Nguyễn Huy Tưởng được xem là một trong những nhà văn có sức ảnh hưởng lớn đối với nền của văn học Việt Nam hiện đại. Là nhà văn yêu nước, ông sớm tham gia hoạt động cách mạng và đã đặt nhiều tâm huyết với nhân dân, đất nước, với nền văn hóa của dân tộc. Các tác phẩm của ông nổi bật với cảm hứng lịch sử vừa đậm chất bi kịch vừa giàu chất lãng mạn. Sáng tác nhiều thể loại nhưng ông thành công hơn cả ở kịch và tiểu thuyết. Các sáng tác của ông thể hiện rõ những băn khoăn, day dứt, trăn trở giữa một bên là lòng yêu nước, ý thức trách nhiệm của công dân với một bên là khát vọng nghệ thuật, ý thức sáng tạo của một nhà văn chân chính.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
Đề tài
GIẢI MÃ VỞ KỊCH "VŨ NHƯ TÔ" (NGUYỄN HUY TƯỞNG)
DƯỚI GÓC NHÌN THỂ LOẠI
Năm 2021
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1
1.1 Giải mã và tiếp nhận văn học 1
1.1.1 Khái niệm giải mã và tiếp nhận văn học . 1
1.1.2 Giải mã và tiếp nhận văn học từ góc độ thể loại kịch 2
1.2 Tác giả Nguyễn Huy Tưởng và vở kịch "Vũ Như Tô"
2 1.2.1 Tác giả Nguyễn Huy Tưởng 2
1.2.2 Vở kịch "Vũ Như Tô" 3
CHƯƠNG 2: GIẢI MÃ THEO GÓC NHÌN THỂ LOẠI TRONG VỞ KỊCH "VŨ NHƯ TÔ" (NGUYỄN HUY TƯỞNG) 3
2.1 Giải mã xung đột kịch 3
2.1.1 Tình huống kịch 3
2.1.2 Mâu thuẫn thứ nhất: Mâu thuẫn đời sống sa hoa, trụy lạc của bọn cầm quyền với đời sống cơ cực, khốn khổ, lầm than của nhân dân 4
2.1.3 Mâu thuẫn thứ hai: Mâu thuẫn giữa khát vọng của người nghệ sĩ với lợi ích trực tiếp của nhân dân 5
2.2 Giải mã hành động kịch 7
2.3 Giải mã ngôn ngữ kịch 8
2.4 Giải mã nhân vật kịch 10
2.5 Giải mã không gian, thời gian kịch 12
2.6 Quan niệm về con người của Nguyễn Huy Tưởng thông qua vở kịch "Vũ Như Tô" 12
KẾT LUẬN 13
TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
Trang 4MỞ ĐẦU
Một văn bản văn học có thành công, có sức sống lâu bền với thời gian không chỉ nằm ở nội dung, nghệ thuật của văn bản đó mà còn phụ thuộc vào việc nó được tiếp nhận như thế nào Mỗi văn bản được coi như một ẩn số cần người đọc đi giải
mã để có thể tiếp nhận được giá trị của văn bản ấy Quá trình đó có ý nghĩa không chỉ với độc giả mà còn có ý nghĩa sống còn của một tác phẩm Nó giúp cho người đọc phát hiện được những giá trị nội tại, đặc sắc của nội dung và nghệ thuật, giúp người đọc thấu hiểu bản thân hơn, đồng thời đó là cây cầu nối giữa tác giả và bạn đọc,… Hơn nữa, quá trình tiếp nhận văn học giúp văn bản sản sinh ra các giá trị mới, giúp cho văn bản phong phú hơn, sâu sắc hơn và có sức sống lâu bền Như vậy, quá trình giải mã, tiếp nhận văn bản văn học có ý nghĩa quan trọng Hiện nay
có nhiều góc độ giải mã văn bản khác nhau: giải mã văn bản từ góc độ thể loại, từ góc độ ngôn ngữ, từ góc độ khuynh hướng trào lưu,… Mỗi góc độ giải mã đều có những giá trị riêng, mang tới hiệu quả tiếp nhận riêng Trong bài viết này, chúng tôi lựa chọn cách giải mã văn bản văn học theo góc nhìn thể loại Để làm rõ vấn đề, chúng tôi chọn đề tài "Giải mã vở kịch "Vũ Như Tô" (Nguyễn Huy Tưởng) từ góc nhìn thể loại" Trong bài viết, chúng tôi đưa ra một số phương diện giải mã văn bản theo đặc trưng thểloại kịch để dựa vào đó đi tiếp nhận vở kịch "Vũ Như Tô"
NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Giải mã và tiếp nhận văn học
1.1.1 Khái niệm giải mã và tiếp nhận văn học
Theo "Từ điển thuật ngữ văn học", tiếp nhận văn học "là quá trình chiếm lĩnh các giá trị tư tưởng, thẩm mỹ của tác phẩm văn học, bắt đầu từ cảm thụ văn bản ngôn từ, hình tượng nghệ thuật, tình cảm, quan niệm nghệ thuật, tài nghệ của nhà văn… đến sản phẩm sau khi đọc: Cách hiểu, ấn tượng, trí nhớ, ảnh hưởng trong hoạt động sáng tạo bản dịch" [2]
Theo SGK Ngữ văn 12, tập 2: "Tiếp nhận văn học là quá trình người đọc hòa mình vào tác phẩm, rung động với nó, đắm chìm trong thế giới nghệ thuật được dựng lên bằng ngôn ngữ, lắng nghe tiếng nói của tác giả, thưởng thức cái hay, cái đẹp, tài nghệ của người nghệ sĩ sáng tạo" [1]
Giải mã văn bản chủ yếu "lấy văn bản làm trung tâm" Quá trình giải mã cần tiến hành phân tích, cắt nghĩa các yếu tố và cấu trúc văn bản tác phẩm Qua đó người đọc có thể phát hiện, diễn dịch nội dung ý nghĩa của tác phẩm - cái vốn được coi là nằm ngay trong văn bản
Tiếp nhận văn bản bắt đầu từ sự cảm thụ văn bản ngôn từ, hình tượng nghệ thuật, tư tưởng, quan niệm và tài năng của tác giả Sản phẩm của quá trình tiếp nhận văn bản là những cách hiểu, những ấn tượng, những ảnh hưởng sau khi tiếp nhận vào trong hoạt động sáng tạo, chuyển thể, dịch,… Tiếp nhận văn học thực chất là quá trình giao tiếp giữa người đọc và văn bản thông qua việc giả mã văn bản
Trang 51.1.2 Giải mã và tiếp nhận văn học từ góc độ thể loại kịch
Giải mã, tiếp nhận văn bản theo góc nhìn thể loại tức là quá trình giải mã các yếu tố hình thức, đặc trưng của thể loại ấy Nhưng trước hết, người tiếp nhận cần có những lý thuyết về thể loại cũng những đặc trưng của thể loại đó Cụ thể trong đề tài này, chúng ta cần biết thể loại kịch là gì và các phương diện để giải mã, tiếp nhận một văn bản kịch
Có nhiều quan điểm khác nhau về kịch Theo góc độ loại hình, kịch là một trong ba phương thức cơ bản của văn học bên cạnh tự sự và trữ tình Trong "Từ điển thuật ngữ văn học" thì "kịch vừa thuộc sân khấu vừa thuộc văn học, vừa để diễn vừa
để đọc" [2, 141] Từ góc độ thể loại, kịch được dùng để chỉ một thể loại văn học Trong đề tài này, rõ ràng kịch được hiểu theo quan điểm là một thể loại văn học Và như vậy, kịch cũng mang những đặc trưng thể loại Kịch có một số đặc trưng tiêu biểu: Xung đột kịch, hành động kịch, ngôn ngữ kịch, nhân vật kịch,…
Xung đột kịch "là những mâu thuẫn nào đó trong cuộc sống đã phát triển đến chỗ xung đột và đồi hỏi phải được giải quyết bằng cách này hay cách khác" [3,401] Xung đột kịch do đó là một đặc điểm cơ bản của kịch Nó là yếu tố tạo nên kịch tính, thúc đẩy sự phát triển của vở kịch Xung đột kịch gồm hai loại: xung đột bên trong là xung đột ở chính nội tâm của nhân vật kịch và xung đột bên ngoài là xung đột giữa các nhân vật với nhau
Hành động kịch có thể hiểu khái quát là hành động của các nhân vật trong vở kịch được sắp xếp theo một trình tự logic, thường tuân theo luật nhân quả, hành động trước là nguyên nhân dẫn đến hành động sau và hành động sau đồng thời là nguyên nhân cho hành động kế tiếp Trong kịch, các hành động thường được miêu
tả căng thẳng, gấp gáp, các hành động suy tư diễn ra nhanh
Nhân vật kịch là người thực hiện các hành động kịch Các nhân vật kịch thường không được miêu tả một cách tỉ mỉ Nhân vật kịch được tác giả đặt vào các mâu thuẫn và được xây dựng với diễn biến tâm lý đa dạng, thậm chí ẩn chứa mâu thuẫn, đấu tranh trong chính nội tâm nhân vật
Giải mã, tiếp nhận kịch thì không thể bỏ qua ngôn ngữ kịch Nó đóng vai trò xây dựng tính cách, đặc điểm, phẩm chất của nhân vật Ngôn ngữ trong kịch phải có tính hành động (tranh luận, thuyết phục, đe dọa, ra lệnh,…) và tính khẩu ngữ cao Ngôn ngữ của nhân vật trong kịch thường ở ba dạng: đối thoại (nói với nhau), độc thoại (nói với chính mình) và bàng thoại (lời nói riêng với khán giả)
Những đặc trưng này là chìa khóa giải mã và tiếp nhận văn bản kịch
1.2 Tác giả Nguyễn Huy Tưởng và vở kịch "Vũ Như Tô"
1.2.1 Tác giả Nguyễn Huy Tưởng
Trong làng kịch, ta cũng không thể không nhắc đến Nguyễn Huy Tưởng -một trong những tác giả viết kịch và tiểu thuyết xuất sắc Ông được xem là -một trong những nhà văn có sức ảnh hưởng lớn đối với nền của văn học Việt Nam hiện đại Là nhà văn yêu nước, ông sớm tham gia hoạt động cách mạng và đã đặt nhiều tâm huyết với nhân dân, đất nước, với nền văn hóa của dân tộc
Trang 6Các tác phẩm của ông nổi bật với cảm hứng lịch sử vừa đậm chất bi kịch vừa giàu chất lãng mạn Sáng tác nhiều thể loại nhưng ông thành công hơn cả ở kịch và tiểu thuyết Các sáng tác của ông thể hiện rõ những băn khoăn, day dứt, trăn trở giữa một bên là lòng yêu nước, ý thức trách nhiệm của công dân với một bên là khát vọng nghệ thuật, ý thức sáng tạo của một nhà văn chân chính
Một số tác phẩm tiêu biểu của ông: kịch "Vũ Như Tô" (1943), "Bắc Sơn" (1946), tiểu thuyết "Đêm hội Long Trì" (1942), "An Tư công chúa" (1944),…
1.2.2 Vở kịch "Vũ Như Tô"
"Vũ Như Tô" là vở kịch được xếp vào bậc nhất trong nền văn học Việt Nam hiện đại Lấy cảm hứng từ một sự kiện lịch sử xảy ra ở thế kỉ XVI dưới thời vua Lê Tương Dực, nhà văn đã sáng tác vở kịch "Vũ Như Tô" Vở kịch lấy đề tài lịch sử nhưng qua đó nhà văn lại xây dựng được bi kịch của người nghệ sĩ đứng trước mâu thuẫn giữa khát vọng nghệ thuật và hiện thực xã hội Vũ Như Tô là một nhà kiến trúc sư giỏi, luôn khao khát xây dựng một công trình kiến trúc vĩ đại Để thực hiện khát vọng, Vũ Như Tô nghe theo lời khuyên của cung nữ Đan Thiềm, mượn quyền lực và tiền bạc của vua để xây dựng Cửu Trùng Đài Nhưng cũng chính vì vậy, Vũ Như Tô đã rơi vào bi kịch do mình tạo ra
Qua vở kịch, Nguyễn Huy Tưởng đã thể hiện một vấn đề có tính sâu sắc, muôn thuở về cái đẹp, mối quan hệ giữa sự khát vọng nghệ thuật của người nghệ sĩ với lợi ích của nhân dân Qua bi kịch "Vũ Như Tô" ta thấy được khát vọng, tài năng đáng trân trọng song nghệ thuật chân chính còn cần xuất phát từ cuộc sống, từ con người Chỉ khi giải quyết được mối quan hệ giữa nghệ thuật với cái đẹp, giữa người nghệ sĩ với nhân dân thì nghệ thuật chân chính mới có cơ hội tồn tại và phát triển
CHƯƠNG 2: GIẢI MÃ THEO GÓC NHÌN THỂ LOẠI TRONG VỞ KỊCH
"VŨ NHƯ TÔ" (NGUYỄN HUY TƯỞNG) 2.1 Giải mã xung đột kịch
Xung đột kịch bao giờ cũng nảy sinh trên những mâu thuẫn Xung đột kịch chính là linh hồn của kịch Nhìn vào tài liệu lịch sử như "Đại Việt sử kí toàn thư" và cuốn "Việt Sử thông giám mục" có nhắc đến một người thợ tài hoa đang xây dở công trình thì bị giết và công trình bị hủy Lấy chất liệu lịch sử, Nguyễn Huy Tưởng xây dựng nên một vở kịch được phóng đại lên hết sức có thể để tạo một một vở kịch lịch sử hấp dẫn
2.1.1 Tình huống kịch
Điểm cốt lõi của xung đột vở bi kịch của Nguyễn Huy Tưởng: hai thế lực xung đột đối kháng mạnh mẽ: nghệ sĩ và nhân dân Người sáng tạo cái đẹp mượn tay quyền lực nhằm khẳng định khả năng sáng tạo thiên tài của mình, không quan tâm đến mồ hôi, nước mắt và cả xương máu của quần chúng
Vũ Như Tô là một nghệ sĩ tài năng xuất chúng nay đã qua bốn mươi mà chưa
có thành tựu, đứng trước khúc ngoặt cuộc đời, mỗi phía nghiệt ngã theo một cách: hoặc chối bỏ chức trách bản thân, đồng nghĩa với tự vẫn, hoặc vâng lệnh vua Lê và mượn lực y để sáng tạo mộng lớn, nhưng lại phủ thêm nhiều tai họa cho nhân dân
Trang 7lao động Người dân khi không có tòa Cửu Trùng Ðài đã rất gian khổ vì bị áp bức, bóc lột gian nan trăm bề Nhà viết kịch bênh vực quyền lợi nhân dân bằng bút pháp nghệ thuật đầy sức thuyết phục, không để "cái vĩnh cửu" lên trên chúng - "cái nhất thời" mà không day dứt Và khi ông kiến trúc sư họ Vũ chọn ngã rẽ xây công trình Cửu Trùng Ðài, hẳn ông ấy đã rõ ràng trong tư tưởng cần làm những gì để thành công Ông ấy đòi vua cho mình "toàn quyền làm việc, kẻ nào trái lệnh chém bêu đầu" Công trình với số lượng rất lớn thợ: bên trong cần năm vạn thợ và bên ngoài cần có mười vạn công nhân, điều này được ví với chiến tranh với ngoại xâm Sự sống những "con đỏ" bị bỏ rơi không chút tiếc nuối trong chính cuộc chiến vô bổ ấy được bật thốt nên nhiều lần và nhiều kiểu người: bắt đầu hồi hai với nhân vật Trịnh Duy Sản ("Trịnh Duy Sản là một quan võ thô bạo và hủ nho, nhưng can đảm, chính trực, lo lắng cho lợi ích của nước, của dân, đối lập với gian thần Nguyễn Vũ"), đến hồi ba chính miệng những người thợ đào ngũ và bị xử quyết, rồi đến hồi bốn với sự tinh tế của Thị Nhiên và sự thỏa mãn, suồng sã từ những người lính nổi loạn trong hồi cuối, trước khi chấm hết Bài ca trù yểm cất lên hòa cùng bài ca ngưỡng vọng cho công trình Cửu Trùng Đài tạo thành bản nhạc hòa tấu đa điệu của vở "Vũ Như Tô" Nhạc điệu kỳ lạ, nhưng ma mị, dụ hoặc của nó được chủ yếu kết cấu nhờ đối
âm phù hợp, ở thế uyển chuyển cân bằng và căng thẳng, rất nhuần nhuyễn, không bên nào áp chế bên nào
Bản thảo Cửu Trùng Ðài, Vũ Như Tô trình tấu lên Lê Tương Dực, theo ước nguyện của người thiết kế, là "đứa con" của cái đẹp thanh khiết, nhưng lại là cái đẹp
"vô ích" vì nó đặt trên mọi lợi ích thiết thực của toàn dân tộc Cũng là xây dựng công trình, một câu chuyện khác từ thuở xa xưa được gợi nhớ trong vở kịch là chuyện An Dương Vương xây thành Cổ Loa để làm phông nền đối lập công trình Cửu Trùng Ðài "Vua Thục đắp thành để giữ nước, còn ta xây thành cho vua chơi" -những trợ thủ thân cận nhất đã thẳng thắn với tổng công trình sư trong nút cao trào vào hồi ba, lớp ba Kế tiếp, thái tử Chiêm Thành - nhân vật không có liên hệ với hành động kịch - xuất hiện một lần nữa trên sân khấu, khẳng định những công trình như Cửu Trùng Ðài không hữu ích còn xa xỉ, nguy hại cho đất nước, dân tộc Qua
đó độc giả thấy được vở kịch "Vũ Như Tô" mâu thuẫn xung đột kịch ngày một căng thẳng nhưng đỉnh điểm là xung đột vào hồi V Diễn biến xoay quanh số phận của nhân vật chính - Vũ Như Tô và "đứa con" - Cửu Trùng Đài
2.1.2 Mâu thuẫn thứ nhất: Mâu thuẫn đời sống sa hoa, trụy lạc của bọn cầm quyền với đời sống cơ cực, khốn khổ, lầm than của nhân dân
Mâu thuẫn vốn nảy nở từ trước đến khi Lê Tương Dực bắt ép Vũ Như Tô xây Cửu Trùng Đài càng ngột ngạt, gay gắt Để xây Cửu Trùng Đài nhà vua hạ lệnh tăng sưu thuế, lùng bắt thợ giỏi, trị kẻ chống đối Công nhân nai lưng vất vả mà vẫn đói kém vì bị bòn rút từ quan lại phía trên Toàn dân phẫn uất vì triều đình làm cho
"dân cùng nước kiệt", thợ oán trách Như Tô khiến nhiều người chết Quan võ họ Trịnh can giám nhà vua, ông yêu cầu Lê Tương Dực đuổi cung nữ đi, ban chết cho
Vũ Như Tô Nhưng Lê Tương Dực là vị hôn quân, quen thói ăn chơi trụy lạc, không nghe lọt tai lời tâu còn sai đánh Trịnh Duy Sản (hồi ba), hậu quả nhân dân đói kém, lụt lội, mất mùa Vũ Như Tô dù bị thương do đá đè nhưng vẫn hăng say, đốc thúc thợ xây đài Cửu, khiến thợ bức xúc, định bãi công, nổi dậy làm loạn
Trang 8Lợi dụng tình huống hỗn loạn và mâu thuẫn tứ phía, Trịnh Duy Sản đứng đầu phe đối lập trong triều, điều binh lôi kéo thợ thuyền làm phản, nổi loạn, xử tử vua Lê Tương Dực, kiến trúc sư chính Vũ Như Tô, nô tỳ Đan Thiềm, cung nữ và thiêu hủy Cửu Trùng Đài đang xây dở Mâu thuẫn dẫn tới hồi I đã lên cao trào chạm chóp khi hôn quân Lê Tương Dực băng hà dưới sự nổi dậy do Trịnh Duy Sản đứng đầu Nguyễn Vũ tự sát, hoàng hậu nhảy vào lửa, thứ phi Kim Phụng và các cung nữ
bị những kẻ nổi loạn bắt bớ, nhục mạ Dân chúng thỏa lòng hả hê, gieo hò, bừng bừng khí thế đốt phá Cửu Trùng Đài - tượng hình cho dục vọng sa đọa, "hưởng lạc" của Lê Tương Dực lửa đốt thành tro, như vậy mâu thuẫn được giải quyết bằng con đường bạo lực Nhưng tiếc rằng cuộc nổi loạn này không thể đem đến điều gì tươi sáng hơn cho nhân dân bởi sơn hà xã tắc lại rơi vào tay tên cầm đầu bọn phản loạn
và phe cánh của Trịnh Duy Sản
2.1.3 Mâu thuẫn thứ hai: Mâu thuẫn giữa khát vọng của người nghệ sĩ với lợi ích trực tiếp của nhân dân.
Người nghệ sĩ tài ba Vũ Như Tô từng ấp ủ kỳ vọng xây cho Tổ quốc một tòa lầu kiêu hùng "bền như trăng sao", có thể "tranh tinh xảo với hóa công", giúp dân Việt muôn đời hãnh diện Tuy nhiên, ông không có điều kiện để thực hiện, "không thể thi thố tài năng" và bộc lộ khát vọng sáng tạo Bởi thực tế đời sống của người dân đương sống ngập tràn đói khổ, lầm than Không có con đường nào nữa, Vũ Như
Tô đã thuận ý cung nữ Đan Thiềm mượn tiền và uy danh của tên hôn quân để "xây dựng cho đất nước một tòa lâu đài nguy nga, tráng lệ" Ông sẵn sàng bất chấp mọi thứ, bao gồm việc phải đánh đổi công sức, của cải của nhân dân và mồ hôi xương máu của những người thợ Đây là sự mâu thuẫn giữa mục đích chân chính của người sáng tạo nghệ thuật với con đường tội lỗi, sai lầm Nực cười thay khát vọng cống hiến của người tạo nghệ thuật chìm trong cơn mộng tưởng đã đẩy Đại Việt vào thế đối lập so với lợi ích trực tiếp của nhân dân lao động Cửu Trùng Đài xây càng cao thì càng tốn kém của cải, vật chất, cộng thêm các tác nhân từ dịch bệnh, đại nạn
từ thiên nhiên khác, khiến cho Cửu Trùng Đài trở thành biểu tượng cho khốn khổ, hình ảnh đại diện cho thói sa hoa, trụy lạc, hậu quả nhân dân gánh chịu Ban đầu Vũ Như Tô yêu thương dân, đứng về phía dân, muốn cống hiến sức lực và tài năng để mang đến niềm tự hào cho đất nước nhưng sau đó ông lại bị dân chúng, nhất là những người thợ, họ coi ông như địch nhân Từ chỗ được nhân dân yêu kính, bất đắc dĩ Vũ Như Tô đổi vai thành kẻ thù của họ Đến những chặng cuối của vở kịch, dân chúng không những nguyền rủa oán trách Cửu Trùng Đài mà còn hưởng ứng với những tên chỉ huy nổi loạn, thiêu đốt hết Cửu Trùng Đài, bắt phạt những kẻ tạo
ra nó Nghệ sĩ giỏi giang tên Tô mang lí tưởng nghệ thuật đẹp đẽ nhưng va phải thực tế khắc nghiệt, đi ngược lại tâm nguyện, lợi ích mang tính trực diện của dân chúng Nếu người làm nghệ thuật đó xuất phát từ quyền lợi chính đáng của nhân dân thì không hoàn thiện được ước mơ ngàn thu của mình Đó là gốc rễ tấn bi kịch sâu sa không lối thoát của người nghệ sĩ đẳng cấp Vũ Như Tô
Hay tin có loạn lớn, Đan Thiềm khẩn khoản xin Vũ Như Tô bỏ trốn nhưng ông kiên định, nhất quyết không dời Cửu Trùng Đài, vua Lê bị Trịnh Duy Sản hành thích, Cửu Trùng Đài bị đốt phá, phần lớn thơ xây theo quân phản nghịch, kinh thành rối loạn Lớp thứ bảy đến lớp thứ chín, Đan Thiềm bị bắt rồi đưa ra thiêu đến
Trang 9lìa đời, Cửu Trùng Đài hóa tro bụi, Vũ Như Tô tổn thương, đau xót đến tận cùng và
bị áp giải ra pháp trường Lực lượng phần nhiều nổi loạn là những thợ xây Cửu Trùng Đài, kẻ đứng đầu là Trịnh Duy Sản và đối tượng họ bắt bớ chém giết là Lê Tương Dực, kiến trúc sư là Vũ Như Tô, những người thân tín của họ Đối tượng họ muốn hủy diệt là Cửu Trùng Đài Nguyên nhân dẫn đến xung đột là xây Cửu Trùng Đài, xuất phát từ mục đích của tầng lớp thống trị ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền sống của nhân dân Mâu thuẫn dễ thấy nhất là người chủ trương xây dựng Cửu Trùng Đài - Lê Tương Dực, Vũ Như Tô với nhân dân Tuy nhiên, ta không thể đánh đồng hôn quân Lê Tương Dực với người nghệ sĩ Vũ Như Tô vì mục đích xây dựng Cửu Trùng Đài là khác nhau Lê Tương Dực xây Cửu Trùng Đài để vui chơi, hưởng lạc cùng các cung nhân, còn Vũ Như Tô xây Cửu Trùng Đài làm đẹp đất nước, để cho thế hệ sau một công trình tượng trưng của cái đẹp "cao cả, huy hoàng", "đem hết tài ra xây cho nòi giống một tòa đài hoa lệ, thách cả công trình sau trước, tranh xảo với hóa công" Mâu thuẫn một đã được giải quyết dứt khoát trên lập trường nhân dân, những kẻ đi ngược lại quyền nhân dân đã bị trả giá, Cửu Trùng Đài bị hủy, Lê Tương Dực và những kẻ thân cận của hắn bị giết chết Nhưng lại nảy sinh mâu thuẫn tiếp theo: quan điểm nghệ thuật muôn đời và lợi ích thiết thực của nhân dân, mâu thuẫn này chưa được giải quyết dứt khoát Các mâu thuẫn thường có hai cách xử lí: một là giải quyết hay hai là giải hòa
Mâu thuẫn thứ hai chỉ có thể xử lí bằng cách hòa giải nhưng ở đây lại không được giải quyết như thế Về phía Vũ Như Tô, chỉ vì thực hiện hoài bão nên vô tình gây ra khổ nạn cho người dân Vũ Như Tô có cơ hội duy nhất để giải quyết, chính là tạm thời trốn đi, chờ thời cơ Nhưng ông ấy lại vừa mù quáng, vừa cố chấp nên đến cũng lỡ bỏ qua Khi Cửu Trùng Đài bị đốt, Vũ Như Tô vẫn không hiểu được việc làm của quần chúng và của phe cánh nổi loạn và vì thế đến tận lúc chết Vũ Như Tô vẫn không nhận ra sai lầm của mình , vẫn cho mình là vô đối Về phía nhân dân, lại còn hồ đồ mù quáng hơn cả Vũ Như Tô Họ cứ tưởng đốt xong Cửu Trùng Đài là mọi thứ xong xuôi Trước tiên họ vẫn không hiểu gì về sáng tạo của những người tiến sĩ, trước họ nguyền rủa Vũ Như Tô, sau họ hả hê đốt phá Đây là mâu thuẫn không thể chấm dứt dứt điểm được Đó là mâu thuẫn giữa "cái đẹp" và "cái thiện"
"Cái đẹp" và "cái thiện" không thể điều hòa, dung hợp với nhau "Cái đẹp" bị triệt tiêu thì cái đẹp không còn chỗ sống, mâu thuẫn này chỉ có thể giải quyết ổn thỏa khi đời sống vật chất của nhân dân đã đủ đầy, đời sống tinh thần được nâng cao
Tìm hiểu về mâu thuẫn kịch là một quan trọng để độc giả khám phá chiều sâu tác phẩm Qua xung đột kịch "Vũ Như Tô", Nguyễn Huy Tưởng muốn gửi gắm đến thế hệ sau nhiều giá trị sâu sắc Những giá trị trong đời sống muốn tồn tại thì phải giúp đỡ, bổ sung cho nhau Con người luôn hướng đến cái chân - thiện - mỹ, chúng hòa quyện và không thể tách rời Trong vở kịch Vũ Như Tô, ông là nghệ sĩ tài hoa và yêu cái đẹp đến nồng say, điều đó đã biến thành sự cố chấp khiến ông quên đi mất cái thiện Hậu quả của việc cố chấp là công trình đang dở dang bị hủy
bỏ, bị nhân dân thóa mạ Như vậy, cái đẹp chỉ thực sự tỏa sang khi bắt tay làm bạn đồng hành cùng cái thiện Mục đích Vũ Như Tô không sai nhưng ông đã quên mất chân lí đó Người nghệ sĩ phải có khát khao, có hoài bão lớn, có đam mê theo đuổi cái đẹp, nhưng cần gắn cái đẹp đó với cái thiện, cái mĩ, và quan trọng cần có sự ủng
Trang 10hộ của nhân dân Nhân dân phải thực sự công nhận và lưu giữ thành quả của người nghệ sĩ đó sáng tạo ra thì nó mới trường tồn với thời gian
2.2 Giải mã hành động kịch
Theo Arixtốt: "Hành động là đặc trưng của vở kịch" Hành động kịch là phương tiện cụ thể hóa xung đột kịch, nó là yếu tố duy trì sự phát triển của tác phẩm Hành động kịch trong vở "Vũ Như Tô" được sắp xếp theo một trình tự logic hợp lí, hành động trước là nguyên nhân dẫn đến hành động sau Có thể thấy ở những lớp đầu tiên của hồi thứ nhất, Vũ Như Tô vì hành động không đồng ý xây Cửu Trùng Đài, dẫn cả nhà chạy trốn khi vua triệu gọi mà dẫn đến kết quả bị vây bắt và gông kìm đeo cổ, vì hành động phản đối và xem thường nhà vua mà hậu quả
là gần bị chém đầu, chu di cửu tộc Vì trân quý tài năng của Vũ Như Tô, Đan Thiềm
đã khuyên ông giúp vua xây dựng Cửu Trùng Đài để giữ mạng, an toàn cho gia đình
và thực hiện ước mơ và tài năng của mình Vũ Như Tô quyết định lựa chọn xây Cửu Trùng Đài vì thấy đó chính là cơ hội có thể thi thố tài năng và thực hiện hoài bão Điều này đã dẫn đến kết quả hàng trăm người tử mạng, cuộc sống nhân dân đã khổ càng khổ khiến họ căm phẫn Đó cũng là nguyên nhân dẫn đến sự truy đuổi của quân Trịnh Duy Sản Có thể thấy, không có một yếu tố khách quan nào chi phối, quyết định hành động của nhân vật Cái kết mà nhân vật Vũ Như Tô gặp phải là hoàn toàn do ông đã lựa chọn Ông cũng có thể thoát chết nếu ông nghe lời Đan Thiềm bỏ trốn, nhưng ông đã lựa chọn ở lại sống chết cùng Cửu Trùng Đài: "Tôi không trốn đâu Người quân tử không bao giờ sợ chết Mà vạn nhất có chết, thì cũng phải để cho mọi người biết rằng công việc mình làm chính đại quang minh Tôi sống với Cửu Trùng Đài, chết cũng với Cửu Trùng Đài Tôi không thể xa Cửu Trùng Đài một bước Hồn tôi để cả đây, thì tôi chạy đi đâu?" bởi vì cái mộng, cái ước mơ của người nghệ sĩ trong ông "ta chỉ có một hoài bão là tô điểm đất nước, đem hết tài ra xây cho nòi giống một tòa đài hoa lệ, thách cả những công trình sau trước, tranh tinh xảo với hóa công"
Hơn nữa, hành động kịch giúp thúc đẩy mâu thuẫn kịch và thể hiện tính cách, tâm trạng, phẩm chất của nhân vật một cách rõ ràng, cụ thể Hành động không chấp thuận làm Cửu Trùng Đài lúc đầu, "đem vợ con đi trốn", nói Lê Tương Dực là tên cua hôn quân, bạo chúa, nói Đan Thiềm là "tuồng ăn chơi" Những hành động này thể hiện Vũ Như Tô là một người cương trực, luôn mong muốn mang nghệ thuật để phục vụ những điều chân chính Ông quyết định nghe lời khuyên của Đan Thiềm xây dựng Cửu Trùng Đài Nó thể hiện được niềm đam mê lớn lao với nghệ thuật và mong muốn cống hiến cho nghệ thuật của Vũ Như Tô Hành động đến tìm Vũ Như Tô của Đan Thiềm đã giải quyết xung đột trong nội tâm của Vũ Như Tô Nó chấm dứt xung đột bên trong,, xung đột nội tâm đầu tiên của Vũ Như
Tô, nhưng nó lại mở ra một xung đột mới Khi gặp vua để đưa yêu sách, ông xin cho anh em thợ của mình được coi trọng cho thấy ông là người có tình nghĩa, trọng hữu, trọng tài Mục đích những hành động ấy của ông là xây dựng cho đất nước một tòa kiến trúc nguy nga, tráng lệ Những hành động trên đã góp phần thúc đẩy xung đột truyện, khiến mâu thuẫn giữa nhân dân và hôn quân ngày càng gay gắt, dân đen ngày càng căm ghét quan lại, vua chúa và Vũ Như Tô Khi ấy, vì hoài bão của mình
mà Vũ Như Tô có hành động bỏ bê vợ con, không màng mạng sống thợ thuyền,