MỤC LỤCChương 1: LÝ LUẬN VỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN 4 a Quan niệm về con người trong triết học phương Đông 4b Quan niệm về con người trong triết học phương Tây 6 a Con người
Trang 1BÀI THẢO LUẬN
MÔN TRIẾT HỌC
Đề tài:
LÝ LUẬN VỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN VÀ SỰ VẬN
DỤNG CỦA LÝ LUẬN NÀY Ở VIỆT NAM
Hà Nội, tháng 11 năm 2021
Trang 2MỤC LỤC
Chương 1: LÝ LUẬN VỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN 4
a) Quan niệm về con người trong triết học phương Đông 4b) Quan niệm về con người trong triết học phương Tây 6
a) Con người là thực thể sinh học - xã hội 7b) Con người khác biệt với con vật ngay từ khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh
c) Con người là sản phẩm của lịch sử và của chính bản thân con người 9d) Con người vừa là chủ thể của lịch sử, vừa là sản phẩm của lịch sử 10
e) Bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội 12
III VAI TRÒ CỦA QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN VÀ LÃNH TỤ TRONG LỊCH SỬ 16
Chương 2: VẬN DỤNG LÝ LUẬN VỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC
II THỰC TRẠNG, MỤC TIÊU, VAI TRÒ VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở
2. Mục tiêu trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa ở nước ta 24
3. Vai trò của con người đối với sự phát triển kinh tế ở Việt Nam 25
4 Vấn đề xây dựng con người trong thời kì Công nghiệp hóa, hiện đại hóa 27
III. ĐÁNH GIÁ VẤN ĐỀ ĐÀO TẠO, SỬ DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM 28
3. Giải pháp phát triển nguồn lực con người trong tình hình kinh tế của Việt Nam hiện nay 30
Trang 3Lời nói đầu
Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, về bản thân conngười và vị trí của con người trong thế giới đó Bởi vậy, con người là một trong những vấn đềquan trọng nhất của triết học, được các nhà khoa học nghiên cứu theo nhiều khía cạnh khácnhau Nhưng Mác thì khác, ông đã nghiên cứu con người với tư cách là một thực thể tự nhiên -
xã hội, tồn tại và phát triển trong sự gắn bó hữu cơ với giới tự nhiên và xã hội loài người; chịu
sự tác động, nhưng không phải là sản phẩm thụ động của tự nhiên và các quan hệ xã hội mà làchủ thể của hoạt động sản xuất vật chất, giữ vai trò quyết định đối với sự vận động, phát triểncủa thế giới và của chính mình
Đối với mỗi quốc gia, nhân tố quan trọng nhất để đất nước có thể phát triển lớn mạnh vềkinh tế, chính trị, xã hội… là con người Điển hình như Mỹ, Nhật Bản, các nước Tây Âu đều sởhữu những nhân tố con người có trình độ học vấn, tri thức cao để đáp ứng mọi nhu cầu pháttriển, hiện đại hóa đất nước Còn đối với các quốc gia đang phát triển thì nhân tố con người lạicàng giữ vai trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước (ví dụ nhưViệt Nam) Để nâng cao, phát triển thì việc tìm hiểu nghiên cứu về con người là một nhiệm vụcần thiết đối với Đảng và Nhà nước ta Thông qua những lý luận về vấn đề con người trong triếthọc Mác-Lênin thì vấn đề đặt ra là cách Đảng và Nhà nước ta vận dụng để phát huy con ngườiViệt Nam hiện nay
Chuyên đề này chỉ ra các quan niệm về con người trong triết học Mác-Lênin, các mối quan
hệ cá nhân và xã hội, vai trò của quần chúng nhân dân và lãnh tụ trong lịch sử Qua đó rút ra ýnghĩa của phương pháp lập luận này Mặt khác, nhờ việc kế thừa và học hỏi tư tưởng lý luận củaMác, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng Đảng và Nhà nước chú ý đến tiềm lực của con người và
“Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, ý chí tự cường và phát huy sứcmạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Phát huy nhân tố conngười, coi con người là trung tâm, chủ thể nguồn lực quan trọng nhất và mục tiêu của sự pháttriển; lấy giá trị văn hóa, con người Việt Nam là nền tảng, sức mạnh nội sinh quan trọng bảođảm sự phát triển bền vững Phải có cơ chế, chính sách phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước;mọi chính sách của Đảng, Nhà nước đều phải hướng vào nâng cao đời sống vật chất, tinh thần
và hạnh phúc của Nhân dân” (Trích trong “Những điểm đổi mới trong các Văn kiện Đại hội XIIIcủa Đảng”)
Trang 4CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN
I CON NGƯỜI VÀ BẢN CHẤT CON NGƯỜI
1 Quan niệm về con người trong triết học trước Mác
a) Quan niệm về con người trong triết học phương Đông
Từ xa xưa, các trường phái triết học phương Đông luôn cố gắng lý giải các vấn đề thuộc vềbản chất con người, đó là mối quan hệ giữa con người đối với thế giới xung quanh Do rất nhiềuyếu tố nói chung, điều kiện kinh tế-xã hội và đặc điểm lịch sử của triết học phương Đông nóiriêng, việc lý giải các vấn đề của con người luôn phải dựa trên thế giới quan duy tâm hay nhữngtôn giáo huyền bí, và qua năm tháng, thời gian, những ký giải về về con người ấy đã được chialàm 3 khái niệm về quan điểm của triết học phương Đông trước Mác về con người
Con người trong triết học Phật giáo:
Có lẽ không mấy ai biết rằng người sáng lập Phật giáo quan tâm rất sâu sắc đến vấn đề củacon người và để lý giải cho điều này, phải chăng căn bản con người là vấn đề trung tâm của mọikhoa học, nhất là triết học và các khoa học nhân văn Vì vậy sự quan tâm đến những vấn đề củacon người của Hiện sinh hay triết học Phật giáo không phải là điều quá kỳ lạ
Triết học Mác đã kế thừa những quan điểm về con người trong lịch sử, đồng thời còn khẳngđịnh con người hiện thực là sự thống nhất giữa hai yếu tố sinh học và xã hội Trong tính hiệnthực của nó, bản chất của con người là tổng hòa những quan hệ xã hội và con người là sản phẩmcủa lịch sử Nhưng trước triết học Mác, triết học của Phật giáo lại tiếp cận con người từ góc độkhác Tìm hiểu về con người, bản chất và mục đích giải phóng con người nói chung và theoquan điểm của triết học Phật giáo nói riêng có một ý nghĩa và giá trị rất thiết thực Tất cả chocon người và vì con người, ngày hôm nay cũng như thế hệ mai sau
Tư tưởng triết học của Phật giáo Con người trong triết học Nho giáo và Lão giáo:
Trường phái nho giáo chỉ là một chi trong rất nhiều trường phái thời cổ Trung Quốc, nó làmột tư tưởng triết học chứ không phải là tôn giáo, chẳng qua là do được coi là tư tưởng chínhthống trong xã hội phong kiến hơn hai nghìn năm ở Trung Quốc và có ảnh hưởng tới một số
Trang 5nước ở châu Á sự hình thành và phát triển Nho giáo ở Trung Quốc gắn liền với sự hưng thịnhcủa các triều đại, là hệ tư tưởng gắn liền với giai cấp thống trị, nhưng xét về khía cạnh văn hóa,Nho giáo góp phần làm phong phú nền văn hóa Trung Hoa Do vậy, sự phát triển và mở rộngcủa Nho giáo cũng tuân thủ những quy luật của sự mở rộng và phát triển của văn hóa.
Trong triết học Nho giáo, Khổng Tử cho rằng trong xã hội có hai loại người: người quân tử
và kẻ tiểu nhân và Nho gia luôn đề cao người quân tử và luôn coi thường kẻ tiểu nhân Khổng tửcòn quan niệm “sinh ra là người quân tử thì mãi mãi là người quân tử, còn sinh ra là kẻ tiểu nhânthì mãi mãi là kẻ tiểu nhân, là người quân tử có thể sẽ làm điều bất nhân nhưng là kẻ tiểu nhânthì đừng mong ở họ có những hành động có nhân”
Về vấn đề bản tính con người thì các nhà Nho cũng có các cách nhìn nhận khác nhau Làmột nhà triết học, một nhà giáo dục lớn, lúc sinh thời Khổng tử có cho rằng nếu con người hoạtđộng theo bản tính tự nhiên thì sẽ dẫn đến tước đoạt, vô luân Vì vậy cần phải có lễ nghĩa, khuônphép, hình phạt để giáo dục và ngăn ngừa
Triết lý của Khổng Tử
Quan niềm về con người trong triết học Tuân Tử
Theo quan niệm của Tuân Tử: “Tính” là cái trời sinh ra đã có, vốn thế, không thể học cũngkhông thể làm ra được Đó là bản tính tự nhiên của mỗi con người Tính thì ai cũng như ai, đều
ác cả: tính của thánh nhân cũng như tính người thường Ông bà ta cũng thường nói “cha mẹ sinhcon trời sinh tánh” để nói đến cái gì đó bên trong con người không thể thay thế hoặc làm ra Bêncạnh đó, ông còn nói thêm tính của con người tự nhiên là ích kỷ, quy về mình mình, ham muốnhưởng thụ Chất của tính là tình ; phản ứng hay biểu hiện của tình là dục Ông nói: “Dục vọngcủa con người ta thường muốn ăn ngon, mặc đẹp, đi thì muốn lên xe xuống ngựa Ai cũng muốngiàu có tích lũy của cải dư thừa Vậy mà suốt đời không biết thế nào là đủ.”
Nhưng liệu con người có phải hoàn toàn theo khuynh hướng ác? Theo Khương Tử, mọi thứkhông hẳn là như vậy, trong con người, bản chất vốn có từ thuở mới sanh đã có “khuynh hướngxấu” nhưng nơi con người còn có yếu tố giúp bản thân họ hướng đến sự lương thiện, ông nhậnthấy con người vẫn có thể hướng thiện ngang qua tâm Chữ “tâm” theo Tuân Tử là “quan năngcủa tri, của sự hiểu biết, là ý thức Hiểu biết là tác dụng tự nhiên của tâm, cũng “không thể học,
Trang 6cũng không thể làm ra được Tâm sinh ra là có biết (tâm sinh nhi hữu tri).” Bên cạnh tri, “tâmcòn có những tác dụng khác là: Lự (suy tính, cân nhắc, tư lự), Trạch (lựa chọn) và Năng (độngthực hiện và hợp với điều tâm lựa chọn).” Ở đây, Tuân Tử nhấn mạnh thêm, tri và năng của tâmcòn có nghĩa là lí trí giúp con người nhận ra những điều hay lẽ phải và có ý chí để tiết chế đểkhông buông theo những đòi hỏi của dục vọng Điều này cho thấy, con người có thể biển đổi đểtrở nên tốt hơn Nói tóm lại, giáo dục không những giúp con người ý thức được bản năng khaokhát tham vọng trong mình để người có thể chế ngự mà còn giúp con người hướng đến ngườikhác, hướng đến sự thanh cao.
Như vậy, Tuân Tử đã bàn về “khuynh hướng bản ác” trong con người, những cũng nói về
yếu tố thiện trong con người, ông còn đưa ra những cách thức để chế ngự “khuynh hướng bảnác” nơi con người, giúp con người hướng đến sự thiện
b) Quan niệm về con người trong triết học phương Tây
Trước Mác, triết học phương Tây có nhiều quan niệm khác nhau về con người với các trường phái khác nhau:
Trường phái triết học tôn giáo phương Tây
Khi nói về quan điểm trước Mác về con người không thể không kể đến các trường phái triếthọc tôn giáo phương Tây, đặc biệt là Ki tô giáo Theo Ki tô giáo, cuộc sống con người do đấngtối cao an bài, sắp đặt Bản chất con người là kẻ có tội Con người gồm hai phần là thể xác vàlinh hồn, trong đó, linh hồn là thứ có giá trị cao nhất trong con người và tồn tại vĩnh cửu Ki tôgiáo khuyên con người cần nuôi dưỡng linh hồn để hướng đến nơi Thiên đường
Ta thấy, triết học tôn giáo phương Tây còn nhận thức vấn đề con người trên cơ sở thế giới quanduy tâm thần bí
Triết học Hy Lạp cổ đại
Khác với Ki tô giáo, triết học Hy Lạp cổ đại cho rằng con người là điểm khởi nguồn của tưduy triết học Con người và thế giới xung quanh là tấm gương phản chiếu lẫn nhau Chẳng hạnnhư Arixtốt có quan niệm rằng chỉ có linh hồn, tư duy, trí nhớ, ý chí, năng khiếu nghệ thuật làlàm cho con người nổi bật lên, con người là thang bậc cao nhất của vũ trụ
Như vậy, triết học Hy Lạp cổ đại bước đầu đã có sự phân biệt con người với tự nhiên Tuynhiên, sự hiểu biết về con người mới chỉ dừng lại ở hình thức bên ngoài
Triết học Tây Âu trung cổ
Triết học Tây Âu trung cổ xem con người là sản phẩm của Thượng đế sáng tạo Thượng đếchi phối, sắp xếp đối với số phận của con người, kể cả niềm vui, nỗi buồn, sự may rủi Theo đó,
ý chí của Thượng đế là tối thượng, trí tuệ con người thấp hơn lý chí anh minh của Thượng đế
Triết học thời kỳ phục hưng – cận đại
Triết học thời kỳ này đặc biệt đề cao vai trò trí tuệ, lý tính của con người, xem con người là một thực thể có trí tuệ
Trang 7Ngược lại, Phoiơbắc lại phê phán tính chất siêu tự nhiên, phi vật chất, phi thể xác về bản
chất con người trong triết học Hêghen, đồng thời khẳng định con người do sự vận động của thếgiới vật chất tạo nên Phoiơbắc đề cao vai trò và trí tuệ của con người với tính cách là những cáthể người Từ đó nhằm giải phóng cá nhân con người Tuy nhiên, quan điểm này cũng bộc lộhạn chế, đó là không phản ánh được bản chất xã hội trong đời sống con người, tách con ngườikhỏi những điều kiện lịch sử cụ thể
Qua các quan niệm về con người trong triết học phương Tây thời kỳ trước Mác, mặc dù đãđạt được những thành tựu nhất định, nhưng nhìn chung các quan niệm đều xem xét con ngườimột cách trừu tượng, tuyệt đối hóa mặt tinh thần hoặc thể xác con người, tuyệt đối hóa mặt tựnhiên – sinh học mà chưa phản ánh được bản chất xã hội của con người
Các quan niệm về con người trong thời kỳ triết học trước Mác, dù là đứng trên nền tảng thếgiới quan duy tâm, nhị nguyên hay duy vật siêu hình đền không phản ánh đúng bản chất conngười Nhìn chung các quan niệm trên đều xem xét con người một cách trừu tượng, hoặc làtuyệt đối hoá mặt tinh thần, hoặc là tuyệt đối hoá mặt thể xác của con người, tuyệt đối hoá mặt
tự nhiên – sinh học mà không thấy mặt xã hội trong đời sống con người
2 Quan niệm về con người trong triết học Mác-Lênin
a) Con người là thực thể sinh học-xã hội:
Triết học Mác đã thừa kế quan niệm về con người trong lịch sử triết học và đi tới một quanniệm toàn diện về con người: con người vừa là một thực thể tự nhiên, vừa là một thực thể xã hội.Hai phương diện tự nhiên và xã hội tồn tại trong tính thống nhất với nhau, quy định lẫn nhau tạothành cơ sở hiện thực cho sự tồn tại của mỗi con người với tư cách là người
Về phương diện sinh học, con người là sản phẩm của tự nhiên, là kết quả của quá trình tiếnhoá lâu dài của giới hữu sinh Con người tự nhiên là con người sinh học mang tính sinh học.Tính sinh học trong con người quy định sự hình thành những hiện tượng và quá trình tâm lýtrong con người là điều kiện quyết định sự tồn tại của con người Những thuộc tính, những đặcđiểm sinh học, quá trình tâm - sinh lý, các giai đoạn phát triển khác nhau nói lên bản chất sinhhọc của cá nhân con người Vì vậy, có thể nói: Giới tự nhiên là “thân thể vô cơ của con người”,đời sống thể xác và tinh thần của con người gắn liền với giới tự nhiên Vì vậy, trong con ngườiluôn có các nhu cầu sinh học, tự nhiên như: ăn, uống, ngủ, duy trì nòi giống, tự vệ… Không chỉvậy, con người còn sống bằng những sản phẩm tự nhiên, dù là dưới hình thức thực phẩm, nhiênliệu, áo quần… Nếu thiếu các nhu cầu này thì con người và xã hội loài người không thể tồn tại.Điều này rất quan trọng đối với chủ nghĩa duy vật, vì đây là điểm xuất phát từ quan điểm “vật
Trang 8chất có trước quyết định ý thức” Trải qua hàng chục vạn năm tiến hóa từ loài vượn cổ để thànhcon người như bây giờ, các giai đoạn mang tính sinh học mà con người trải qua từ khi sinh rađến lúc mất đi, phát triển và mất đi những bản tính sinh học vốn có Từ đó ta thấy con ngườitrước hết là một tồn tại sinh vật, biểu hiện trong cá nhân con người và hòa hợp, gắn bó với giới
tự nhiên mới có thể tồn tại và phát triển
Song con người không phải là động vật thuần tuý như các động vật khác mà là một động vật
có tính chất xã hội với nội dung văn hoá lịch sử của nó Con người là sản phẩm của xã hội, làcon người xã hội mang bản tính xã hội Trong đó “xã hội sản sinh ra con người với tính cách làcon người như thế nào thì con người cũng sản sinh ra xã hội như thế” Con người chỉ có thể tồntại được một khi họ tiến hành lao động sản xuất ra của cải vật chất thoả mãn nhu cầu sinh họccủa mình Thông qua hoạt động lao động sản xuất, con người sản xuất ra của cải vật chất và tinhthần, phục vụ đời sống của mình; hình thành và phát triển ngôn ngữ và tư duy; xác lập quan hệ
xã hội Lao động sản xuất là yếu tố quyết định sự hình thành con người và ý thức Chính laođộng đã quy định bản chất xã hội của con người, quy định cái xã hội của con người và xã hội lạiquy định sự hình thành cá nhân và nhân cách Sự tồn tại xã hội con người gắn liền với sự tồn tạicủa ý thức Tư duy, ý thức của con người chỉ có thể phát triển trong lao động và giao tiếp xã hộivới nhau, Cũng nhờ có lao động và giao tiếp xã hội mà ngôn ngữ xuất hiện và phát triển Ngônngữ và tư duy của con người thể hiện tập trung và nổi trội tính xã hội của con người, là mộttrong những biểu hiện rõ nhất phương diện con người là một thực thể xã hội Vì con người là sảnphẩm của tự nhiên và xã hội nên con người chịu sự chi phối của môi trường tự nhiên và xã hộicùng các quy luật biến đổi của chúng Trước hết con người bị chi phối các quy luật tự nhiên sinhhọc như: quy luật trao đổi chất giữa cơ thể với môi trường, quy luật biến dị và di truyền, quy luậttiến hóa… các quy luật tâm lý ý thức hình thành và vận động trên nền tảng sinh học của conngười như hình thành tình cảm, khát vọng, niềm tin, ý chí hay các quy luật xã hội quy định quan
hệ giữa người với người Mặc dù bị chi phối bởi ba hệ thống quy luật khác nhau nhưng chúng lạitạo nên thể thống nhất hoàn chỉnh trong đời sống con người bao gồm cả mặt sinh học và xã hội.Với tư cách là con người xã hội, là con người hoạt động thực tiễn, con người sản xuất ra củacải vật chất tác động vào tự nhiên để cải tạo tự nhiên, con người chính là chủ thể cải tạo tựnhiên Con người vừa là sản phẩm của tự nhiên vừa có thể thống trị tự nhiên nếu biết nắm bắt vàtuân theo các quy luật của bản thân giới tự nhiên Bằng hoạt động sản xuất con người sáng taọ ratoàn bộ nền văn hoá vật chất và tinh thần Mặc dù tự nhiên và xã hội đều vận động theo quy luậtkhách quan, nhưng trong quá trình hoạt động, con người luôn luôn xuất phát từ nhu cầu động cơ
và hứng thú, theo đuổi những mục đích nhất định và do đó đã tìm cách hạn chế hay mở rộngphạm vi tác dụng của quy luật cho phù hợp với nhu cầu và mục đích của mình
Với phương pháp luận duy vật biện chứng, chúng ta thấy rằng quan hệ giữa mặt sinh học và mặt
xã hội, cũng như nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội trong mỗi con người là thống nhất Mặt sinhhọc là cơ sở tất yếu tự nhiên của con người, còn mặt xã hội là đặc trưng bản chất để phân biệt conngười với loài vật Nhu cầu sinh học phải được nhân hoá để mang giá trị văn minh của con người,
và đến lượt nó, nhu cầu xã hội không thể thoát ly khỏi tiền đề của nhu cầu sinh học
Trang 9Hai mặt trên thống nhất với nhau, hoà quyện vào nhau để tạo thành con người viết hoa, con người tự nhiên - xã hội.
b) Con người khác biệt với con vật ngay từ khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình
Con người khác con vật ở cả 3 mặt: quan hệ với tự nhiên, quan hệ với xã hội, quan hệ vớibản thân; cả ba mặt quan hệ đó đều mang tính xã hội, trong đó quan hệ với xã hội là quan hệ bảnchất nhất, chi phối các mặt quan hệ còn lại Con người là sản phẩm của tự nhiên, song chính conngười lại là tác giả của tất cả những biến đổi to lớn diễn ra trong tự nhiên Chính con người,bằng hoạt động lao động của mình đã tạo ra những điều kiện sinh sống tự nhiên và xã hội chomình
C.Mác và Ph.Ăngghen đã nêu lên vai trò lao động sản xuất của con người: “Có thể phân biệtcon người với súc vật bằng ý thức, bằng tôn giáo, nói chung bằng bất cứ cái gì cũng được Bảnthân con người bắt đầu bằng sự tự phân biệt với súc vật ngay khi con người bắt đầu sản xuất ra
những tư liệu sinh hoạt của mình - đó là một bước tiến do tổ chức cơ thể của con người quyđịnh Sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình, như thế con người đã gián tiếp sản xuất rachính đời sống vật chất của mình”
“Điểm khác biệt căn bản giữa xã hội loài người với xã hội loài vật là ở chỗ: loài vượn maylắm chỉ hái lượm trong khi con người lại sản xuất Chỉ riêng sự khác biệt nhưng cơ bản ấy cũngkhiến ta không thể chuyển – nếu không kèm theo những điều kiện tương ứng - các quy luật của
xã hội”
Các nhà tư tưởng C.Mác cũng đã có những ý kiến khác nhau về sự khác biệt giữa con người
và các động vật khác với tư cách là những dấu hiệu về nội hàm của khái niệm con người Chẳnghạn như quan điểm theo quan niệm của triết học Mác – Lênin về sự khác biệt giữa con người vàcác động vật khác thể hiện ở tính duy vật và nhất quán: xác định sự khác biệt đó dựa trên nềntảng của sản xuất vật chất Lao động là hình thức sản xuất ra tư liệu sinh hoạt của con người,thúc đẩy con người và xã hội phát triển Đó là là điểm khác biệt căn bản, chi phối các đặc điểmgiữa con người và các động vật khác
c) Con người là sản phẩm của lịch sử và của chính bản thân con người
Phê phán quan niệm sai lầm của Feuerbach và của các nhà tư tưởng khác về con người, kế thừa các quan niệm tiến bộ trong lịch sử tư tưởng nhân loại và những thành tựu của khoa học, chủ nghĩa Mác khẳng định con người vừa là sản phẩm của sự phát triển lâu dài của giới tự nhiên, vừa là sản phẩm của lịch sử xã hội loài người và của chính bản thân con người.
Quan niệm của con người trong triết học Feuerbach “chính là điểm xuất phát cho những lậpluận của Marx về con người và bản chất con người” Bởi vì, bằng những quan niệm đó, ngườikhai mở con đường cho chủ nghĩa duy vật nhân bản đã giáng một đòn phá tan mâu thuẫn giữachủ nghĩa duy vật và chỉ nghĩa duy tâm khách quan của Hêgen, “đưa một cách không úp mở chủnghĩa duy vật trở lại ngôi vua”, ông đã khẳng định một cách dứt khoát rằng “tự nhiên tồn tại độc
Trang 10lập đối với mọi triết học Nó lă cơ sở trín đó con người chúng ta bản thđn chúng ta cũng lă mộtsản phẩm của tự nhiín đê sinh trưởng” Marx vă Engels luôn đânh giâ cao triết học củaFeuerbach nói chung, chủ nghĩa duy vật nhđn bản của ông nói riíng, họ tự thừa nhận mình lămôn đồ của ông, chăo đón quan điểm mới đó một câch nhiệt liệt, tin vă đi theo Feuerbach vớimột tinh thần hăo hứng, phấn khởi Tuy đânh giâ cao Feuerbach như vậy, nhưng hai ông cũngnhận thấy rằng hạn chế cơ bản xuyín suốt toăn bộ triết học nhđn bản của Feuerbach lă chủ nghĩanhđn đạo trừu tượng vă chủ nghĩa duy tđm về lịch sử “Lấy con người lăm xuất phât điểm, songông hoăn toăn không nói đến thế giới trong đó con người ấy sống Vì vậy con người mă ông nóiluôn lă con người trừu tượng… con người đó không ra đời từ trong bụng mẹ, mă lại sinh ra từông thần của câc tôn giâo độc thần… con người đó cũng không sống trong thế giới hiện thực”.Trong đó khi phí phân quan điểm về con người trừu tượng của nhă triết học năy, Marx viết:
“Feuerbach hoă tan bản chất tôn giâo văo bản chất con người Nhưng bản chất con người khôngphải lă một câi gì trừu tượng cố hữu của câ nhđn riíng biệt Trong tính hiện thực của nó, bảnchất con người lă tổng hoă những quan hệ xê hội” Feuerbach đê xem xĩt con người tâch khỏiđiều kiện lịch sử cụ thể vă hoạt động thực tiễn của họ, xem xĩt con người chỉ như lă đối tượngcảm tính, trừu tượng, không có hoạt động thực tiễn Do vậy, Feuerbach đê tuyệt đối hóa tình yíugiữa người với người Hơn nữa, đó cũng không phải lă tình yíu hiện thực mă lă tình yíu đêđược lý tưởng hóa
Cần lưu ý rằng con người lă sản phẩm của lịch sử vă của bản thđn con người, nhưng con người khâc với câc động vật khâc, không thụ động để lịch sử lăm mình thay đổi mă con người còn lă chủ thể của lịch sử.
Trong Hệ tư tưởng Đức, Mâc vă Ăngghen đê dănh hẳn một chương băn về triết họcFeuerbach, theo câc ông, thì “so với câc nhă duy vật “thuần tuý”, Feuerbach có ưu điểm lớn lẵng thấy rằng, con người cũng lă một “đối tượng của cảm giâc” nhưng ông vẫn còn bâm văo lýluận vă không xem xĩt con người trong mối quan hệ xê hội nhất định của họ, trong những điềukiện sinh hoạt… lăm cho họ trở thănh những con người đúng như họ đang tồn tại trong thựctế… nín ông vẫn cứ dừng lại ở một sự trừu tượng Trung tđm thế giới quan mới do Mâc văĂngghen đặt nền móng lă chủ nghĩa duy vật về lịch sử Theo ý kiến của họ, con người khôngphải bước ra từ sđu thẳm của giới tự nhiín thănh một sinh thể tự nhiín phổ quât như Feuerbachnhận định, mă nó trở thănh như vậy trong tiến trình lịch sử Con người khâc với động vật trướchết không phải bởi nó có ý thức như Feuerbach nói, mă bởi sự bắt buộc phải lao động sản xuấtnhằm tạo ra cho mình câc phương tiện sống Trong quâ trình sản xuất đó, con người khâm phâ rasức mạnh tự nhiín, chuyển nó thănh lực lượng lao động xê hội, tạo nín nội dung của lịch sử thếgiới Sự khâm phâ đó được tiến hănh bởi câc câ nhđn có những nhu cầu tự nhiín – xê hội xâcđịnh vă những năng lực hoạt động của họ trong phạm vi những hình thâi kinh tế – xê hội đượcchuyển giao từ thế hệ năy qua thế hệ khâc Với nghĩa như vậy, Mâc vă Ăngghen viết: “Nhữngtiền đề xuất phât của chúng tôi, không phải lă những tiền đề tuỳ tiện, không phải lă giâo điều, đó
lă những tiền đề hiện thực mă người ta chỉ có thể bỏ qua trong trí tưởng tượng thôi Đó lă những
câ nhđn hiện thực, lă hoạt động của họ vă những điều kiện sinh hoạt vật chất của họ… tiền đểđầu tiín của toăn bộ lịch sử nhđn loại thì dĩ nhiín lă sự tồn tại của những câ nhđn con người
Trang 11sống Vì vậy, điều cụ thể đầu tiên cần phải xác định là tổ chức cơ thể của những cá nhân ấy vàmối quan hệ mà tổ chức cơ thể ấy tạo ra giữa họ với phần còn lại của tự nhiên”.
d) Con người vừa là chủ thể của lịch sử, vừa là sản phẩm của lịch sử
Theo triết học Mác-Lênin, con người không chỉ là sản phẩm của lịch sử với tư cách là sản
phẩm quá trình tiến hóa lâu dài của giới tự nhiên mà con người còn là chủ thể của lịch sử Lịch
sử hiểu theo nghĩa rộng là những quá trình đan xen nối tiếp nhau với tất cả những bảo tồn vàbiến đổi diễn ra trong quá trình ấy Như vậy, con người có lịch sử và động vật cũng có lịch sửsong lịch sử của con người và lịch sử của động vật khác nhau C Mác đã khẳng định: “Cái họcthuyết duy vật chủ nghĩa cho rằng con người là sản phẩm của những hoàn cảnh và của giáodục… cái học thuyết ấy quên rằng chính những con người làm thay đổi hoàn cảnh và bản thânnhà giáo dục cũng cần phải được giáo dục” Ăngghen cũng cho rằng: “Thú vật cũng có một lịch
sử, chính là lịch sử nguồn gốc của chúng và lịch sử phát triển dần dần của chúng cho tới trạngthái hiện nay của chúng Nhưng lịch sử ấy không phải do chúng làm ra và trong chừng mực màchúng tham dự vào việc làm ra lịch sử ấy thì điều đó diễn ra mà chúng không hề biết và khôngphải do ý muốn của chúng Ngược lại, con người càng cách xa con vật, hiểu theo nghĩa hẹp của
từ này bao nhiêu thì con người lại càng tự mình làm ra lịch sử của mình một cách có ý thức bấynhiêu”
Với tư cách là thực thể xã hội, con người hoạt động thực tiễn, tác động vào tự nhiên, cảibiến giới tự nhiên, đồng thời thúc đẩy sự vận động phát triển của lịch sử xã hội
Thế giới loài vật dựa vào những điều kiện có sẵn của tự nhiên Con người thì trái lại, thôngqua hoạt động thực tiễn của mình để làm phong phú thêm thế giới tự nhiên, tái tạo lại một tựnhiên thứ hai theo mục đích của mình Trong quá trình cải biến tự nhiên, con người cũng làm ralịch sử của mình Hoạt động lịch sử đầu tiên khiến con người tách khỏi các động vật khác, có ýnghĩa sáng tạo chân chính là hoạt động chế tạo công cụ lao động, hoạt động lao động sản xuất.Hoạt động lao động sản xuất vừa là điều kiện cho sự tồn tại của con người, vừa là phương thức
để làm biến đổi đời sống và bộ mặt xã hội Nhờ chế tạo công cụ lao động mà con người tách rakhỏi loài vật, tách khỏi tự nhiên trở thành chủ thể hoạt động thực tiễn xã hội Con người khôngthể sáng tạo ra lịch sử theo ý muốn bản thân mà phải dựa vào những điều kiện thế hệ trước đểlại Trên cơ sở nắm bắt quy luật của lịch sử xã hội, con người thông qua hoạt động vật chất vàtinh thần, thúc đẩy xã hội phát triển từ thấp đến cao, phù hợp với mục tiêu và nhu cầu do conngười đặt ra Không có hoạt động của con người thì cũng không tồn tại quy luật xã hội, và do
đó, không có sự tồn tại của toàn bộ lịch sử xã hội loài người Không có con người trừu tượng,chỉ có con người cụ thể trong mỗi giai đoạn phát triển nhất định của xã hội
Bản chất con người, trong mối quan hệ với điều kiện lịch sử xã hội luôn luôn vận động biến đổi, cũng phải thay đổi cho phù hợp.
Bản chất con người không phải là một hệ thống đóng kín, mà là hệ thống mở, tương ứng vớiđiều kiện tồn tại của con người Mặc dù là “tổng hoà các quan hệ xã hội”, con người có vai tròtích cực trong tiến trình lịch sử với tư cách là chủ thể sáng tạo Thông qua đó, bản chất conngười cũng vận động biến đổi cho phù hợp Có thể nói rằng, mỗi sự vận động và tiến lên củalịch sử sẽ quy định tương ứng (mặc dù không trùng khớp) với sự vận động và biến đổi của bản
Trang 12chất con người Cũng có nghĩa, lịch sử sản xuất ra con người như thế nào thì tương ứng, conngười cũng sáng tạo ra lịch sử như thế ấy.
Các cá nhân con người chủ động lựa chọn sự tác động của xã hội đối với mình, không chịu khuất phục trước môi trường, điều kiện khách quan, mà chủ động tác động, cải tạo điều kiện khách quan.
Con người tồn tại và phát triển luôn luôn ở trong một hệ thống môi trường nhất định Đó làtoàn bộ điều kiện tự nhiên và xã hội, cả điều kiện vật chất lẫn tinh thần có quan hệ trực tiếp hoặcgián tiếp đến đời sống của con người xã hội Đó là những điều kiện cần thiết, tất yếu, không thểthiếu đối với sự tồn tại và phát triển của con người Chính nhờ môi trường xã hội mà con ngườitrở thành một thực thể xã hội và mang bản chất xã hội Con người là sản phẩm của hoàn cảnh,của môi trường, trong đó có môi trường xã hội Môi trường xã hội cũng là điều kiện và tiền đề
để con người có thể thực hiện quan hệ với giới tự nhiên ở quy mô rộng lớn và hữu hiệu hơn.Môi trường xã hội cũng như mỗi cá nhân con người thường xuyên phải có quan hệ với môitrường tự nhiên và tồn tại trong mối quan hệ tác động qua lại, chi phối và quy định lẫn nhau Do
sự phát triển của công nghiệp, của cách mạng khoa học và công nghệ, nhiều loại môi trườngkhác đã và đang được phát hiện Tính chất và phạm vi, vai trò và tác động của chúng đến conngười là khác nhau, không giống hoàn toàn như môi trường tự nhiên và xã hội Chúng là nhữnghiện tượng, quá trình cụ thể của tự nhiên hoặc xã hội, có tác động ảnh hưởng ở một khía cạnhhẹp, cụ thể và xác định ở phương diện tự nhiên hoặc xã hội
⇨ Trong quan niệm của Mác, con người không chỉ là chủ thể của hoạt động sản xuất, mà còn
là chủ thể của hoạt động lịch sử và sáng tạo ra lịch sử Bằng hoạt động thực tiễn, con người đã in dấu ấn sáng tạo của bàn tay và trí tuệ của mình vào giới tự nhiên, cải tạo đời sống xã hội và qua đó, phát triển, hoàn thiện chính bản thân mình Con người vừa là chủ thể, vừa là đối tượng của tiến trình phát triển lịch sử; con người làm nên lịch sử của chính mình và do vậy, lịch sử là lịch sử của con người, do con người và vì con người.
Ví dụ: Con người là chủ thể tạo nên lịch sử: Trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm củanhân dân ta, nhân dân Việt Nam là những người đã đẩy lùi sự xâm lược của kẻ thù, viết nên lịch
sử nước Việt nam độc lập, tự do như ngày hôm nay
Con người cũng là sản phẩm của lịch sử: Chứng kiến cảnh nước nhà lầm than, nhân dân
có cuộc sống đau khổ chính là động lực khiến cha ông ta cầm súng đứng lên đấu tranh dành lạiđộc lập dân tộc, tạo nên những người anh hùng của lịch sử
e) Bản chất con người là tổng hòa của các quan hệ xã hội
Khái niệm: Các quan hệ xã hội là những quan hệ giữa những cộng đồng xã hội của conngười, xuất hiện trong quá trình sản sinh và tái sản sinh ra chính bản thân con người với tư cách
là những chủ thể xã hội hoàn chỉnh
Con người là một thực thể xã hội được tách ra như một lực lượng đối lập với giới tự nhiên,
sự tác động qua lại giữa cái sinh học và cái xã hội tạo thành bản chất của con người Do đó, đểnhấn mạnh bản chất xã hội của con người, Mác đã nêu lên luận điểm nổi tiếng Luận cương về
Trang 13Phoiơbắc: “Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt.Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những mối quan hệ xã hội”.
Theo luận đề trên thì không có con người trừu tượng, thoát ly mọi điều kiện, hoàn cảnh cụ thểcủa lịch sử và xã hội mà khẳng định bản chất xã hội không có nghĩa là phủ nhận mặt tự nhiên trongđời sống con người Trái lại, điều đó muốn nhấn mạnh sự phân biệt giữa con người và giới động vậttrước hết là bản chất xã hội và đó cũng là để khắc phục sự thiếu xót của những nhà triết học trướcMác, không thấy được bản chất xã hội của con người Mặt khác, cái bản chất với ý nghĩa là cái phổbiến, là cái mang tính quy luật Vì thế cần phải thấy được các biểu hiện riêng biệt, phong phú và đadạng của mỗi cá nhân về cả phong cách, nhu cầu và lợi ích trong cộng đồng xã hội Vậy nên, khi nói
về bản chất con người, quan điểm của Mác được thể hiện cụ thể:
Bản chất con người luôn được hình thành và thể hiện ở những con người hiện thực, cụ thểtrong những điều kiện lịch sử cụ thể
Ví dụ: Trong xã hội nguyên thủy, con người tìm ra lửa, chế tác công cụ lao động từ thô sơ đếnchính xác, đa dạng, sử dụng có hiệu quả, luôn luôn cải tiến công cụ lao động, không ngừng cảithiện đời sống Khi sản xuất phát triển, con người chủ động với cuộc sống hơn, trồng trọt, chănnuôi, dựng lều làm nhà để ở
Các quan hệ xã hội tạo nên bản chất của con người, nhưng không phải sự kết hợp giản đơnhoặc là tổng hợp chúng lại với nhau mà là sự tổng hòa chúng; mỗi quan hệ xã hội đều có vị trí,vai trò khác nhau, có tác động qua lại, và không thể tách rời nhau Vì theo Mác “Muốn sản xuấtđược, người ta phải có mối liên hệ và quan hệ nhất định với nhau, và sự tác động của họ vàogiới tự nhiên, tức là việc sản xuất, chỉ diễn ra trong khuôn khổ những mối liên hệ và quan hệ xãhội đó”
Tất cả các quan hệ xã hội (ví dụ: quan hệ gia đình, quan hệ giai cấp, quan hệ dân tộc, quan
hệ tôn giáo, quan hệ nghề nghiệp, quan hệ quá khứ, quan hệ hiện tại, quan hệ vật chất/tinh thần,quan hệ trực tiếp/gián tiếp, quan hệ tất nhiên/ngẫu nhiên…) đều góp phần hình thành nên bảnchất của con người Dù cho các quan hệ xã hội có thay đổi ít hay nhiều, sớm hay muộn thì bảnchất con người cũng sẽ thay đổi theo
Trong các mối quan hệ xã hội cụ thể, xác định, con người mới có thể bộc lộ được bản chấtthực sự của mình, và nhờ đó bản chất của con người mới được phát triển
Ví dụ: Với học sinh sinh viên, nếu được sinh sống và học tập trong một môi trường giáo dụclành manh, tích cực, trong sáng thì sẽ phát triển khả năng của bản thân theo hướng tiến bộ.Ngược lại nếu ở môi trường kém phát triển, không tốt thì không những không phát huy đượcbản thân mà thậm chí còn thụt lùi đi
Các quan hệ xã hội khi đã hình thành thì có vai trò chi phối và quyết định các phương diệnkhác của đời sống con người khiến cho con người không thuần túy là một động vật mà là mộtđộng vật xã hội
Trang 14“Con người bẩm sinh đã là sinh vật có tính xã hội” Khía cạnh thực thể sinh vật là tiền đề trên đó thực thể xã hội tồn tại phát triển và chi phối.
Tính chất quan hệ và những khả năng đó không thể có ở bất kì sinh vật nào khác Trong tácphẩm Triết học đầu tay – “Gia đình thần thánh” - C Mác và Ăngghen đã chỉ ra rằng: con ngườichỉ tồn tại thực sự khi đặt trong mối quan hệ với cộng đồng, xã hội; nếu bị tách rời ra khỏi quan
hệ hữu cơ ấy thì con người sẽ chẳng còn ý nghĩa gì
Tóm lại, bản chất chung nhất, sâu sắc nhất nhất của con người là tổng hoà các mối quan hệ
giữa người và người trong xã hội diễn ra trong hiện tại và cả trong quá khứ Bản thân của conngười không phải là cố định, bất biến mà có tính lịch sử cụ thể Mặt khác, con người là sản phẩmcủa giới tự nhiên nhưng không hoàn toàn phụ thuộc vào giới tự nhiên mà đã vươn lên, tách xathế giới động vật, trở thành con người của xã hội, sáng tạo ra lịch sử Với vai trò là chủ thế giới,của lịch sử con người phải được tự do, hạnh phúc, phát huy khả năng của mình Tuy nhiênkhông phải lúc nào và ở đâu con người cũng có đủ điều kiện để phát triển toàn diện Vây nên,đây là một vấn đề đã và đang đặt ra nhiều thách thức của các quốc gia nói riêng và của nhân loạinói chung, phải coi con người là mục tiêu của sự phát triển xã hội
II QUAN HỆ GIỮA CÁ NHÂN VÀ XÃ HỘI
1 Khái niệm cá nhân, nhân cách, xã hội
Xã hội do các cá nhân tạo nên Các cá nhân sống và hoạt động trong các nhóm, cộng đồng
và tập đoàn xã hội khác nhau, mang tính lịch sử xác định Yếu tố xã hội là đặc trưng căn bản đểhình thành cá nhân
Như vậy, cá nhân là một chỉnh thể đơn nhất, vừa mang tính cá biệt vừa mang tính phổ biến,
là chủ thể của lao động, của mọi quan hệ xã hội nhằm thực hiện chức năng cá nhân và chứcnăng xã hội trong một giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử xã hội
b) Nhân cách
Nhân cách là khái niệm chỉ bản sắc độc đáo, riêng biệt của mỗi cá nhân, là nội dung và tínhchất bên trong của mỗi cá nhân Bởi vậy, nếu cá nhân là khái niệm chỉ sự khác biệt giữa cá thểvới giống loài thì nhân cách là khái niệm chỉ sự khác biệt giữa các cá nhân
Cá nhân là phương thức biểu hiện của giống loài còn nhân cách vừa là nội dung, vừa là cáchthức biểu hiện của mỗi cá nhân riêng biệt
Nhân cách biểu hiện thế giới cái tôi của mỗi cá nhân, là sự tổng hợp của các yếu tố sinh học,tâm lý, xã hội, tạo nên đặc trưng riêng có của cá nhân, đóng vai trò chủ thể tự ý thức, tự đánhgiá, tự khẳng định và tự điều chỉnh mọi hoạt động của mình
c) Xã hội
Trang 15Xã hội là khái niệm dùng để chỉ cộng đồng các cá nhân trong mối quan hệ biện chứng vớinhau, trong đó cộng đồng nhỏ nhất của một xã hội là cộng đồng tập thể gia đình, cơ quan, đơnvị… Lớn hơn nữa là cộng đồng xã hội quốc gia, dân tộc… Và rộng nhất là cồng đồng nhân loại.
2 Mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội
a) Mối quan hệ cá nhân và tập thể
Mối quan hệ biện chứng giữa cá nhân và tập thể
Cá nhân là một hiện tượng mang tính lịch sử với tính cách là những con người cụ thể vàđồng thời là sản phẩm của sự phát triển xã hội, là chủ thể lao động của các quan hệ xã hội, vàcủa nhận thức Cá nhân là một con người hoàn chỉnh trong sự thống nhất những khả năng riêng
có của con người đối với chức năng xã hội do người đó thực hiện
Tập thể là hình thức liên hệ các cá nhân thành từng nhóm có tính chất xã hội xuất phát từ lợiích, nhu cầu về kinh tế, chính trị, đạo đức, thẩm mỹ, nghề nghiệp… nên xã hội có nhiều tập thểkhác nhau
Bản chất của quan hệ giữa cá nhân và tập thể là quan hệ lợi ích – cái cơ sở của sự liên kếthoặc chia rẽ các thành viên trong một tập thể Lợi ích là một nhu cầu vật chất – tinh thần củamỗi cá nhân vừa bao hàm sự thống nhất và mâu thuẫn Bởi lợi ích và nhu cầu của mỗi cá nhân làkhác nhau và việc thỏa mãn lợi ích và nhu cầu cho mỗi cá nhân của tập thể thường thấp hơn sovới nhu cầu của mỗi cá nhân Nhưng cá nhân lại luôn cần đến và có nhu cầu tập thể, bởi cá nhânkhông thể tồn tại độc lập với tập thể trong tính chất liên kết của các tổ chức xã hội, tính cộngđồng xã hội
Sự bảo đảm ổn định về mặt tổ chức và phát triển của cá nhân thường được xây dựng trên cơ
sở những nguyên tắc như: tính chất tương trợ theo tinh thần hữu ái; thực hiện tốt quyền lợi vànghĩa vụ của cá nhân với tập thể và ngược lại; sự kết hợp hài hòa giữa lợi ích, nhu cầu cá nhânvới lợi ích nhu cầu tập thể; bình đẳng trong tập thể, tôn trọng tập thể và quyền quyết định củatập thể; cá nhân có ý thức trước tập thể về hành vi của mình; tập thể luôn quan tâm đến cá nhân,thỏa mãn những lợi ích, nhu cầu chính đáng của mỗi cá nhân Tuy nhiên, tùy theo tính chất củamâu thuẫn giữa cá nhân và tập thể và những điều kiện lịch sử cụ thể mối quan hệ giữa cá nhânvới tập thể có thể phát triển và cũng có thể tan rã
b) Mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội
Mỗi cá nhân với tư cách là một con người, không bao giờ có thể tách rời khỏi những cộng đồng xã hội nhất định.
Mối quan hệ giữa cá nhân – xã hội là hiện tượng có tính lịch sử Là một hiện tượng lịch sử,quan hệ này luôn luôn vận động, biến đổi và phát triển, trong đó, sự thay đổi về chất chỉ diễn rakhi có sự thay thế hình thái kinh tế – xã hội này bằng hình thái kinh tế – xã hội khác
Ví dụ: Trong giai đoạn cộng sản nguyên thuỷ, không có sự đối kháng cá nhân – xã hội Lợi ích
cá nhân và lợi ích xã hội căn bản là thống nhất
Trang 16Khi xã hội phân chia giai cấp, quan hệ cá nhân – xã hội vừa có thống nhất vừa có mâuthuẫn, thậm chí là mâu thuẫn đối kháng.
Trong chủ nghĩa xã hội, những điều kiện của xã hội mới tạo tiền đề cho cá nhân, để mỗi cánhân phát huy năng lực và bản sắc riêng của mình, phù hợp với lợi ích và mục tiêu của xã hộimới Vì vậy, xã hội xã hội chủ nghĩa và cá nhân là thống nhất biện chứng, là tiền đề và điều kiệncủa nhau
Theo quan điểm của triết học Mác – Lênin, xã hội giữ vai trò quyết định đối với cá nhân.
Bởi vậy, thực chất của việc tổ chức xã hội là giải quyết quan hệ lợi ích nhằm tạo khả năngcao nhất cho mỗi cá nhân tác động vào mọi quá trình kinh tế, xã hội, cho sự phát triển được thựchiện
Xã hội càng phát triển thì cá nhân càng có điều kiện để tiếp nhận ngày càng nhiều những giátrị vật chất và tinh thần Mặt khác, mỗi cá nhân trong xã hội càng phát triển thì càng có điều kiện
để thúc đẩy xã hội tiến lên
Vì vậy, thỏa mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu và lợi ích chính đáng của cá nhân là mục tiêu
và động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội
Bất cứ vấn đề gì, dù là phạm vi nhân loại hay cá nhân, dù trực tiếp hay gián tiếp, nếu lợi ích
cá nhân và xã hội là thống nhất thì chính ở đó bắt gặp mục đích và động lực của sự nỗ lực chung
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và ngay cả dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, nhữngmâu thuẫn cá nhân – xã hội vẫn còn tồn tại Do đó, để giải quyết đúng đắn quan hệ cá nhân – xãhội, cần phải tránh hai thái độ cực đoan
Một là, chỉ thấy cá nhân mà không thấy xã hội, đem cá nhân đối lập với xã hội, nhu cầu cánhân chưa phù hợp với điều kiện phát triển của xã hội Khuynh hướng này có thể dẫn đến chủnghĩa cá nhân
Hai là, chỉ thấy xã hội mà không thấy cá nhân, quan niệm sai lầm về lợi ích xã hội, về chủnghĩa tập thể, thực chất là chủ nghĩa bình quân, coi nhẹ vai trò cá nhân, lợi ích cá nhân
Xã hội càng phát triển thì nhu cầu, lợi ích cá nhân càng đa dạng.
Nếu không quan tâm đến vấn đề cá nhân, sẽ dẫn đến một xã hội nghèo nàn, chậm phát triển,không phù hợp với bản chất của chủ nghĩa xã hội
Ở nước ta hiện nay, nền kinh tế thị trường đang thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sảnxuất, nâng cao năng suất lao động, tạo ra cơ sở vật chất và văn hóa tinh thần ngày càng đa dạng
và phong phú Lợi ích cá nhân ngày càng được chú ý, tạo ra cơ hội mới để phát triển cá nhân
Trang 17Tuy nhiên, cơ chế này có thể dẫn tới tuyệt đối hóa lợi ích kinh tế, dẫn tới phân hóa giàu
nghèo trong xã hội, chứa đựng những khả năng đối lập giữa cá nhân với xã hội.
Do đó, chúng ta cần khắc phục mặt trái của cơ chế thị trường, phát huy vai trò nhân tố conngười, thực hiện chiến lược con người của Đảng ta là một mục tiêu có ý nghĩa quyết định để giảiquyết tốt mối quan hệ cá nhân – xã hội: Xây dựng con người Việt Nam có tinh thần yêu nước vàyêu chủ nghĩa xã hội, có ý thức tự cường dân tộc, trách nhiệm cao trong lao động, có lương tâmnghề nghiệp, có tác phong công nghiệp, có ý thức cộng đồng, tôn trọng nghĩa tình, có lối sốngvăn hóa, quan hệ hài hoà trong gia đình, cộng đồng và xã hội
III VAI TRÒ CỦA QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN VÀ LÃNH TỤ TRONG LỊCH SỬ
1 Vai trò của quần chúng nhân dân
a) Khái niệm quần chúng nhân dân
Quần chúng nhân dân là bộ phận có cùng chung lợi ích căn bản, bao gồm những thànhphần, những tầng lớp và những giai cấp, liên kết lại thành tập thể dưới sự lãnh đạo của một cánhân, tổ chức hay đảng phái nhằm giải quyết những vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội của một thờiđại nhất định
Quần chúng nhân dân không phải là một cộng đồng bất biến mà trái lại, luôn thay đổi cùngvới sự biến đổi của những nhiệm vụ lịch sử ở mỗi thời đại, mỗi giai đoạn phát triển nhất định.Quần chúng nhân dân là một phạm trù lịch sử, vận động biến đổi theo sự phát triển của lịch sử
xã hội
Quần chúng nhân dân được xác định bởi các nội dung sau đây:
Đây là những người lao động sản xuất ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần, đóng vai trò
là hạt nhân cơ bản của quần chúng nhân dân
Những bộ phận dân cư chống lại giai cấp thống trị áp bức, bóc lột, đối kháng với nhân dân
Những giai cấp, những tầng lớp xã hội thúc đẩy sự tiến bộ xã hội thông qua hoạt động của
mình, trực tiếp hoặc gián tiếp trên các lĩnh vực của đời sống xã hội
b) Vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử
Tất cả các nhà triết học trong lịch sử triết học trước Mác đều không nhận thức đúng vai tròcủa quần chúng nhân dân trong trong tiến trình phát triển của lịch sử Phải đến khi Mác nhậnthức và chỉ rõ vai trò sáng tạo lịch sử của quần chúng nhân dân là hết sức quan trọng Quầnchúng nhân dân luôn đóng vai trò quyết định trong lịch sử Vai trò chủ thể sáng tạo ra lịch sử,