi trường và chính sách môi trường nghiêm ngặt Ngành hóa học có phạm vi ảnh hưởng cao nhất trong những đổi mới môi trường, có tương quan với thiên hướng
về môi trường (Valentina De Marchi; Roberto Grandinetti, 2012)
Trong bài nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chiến lược chủ động môi trường tại các công ty quy mô nhỏ và siêu nhỏ chỉ ra rằng áp lực bên ngoài và quan điểm của nhà quản lý là những yếu tố quan trọng nhất ảnh hướng đến chiến lược chủ động môi trường ở cả cấp độ công ty quy mô nhỏ và vi mô Yếu tố nguồn lực nội
bộ có ý nghĩa yếu vì các công ty nhỏ và siêu nhỏ thường là một phần trong chuỗi cung ứng sản xuất và bị ảnh hưởng bởi yêu cầu của khách hàng trong những quyết định môi trường và thường không đủ nội lực để diễn giải động lực của thị trường và thêm vào đó, dễ bị thúc đẩy bởi hành vi của đối thủ trong các lựa chọn quản lý môi trường Trong khi đo, yếu tố thúc đẩy quan trọng nhất là quan điểm
cá nhân của nhà quản lý trong các vấn đề về môi trường (Testa, Gusmerottia, Corsini, Passetti, & Iraldo, 2015)
Xét trong thị trường tại Nam Phi mà cụ thể là 100 công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Johannesburg mà có tham gia vào dự án kiểm soát khí thải cacbonCDP, với phát hiện chính các nhân tố tác động tới hoạt động đầu tư xanh của doanh nghiệp là pháp luật về môi trường, hình ảnh doanh nghiệp, lợi nhuận
và ý thức môi trường Các quy định về môi trường gây áp lực lên doanh nghiệp bằng cách làm cho vấn đề môi trường là một trong những ưu tiên hàng đầu; thúc đẩy công ty công bố rộng rãi các sáng kiến về môi trường và chung tay vào các hoạt động vì môi trường để giảm thiểu các phí liên quan Hình ảnh của doanh nghiệp được biễu diễn thông qua việc triển khai và công bố các báo cáo môi trường, giúp cải thiện tính pháp lý về môi trường của doanh nghiệp đó, do đó cải thiện hình ảnh của công ty Ngược lại, sự quan tâm gia tăng của công chúng và nhà nước về môi trường ảnh hưởng xấu đến các công ty thể hiện hoạt động bảo
vệ môi trường yếu kém Lợi nhuận tài chính bền vững trong dài hạn được tạo
ra bởi các hoạt động đầu tư xanh thân thiện với môi trường bởi sự giảm thiểu ô nhiễm tạo ra một nguồn tiết kiệm chi phí đáng kể và làm gia tăng lợi nhuận tài chính Nhận thức môi trường gia tăng về chính sách xanh là một động lực chính
Trang 8cho công ty mở rộng hoạt động đầu tư xanh cũng như thực hiện các sáng kiến đổi mới xanh (Fortune, 2016).
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Dữ liệu nghiên cứu
Dữ liệu được thu thập kết hợp giữa nhóm nghiên cứu và phòng thương mại công nghiệp Việt Nam (VCCI) Thông tin về đầu tư xanh cho phát triển bền vững của doanh nghiệp được tổng hợp từ dữ liệu khảo sát 208 doanh nghiệp tại Việt Nam
thông qua (xem phụ lục bảng hỏi) Các doanh nghiệp này thuộc nhiều ngành,
lĩnh vực hoạt động khác nhau Mục tiêu khảo sát nhằm đánh giá việc các doanh nghiệp có quan tâm tới:
(i) Đầu tư xanh;
Trang 9Bên cạnh thông tin sơ cấp, nghiên cứu phân tích, đánh giá đầu tư xanh cho phát triển bền vững của doanh nghiệp kết hợp với các thông tin thứ cấp Thông tin thứ cấp được tập hợp từ nguồn dữ liệu tin cậy trong các nghiên cứu chính sách và nghiên cứu khảo sát của các tổ chức có uy tín như UNDP, GGGI, GEF KOICA, GIZ, ADB, USAID, WB.
Trong một nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới, (Baietti A., Shlyakhtenko A., La Rocca R., and D Patel U., 2012) đã kết luận rằng những thách thức chính đối với đầu tư xanh là:
Giá cacbon: Chỉ khi giá cacbon trở nên ổn định hơn, có thể dự báo và đáng tin cậy,
thì đầu tư xanh mới trở nên thu hút đối với các nhà đầu tư Nhóm tư vấn cấp cao của Liên hợp quốc về Tài chính trao đổi khí hậu (The United Nations Secretary-General’s High-level Advisory Group on Climate Exchange Financing - AGF 2010) rút ra kết luận rằng nếu giá phát thải cacbon là 25 USD/tấn thì sẽ đủ để tăng đầu
tư lên 100 tỷ USD mỗi năm, giải quyết nhu cầu của các nước đang phát triển
Trợ cấp nhiên liệu hoá thạch: Việc định giá thấp chi phí nhiên liệu hoá thạch và giá
cũng như phân bổ nguồn lực của công nghệ truyền thống bị bóp méo, đã khiến đầu tư xanh trở nên không hấp dẫn
Chi phí quá cao và thời gian hoàn vốn dài: Các khoản đầu tư xanh có xu hướng
ngày càng tốn kém, mặc dù một số trong số đó là hợp lý xét về quan điểm tài chính, nhưng đây không phải là trường hợp cho đa số Đó là lý do tại sao các khoản đầu tư xanh đòi hỏi tỷ suất sinh lợi cao hơn, phải co suất sinh lợi gấp nhiều lần các khoản đầu tư thông thường Vì vậy, mức tỷ suất sinh lợi của đầu tư xanh nên được các nước hỗ trợ thông qua cơ chế giá hoặc các điều khoản như giấy chứng nhận xanh
Rủi ro về công nghệ: Mỗi công nghệ mới đều có những rủi ro, như khả năng tồn
tại và tính năng Việc tài trợ và phát triển các công nghệ mới có xu hướng trở nên khó khăn hơn, trừ khi nó được hỗ trợ bởi nguồn vốn công hoặc vốn đầu tư mạo hiểm Nói chung, giới đầu tư tài chính tài chính sẽ không tài trợ cho các dự án cho đến khi mối quan hệ rủi ro – lợi nhuận trở nên ổn định hơn
Rủi ro về doanh thu: Do các công nghệ mới không chắc chắn về thu nhập và rủi ro, nên
các nhà đầu tư hoặc ngân hàng sẽ cân nhắc kĩ việc tài trợ cho các công nghệ mới Thực
tế, chúng có có xếp hạng tín dụng thấp và sự cần thiết phải cung cấp tài sản thế chấp
để trang trải rủi ro và nhu cầu về tài chính
Ngoại trừ những trở ngại chính này thì có những yếu tố khác có ảnh hưởng ở mức
độ thấp hơn như: chi phí giao dịch cao, kiến thức thông tin và khoảng cách về niềm tin, sự tham gia không đủ từ phía các tổ chức quốc tế, giá trị còn lại của tài
Trang 10sản hiện có cần phải được thay thế, chi phí cao để tích hợp các nguồn năng lượng sạch vào hệ thống, rủi ro về chính trị và quy định, quyền sở hữu trí tuệ không rõ ràng, các công cụ tài chính trong nước không đầy đủ, … (Hoen, H.V , 2014)
3.2 Biến và mô hình nghiên cứu
Những nhân tố tác động tới đầu tư xanh cho phát triển bền vững của các doanh nghiệp được phân tách thành 2 nhóm nhân tố, cụ thể:
Nhóm nhân tố thuộc về phát triển bền vững của doanh nghiệp, bao gồm:
Biến Nhân tố tác động tới phát triển bền vững của doanh nghiệp
PTBV1 Chiếc lược phát triển bền vững của doanh nghiệp
PTBV2 Chính sách, chứng chỉ quy định nhằm hạn chế ảnh hưởng tới môi trường
PTBV3 Chiến lược phát triển gắn với bảo vệ môi trường và trách nhiệm xã hội
PTBV4 Đối thủ cạnh tranh tác động tới chiến lược phát triển của doanh nghiệp gắn với môi trường và xã hộiPTBV5 Chính sách tiết kiệm năng lượng
PTBV6 Chính sách sử dụng nguồn năng lượng thay thế, năng lượng tái tạo
PTBV7 Thực hiện các hoạt động tiết kiệm năng lượng
PTBV8 Thực hiện các hoạt động sử dụng nguồn năng lượng, nguồn nước hay nguyên liệu tự nhiên có thể tái tạoPTBV9 Nhân sự chuyên trách đảm bảo trách nhiệm xác hội và bảo vệ môi trường
PTBV10 Điều kiện cơ sở hạ tầng
PTBV11 Chính sách tăng cường hiểu biết và trách nhiệm của nhân sự đối với môi trường và xã hộiPTBV12 Chính sách khai thác tài nguyên thiên nhiên
PTBV13 Sử dụng các nguyên liệu, sản phẩm hạn chế phát thải, tăng cường sử dụng sản phẩm tái chếPTBV14 Lựa chọn nhà cung cấp có trách nhiệm xã hội
PTBV15 Chính sách đào tạo về môi trường và trách nhiệm xã hội trong doanh nghiệp
PTBV16 Chính sách sử dụng các sản phẩm tái chế trong sản xuất, phân phối sản phẩm PTBV17 Nghiên cứu phát triển sản phẩm mới tích hợp bảo vệ môi trường
PTBV18 Phúc lợi cho hoạt động nghiên cứu và phát triển sản phẩm bảo vệ môi trường và trách nhiệm xã hội
(Nguồn: Tổng hợp của nhóm nghiên cứu)
Nhóm nhân tố thuộc về lựa chọn đầu tư xanh của doanh nghiệp, bao gồm:
Nhóm nhân tố đầu tư xanh dựa được phát triển trên:
(i) 8 đồng lực giúp thúc đẩy quá trình đầu tư xanh, từ đó làm biến đổi các mô hình
Trang 11đầu tư theo hướng: mô hình đầu tư truyền thống -> mô hình đầu tư hỗn hợp -> mô hình đầu tư xanh;
(ii) 5 cam kết theo nghiên cứu của Michelin
TT Biến Nhân tố tác động tới đầu tư xanh của doanh nghiệp
1 HB_LV Hiểu biết như thế nào về đầu tư xanh
2 DTH Thực hiện dự án đầu tư xanh
3 NDA Lĩnh vực đầu tư xanh
4 TCV Nguồn vốn tài trợ cho hoạt động đầu tư xanh và mức độ hài lòng của doanh nghiệp
5 UDVV Những ưu đãi dành cho hoạt động đầu tư xanh khi tiếp cận nguồn vốn vay
6 KKVV Những khó khăn khi tiếp cận nguồn vốn vay tài trợ cho hoạt động đầu tư xanh
7 STH Doanh nghiệp có dự định thực hiện dự án đầu tư xanh
8 NV Nguồn vốn mà doanh nghiệp hướng tới để tài trợ cho dự án đầu tư xanh
9 CSHT Chính sách hỗ trợ phát triển đầu tư xanh của Chính phủ
10 CSNH Chính sách hỗ trợ phát triển đầu tư xanh của Ngân hàng
11 DXCP_NH Đề xuất đối với Chính phủ, ngân hàng để việc tiếp cận vốn vay đối với các dự án đầu tư xanh dễ dàng hơn
(Nguồn: Tổng hợp của nhóm nghiên cứu)
Trên cơ sở thông tin khảo sát, nhân tố tác động tới đầu tư xanh được thực hiện kiểm định xác định và nhận diện những nhân tố tác động tới đầu tư xanh cho phát triển bền vững của các doanh nghiệp nghiên cứu
3.3 Mô hình nghiên cứu và phương pháp kiểm định
Dữ liệu sau khi thu thập được xử lý loại bỏ những dữ liệu không hợp lệ, mã hóa
dữ liệu Phần mềm STATA được sử dụng để phân tích dữ liệu tổng hợp về các giá trị Means (trung bình cộng), Standard deviations (độ lệch chuẩn) nhằm tính toán và mô tả bản chất và mức ảnh hưởng của các biến quan sát tới đầu tư xanh
và phát triển bền vững của doanh nghiệp Phân tích dữ liệu để thu thập thông tin về các thông số R-type, varimax-rotated, phân tích nhân tố ảnh hưởng chung (common factor analysis) cũng được thực hiện để xác định những nhóm nhân tố
có cùng hướng tác động tới đầu tư xanh và phát triển bền vững của doanh nghiệp (xác định các factors)
Để đảm bảo độ tin cậy của thang đo, kiểm định hệ số Cronbach’s Alpha được thực hiện Phương pháp này cho phép người phân tích loại bỏ những biến không phù hợp và hạn chế các biến rác trong mô hình nghiên cứu Mô hình hồi quy tuyến
Trang 12tính đa biến (MLR – Multiple Linear Regression) được sử dụng để đánh giá mức
độ tin cậy trong việc ước lượng mối quan hệ tuyến tính giữa các biến phụ thuộc với các biến giải thích hay các biến độc lập, trong đó các biến độc lập có chứa cả biến liên tục và biến phân loại MLR có thể thể hiện bằng kí hiệu ma trận như sau:
Hệ số tải nhân tố (factor loading) và Cronbach Alpha được sử dụng để đánh giá sơ
bộ thang đo và độ tin tưởng của các biến đo lường Biến quan sát đủ độ tin cậy
được rút gọn thành các nhân tố trong bảng Rotated Component Matrix, qua đó có
thể biết mỗi nhân tố gồm những biến quan sát nào, có ý nghĩa gì và dựa trên lý
thuyết để đặt tên cho các nhân tố đó Thước đo KMO (Kaiser - Meyer - Olkin) dùng
để xem xét sự thích hợp của phân tích nhân tố; kiểm định Barlett’s Test dùng để
kiểm định xem các biến có tương quan trong tổng thể hay không Nếu kiểm định này có mức ý nghĩa thống kê Sig < 0,05 thì các biến quan sát có tương quan trong tổng thể
EFA được sử dụng để rút gọn 1 tập k biến quan sát thành 1 tập F (F<k) các nhân
Trang 13tố ý nghĩa hơn Các nhân tố cơ sở thuộc 10 nhóm tố tác động tới đầu tư xanh của doanh nghiệp, được mô tả bằng hệ phương trình sau:
Số lượng các nhân tố cơ sở được lựa chọn trong mô hình nhân tố tác động tới đầu
tư xanh của doanh nghiệp ràng buộc nhau bằng cách xoay các vector trực giao nhau để không xảy ra hiện tượng tương quan Phương pháp trích hệ số được sử
dụng là phân tích các thành phần chính (Principal Component Analysis) với phép
xoay Varimax để tối thiểu hóa số lượng biến có hệ số lớn tại cùng một nhân tố.
4 NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI ĐẦU TƯ XANH CHO PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CỦA DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM
4.1 Kết quả mô tả doanh nghiệp khảo sát
Về độ tuổi của doanh nghiệp khảo sát (thời gian hoạt động kinh doanh)
Thời gian hoạt động của doanh nghiệp phân bố khá đông đều Các doanh nghiệp chủ yếu có hoạt động từ trên 10 năm đến 20 năm, chiếm 31,87% Các doanh nghiệp hoạt động lâu năm (trên 20 năm) chiếm tỷ trọng đáng kể, khoảng trên 20% Có thể nói, thời gian hoạt động của các doanh nghiệp khảo sát đủ dài để vượt qua giai đoạn đầu thành lập và lựa chọn đầu tư xanh cho phát triển bền vững, gắn với môi trường và trách nhiệm xã hội Kết quả phân bổ thời gian hoạt động của các doanh nghiệp như sau:
Biểu đồ 1.1: Cơ cấu thời gian hoạt động của doanh nghiệp tham gia khảo sát
Trang 14Về quy mô của doanh nghiệp:
Phần lớn các doanh nghiệp được khảo sát là các doanh nghiệp quy mô lớn trên
100 lao động, chiếm 41,10% Số lượng các doanh nghiệp nhỏ dưới 10 lao động chiếm tỷ trọng nhỏ, khoảng 27%
Biểu đồ 4.2: Cơ cấu quy mô lao động của doanh nghiệp
Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp
Về vai trò của nữ giới trong doanh nghiệp:
Vai trò của nữ giới hiện đang dừng lại ở số lượng lao động nữ trong doanh nghiệp
Tỷ lệ nữ lao động trong các doanh nghiệp dưới 50% chiếm tỷ trọng lớn, với tỷ lệ là 60.56% trên tổng số doanh nghiệp khảo sát Điều này chứng tỏ có sự chênh lệch
về lao động trong các doanh nghiệp Cơ cấu tỷ lệ nữ lao động cụ thể như sau:
Biểu đồ 4.3: Cơ cấu tỷ lệ nữ lao động trong doanh nghiệp
Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp
Trang 15Bên cạnh số lượng nữ lao động trong các doanh nghiệp khảo sát chiếm tỷ trọng thấp, nữ lao động là giám đốc doanh nghiệp chiếm tỷ trọng thấp, chiếm khoảng 26% Điều này cho thấy vai trò của nữ giới trong hình thành, phát triển các doanh nghiệp tại Việt Nam nói chung và doanh nghiệp có đầu tư xanh nói riêng Cụ thể như sau:
Tỷ lệ giám đốc trong doanh nghiệp là nam chiếm đa số với tỷ lệ 73.63%; trong khi
số lượng nữ giám đốc chỉ chiếm 26.37% Điều này cho thấy sự thiếu cân bằng cơ cấu giới tính ở lao động càng gia tăng ở những vị trí cấp cao
Về cơ cấu sở hữu:
Hai phần ba số doanh nghiệp được hỏi đăng ký kinh doanh với loại hình công ty TNHH, trong khi tổng các loại hình doanh nghiệp còn lại chỉ chiếm tỷ lệ một phần ba
Biểu đồ 4.6: Cơ cấu loại hình doanh nghiệp
Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp
Biểu đồ 4.4: Tỷ lệ giám đốc doanh
nghiệp là nam hay nữ Biểu đồ 4.5: Cơ cấu tỷ lệ nữ trong ban GĐ/HĐQT của doanh nghiệp
Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp
Trang 16Các doanh nghiệp với hoạt động chính là sản xuất sản phầm chia tỷ lệ hơn một nửa trong tổng số doanh nghiệp được khảo sát Các hoạt động chính khác của doanh nghiệp là cung cấp dịch vụ, bán buôn bán lẻ và phân phối và hoạt động khác với tỷ lệ lần lượt là 17.86%; 16.07% và 10.71%.
Biểu đồ 4.7: Cơ cấu hoạt động chính của doanh nghiệp
Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp
4.2 Kết quả mức độ phù hợp của nhân tố tác động tới đầu tư xanh cho phát triển bền vững của doanh nghiệp
Trước khi đưa các biến vào để phân tích nhân tố EFA, hệ số Cronbach’s Alpha được
sử dụng để đánh giá độ tin cậy của thang đo, từ đó loại bỏ các biến có thang đo lường kém Kết quả cụ thể như sau:
4.2.1 Đo lường độ tin cậy bằng hệ số Cronbach’s Alpha cho các nhân tố
về phát triển bền vững của doanh nghiệp
Các biến về thông tin phát triển bền vững được đưa vào kiểm định sự phù hợp của thang đo Kiểm định được thực hiện 3 lần, trong đó có sự loại bỏ những biến không đạt tiêu chuẩn trong 2 lần kiểm định sau Các biến có hệ số alpha lớn hơn 0.6 và hệ số Item-test correlation lớn hơn 0.3 sẽ được giữ lại Trong lần kiểm định 1, các biến ptbv 1, ptbv 2, ptbv 4, ptbv 5, ptbv 12, ptbv 16 có hệ số Item-test correlation nhỏ hơn 0.3 Kiểm định lần 2 được thực hiện khi loại bỏ những biến không đạt tiêu chuẩn trong lần 1 Kết quả xuất hiện biến ptbv 11 có hệ số alpha bằng 0.7530, tuy nhiêu hệ số Item-test correlation nhỏ hơn 0.3 (= 0.2497), do vậy biến ptbv tiếp tục bị loại và thực hiện tiếp kiểm định lần 3 với các biến còn lại Kết quả kiểm định cho thấy các biến còn lại đều thỏa mãn
Trang 17Bảng 4.1: Kết quả kiểm định thang đo Cronbach’s Alpha cho các nhân tố về phát triển bền vững của doanh nghiệp
Item Obs Sign correlation Item-test correlation Item-test interitem Average
(Nguồn: Kết quả kiểm định của nhóm nghiên cứu)
4.2.2 Đo lường độ tin cậy bằng hệ số Cronbach’s Alpha cho các nhân tố
về đầu tư xanh của doanh nghiệp
Đầu tư xanh của doanh nghiệp tại Việt Nam còn nhiều hạn chế và chưa thực sự hình thành và phát triển Vì vậy, trên cơ sở phiếu khảo sát 208 doanh nghiệp và kết quả phiếu khảo sát thu được Nhiều dữ liệu trong bảng hỏi các doanh nghiệp chưa nhân được thông tin về đầu tư xanh đầy đủ Có đến 46 doanh nghiệp không trả lời hầu hết câu hỏi Vì vậy, đểm đảm bảo độ tin cậy của kiểm định, các doanh nghiệp này bị loại bỏ khi phân tích nhân tố khám phá tác động tới đầu tư xanh.Kiểm định thang đo Cronbach’s Alpha được thực hiện với các biến trong 7 nhóm câu hỏi thuộc phần thông tin về Đầu tư xanh
Bảng 4.2: Kết quả kiểm định thang đo Cronbach’s Alpha cho các nhân tố về đầu tư xanh của doanh nghiệp
Tên biến Nội dung Biến bị loại interitem Average
covariance Alpha
Ghi chú
HB_LV 1 Doanh nghiệp hiểu biết như thế nào về đầu tư xanh 0 0.6104995 0.8969
TCV
Doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn nào
để tài trợ cho hoạt động đầu tư xanh
của mình và mức độ hài lòng của
doanh nghiệp
0 0.8221609 0.7939