Chuỗi giá trị ngành Du lịch có rất nhiều chủ thể tham gia nên bài viết này chỉ tập trung vào các doanh nghiệp kinh doanh khách sạn và vấn đề trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trong bối cả
Trang 1NHẰM PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG TẠI VIỆT NAM
ThS NCS Tô Quang Long 1 , TS Nguyễn Phương Mai 2
Tóm tắt:Bài viết này bàn luận về khái niệm du lịch bền vững và những thách thức đang đặt ra đối với ngành Du lịch Việt Nam Chuỗi giá trị ngành
Du lịch có rất nhiều chủ thể tham gia nên bài viết này chỉ tập trung vào các doanh nghiệp kinh doanh khách sạn và vấn đề trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trong bối cảnh phát triển du lịch bền vững Các luận điểm được phân tích dựa trên nguồn dữ liệu thứ cấp về ngành du lịch Việt Nam và xu hướng phát triển du lịch bền vững trên thế giới hiện nay Từ đó, bài viết nhấn mạnh việc thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp kinh doanh khách sạn là một giải pháp căn bản nhằm hướng đến phát triển du lịch bền vững tại Việt Nam
Từ khóa: du lịch bền vững, du lịch có trách nhiệm, trách nhiệm xã hội của
doanh nghiệp, khách sạn, Việt Nam.
1 MỞ ĐẦU
Trong những thập kỷ gần đây, du lịch luôn chiếm vị trí chiến lược quan trọng trong cơ cấu kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới Theo thống kê của Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO, 2019), ngành Du lịch năm 2018 đạt 1.401 triệu lượt khách với tổng doanh thu 1.450 tỷ USD Trong đó, châu Âu chiếm thị phần lớn nhất, thứ hai là châu Á - Thái Bình Dương Tại Việt Nam, lượng du khách
1 Khoa Du lịch học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.
2 Khoa Quốc tế, Đại học Quốc gia Hà Nội; Email: mainp@vnu.edu.vn.
Trang 2quốc tế năm 2018 là 15,498 triệu lượt (tăng 19,9% so 2017), ước tính doanh thu đạt 10,080 tỷ USD và lượng khách nội địa là 80 triệu lượt với doanh thu khoảng 27 tỷ USD
Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng của ngành Du lịch cũng
sẽ mang lại cả những tác động tích cực và tiêu cực đến mỗi quốc gia Theo (Wall & Mathieson, 2006), tác động của du lịch đến một địa phương hay quốc gia có thể được phân tích theo ba phương diện: kinh tế, văn hóa – xã hội và môi trường Xét về phương diện kinh tế, một số lợi ích rõ ràng của sự phát triển ngành Du lịch là góp phần phát triển kinh tế địa phương, tạo công ăn việc làm và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân bản địa, thúc đẩy trao đổi thương mại, xuất khẩu hàng hóa tại chỗ Tuy nhiên, khi du lịch phát triển, giá nhà đất cũng sẽ tăng lên, giá cả các hàng hóa và dịch vụ khác cũng tăng lên Sự gia tăng tương đối của giá cả hàng hóa và dịch vụ nói chung sẽ tạo áp lực khá lớn đối với người dân địa phương, nên được xem là tác động tiêu cực đến xã hội Xét về phương diện văn hóa – xã hội, khi du lịch phát triển, các tác động tiêu cực là không thể tránh khỏi chẳng hạn như tình trạng gia tăng nạn cờ bạc, mại dâm, buôn bán ma túy (Ahmed & Krohn, 1992; Andereck, Valentine, Knopf & Vogt, 2005) Tuy nhiên, ở một phương diện khác, sự phát triển của ngành du lịch cũng mang lại những lợi ích tích cực về văn hóa – xã hội Chẳng hạn như du lịch chính là một giải pháp bảo tồn các nét đẹp văn hóa của người dân tộc hoặc dân bản địa khi các phong tục đang có nguy cơ bị mai một lại được hồi sinh để phục vụ khách du lịch Hơn nữa, khi phát triển du lịch, cơ sở hạ tầng ở địa phương cũng được trùng tu, sửa chữa để đảm bảo điều kiện hoạt động và đáp ứng nhu cầu thăm quan và lưu trú của khách du lịch Đối với người dân bản địa, du lịch còn giúp tạo ra các việc làm theo
vị trí khác nhau trong chuỗi giá trị ngành Du lịch
Bài viết này bàn luận về khái niệm du lịch bền vững và những thách thức đang đặt ra đối với ngành Du lịch Việt Nam để khẳng định vai trò quan trọng của các doanh nghiệp kinh doanh khách sạn trong các hoạt động nhằm thúc đẩy phát triển du lịch bền vững
Trang 3Chuỗi giá trị ngành Du lịch có rất nhiều chủ thể tham gia nên bài viết này chỉ tập trung vào các doanh nghiệp kinh doanh khách sạn
và vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong bối cảnh phát triển du lịch bền vững Các dữ liệu sử dụng trong bài viết được thu thập từ các báo cáo về ngành du lịch Việt Nam, các công trình nghiên cứu liên quan trong vòng 3 năm gần đây
2 DU LỊCH BỀN VỮNG VÀ THỰC TRẠNG NGÀNH DU LỊCH VIỆT NAM
2.1 Khái niệm “du lịch bền vững”
Theo Tổ chức Du lịch thế giới (1998), phát triển du lịch bền vững (PTDLBV) là phát triển mà không chỉ đáp ứng nhu cầu hiện tại của khách du lịch và địa phương mà còn bảo vệ và tăng cường các cơ hội tương lai Theo đó, PTDLBV sẽ dẫn đến sự thay đổi về cách thức quản lý các nguồn lực theo một cách vừa bảo tồn văn hóa,
hệ sinh thái, sự đa dạng sinh học và các hệ thống hỗ trợ cuộc sống PTDLBV thỏa mãn được nhu cầu bảo toàn sự bền vững của các nguồn tài nguyên du lịch ở điểm đến và cũng là một cách đạt được
sự cân bằng giữa tiềm năng phát triển du lịch và nhu cầu bảo tồn các nguồn lực (Clarke, 1997; Lane, 1994)
Để hướng đến phát triển bền vững ngành Du lịch, vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) trong ngành này đã trở thành một từ khóa chủ đạo CSR được định nghĩa là không chỉ hoàn thành các nghĩa vụ pháp lý mà đồng thời đòi hỏi các doanh nghiệp cần đáp ứng các thách thức về xã hội và môi trường một cách tự nguyện Trong ngành Du lịch, CSR có nghĩa là các công ty du lịch có thể thực hiện theo nhiều cách khác nhau Một số công ty tham gia vào các hoạt động nâng cao nhận thức về văn hóa bản địa của du khách, các công ty khác thì áp dụng các tiêu chuẩn lao động cho cán
bộ, công nhân viên Một số khác thì thành lập các quỹ phi lợi nhuận hoặc các dự án xã hội cho trẻ em, và các gia đình cần được giúp đỡ trong xã hội Những hoạt động này đều hướng đến phát triển du lịch bền vững và phù hợp với tương lai (Mathew & Sreejesh, 2017)
Trang 4Trong những thập kỷ gần đây, nhằm đáp ứng các áp lực ngày càng tăng về việc thực hiện CSR trong ngành Du lịch từ các bên liên quan trong xã hội, khái niệm “du lịch bền vững” hay còn gọi là “du lịch có trách nhiệm” đã được đề cập đến nhiều hơn (Krippendorf, 1987) Du lịch bền vững đã trở thành chủ đề phổ biến hơn trong giới học thuật (Clarke, 1997; Jucan & Jucan, 2010) Các thuật ngữ tương đương khác đã được dùng để mô tả khái niệm du lịch bền vững là
“du lịch xanh”, “du lịch phù hợp” (Lee & Cho, 2019)
Sách trắng Nam Phi (1996) đã nêu rõ khái niệm “du lịch bền vững” hay “du lịch có trách nhiệm” bao gồm các thành tố có tính quyết định như sau:
• Phát triển, quản lý và marketing du lịch theo những cách thức tạo ra lợi thế cạnh tranh;
• Đánh giá và kiểm soát các tác động môi trường, kinh tế và xã hội đến phát triển du lịch và cung cấp thêm các thảo luận mở về chủ
đề liên quan;
• Đảm bảo sự tham gia chủ động của các cộng đồng có lợi ích
từ du lịch trong việc lập kế hoạch và ra quyết định liên quan đến các mối liên kết kinh tế trong chuỗi giá trị ngành du lịch;
• Bảo tồn và khuyến khích sự đa dạng tự nhiên, kinh tế, xã hội
và văn hóa;
• Tránh xả thải và tiêu dùng quá mức cũng như thúc đẩy việc
sử dụng bền vững các tài nguyên của địa phương
Như vậy, du lịch bền vững sẽ giảm thiểu các tác động tiêu cực
và tối đa hóa các tác động tích cực trong các bối cảnh xã hội, văn hóa, môi trường và kinh tế khác nhau Du lịch bền vững sẽ đòi hỏi
sự tham gia của người dân địa phương, các cộng đồng tham gia hoạt động bảo tồn và đồng thời cho phép sự tiếp cận của khách
du lịch với bối cảnh địa phương bằng sự tôn trọng giá trị bản địa (Goodwin & Francis, 2003) Nói một cách khác, du lịch bền vững nghĩa là cung cấp các trải nghiệm kỳ nghỉ tốt hơn cho khách du lịch
Trang 5và các cơ hội kinh doanh tuyệt hảo cho các doanh nghiệp du lịch (Goodwin & Francis, 2003) Đồng thời, nó cũng mang lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho cộng đồng địa phương thông qua các lợi ích kinh tế
- xã hội và việc quản lý tốt các nguồn tài nguyên
2.2 Thực trạng ngành Du lịch tại Việt Nam và thách thức đặt ra
Trong vòng 10 năm qua, ngành Du lịch Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh chóng với số lượng khách quốc tế ngày càng tăng với tỷ lệ trung bình là 9%/năm Trong năm 2013, du lịch Việt Nam đón hơn 7,5 triệu lượt khách quốc tế và 32,5 triệu lượt khách nội địa, đạt tổng doanh thu từ khách du lịch là 200 nghìn tỷ đồng Du lịch nội địa cũng phát triển mạnh, góp phần duy trì sự ổn định của thị trường Ngành Du lịch Việt Nam từng bước hình thành thương hiệu và định vị trên thị trường thế giới
Năm 2015, ngành Du lịch đã tạo ra 1,4 triệu việc làm trực tiếp
và một số lượng việc làm gián tiếp đáng kể, đóng góp vào khoảng 15% lực lượng lao động cả nước Đến năm 2020, Việt Nam đã đón
từ 10 đến 10,5 triệu lượt khách quốc tế (tăng 7,6% hàng năm) và 48 triệu lượt khách nội địa (tăng 5,3% hàng năm) Doanh thu du lịch
dự kiến sẽ tăng lên đến 18-19 tỷ đô la Mỹ (tăng 13,8% vào năm 2015, tăng 12% hàng năm sau đó)
Khách quốc tế đến Việt Nam trong giai đoạn 2015 đến 2018 đã tăng trưởng mạnh Từ năm 2015 đến 2018 khách quốc tế tăng gần hai lần từ 8 triệu lên 15,5 triệu và tốc độ tăng trưởng là 25% /năm,
là 1 trong 10 quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới Việt
Nam được Tổ chức Du lịch thế giới xếp thứ 3/10 quốc gia điểm đến
có tốc độ tăng trưởng khách quốc tế nhanh nhất thế giới năm 2018, sau khi đã xếp thứ 6/10 vào năm 2017 Sau giai đoạn tăng trưởng đột phá, tốc độ tăng trưởng đang có xu hướng chậm lại cả về số lượng tuyệt đối: năm 2018 đạt 19,9% (tương tương gần 2,6 triệu lượt khách), thấp hơn so với năm 2017 đạt 29% (tương đương hơn 2,9 triệu lượt khách) Tổng thu từ khách du lịch năm 2018 đạt 637 nghìn tỷ đồng (tăng 17,7% so với năm 2017) Trong đó tổng thu từ du lịch quốc tế đạt
Trang 6383 nghìn tỷ đồng (chiếm 60,1%), tổng thu từ du lịch nội địa đạt 254 nghìn tỷ đồng (chiếm 39,9%) Tính cả năm 2019, lượng khách quốc
tế đến Việt Nam đạt 18 triệu lượt người, tăng 16,2% so với năm 2018 Theo xu hướng phát triển, một số khu vực ở Việt Nam như Vịnh
Hạ Long, Đồng bằng sông Cửu Long, đã là những điểm đến phát triển nhanh nhất thế giới trong một vài năm Tuy nhiên, công tác quản lý du lịch và đảm bảo an toàn cho du khách chưa đáp ứng được yêu cầu Hiện tượng mạnh tay chèo kéo du khách ở các thành phố lớn vẫn diễn ra phổ biến Các cơ sở vật chất phục vụ du lịch như trung tâm thông tin, điểm dừng nghỉ, nhà vệ sinh vẫn chưa phát triển và chưa đạt tiêu chuẩn chất lượng cần thiết Cuối cùng, một số nơi ở Việt Nam đã trở thành điểm du lịch đại trà mà du khách đến và
đã phá hủy các khu vực tự nhiên như bãi biển, danh lam thắng cảnh,
di sản văn hóa khiến du lịch đang bị đe dọa (Tan, 2014) Hơn nữa, dòng khách du lịch nước ngoài và trong nước ngày càng tăng cũng dẫn đến sự gia tăng nhu cầu mại dâm và tạo điều kiện màu mỡ cho sự
mở rộng của ngành công nghiệp tình dục phục vụ thị trường trong nước và gần đây là quốc tế (Agrusa & Prideaux, 2002) Đây là tác động tiêu cực của sự phát triển du lịch đối với đất nước
Như vậy, sự phát triển của ngành Du lịch Việt Nam có cả tác động tích cực và tiêu cực đến xã hội Các mô hình du lịch có trách nhiệm hay du lịch bền vững cần phát huy vai trò của mình để giải phóng các tác động tiêu cực đến kinh tế, xã hội, môi trường và mang lại nhiều lợi ích nhất cho cộng đồng địa phương (Tan, 2014)
3 TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP KHÁCH SẠN TRONG PHÁT TRIỂN
DU LỊCH BỀN VỮNG
Mặc dù là ngành kinh tế non trẻ, chỉ thực sự phát triển trong vài thập kỷ trở lại đây, du lịch Việt Nam đã nhanh chóng hòa chung vào
xu thế phát triển của các ngành kinh tế khác và ngày càng khẳng định vai trò cũng như sự đóng góp to lớn cho nền kinh tế đất nước Với Việt Nam, du lịch cùng với công nghiệp điện tử và nông nghiệp công nghệ cao được xác định là ba ngành kinh tế mũi nhọn trong
Trang 7giai đoạn 2016-2020 và trong cả thời kỳ thực hiện chiến lược phát triển đất nước 2021-2030
Theo quy hoạch của Chính phủ, du lịch trở thành ngành kinh
tế mũi nhọn đến năm 2020 với định hướng “phát triển bền vững và
bao trùm, trên nền tảng tăng trưởng xanh, tối đa hóa sự đóng góp của du lịch cho các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc; quản lý và
sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học, chủ động thích ứng với biến đổi khi hậu, bảo đảm quốc phòng và
an ninh” (Quyết định số 147/QĐ-TTg; Thủ tướng Chính phủ, 2010)
Như vậy, phát triển du lịch cộng đồng nói chung và du lịch sinh thái nói riêng để tiến đến phát triển du lịch bền vững là chủ trương chung của quốc gia
Gắn với vị thế, yêu cầu mới này trong nền kinh tế quốc gia và gắn với xu thế chung của nền kinh tế thị trường toàn cầu, ngành Du lịch Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lưu trú và ăn uống nói riêng, trong những năm sắp tới và về lâu dài, phải nhận thức thật sự sâu sắc và thực hiện có kết quả ngày càng cao trách nhiệm xã hội của mình - nói cách khác, phải đáp ứng thật tốt những yêu cầu cơ bản về phát triển du lịch bền vững Nói cụ thể hơn, kinh doanh khách sạn tại tất cả các vùng du lịch của Việt Nam
ít nhất phải tuân thủ những nguyên tắc cơ bản sau:
Một là, phát triển kinh doanh khách sạn phải dựa trên việc khai
thác và sử dụng các nguồn tài nguyên du lịch tại điểm đến một cách hợp lý;
Hai là, phát triển kinh doanh khách sạn phải đi đôi với hạn chế
sử dụng quá mức tài nguyên du lịch và giảm thiểu thải chất thải ra môi trường;
Ba là, phát triển kinh doanh khách sạn phải gắn liền với bảo tồn
tính đa dạng về tự nhiên, văn hóa và xã hội của môi trường du lịch;
Bốn là, phát triển kinh doanh khách sạn phải phù hợp với quy
hoạch phát triển tổng thể về kinh tế - xã hội của địa phương, vùng
và quốc gia;
Trang 8Năm là, phát triển kinh doanh khách sạn phải chú trọng đến
chia sẻ lợi ích với du khách và cộng đồng địa phương
Cùng với tốc độ phát triển của ngành Du lịch, hệ thống các khách sạn đã phát triển nhanh chóng cả về số lượng lẫn chất lượng Không nằm ngoài quy luật kinh doanh chung, một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển bền vững, bên cạnh những yếu tố tự thân của doanh nghiệp, doanh nghiệp phải gắn với cộng đồng, quan tâm đến môi trường và có trách nhiệm với xã hội Đây là vấn đề rất quan trọng, nhất là trong giai đoạn hội nhập hiện nay mà từ trước đến giờ
có rất ít các doanh nghiệp Việt Nam quan tâm và nhìn nhận đúng cách, đặc biệt là trong kinh doanh khách sạn
Như vậy, trách nhiệm xã hội như đã được đề cập khái quát trên đây, vừa có ý nghĩa lâu dài, vừa là đòi hỏi cấp bách đối với các doanh nghiệp kinh doanh khách sạn - một trong những thành phần chính
và quan trọng bậc nhất của hệ thống cung ứng sản phẩm du lịch của ngành Du lịch Việt Nam
Tuy nhiên, trên thực tế, sau hơn 30 năm chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, nhận thức của các doanh nghiệp Việt Nam, trong đó có các doanh nghiệp kinh doanh
khách sạn về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) còn ở mức
thấp, thậm chí rất phiến diện; và việc thực hiện CSR vẫn chưa thoát
ra khỏi tình trạng thụ động, đối phó Không ít doanh nghiệp đồng nhất CSR với làm từ thiện Một số doanh nghiệp tìm cách né tránh,
vì cho rằng thực hiện CSR sẽ rất tốn kém Tình trạng phổ biến là hầu hết các doanh nghiệp hoạt động theo lối chạy theo lợi nhuận trước mắt, rất ít hoặc không quan tâm đúng mức đến trách nhiệm của mình đối với lợi ích của người tiêu dùng, của cộng đồng xã hội, của Nhà nước và đối với môi trường tự nhiên… Nhìn tổng quát, cho đến nay, các chương trình CSR hầu như chưa được, hoặc nếu có thì rất ít được cân nhắc trong quá trình quản trị chiến lược của các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và của các doanh nghiệp kinh doanh khách sạn nói riêng
Trang 9Trong khi đó, chính phủ Việt Nam cũng chưa có những cơ chế, chính sách đủ mạnh để nâng cao nhận thức chung của xã hội về CSR và nhất là để thúc đẩy hệ thống doanh nghiệp, trong đó có các khách sạn Việt Nam thực hiện nghiêm túc CSR của họ Những hạn chế này đã và đang ảnh hưởng rất bất lợi đến uy tín và sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và của ngành Du lịch Việt Nam nói riêng, nhất là khi toàn bộ nền kinh tế của chúng
ta đang và sẽ phải hội nhập sâu, rộng hơn nữa với nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới
4 KẾT LUẬN
Cùng với sự phát triển nhanh chóng về kinh tế - xã hội của các quốc gia, sự thay đổi như vũ bão của khoa học công nghệ, loài người trên toàn thế giới đã và đang sống trong một thế giới ngày càng văn minh hơn với những nhu cầu về vật chất và tinh thần đang được đáp ứng ngày một tốt hơn Nhưng đi kèm với quá trình văn minh hóa loài người, quá trình phát triển của các nền kinh tế
là những hệ quả tiêu cực đến môi trường sinh thái đang ngày càng hiện hữu rõ rệt hơn bao giờ hết Chính vì vậy, phát triển bền vững
là yêu cầu tất yếu đặt ra đối với mọi quốc gia trên thế giới và phải được cụ thể hóa thành các hành động cụ thể trong mọi ngành, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
Du lịch có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp chúng ta đạt các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (Millennium Development Goals) mà Liên hợp quốc đã đề ra từ năm 2000, đặc biệt là các mục tiêu xóa đói giảm nghèo, bình đẳng giới tính, bền vững môi trường và liên doanh quốc tế để phát triển Đối với ngành
Du lịch, phát triển bền vững đòi hỏi sự tham gia của rất nhiều chủ thể khác nhau trong chuỗi giá trị của ngành, trong đó có các doanh nghiệp kinh doanh khách sạn
Bài viết này nhấn mạnh tầm quan trọng của các doanh nghiệp kinh doanh khách sạn trong quá trình thúc đẩy phát triển du lịch bền vững tại Việt Nam Hạn chế của bài viết là mới chỉ đề cập đến
Trang 10thực trạng nói chung về phát triển du lịch bền vững tại Việt Nam và phân tích từ góc độ lý luận vai trò của các doanh nghiệp kinh doanh khách sạn Từ đó, bài viết cũng cho thấy cần có những nghiên cứu chuyên sâu hơn để đánh giá thực trạng các doanh nghiệp kinh doanh khách sạn đã làm được những gì và trong tương lai, những vấn đề cụ thể để thúc đẩy phát triển du lịch bền vững tại Việt Nam cần thực hiện là gì
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Agrusa, J., & Prideaux, B (2002) Tourism and the threat of HIV/
AIDS in Vietnam Asia Pacific Journal of Tourism Research, 7(1), 1-10
2 Ahmed, Z U., & Krohn, F B (1992) International tourism, marketing and quality of life in the third world: India, a case in
point Development in quality of life studies in marketing, 4, 150-156
3 Andereck, K L., Valentine, K M., Knopf, R C., & Vogt, C A (2005)
Residents’ perceptions of community tourism impacts Annals of
tourism research, 32(4), 1056-1076
4 Clarke, J (1997) A framework of approaches to sustainable
tourism Journal of sustainable tourism, 5(3), 224-233
5 Goodwin, H., & Francis, J (2003) Ethical and responsible tourism:
Consumer trends in the UK Journal of Vacation Marketing, 9(3),
271-284
6 Jucan, C N., & Jucan, M S (2010) Social responsibility in tourism
and sustainable development Wseas transactions on environment
and development, 6(10), 677-686
7 Krippendorf, J (1987) The holiday makers; understanding the
impact of leisure and travel 1990 reprint UK: Redwood Press Ltd
8 Lane, B (1994) Sustainable rural tourism strategies: A tool for
development and conservation Journal of sustainable tourism, 2(1-2),
102-111