THỰC TRẠNG CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ VỚI YÊU CẦU ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011-2020 VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ Ngô Anh Phương Email: ngoanhphuongvti@gmail.com Trường Đại
Trang 1THỰC TRẠNG CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ VỚI YÊU CẦU ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ CỦA VIỆT NAM GIAI
ĐOẠN 2011-2020 VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ
Ngô Anh Phương Email: ngoanhphuongvti@gmail.com Trường Đại học Kinh tế, ĐHQGHN
Tóm tắt:
Do trạng thái của cán cân thanh toán quốc tế có mối quan hệ chặt chẽ
và tác động qua lại (02 chiều) với các yếu tố vĩ mô (lạm phát, lãi suất, GDP…) cũng như điều hành của Chính Phủ chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ… Dựa trên số liệu thứ cấp được thu thập chủ yếu từ Quỹ tiền tệ quốc tế IMF và Ngân hàng thế giới World Bank, nhóm tác giả đã xem xét, đánh giá thực trạng cán cân thanh toán quốc tế với yêu cầu ổn định kinh tế vĩ mô của Việt Nam giai đoạn 2011-2020 Kết quả nghiên cứu cho thấy, cán cân thanh toán của Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 liên tục thặng dư (so với giai đoạn 2001 – 2010 có nhiều năm liền rơi vào tình trạng thâm hụt), qua đó, giúp dự trữ ngoại tệ của Việt Nam liên tục tăng và đảm bảo ngưỡng giám sát theo các tiêu chuẩn quốc tế Mặc dù đạt được nhiều kết quả tích cực cả ở cán cân thanh toán và ổn định kinh
tế vĩ mô, tuy nhiên vẫn còn một số vấn đề đặt ra cần tiếp tục đảm bảo và giải quyết nhằm đảm bảo cán cân thanh toán và ổn định kinh tế vĩ mô Vì vậy nhóm nghiêm cứu đã đưa ra một số khuyến nghị để giải quyết các vấn
đề đặt ra, thúc đẩy đảm bảo cán cân thanh toán và ổn định kinh tế vĩ mô
Từ khóa: cán cân thanh toán quốc tế, ổn định kinh tế vĩ mô.
1 MỞ ĐẦU
Hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang là xu thế của thời đại và diễn ra ngày càng sâu rộng về nội dung, quy mô và trên nhiều lĩnh vực Kể từ khi Việt Nam khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện đất nước vào năm 1986, Việt Nam đã gia nhập khối ASEAN năm 1995; tham gia vào khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) năm 1996; ký Hiệp định thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ năm 2000 và ký kết các hiệp
Trang 2định thúc đẩy quan hệ thương mại, đầu tư song và đa phương khác Đặc biệt từ năm
2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), kinh tế vĩ mô Việt Nam tiếp tục cải thiện và tương đối ổn định, các cân đối lớn của nền kinh tế cơ bản được bảo đảm và cải thiện tích cực Đáng chú ý, Cán cân thanh toán của Việt Nam từ năm 2011 đến nay gần như liên tục thặng dư, đặc biệt năm 2018 cán cân thanh toán thặng dư kép ở cả cán cân vãng lai lẫn cán cân vốn và tài chính, trong khi trước năm 2011 cán cân thanh toán của Việt Nam thường xuyên thâm hụt, thậm chí thâm hụt lớn trong năm 2010 Những kết quả này là nhờ
nỗ lực của Chính Phủ trong công tác điều hành ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng ở mức hợp lý, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế…Bên cạnh đó, cán cân vãng lai được cải thiện nhờ tiến bộ tích cực của cán cân thương mại đi đôi với duy trì thặng dư cán cân vốn và tài chính, cán cân thanh toán của Việt Nam được phục hồi và củng cố đáng kể, với trạng thái thặng dư ngày càng lớn, giúp dự trữ ngoại tệ Việt Nam liên tục tăng cao, đạt hơn 35 tỷ USD năm 2014 và cho đến tháng 10/2019 đã lên đến 73
tỷ USD (tương đương 14 tuần nhập khẩu) (Dự trữ ngoại tệ của Việt Nam đã sụt giảm mạnh những năm 2009-2010) Đồng thời, việc thặng dư cán cân thương mại và cán cân thanh toán đã hỗ trợ tích cực cho ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định tỷ giá hối đoái
và tạo nguồn lực giúp phục hồi tăng trưởng kinh tế
Dựa trên số liệu thứ cấp được thu thập chủ yếu từ Quỹ tiền tệ quốc tế IMF và Ngân hàng thế giới World Bank, nhóm tác giả đã xem xét, đánh giá thực trạng cán cân thanh toán quốc tế với yêu cầu ổn định kinh tế vĩ mô của Việt Nam giai đoạn 2011-2020 trên cơ sở xem xét mối quan hệ của cán cân thanh toán quốc tế và ổn định kinh tế vĩ mô Do trạng thái của cán cân thanh toán quốc tế có mối quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại (02 chiều) với các yếu tố vĩ mô (lạm phát, lãi suất, GDP…) cũng như điều hành của Chính Phủ chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ… Tuy nhiên, do hạn chế về mặt thời gian và số liệu, vì vậy nghiên cứu chỉ tập trung phân tích một số yếu tố đại điện tiêu biểu cho cán cân thanh toán quốc tế
và các yếu tố kinh tế vĩ mô dự báo có tác động nhiều tới các cân thanh toán quốc
tế, đó là: (i) đối với cán cân vãng lai (tập trung vào cán cân thương mại và cán cân chuyển giao vãng lai một chiều – kiều hối); đối với cán cân vốn và tài chính (cán cân vốn dài hạn: FDI, FPI); (ii) đối với kinh tế vĩ mô xem xét sự tác động của tỷ giá hối đoái danh nghĩa, GDP thực, lãi suất cơ bản và chỉ số giá hàng hóa
Bài viết gồm 5 phần: Tiếp theo phần “mở đầu”, phần 2 xem xét thực trạng cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam giai đoạn 2011-2020 trong mối quan hệ với ổn định kinh tế vĩ mô và phần 3 nhận diện những vấn đề đặt ra trong mối quan hệ của cán cân thanh toán quốc tế đối với yêu cầu về ổn định kinh tế vĩ mô Phần 4 đề xuất một số khuyến nghị và phần cuối cùng là phần kết luận
Trang 32 THỰC TRẠNG CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011-2020
Cán cân thanh toán của Việt Nam từ năm 2011 đến nay gần như liên tục thặng dư, đặc biệt năm 2018 cán cân thanh toán thặng dư kép ở cả cán cân vãng lai lẫn cán cân vốn và tài chính, trong khi trước năm 2011 cán cân thanh toán của Việt Nam thường xuyên thâm hụt, thậm chí thâm hụt lớn trong năm 2010 Những kết quả này
là nhờ nỗ lực của Chính Phủ trong công tác điều hành ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng ở mức hợp lý, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế…Bên cạnh đó, cán cân vãng lai được cải thiện nhờ tiến bộ tích cực của cán cân thương mại đi đôi với duy trì thặng dư cán cân vốn và tài chính, cán cân thanh toán của Việt Nam được phục hồi
và củng cố đáng kể, với trạng thái thặng dư ngày càng lớn, giúp dự trữ ngoại tệ Việt Nam liên tục tăng cao, đạt hơn 35 tỷ USD năm 2014 và cho đến tháng 10/2019 đã lên đến 73 tỷ USD (tương đương 14 tuần nhập khẩu) (Dự trữ ngoại tệ của Việt Nam
đã sụt giảm mạnh những năm 2009-2010) Đồng thời, việc thặng dư cán cân thương mại và cán cân thanh toán đã hỗ trợ tích cực cho ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định tỷ giá hối đoái và tạo nguồn lực giúp phục hồi tăng trưởng kinh tế Cụ thể:
Hình 2.1: Diễn biến cán cân thanh toán của Việt Nam
giai đoạn 2011 - 2018 (Triệu USD)
Nguồn: Database IMF
Năm 2010, cán cân thanh toán thâm hụt gần 2.000 triệu USD, nhưng sang 2011 mặc
dù lạm phát tăng tới 18,13%, gần bằng mức kỷ lục 19,89% năm 2008 - năm Việt Nam chịu ảnh hưởng nặng nề của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, nhưng cán cân thanh toán đã thặng dư lên hơn 1.100 triệu USD Đến 2012, mặc
dù bối cảnh kinh tế thế giới vẫn còn ở trong bức tranh suy thoái, cán cân thanh toán
Trang 4đã thặng dư với mức cao kỷ lục lên hơn 11.000 triệu USD Sang 2013, tăng trưởng vẫn còn ở mức độ thấp, cân đối ngân sách còn nhiều thách thức và các doanh nghiệp vẫn chưa thoát khỏi khó khăn, tuy nhiên cán cân thanh toán tổng thể vẫn thặng dư nhưng không cao như năm 2012 Cán cân thanh toán đã hầu như thặng dư từ đó đến nay, trừ năm 2015, cán cân thanh toán thâm hụt 6.000 triệu USD Năm 2016, cán cân thanh toán của Việt Nam đã có sự chuyển vị thế quan trọng từ bị thâm hụt sang
vị thế thặng dư và thặng dư là 8.000 triệu USD Đây là sự chuyển dịch vị thế rất quan trọng, làm cho dự trữ ngoại hối của Việt Nam đã phục hồi dần trở lại, tăng cường sức mạnh tài chính của quốc gia, góp phần ổn định tỷ giá, giảm sức ép đối với tâm
lý kỳ vọng lạm phát Năm 2017, cán cân tổng thanh toán dư hơn 12.500 triệu USD Đến năm 2018, mặc dù kinh tế thế giới tăng trưởng chững lại trong bối cảnh căng thẳng thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc gia tăng, tuy nhiên cán cân thanh toán không chỉ thặng dư mà còn thặng dự kép đạt ở mức 6.000 triệu USD (cả cán cân vãng lai và cán cân vốn và tài chính)38 Có nhiều nguyên nhân góp phần tạo nên sự cải thiện cán cân thanh toán thanh toán quốc tế của Việt nam trong giai đoạn này, trong đó phải kể đến đó là do sự chuyển đổi tư duy trong việc xác định mục tiêu chủ yếu Chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng bền vững, ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, tăng trưởng hợp lý, bảo đảm an sinh xã hội, đồng thời với việc xúc tiến cơ cấu lại kinh tế Nhìn chung, từ năm 2011 đến nay, cán cân thanh toán thặng
dư đã góp phần tích cực vào ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong thời gian qua
2.1 Cán cân vãng lai
Từ năm 2011 đến nay, cán cân vãng lai liên tục thặng dư (trừ năm 2015 và 2017) đóng vai trò then chốt giải quyết vấn đề cơ cấu cán cân thanh toán của Việt Nam
Trong khi thời kỳ 2002 - 2011, cán cân vãng lai của Việt Nam luôn ở tình trạng thâm hụt và nghiêm trọng nhất là những năm 2007 - 2010, đạt kỷ lục thâm hụt vào năm
2008 đến mức 10.800 triệu USD tương đương với 11% GDP, sau đó thâm hụt giảm dần và đến năm 2010 thâm hụt vãng lai còn ở mức 4.276 triệu USD và chiếm 3,8% GDP Sang giai đoạn 2011-2018, cán cân vãng lai đảo chiều, đa phần thặng dư Kết thúc năm 2011 cán cân vãng lai của Việt Nam đã bắt đầu thặng dư 236 triệu USD Cán cân vãng lai liên tục thặng dư đóng vai trò then chốt trong việc giải quyết vấn đề cơ cấu cán cân thanh toán của Việt Nam và cũng cho thấy tình hình kinh
tế vĩ mô trong giai đoạn này đã ổn định hơn Một trong những lý do khiến cán cân vãng lai trong giai đoạn này thặng dư nhờ việc điều hành hiệu quả của Chính Phủ chủ động và linh hoạt, thích ứng với tình hình thực tế đã làm cho tỷ giá về cơ
38 Nguồn: Database IMF
Trang 5bản ổn định, lãi suất duy trì ở mức thấp trong một thời gian dài (có sự tăng nhẹ cuối năm 2018), qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp thúc đẩy sản xuất kinh doanh, thúc đẩy xuất khẩu tăng mạnh và hạn chế nhập siêu, thặng
dư cán cân thương mại thặng dư và góp phần thặng dư cán cân vãng lai Đồng thời Việt Nam đã sử dụng đầu vào nhập khẩu hiệu quả hơn để đạt tăng trưởng xuất khẩu cao hơn Hàn Quốc đã trở thành nước đầu tư vào Việt Nam mạnh nhất, trong đó dẫn đầu là Samsung Sự hiện diện của Samsung tại Việt Nam đã khiến điện thoại thông minh và linh kiện từ năm 2013 đến nay liên tục là mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam, thay thế dệt may và giày dép Với thế mạnh xuất khẩu này, Việt Nam đang mở rộng hoạt động xuất khẩu chính từ chế biến sang công nghệ cao39
Hình 2.2: Diễn biến cán cân vãng lai của Việt Nam giai đoạn 2010 - 2018
(Đvt: Triệu USD)
Nguồn: Database IMF
2.1.1 Cán cân thương mại
Cán cân thương mại là cấu phần tác động mạnh nhất đến cán cân vãng lai của Việt Nam trong giai đoạn qua Từ năm 2012 cán cân thương mại của Việt Nam chuyển sang trạng thái thặng dự và vẫn được tiếp tục duy trì từ đó đến nay đã góp phần tích cực vào tăng trưởng kinh tế và là một trong những tác nhân quan trọng giúp giảm
áp lực tăng tỷ giá và cải thiện cán cân tổng thể40 Cụ thể:
Trước năm 2011, cán cân thương mại Việt Nam thường xuyên thâm hụt mặc dù
39 Nguồn Database IMF
40 Nguồn: Database của IMF
Trang 6kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đã có mức tăng trưởng ấn tượng, khoảng 19%/năm tương ứng từ 46% GDP năm 2001 lên tới 78% GDP năm 2011, song nhập khẩu đã tăng ở mức cao hơn từ 49% lên đến 86% GDP trong cùng thời kỳ, làm cho cán cân thương mại trong giai đoạn này luôn ở tình trạng thâm hụt Nhập siêu bắt đầu tăng nhanh kể từ năm 2003 ở mức 12,9% GDP và đạt mức 14,1 tỷ USD, tức gần 20% GDP vào năm 2008, sau 2 năm khi Việt Nam gia nhập WTO Tình trạng nhập siêu tiếp tục duy trì tăng ở các năm tiếp theo trung bình từ 9,1% tới mức 14,7% GDP tương ứng với các giai đoạn 2002 - 2005 và 2006 - 2010 Điều cần nhấn mạnh là thâm hụt thương mại của Việt Nam trong giai đoạn 2002 - 2010 đã được coi là một trong những mất cân đối vĩ mô nghiêm trọng ở mức cao và kéo dài gây ra nhiều tác động tiêu cực cho nền kinh tế và gây áp lực cho chi tiêu ngân sách nhà nước (NSNN) Do
cơ cấu nhập khẩu hàng hóa chủ yếu là nguyên vật liệu cho các ngành sản xuất trong nước, do vậy nhập siêu đã góp phần làm tăng mặt bằng giá cả Việt Nam bên cạnh các yếu tố tăng giá hay lạm phát ở nước ngoài Thêm vào đó, nhập siêu còn tạo áp lực lên cung - cầu ngoại tệ và giá trị đồng nội tệ, tăng gánh nặng nợ nước ngoài
Hình 2.3: Cán cân thương mại giai đoạn 2010-2018
(Đvt: Triệu USD)
Nguồn: Database IMF
Từ năm 2011 đến nay cán cân thương mại đa phần thặng dư Năm 2011, cán cân thương mại vẫn còn thâm hụt nhưng năm 2012 cán cân thương mại đã chuyển sang thăng dư, mở đầu cho thời kỳ mới của cán cân thương mại Mặc dù cán cân thương mại từ năm 2012-2015 thặng dư nhưng mức thặng dư lúc cao, lúc thấp, đan xen nhau Năm 2012, thặng dư của cán cân thương mại là 9.913 triệu USD, năm 2013 giảm xuống còn 8.713 triệu USD, năm 2014 tăng lại đạt 12.126 triệu USD và năm
2015 lại giảm còn 7.374 triệu USD Từ năm 2016 đến năm 2018, cán cân thương
Trang 7mại vẫn tiếp tục thặng dư và giá trị thặng dư liên tục tăng qua các năm và cán cân thương mại năm 2018 đạt thặng dư cao nhất từ trước đến nay Năm 2016 cán cân thương mại thặng dư ở mức 11.042 triệu USD, năm 2017 đạt 10.846 triệu USD và năm 2018 đạt hơn 16.539 triệu USD Thặng dư cán cân thương mại trong giai đoạn này là nhờ cơ cấu hàng hóa xuất khẩu được cải thiện theo hướng tích cực với quy mô các mặt hàng tiếp tục được mở rộng, số mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu từ 1 tỷ USD trở lên tăng qua các năm, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước; thị trường xuất khẩu được mở rộng vì không
ít doanh nghiệp xuất khẩu đã tiếp tục đẩy mạnh khai thác các thị trường truyền thống và mở rộng tìm kiếm phát triển thêm nhiều thị trường mới cho đế nay hàng hóa xuất khẩu đã vươn tới hầu hết các thị trường trên thế giới
2.1.2 Cán cân chuyển giao vãng lai một chiều
Cán cân chuyển giao vãng lai một chiều bao gồm các khoản chuyển giao bằng tiền, hiện vật mang ý nghĩa là quà tặng, viện trở, bồi thường của tư nhân và chính phủ Và cũng giống như các nước đang phát triển khác, kiều hối là hạng mục quan trọng nhất trong cán cân này do đây nguồn tài trợ bên ngoài quan trọng thứ hai, sau đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Lượng kiều hối người Việt Nam ở nước ngoài gửi về nước từ 2011 đến nay ngày càng có xu hướng tăng và với mức
độ tăng trưởng trung bình mỗi năm khoảng 10% (tham khảo Hình 4)
Theo đánh giá của UNDP, ở Việt Nam kiều hối chiếm 12% tổng nguồn tài chính
và đóng góp vào GDP ở mức 6-8% trong giai đoạn 2006-2017, cao hơn nhiều so với các nước phát triển, bình quân chỉ chiếm 1-2% GDP Phần lớn kiều hối được gửi về Việt Nam là xuất phát từ Việt kiều (chủ yếu định cư ở Mỹ, Canada, Đức và Pháp) chiếm 80-90% tổng lượng kiều hối về nước, trong khi đó, kiều hối từ nhóm xuất khẩu lao động chỉ chiếm một phần nhỏ (6-7%) Trong giai đoạn 2007-2015, tổng kiều hối vào là nguồn vốn lớn thứ 2 tại Việt Nam sau tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã thực hiện và lớn hơn cả nguồn vốn viện trở phát triển chính thức ODA đã giải ngân Báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) cho biết, lượng kiều hối gửi về Việt Nam trong năm 2015 đạt 12,25 tỷ USD, tăng khoảng 0,25 tỷ USD so với năm 2014 Xét trên quy mô toàn cầu, Việt Nam đứng thứ 11 thế giới
về lượng kiều hối trong năm 2015 Còn xét ở khu vực Đông Á - Thái Bình Dương, Việt Nam đứng thứ 3 sau Trung Quốc và Philippines Cũng theo báo cáo của WB chỉ tính riêng lượng kiều hối từ Mỹ chuyển về Việt Nam đã đạt khoảng 7 tỷ USD trong năm 2015 Đáng chú ý, lượng kiều hối chuyển về tăng mạnh khoảng 1 tỷ USD mỗi năm Cụ thể, kiều hối về Việt Nam năm 2012 đạt 10 tỷ USD, năm 2013 là
11 tỷ USD và năm 2014 là 12 tỷ USD Từ năm 2016 đến 2018, lượng kiều hối liên tục gia tăng Cụ thể, năm 2017 lượng kiều hối về Việt Nam đạt 13,8 tỷ USD và năm
2018 thì lượng Kiều hối chuyển về Việt Nam gần 16 tỷ USD, đã đưa Việt Nam trở thành một trong mười nước có lượng kiều hối lớn nhất khu vực Châu Á Thái Bình
Trang 8Dương, điều này góp phần bù đắp thâm hụt cán cân thương mại, xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sống của một bộ phận người dân nhận kiều hối41
Hình 2.4:Quy mô và tỷ trọng kiều hối so với GDP của Việt Nam giai đoạn 2010-2017
Nguồn WDI 42
Hình 2.5: Những nước nhận kiều hối hàng đầu Châu Á Thái Bình Dương năm 2018 (Tỷ USD)
Nguồn: ADB43
41 ADB (2019), Determinants of international remittance inflows in middle-income countries
in Asia and the Pacific, https://www.adb.org/sites/default/files/publication/506406/adbi-wp964.pdf
42 Chân Hồ (2018), trích dẫn từ trithuc.vn, https://nguoisantin.wordpress.com/2018/09/17/55-kieu-hoi-cua-viet-nam-den-tu-my/
43 ADB (2019), Determinants of international remittance inflows in middle-income countries in Asia and the Pacific, https://www.adb.org/sites/default/files/publication/506406/adbi-wp964.pdf
Trang 92.2 Cán cân vốn và tài chính
Cũng giống như cán cân vãng lai, cán cân vốn và tài chính liên tục thặng dư từ năm 2011 đến nay và tăng mạnh từ 2016 trở lại đây, đến 2018 thặng dư cán cân vốn và tài chính tương đương 6,0% GDP Trước năm 2011, cán cân vốn và tài chính Việt Nam biến động liên tục, đa phần thâm hụt, chỉ từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO (năm 2007) cán cân vốn bắt đầu thặng dư (trừ giai đoạn 2008-2010 là giai đoạn kinh tế thế giới khủng hoảng) Năm 2011 cán cân vốn và tài chính có bước cải thiện đáng kể khi tăng lên mức 8 tỷ USD (6,6% GDP) nhờ sự ổn định tương đối của dòng vốn vào vì kinh tế toàn cầu phục hồi Năm 2014 cán cân vốn tài chính đạt 5,5 tỷ đô la Mỹ, năm 2015 là khoảng 1 tỷ đô la Mỹ và năm 2016 đạt thặng dư ở mức cao 9,2 tỷ đô la Mỹ, tăng mạnh so với năm 2015 và năm 2014, đến năm 2017 đạt mức lên mức 19,8 tỷ đô la Mỹ và năm 2018 cán cân tài chính tiếp tục thặng dư nhờ giải ngân FDI tiếp tục đạt khá, dòng vốn đầu tư gián tiếp đạt xấp xỉ 2 tỷ USD Trong cán cân vốn và tài chính thì khoản mục đầu tư nước ngoài (FDI) và đầu tư gián tiếp (FPI) là những dòng ngoại tệ chính vào Việt Nam, góp phần làm tăng cán cân vốn giúp nâng cao khả năng thanh khoản của tài khoản quốc gia Vì vậy việc xem xét thực trạng hai khoản mục trên từ 2011 đến nay để thấy mức độ ảnh hưởng của chúng đến cán cân vốn và tài chính nói riêng và cán cân thanh toán nói chung là điều cần thiết Cụ thể:
2.2.1 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã có sự phát triển vượt bậc, gia tăng mạnh
mẽ cả về vốn thực hiện và vốn đăng ký, đồng thời là khoản mục có đóng góp lớn nhất vào thặng dư của cán cân vốn đặc biệt kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO Bên cạnh đó FDI còn đóng vai trò quan trọng trong kim ngạch xuất khẩu, giúp Việt Nam có bước tiến lớn hơn vào các thị trường Quốc tế Kể từ năm 2012 đến nay vốn FDI giúp Việt Nam chuyển từ nhập siêu sang xuất siêu, góp phần cải thiện cán cân vãng lai và cán cân thanh toán quốc tế Rõ ràng, FDI đã trở thành một trong những nguồn lực tài chính quan trọng trong phát triển kinh tế đất nước Kết quả thu hút FDI trong giai đoạn từ 2010 – 2018, cụ thể: vốn FDI tăng trưởng trung bình 13%/năm Đến năm 2018, số vốn FDI đăng ký cấp mới và tăng thêm
là 25.573 triệu USD, cao hơn năm 2015 là 22.758 triệu USD và năm 2010 là 19.764 triệu USD Vốn thực hiện năm 2010 là 11.000 triệu USD, năm 2015 là 14.500 triệu USD, và năm 2018 là 19.100 triệu USD Tỷ trọng xuất khẩu của khu vực FDI đến nay vẫn chiếm trên 70% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước nhưng do hoạt động xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là gia công, dựa trên chi phí nhân công rẻ và nguồn nguyên liệu đầu vào của các sản phẩm xuất khẩu lại từ nhập khầu là chính,
Trang 10vì vậy kim ngạch nhập khẩu của khu vực FDI tăng cao và cao ở mức tương ứng
Do vậy, giá trị gia tăng tạo cho nền kinh tế không nhiều
Hình 2.6:Dòng vốn Đầu tư trực tiếp nước ngoài ròng vào Việt Nam
từ 2005 - 2018 (%GDP)
Nguồn: Database IMF
2.2.2 Đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI)
Vốn đầu tư gián tiếp (FPI) vào Việt Nam giai đoạn 2011- 2018 tuy có lúc không
ổn định do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới, tuy nhiên cung giống như nguồn vốn FDI, từ năm 2016 đến nay, dòng vốn trên bắt đầu gia tăng và năm
2018 đạt thăng dự ở con số khoảng 3.021 triệu USD, tuy không bằng dòng vốn FDI nhưng cũng góp phần gia tăng cán cân vốn và tài chính
Bảng 2.1: Đầu tư gián tiếp nước ngoài của Việt Nam 2007-2015