1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Biện pháp điều trị giải quyết mầm bệnh ở Tây Nguyên - vùng sốt rét lưu hành tại Việt Nam và muỗi truyền bệnh sống trong, ngoài nhà

20 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 375,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN BÀI TIỂU LUẬN Biện pháp điều trị giải quyết mầm bệnh ở Tây Nguyên - vùng sốt rét lưu hành tại Việt Nam và muỗi truyền bệnh sống tr

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

BÀI TIỂU LUẬN

Biện pháp điều trị giải quyết mầm bệnh ở Tây Nguyên - vùng sốt

rét lưu hành tại Việt Nam và muỗi truyền bệnh sống trong, ngoài nhà.

HỌC PHẦN: KÝ SINH TRÙNG SMP1012 HỌC VÀ TÊN SINH VIÊN: ĐINH HOÀNG DUY NGỌC

MÃ SINH VIÊN: 20100083

Hà Nội – 2021

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Biện pháp điều trị giải quyết mầm bệnh ở Tây Nguyên - vùng sốt rét

lưu hành tại Việt Nam và muỗi truyền bệnh sống trong, ngoài nhà.

HỌC PHẦN: KÝ SINH TRÙNG SMP1012 HỌC VÀ TÊN SINH VIÊN: ĐINH HOÀNG DUY NGỌC

MÃ SINH VIÊN: 20100083 LỚP HỌC PHẦN: SMP1012 3

Hà Nội – 2021

Trang 3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

KSTSR: Ký sinh trùng sốt rét

SR: Sốt rét

KST: Ký sinh trùng

P malariae: Plasmodium malariae

P vivax: Plámodium vivax

P falciparum: Plasmodium falciparum

P ovale: Plasmodium ovale

P knowlesi: Plasmodium knowlesi

Trang 6

CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU ĐẶT VẤN ĐỀ

Sốt rét là bệnh truyền nhiễm có thể nguy hiểm đến tính mạng, gây ra bởi ký sinh trùng Plasmodium Bệnh truyền từ người sang người qua vết đốt của muỗi cái Anopheles, bệnh có thể phòng chống và chữa khỏi Theo điều tra của WHO, thế giới có khoảng 229 triệu ca mắc sốt rét và khoảng 409.000 ca tử vong do sốt rét gây ra Trong đó, ước tính rằng trẻ em dưới 5 tuổi chiếm 67% (274.000) số ca tử vong Tổng tài trợ cho việc kiểm soát và loại trừ bệnh sốt rét ước tính đạt 3 tỷ đô la

Mỹ (2019) Đóng góp từ chính phủ cá đất nước có lưu hành bệnh lên tới 900 triệu

đô la Mỹ, chiếm 31% tổng kinh phí

Các hoạt động phòng chống bệnh sốt rét cũng đã được Việt Nam triển khai thực hiện từ rất sớm và đạt được nhiều thành tựu đáng khen Từ năm 1991, con đường tiếp cận với sốt rét của nước ta chuyển từ tiêu diệt sốt rét sang phòng chống sốt rét theo tình hình lúc đó Cùng với việc điều chỉnh phương án, tỷ lệ mắc bệnh và tử vong do sốt rét giảm mạnh, nhiều tỉnh, thành phố không còn ghi nhận ca mắc nào trong vòng 20 năm trở lại đây Số ca mắc sốt rét giảm 60% từ 11355 ca trong năm

2008 xuống còn 4548 ca năm 2017, cũng trong khoảng thời gian này, số ca tử vong

đã giảm 76%.[5] Kết quả đó cho thấy, việc phòng, chống sốt rét hiệu quả đóng vai trò chủ chốt trong mục tiêu ngăn chặn căn bệnh này, loại trừ được sốt rét trước năm

2030 Thế giới hiện nay cũng đang trong tiến trình nghiên cứu để chế tạo vắc – xin phòng sốt rét

Việt Nam đã đưa ra các biện pháp điển hình để ứng phó với tình hình SR đang diễn

ra trong nước Tuy nhiên, vị trí địa lý, địa hình của mỗi vùng miền là khác nhau nên công cuộc phòng chống của mỗi nơi cũng khác nhau Chúng ta cần dựa trên những đặc điểm địa lý đó để đưa ra các biện pháp đúng đắn để đạt hiệu quả cao nhất Không chỉ sốt rét mà những bệnh do muỗi gây ra cũng có thể được ngăn chặn nếu áp dụng những biện pháp giống phòng chống sốt rét

Ở Tây Nguyên, vùng được ghi nhận là vùng sốt rét lưu hành nặng tại Việt Nam, nhiều xã, huyện đối diện với nguy cơ bùng phát bệnh sốt rét Đặc biệt là khu vực rừng sâu, nhiều người phải nhập viện, sức khoẻ diễn biến xấu vì sốt rét ác tính Theo nghiên cứu của Trần Quang Hào trong Luận án Tiến sĩ (2019), khu vực miền Trung-Tây Nguyên (MT-TN) là vùng có sốt rét lưu hành cao nhất toàn quốc: hàng năm số bệnh nhân sốt rét (BNSR) chiếm gần 50%, ký sinh trùng sốt rét (KSTSR) chiếm 75%, số bệnh nhân sốt rét ác tính và tử vong do sốt rét chiếm trên 80% tổng

số của cả nước Hầu hết các tỉnh có các xã, huyện có đường biên giới với Lào hoặc

Trang 7

Campuchia đều có tỷ lệ bệnh nhân mắc sốt rét cao hơn so với các địa phương khác trong toàn quốc

Đắk Nông là một tỉnh thuộc khu vực Tây Nguyên Tình hình sốt rét của tỉnh tuy đã được cải thiện nhiều trong những năm qua nhưng tỷ lệ mắc và nguy cơ sốt rét vẫn còn cao Tỷ lệ bệnh nhân sốt rét, ký sinh trùng sốt rét/1.000 dân; tỷ lệ tử vong do sốt rét/100.000 dân vẫn nằm trong số các tỉnh có tỷ lệ mắc sốt rét cao nhất trong toàn quốc Tình hình dịch tễ sốt rét vùng biên giới tỉnh Đắk Nông và Campuchia thường diễn biến phức tạp, ký sinh trùng thường lây lan qua lại giữa các thôn ở 2 bên biên giới.Tình hình này diễn ra là do người dân không có thói quen thực hiện các biện pháp chống muỗi và sự thiếu hiểu biết khi cho rằng sốt rét không ảnh hưởng nhiều đến sức khoẻ Nó cũng cho thấy hoạt động phòng, chống của chúng ta thực hiện chưa được sâu rộng, cũng như việc phổ cập những biện pháp cần thiết đến cho người dân

Vì vậy, tôi viết tiểu luận này với mục tiêu trình bày định nghĩa, tác nhân, véc – tơ

truyền bệnh, cơ chế và triệu chứng của bệnh SR, nêu ra một số “Biện pháp điều trị giải quyết mầm bệnh ở Tây Nguyên - một vùng sốt rét lưu hành tại Việt Nam

và muỗi truyền bệnh sống trong, ngoài nhà” để có thể sớm loại trừ bệnh sốt rét

khỏi Việt Nam cũng như hạn chế tối đa các bệnh gây ra do muỗi, với tiêu chí

“phòng bệnh hơn là chữa bệnh”

2

Trang 8

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG

1 Tổng quan về bệnh sốt rét

1.1 Định nghĩa sốt rét

Năm 2016, Bộ Y Tế Việt Nam ban hành “Hướng dẫn giám sát và phòng chống sốt rét” Trong đó ghi rõ về bệnh sốt rét rằng: “Bệnh sốt rét là bệnh truyền nhiễm do ký sinh trùng Plasmodium gây nên Bệnh lây qua đường máu, chủ yếu do muỗi Anopheles truyền Biểu hiện lâm sàng điển hình: rét run, sốt, vã mồ hôi Bệnh lưu hành địa phương có thể gây thành dịch Bệnh sốt rét ở Việt Nam lây truyền quanh năm nhưng thường có 1 đến 2 đỉnh mùa truyền bệnh.” [1]

1.2 Tác nhân gây bệnh

Trong ngành đơn bào, KSTSR được phân loại như sau:

- Họ: Plasmodium

- Bộ chính: Sporozoa

- Bộ phụ: Hemosporidae

- Lớp: Protozoa

- Ngành: Động vật

Có 5 loài gây bệnh SR ở người:

- P malariae (Laveran, 1881) : trước đây ở châu Âu gặp nhiều ở vùng tây Thái Bình Dương Châu Phi gặp nhiều ở trung tâm, châu Mỹ chỉ gặp ở một số nước, châu Á có tỉ lệ rất thấp [4]

- P vivax (Grrasi vµ Feletti, 1890) : tương đối phổ biến ở châu Âu kéo dài

từ 650 Bắc Ở châu Mỹ kéo dài từ 400 Bắc, ở Nam bán cầu từ 200 Nam Châu Á cũng gặp nhiều ở một số nơi, chấu Phi cũng gặp P vivax ở một

số nơi nhưng ít gặp ở Đông và Tây châu Phi.[4]

- P falciparum (Welch, 1897) : gặp nhiều ở vùng nhiệt đới nóng ẩm, nắng lắm, mưa nhiều, nhiệt độ quanh năm tương đối cao và có địa hình phức tạp Loại này hay gặp ở châu Á (đặc biệt Đông Nam Á), châu Phi, châu

Mỹ La tinh và ít gặp hơn ở châu Âu Hiếm gặp ở nơi có bình độ cao [4]

Trang 9

- P ovale (Stephen, 1922) : rất ít gặp, trên thế giới chủ yếu gặp ở trung tâm châu Phi, vùng Trung Cận Đông và một số nơi ở Nam Mỹ, ở châu Á ít gặp hơn [4]

- P knowlesi (Knowles & Dagupta, 1965) : là KSTSR của khỉ truyền sang người

Trong đó, các Plasmodium gây ra sốt rét ác tính là P.falciparum, P vivax

và P knowlesi.[4]

Plasmodium ở người trải qua hai giai đoạn là giai đoạn sinh sản vô tính trong cơ thể người và giai đoạn sinh sản hữu tính ở muỗi Anopheles Đầu tiên, thoa trùng ở tuyến nước bọt của muỗi đốt người đi vào máu (30 đến 60 phút), sau đó đến gan (gọi là thể phân liệt) rồi lớn lên thành thể hoa thị Khi tế bào gan vỡ, các thể hoa thị được giải phóng và đi vào máu (hồng cầu) Đây gọi là thời kỳ phát triển trong gan hay là tiền hồng cầu Đối với P falciparum, P malariae và P knowlesi thì tất cả các thoa trùng đều phát triển thành thể phân liệt và các thể phân liệt khi vỡ đều xâm nhập vào máu cùng một giai đoạn Còn đối với P vivax và P ovale, hầu hết các thể phân liệt đều đi vào máu Tuy nhiên một số thoa trùng không phát triển mà vẫn nằm lại trong tế bào gan, gọi là thể ngủ (Hypnozoites) Khi gặp điều kiện thuận lợi, các thể này phát triển thành thể phân liệt, phá

vỡ tế vào gan và đi vào máu, gây nên những cơn sốt tái phát xa (2 – 5 năm) [4]

Sau khi KST xâm nhập vào hồng cầu, phân chia nhân và nguyên sinh chất thành nhiều mảnh Mỗi mảnh nhân kết hợp với một mảnh nguyên sinh chất tạo thành một KST mới (thể phân liệt) Sau đó, hồng cầu vỡ, giải phóng KST KST lại xâm nhập vào hồng cầu lành khác để tiếp tục chu kỳ sinh sản, một số mảnh trở thành thể giao bào Những giao bào này nếu được muỗi hút sẽ tiếp tục chu kỳ sinh sản ở muỗi Thời gian hoàn thành chu kỳ trong hồng cầu khoảng từ 24 – 72 giờ tuỳ theo loài KST [4]

Khi quá trình phát triển của KSTSR ở người kết thúc và bị muỗi Anopheles hút vào sẽ tiếp tục giai đoạn sinh sản hữu tính ở muỗi Muỗi Anopheles sẽ hút giao bào vào dạ dày, giao bào cái phát triển thành giao

tử cái, giao bào đực phát triển thành giao tử đực Giao tử đực và giao tử cái kết hợp với nhau tạo thành hợp tử (zygote) rồi sau đó phát triển thành trứng (ookinete; oocyte) Trứng chui qua thành dạ dày và phát triển trên

bề mặt, tròn lại, to dần, chia thành nhiều thoa trùng hình thoi (sporozoite)

4

Trang 10

Trứng vỡ, thoa trùng đến tập trung ở tuyến nước bọt của muỗi Khi muỗi đốt người, thoa trùng vào người tiếp tục chu kỳ sinh sản vô tính.[4]

Thời gian phát triển KST trong muỗi phụ thuộc vào nhiệt độ (P vivax, P malariae, P ovale ở khoảng > 14,50C, P falciparum ở khoảng > 160C) Nếu không bị tái nhiễm hoặc không được điều trị, KST có thể tồn tại lâu trong người như P falciparum từ 1 – 2 năm, P vivax và P ovale từ 1 – 5 năm, P malariae từ 3 – 50 năm.[4]

Mỗi loài KST gây các hình thái lâm sàng khác nhau về cơ sốt, mức độ tử vong nhưng trong đó, P falciparum gây nhiều thể nặng, ác tính và tỉ lệ chết cao nhất; P vivax ít gây bệnh nặng nhưng hay tái phát.[4]

Hình 1.1 Chu kỳ phát triển của KSTSR ở người và muỗi (Nguồn: Viện

sốt rét Ký sinh trùng Quy Nhơn)

1.3 Trung gian truyền bệnh sốt rét – Muỗi Anopheles

Trong hầu hết các trường hợp, bệnh SR lây truyền qua vết đốt của muỗi Anopheles cái, thuộc họ Culicidae, phân họ Anophelinae Có hơn 400 loài muỗi Anophelinae khác nhau, trong đó, khoảng 30 loài là là trung gian truyền bệnh SR có tầm quan trọng lớn Tất cả các véc – tơ truyền bệnh quan trọng này đều ưa thích đốt vào giữa hoàng hôn và bình minh Cường độ lây truyền phụ thuộc vào các yếu tố liên quan đến KST, vật trung gian truyền bệnh, vật chủ là người, và môi trường.[4]

Trang 11

Véc – tơ chính ở Việt nam là An dirus sống trong rừng và An minimus thích ở ven rừng, An epiroticus ở vùng nước lợ miền duyên hải và châu thổ

Mê Kông Véc – tơ phụ là An varruna, An jeyporiensis ở miền Trung, An nimpe được nghi ngờ là tìm thấy ở miền Nam, An lesteri và An subpictus ở ven biển miền Bắc.[4]

Loài Anopheles đẻ trứng trên mặt nước, trứng sau đó nở thành bọ gậy,

bọ gậy phát triển thành quăng và quăng lột xác bằng muỗi trưởng thành Trứng có phao ở hai bên và nổi trên mặt nước, bọ gậy có lỗ thở ở phía cuối thân Muỗi đực thì không hút máu, sống bằng nhựa cây, sau khi giao phối với con cái, sống thêm một số giờ hoặc một ngày rồi chết Muỗi cái thường chỉ giao phối một lần nhưng đẻ trứng suốt đời theo từng đợt Nó chứa tinh trùng muỗi đực trong một cái túi và thụ tinh nhiều lần Muỗi trưởng thành có xúc biện dài bừng vòi, thường có đốm và đậu chếch với bờ tường Anopheles thích đốt người, gia súc, động vật hoang dại Anopheles chỉ đốt gia súc hoặc động vật hoang dại thường ít hoặc không có vai trò truyền bệnh Muỗi cần nơi trú ẩn thích hợp để tiêu máu, có loài ưa trú ẩn trong nhà, có loài ưa trú ẩn ngoài nhà (điều này có liên quan đến đốt người, đến hóa chất tiếp xúc diệt muỗi) Anopheles đốt mồi đêm từ 22 – 4h sáng, một số muỗi đốt ban ngày, điều này có liên quan đến việc phòng chống đốt của con người Muỗi tìm mồi đốt hút máu, rồi bay đến nơi trú đậu, tiêu máu, chờ trứng chin (chu kỳ tiêu sinh) Thời gian của mỗi chu kỳ phụ thuộc vào loài Anopheles và nhiệt

độ (thích hợp từ 20 – 300C, ở 230C, chu kỳ kéo dài 2 – 3 ngày) Mỗi lần muỗi

đẻ 100 đến 200 trứng, qua các giai đoạn phát triển từ trứng đến muỗi trưởng thành và sau mỗi chu kỳ tiêu sinh đều có một tỷ lệ bị chết.[4]

Hình 1.2 Trứng muỗi Anopheles(Nguồn: Viện Sốt rét Ký sinh trùng Quy Nhơn) 6

Trang 12

Hình 1.3 Hình thể quăng Anopheles(Nguồn:Viện Sốt rét Ký sinh trùng Quy Nhơn)

Hình 1.4 Muỗi An dirus (Nguồn: Scientist Against Malaria)

Hình 1.5 Muỗi An minimus (Nguồn: Viện Sốt rét Ký sinh trùng Quy Nhơn)

1.4 Triệu chứng lâm sàng của một số thể bệnh

Sốt rét là một bệnh sốt cấp tính Ở một người không có miễn dịch, các triệu chứng thường xuất hiện từ 10–15 ngày sau khi bị muỗi truyền nhiễm đốt Các triệu chứng đầu tiên - sốt, nhức đầu và ớn lạnh - có thể nhẹ và khó nhận biết là sốt rét

Trang 13

Nếu không được điều trị trong vòng 24 giờ, bệnh sốt rét do P falciparum có thể tiến triển thành bệnh nặng, thường dẫn đến tử vong.[5]

Trẻ em bị SR ác tính thường xuất hiện một hoặc nhiều triệu chứng sau: thiếu máu trầm trọng, suy hô hấp liên quan đến nhiễm toan chuyển hóa, hoặc sốt rét thể não Ở người lớn, suy đa cơ quan cũng thường xuyên xảy ra Ở những vùng lưu hành bệnh sốt rét, mọi người có thể phát triển miễn dịch một phần, cho phép các trường hợp nhiễm trùng không có triệu chứng xảy ra.[5]

1.4.1 Sốt rét thông thường/ Sốt rét chưa có biến chứng

Đối với thể SR thông thường có 2 giai đoạn là giai đoạn ủ bệnh và giai đoạn phát bệnh

 Giai đoạn ủ bệnh là từ khi bị muỗi có thoa trùng đốt đến khi có cơn sốt lâm sàng Giai đoạn ủ bệnh không có các biểu hiện lâm sàng và cận lâm sàng Thời gian ủ bệnh thay dổi tuỳ theo từng loài KST và chỉ phụ thuộc vào số lượng KST được truyền theo máu Trung bình, thời kỳ ủ bệnh từ 4 – 10 ngày đối với P falciparum, đối với P vivax và P ovale là từ 8 – 16 ngày và đối với P malariae là từ 20 – 40 ngày.[4]

 Giai đoạn phát bệnh bắt đầu khi có cơn sốt đầu tiên, cơn sốt liên miên mấy ngày và dễ bị nhầm với thương hàn Sốt lần đầu tiên thường chưa có tính chu

kỳ và chưa có dấu hiệu điển hình Những cơn sốt về sau bắt đầu rõ rệt Trước khi sốt có thể xuất hiện các triệu chứng như nhức đầu, mệt mỏi, gai rét, buồn nôn… Cơn sốt điển hình thường có 3 giai đoạn: rét run (cảm giác rất lạnh, kéo dài 15 – 60 phút), sốt nóng (nhịp tim nhanh, da khô, đau đầu, có thể kéo dài 2 – 6 giờ), vã mồ hôi (nhiệt độ cơ thể hạ, khát nước, mệt, ngủ thiếp đi, kéo dài 2 – 4 giờ) và cơn sốt này thường gặp ở người lần đầu bị bệnh Đối với người sống ở vùng SR hoặc có miễn dịch với SR thường là những cơn sốt không điển hình: sốt nhẹ, không thành cơn Nếu không điều trị tốt SR lần đầu thì sẽ xuất hiện những cơn tái phát gần hoặc xa [4]

1.4.2 Sốt rét ác tính/ sốt rét có biến chứng

Trong các thể SR ác tính, thể não là thể hay gặp nhất (chiếm 80 – 95% SR biến chứng) Dấu hiệu tiền ác tính nổi bật của thể này là rối loạn ý thức (li bì, vật vã, nói lảm nhảm) sốt cao liên tục, mất ngủ nhiều, nhức đầu dữ dội, nôn hoặc tiêu chảy nhiều Bệnh nhân có thể hôn mê đột ngột hoặc từ từ, hôn mê sâu dần, co giật kiểu động kinh và thường rối loạn cơ vòng, đồng tử dãn Ngoài ra có thể có các dấu hiệu khác như rối loạn hô hấp hoặc suy hô hấp; suy thận, đái ít hoặc vô niệu, urê huyết cao…[4]

8

Trang 14

Ngoài ra, thể đái huyết sắc tố (thể SR ác tính) là một thể đặc biệt của SR, diễn biến nặng do có huyết tán cấp, thiếu máu nặng dễ dấn tới truỵ tim mạch, suy thận Sốt thành cơn dữ dội 39 – 400C do hồng cầu trong mạch máu đột nhiên bị vỡ, nôn khan hoặc dịch màu vàng, đau lưng và kiệt sức Nước tiểu từ đỏ dần dần chuyển sang màu đen và số lượng ngày cảng giảm Đái ra huyết cầu tố, tỉ lệ huyết sắc tố giảm còn 15 – 20%.[4]

Một số thể SR biến chứng khác ít gặp hơn như thể giá lạnh (toàn thân lạnh, huyết áp tụt, da xanh tái, ra nhiều mồ hôi, đau đầu), thể phổi (khó thở, thở nhanh, tím tái, có thể khạc ra bọt màu hồng, đáy phổi có nhiều ran ẩm, ran ngáy), thê gan mật (vàng da vàng mắt, buồn nôn và nôn, phân màu vàng, nước tiểu màu vàng có nhiều muối mật, hôn mê), thể tả (đau bụng, nôn, tiêu chảy cấp, thân nhiệt hạ), thể bụng cấp (ít gặp, khó chẩn đoán) SR ở phụ nữ có thai cũng rất nguy hiểm, dễ bị SR biến chứng hoặc sẩy thai, thai chết lưu hoặc chết non SR bẩm sinh do mẹ bị SR trong thời kỳ mang thai và lớp tế bào rau thai bị tổn thương Tình huống này hiếm gặp và các triệu chứng thường xuất hiện ngay sau đẻ, trẻ thường quấy khóc, bú kém, vàng da và gan lách to Trẻ trên 6 tháng tuổi dễ mắc sốt rét, thường sốt cao liên tục hoặc dao động, nôn, tiêu chảy, bụng chướng, gan lách to, có dấu hiệu màng não và co giật, tỷ lệ tử vong cao.[4]

1.5 Tình hình sốt rét ở Việt Nam

Tại Việt Nam, chiến lược tiêu diệt SR đã được triển khai ở miền Bắc từ năm 1958 –

1975, tính cả giai đoạn chuẩn bị (1958 – 1961) và giai đoạn tấn công tiêu diệt SR (1962 – 1964) Trong vòng 6 năm, bệnh SR được ước tính đã giảm 20 lần Dù là trong giai đoạn chiến tranh, chương trình phòng chống và loại trừ SR vẫn luôn được duy trì đến năm 1975 Tuy nhiên, sau khi thống nhất đất nước, do nhiều nguyên nhân, tình hình SR trong nước ta bắt đầu trở nên bất ổn, tỷ lệ mắc bệnh và

tử vong do SR tăng dần trở lại Vì vậy, năm 1976, ta chuyển chiến lược tiêu diệt SR sang chiến lược “thanh toán SR không hạn định về thời gian” Kể từ 1987, bệnh SR hoành hành trở lại ở đa số các tỉnh vùng núi rừng và ven biển với tốc độ nhanh chóng Năm 1991, toàn quốc có 144 vụ dịch SR, gần 5 nghìn người chết do SR và hơn một triệu người mắc SR.[2] Theo WHO, Ở Đông Nam Á số mắc sốt rét khoảng 7% và số tử vong khoảng 6% so với toàn cầu, tập trung chủ yếu ở các vùng các vùng rừng núi xa xôi và dọc biên giới các nước Lào, Myanmar, Camphuchia, Thái lan và Việt Nam Trong đó, Tiểu vùng sông Mekong (GMS) đang phải đối mặt với

sự xuất hiện và lan tràn kháng thuốc artemisinin, thậm chí cả phối hợp thuốc này (ACTs) đang là thuốc đàu tay điều trị bênh sốt rét hiện nay

Ngày đăng: 02/04/2022, 07:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Mỗi loài KST gây các hình thái lâm sàng khác nhau về cơ sốt, mức độ tử vong nhưng trong đó, P - Biện pháp điều trị giải quyết mầm bệnh ở Tây Nguyên - vùng sốt rét lưu hành tại Việt Nam và muỗi truyền bệnh sống trong, ngoài nhà
i loài KST gây các hình thái lâm sàng khác nhau về cơ sốt, mức độ tử vong nhưng trong đó, P (Trang 10)
Hình 1.2 Trứng muỗi Anopheles(Nguồn:Viện Sốt rét Ký sinh trùng Quy Nhơn) - Biện pháp điều trị giải quyết mầm bệnh ở Tây Nguyên - vùng sốt rét lưu hành tại Việt Nam và muỗi truyền bệnh sống trong, ngoài nhà
Hình 1.2 Trứng muỗi Anopheles(Nguồn:Viện Sốt rét Ký sinh trùng Quy Nhơn) (Trang 11)
Hình 1.3 Hình thể quăng Anopheles(Nguồn:Viện Sốt rét Ký sinh trùng Quy Nhơn) - Biện pháp điều trị giải quyết mầm bệnh ở Tây Nguyên - vùng sốt rét lưu hành tại Việt Nam và muỗi truyền bệnh sống trong, ngoài nhà
Hình 1.3 Hình thể quăng Anopheles(Nguồn:Viện Sốt rét Ký sinh trùng Quy Nhơn) (Trang 12)
Hình 1.4. Muỗi An. dirus (Nguồn: Scientist Against Malaria) - Biện pháp điều trị giải quyết mầm bệnh ở Tây Nguyên - vùng sốt rét lưu hành tại Việt Nam và muỗi truyền bệnh sống trong, ngoài nhà
Hình 1.4. Muỗi An. dirus (Nguồn: Scientist Against Malaria) (Trang 12)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w