1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics (luận văn thạc sỹ luật)

130 112 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 2,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó chính là lý do để quy định về miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics được đặt ra nhằm bảo vệ các thương nhân khi gặp phải những rủi ro k

Trang 1

CHÂU THỊ NGỌC TUYẾT

MIỄN TRÁCH NHIỆM VÀ GIỚI HẠN TRÁCH NHIỆM CỦA THƯƠNG NHÂN KINH DOANH DỊCH VỤ LOGISTICS

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2021

Trang 2

MIỄN TRÁCH NHIỆM VÀ GIỚI HẠN TRÁCH NHIỆM CỦA THƯƠNG NHÂN KINH DOANH DỊCH VỤ LOGISTICS

Chuyên ngành: Luật Kinh tế Định hướng nghiên cứu

Mã số: 8380107

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Thư

Học viên: Châu Thị Ngọc Tuyết

Lớp: Cao học Luật, Khóa 30

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2021

Trang 3

văn Thạc sĩ “Miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh

doanh dịch vụ logistics” là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới

sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Thị Thƣ, đảm bảo tính trung thực, khách

quan khi phân tích, trích dẫn tài liệu tham khảo Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm cho lời cam đoan của mình

Tác giả

Châu Thị Ngọc Tuyết

Trang 4

BLHH 2015 Bộ luật Hàng hải số 95/2015/QH13 ngày 25/11/2015 được

sửa đổi bổ sung bởi Luật số 35/2018/QH14 ngày 20/11/2018

Luật GTĐTNĐ

Luật Giao thông đường thủy nội địa số 23/2004/QH11 ngày 15/06/2004 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 48/2014/QH13 ngày 17/06/2014, được sửa đổi bổ sung bởi Luật số 35/2018/QH14 ngày 20/11/2018

Luật HKDDVN

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 66/2006/QH11 ngày 29/06/2006 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 61/2014/QH13ngày 21/11/2014

Luật GTĐB

Luật Giao thông đường bộ số 23/2008/QH12 ngày 13/11/2008 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 48/2014/QH13 ngày 17/06/2014

Nghị định

163/2017/NĐ-CP

Nghị định số 163/2017/ND-CP của Chính phủ ngày 30/12/2017 quy định về kinh doanh dịch vụ logistics

Nghị định

87/2009/NĐ-CP

Nghị định số 87/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 19/10/2009 về vận tải đa phương thức, được sửa đổi bởi Nghị định số 89/2011/NĐ-CP và Nghị định 144/2018/NĐ-CP Nghị định

10/2020/NĐ-CP

Nghị định 10/2020/NĐ-CP của Chính phủ ngày 17/01/2020 quy định về kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận tải bằng

HĐXX Hội đồng xét xử

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Dự kiến các điểm mới, các đóng góp mới về mặt lý luận 6

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM VÀ GIỚI HẠN TRÁCH NHIỆM CỦA THƯƠNG NHÂN KINH DOANH DỊCH VỤ LOGISTICS 7

1.1 Khái niệm về miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm 7

1.1.1 Khái niệm về miễn trách nhiệm 7

1.1.2 Khái niệm về giới hạn trách nhiệm 8

1.2 Khái quát về dịch vụ logistics 9

1.2.1 Khái niệm dịch vụ logistics 9

1.2.2 Đặc điểm của dịch vụ logistics 13

1.3 Cơ sở lý luận về miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics 16

1.3.1 Cơ sở lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics 16

1.3.2 Cơ sở lý luận về miễn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics 18

1.3.3 Cơ sở lý luận về giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics 20

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 23

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM CỦA THƯƠNG NHÂN KINH DOANH DỊCH VỤ LOGISTICS- KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 24

2.1 Thực trạng pháp luật về miễn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics 24

2.1.1 Chủ thể kinh doanh dịch vụ logistics được miễn trách nhiệm 24 2.1.2 Phạm vi trách nhiệm được miễn của thương nhân kinh doanh dịch vụ

Trang 6

logistics 26

2.1.3 Các căn cứ được miễn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics 27

2.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về miễn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics 45

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 48

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GIỚI HẠN TRÁCH NHIỆM CỦA THƯƠNG NHÂN KINH DOANH DỊCH VỤ LOGISTICS - KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 49

3.1 Thực trạng pháp luật về giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics 49

3.1.1 Chủ thể kinh doanh dịch vụ logistics được giới hạn trách nhiệm 49

3.1.2 Phạm vi trách nhiệm được giới hạn 49

3.1.3 Các căn cứ được giới hạn trách nhiệm 55

3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics 65

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 69

KẾT LUẬN 70

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay, logistics là một trong những ngành dịch vụ đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam và thế giới Theo Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA), tốc độ phát triển của ngành logistics ở Việt Nam những năm gần đây đạt 14-16%, với quy mô 40-42 tỉ USD/năm Tham gia thị trường logistics gồm khoảng 3.000 doanh nghiệp trong nước và khoảng 25 tập đoàn giao nhận hàng đầu thế giới kinh doanh dưới nhiều hình thức Thị trường logistics của Việt Nam tương đương 21-25% GDP, nhưng 80% thị phần này rơi vào tay doanh nghiệp nước ngoài1

Để phát triển dịch vụ logistics, chính sách pháp luật chính là một trong những yếu tố tác động mạnh mẽ nhất Quy định pháp luật phù hợp, minh bạch, đảm bảo được lợi ích cho thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics sẽ góp phần thúc đẩy

sự phát triển của ngành dịch vụ này Tuy nhiên, dịch vụ logistics là hoạt động tiềm

ẩn nhiều rủi ro, thương nhân có thể phải chịu trách nhiệm với những thiệt hại rất lớn trong quá trình cung ứng dịch vụ Hàng hóa trong quá trình dịch chuyển đó có thể xảy ra hư hại do xếp dỡ, nâng hạ, vận chuyển với nhiều lý do chủ quan hoặc khách quan Ví dụ, đại dịch Covid 19 vào đầu năm 20202, tàu Ever Given mắc kẹt ở Suez vào đầu năm 20213,… những sự kiện này đã ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động logistics toàn cầu Do đó, để đảm bảo an toàn pháp lý cho thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics trước những rủi ro có thể gặp phải, pháp luật cần có những quy định rõ ràng và chi tiết về trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics Đó chính là lý do để quy định về miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics được đặt ra nhằm bảo vệ các thương nhân khi gặp phải những rủi ro không thể lường trước được và đảm bảo cân bằng lợi ích của các bên trong hợp đồng dịch vụ logistics Tuy nhiên, vấn đề miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics được quy định trong LTM 2005 còn mang tính chất chung chung, chưa rõ ràng Bên cạnh đó, quy định giữa các luật chuyên ngành còn có sự chồng chéo trong quy định

1

“Logistics cộng hưởng 2 làn sóng”, https://www.vla.com.vn/logistics-cong-huong-2-lan-song.html , truy cập ngày 30/5/2021

2

Ngô Khắc Lễ, “Coronavirus và hạn chế rủi ro trong giao nhận, vận tải”,

https://www.vla.com.vn/coronavirus-va-han-che-rui-ro-trong-giao-nhan-van-tai.html , truy cập ngày 6/5/2021

3

Nguyễn Tương & Ngô Khắc Lễ, “Tắc nghẽn kênh đào Suez: Chuỗi cung ứng toàn cầu bị ảnh hưởng nặng”,

https://www.vla.com.vn/tac-nghen-kenh-dao-suez-chuoi-cung-ung-toan-cau-bi-anh-huong-nang.html , truy cập ngày 23/5/2021

Trang 8

giới hạn trách nhiệm trong dịch vụ vận tải đa phương thức và quy định về vấn đề giới hạn trách nhiệm trong lĩnh vực vận tải ô tô chưa rõ ràng Do đó, gây ra nhiều khó khăn trong việc áp dụng pháp luật để giải quyết các tranh chấp phát sinh liên quan đến miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics

Vì vậy, việc nghiên cứu vấn đề miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics trên cơ sở quy định của pháp luật thương mại Việt Nam và thực tiễn áp dụng nhằm tìm ra những bất cập từ đó đề xuất hướng giải quyết, kiến nghị hoàn thiện pháp luật là vấn đề cần thiết Đó là lý do tác

giả lựa chọn đề tài: “Miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics” để làm đề tài Luận văn Thạc sĩ luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Qua quá trình tìm hiểu tác giả nhận thấy đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài này Tuy không nhiều nhưng các công trình nghiên cứu cũng đề cập và nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh khác nhau của vấn đề miễn trách nhiệm, giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics, cụ thể như sau:

 Sách:

- Giáo trình thương mại hàng hóa và dịch vụ, trường Đại học luật Thành phố

Hồ Chí Minh, nhà xuất bản Hồng Đức- Hội luật gia Việt Nam, năm 2017 (tái bản lần thứ 1, có sửa đổi bổ sung) Giáo trình này đã đề cập và phân tích quy định pháp luật về hoạt động logistics nói chung, trong đó có miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics Tuy nhiên, chưa phân tích sâu về phần lý luận của miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics cũng như thực tiễn áp dụng

 Luận văn, Luận án:

- Đào Thị Cấm (2020), Pháp luật về hợp đồng dịch vụ logistics, Luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện Khoa học xã hội Trong Luận án này, tác giả đã tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật về hợp đồng dịch vụ logistics, thực tiễn giao kết

và thực hiện hợp đồng dịch vụ logistics, điều kiện giao dịch chung và hợp đồng dịch

vụ logistics theo mẫu của một số doanh nghiệp tại Việt Nam Tuy nhiên, đối với quy định miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics, tác giả chỉ phân tích một cách khái quát, chưa đi sâu phân tích về

lý luận và thực tiễn của vấn đề này

- Hà Việt Hưng (2017), Hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường

Trang 9

biển và vấn đề hoàn thiện pháp luật Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội Trong công trình nghiên cứu này, tác giả đã tập trung nghiên cứu quy định pháp luật về hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển Trong

đó, tác giả đã có những phân tích về trách nhiệm của người chuyên chở nhưng chưa

đi vào nghiên cứu cụ thể vấn đề miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của người chuyên chở trong hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển

- Lê Văn Chung (2015), Pháp luật về bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực bưu chính ở Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề pháp lý về bồi thường thiệt hại trong lĩnh vưc bưu chính Tuy nhiên, luận văn chưa đi sâu vào nghiên cứu vấn đề miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm trong lĩnh vực bưu chính

- Phạm Minh Đức (2010), Giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực bưu chính ở Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn đã nghiên cứu cụ thể về quy định giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực bưu chính Tuy nhiên, công trình nghiên cứu dựa vào Pháp lệnh Bưu chính viễn thông năm 2002 và hiện nay đã bị hết hiệu lực bởi sự ra đời của Luật Bưu chính 2010

- Nguyễn Thị Thu Hằng (2008), Trách nhiệm của người vận chuyển trong hợp đồng vận tải đa phương thức, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn nghiên cứu về trách nhiệm của người vận chuyển trong hợp đồng vận tải

đa phương thức Bên cạnh đó, tác giả có phân tích về giới hạn trách nhiệm của người vận chuyển trong hợp đồng vận tải đa phương thức nhưng công trình này đã nghiên cứu dựa trên văn bản quy phạm pháp luật đã bị hết hiệu lực và hiện nay quy định này đã được thay thế bằng nghị định mới

- Nguyễn Thị Hạ Vy (2007), Pháp luật về kinh doanh logistics tại Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh Trong Luận văn này, tác giả nghiên cứu một cách tổng quát về quy định của pháp luật về dịch vụ logistics Tuy nhiên, tác giả chưa đi sâu phân tích về lý luận và thực tiễn của vấn đề miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics Vấn đề giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics của Luận văn này được nghiên cứu theo quy định của nghị định cũ và hiện nay nghị định này

đã bị thay thế bằng nghị định mới

 Khóa luận tốt nghiệp:

- Dương Hoài My (2020), Nguyễn Thị Thu Diệu (2020), Đinh Thị Thùy

Trang 10

Linh (2019), Miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics, Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh Trong những bài nghiên cứu này, các tác giả đã phân tích những vấn đề cơ bản của miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics theo quy định của pháp luật hiện hành Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này chưa đi sâu tìm hiểu về mặt lý luận của vấn đề này Ngoài ra, các khóa luận chỉ tập trung nghiên cứu phần lý thuyết mà chưa phân tích sâu vào phần thực tiễn

 Báo, tạp chí:

- Tác giả Vũ Thị Nhung, “Hoàn thiện pháp luật về dịch vụ logistics ở Việt Nam”, Tạp chí Dân chủ & Pháp luật, số 7 (232)/ 2011, tr 32-36 Tác giả đã phân

tích và đưa ra một số bất cập trong quy định của pháp luật Trong đó, tác giả đã đưa

ra một bất cập cụ thể trong quy định của pháp luật liên quan đến giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics là không nói rõ giới hạn tổn thất cho khách hàng là giới hạn tổn thất hiện tại hay giới hạn tổn thất tương lai Tuy nhiên, tác giả chưa có sự đối chiếu với thực tiễn và kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về dịch vụ logistics còn chung chung

- Đào Thị Cấm, “Cần sửa đổi một số quy định để minh bạch hóa hoạt động logistics ở Việt Nam”, Tạp chí Dân chủ & Pháp luật, số 9 (282)/2015, tr 28-29 và

Lê Thành Trung, “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật dịch vụ logistics

ở Việt Nam”, Tạp chí Dân chủ & Pháp luật, số 8 (221)/2010, tr 9-16 Các tác giả

đã đưa ra một số bất cập trong quy định của pháp luật thương mại và đề xuất kiến nghị sửa đổi Tuy nhiên, bài viết chưa đề cập đến những vấn đề pháp lý liên quan đến miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch

vụ logistics

Những công trình trên đã nghiên cứu một cách khái quát về các quy định của pháp luật đối với dịch vụ logistics nói chung nhưng chưa đi sâu nghiên cứu những khía cạnh cụ thể như vấn đề miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics Bên cạnh đó, những quy định pháp luật trong một số công trình nghiên cứu trước đây hiện nay đã hết hiệu lực và đã được sửa đổi

bổ sung bằng các quy định mới Như vậy, đến thời điểm hiện tại chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu sâu về cơ sở lý luận và vấn đề thực tiễn áp dụng của quy định miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics được điều chỉnh trong các văn bản mới đang có hiệu lực

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 11

 Mục đích nghiên cứu của đề tài:

Đề tài nhằm làm rõ những vấn đề lý luận, những quy định pháp luật về miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics Trên cơ sở đó, đưa ra đề xuất các kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics

 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:

- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về miễn trách nhiệm, giới hạn trách nhiệm, dịch vụ logistics, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics và những vấn đề

lý luận về trách nhiệm bồi thiệt hại, miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics để từ đó lý giải được nguyên nhân tại sao quy định của pháp luật lại trao cho thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics quyền được miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm

- Nghiên cứu quy định của pháp luật về miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics theo quy định của LTM 2005 Nghị định 163/2017/NĐ-CP và quy định của các pháp luật chuyên ngành trong lĩnh vực logistics như BLHH, Luật GTĐTNĐ, Luật HKDDVN, Luật Bưu chính,… nhằm làm rõ chủ thể, phạm vi và căn cứ được miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics

- Nghiên cứu thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật thông qua các tranh chấp liên quan đến dịch vụ logistics nhằm chỉ ra những bất cập

đã xảy ra trên thực tế liên quan đến đề tài và đề xuất những kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics

4 Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu:

Luận văn nghiên cứu quy định pháp luật về miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics theo pháp luật Việt Nam

 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Luận văn tập trung nghiên cứu quy định về miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm riêng của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics được quy định trong Điều 237, Điều 238 LTM 2005, Điều 5 Nghị định 163/2017/NĐ-CP và quy định của pháp luật chuyên ngành về dịch vụ logistics như BLHH, Luật HKDDVN, Luật GTĐTNĐ, Luật Bưu chính 2010, Luật GTĐB, Luật Đường sắt 2017 Nghị định 87/2009/NĐ-CP

Trang 12

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp phân tích, bình luận: phương pháp này được sử dụng trong các chương của Luận văn để phân tích các vấn đề lý luận, các quy định của pháp luật, các vụ việc thực tiễn liên quan đến miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics Trên cơ sở đó, tác giả sử dụng phương pháp bình luận để đưa ra nhận xét, đánh giá sự phù hợp của các quy định pháp luật liên quan đến đề tài nghiên cứu

- Phương pháp so sánh: tác giả sử dụng phương pháp này chủ yếu trong Chương 2 và Chương 3 để so sánh những quy định pháp luật thương mại về vấn đề miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics so với quy định pháp luật chuyên ngành về từng lĩnh vực cụ thể và so sánh các quy định pháp luật chuyên ngành với một số Công ước Quốc tế Ngoài ra, tác giả sử dụng phương pháp này để đối chiếu giữa thực tiễn và cơ sở lý luận, từ đó thấy rõ những điểm bất cập giữa thực tiễn và luật hoặc ngược lại

- Phương pháp tổng hợp: tác giả sử dụng phương pháp này để tổng hợp những quan điểm của tác giả đối với luật thực định, thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật và hướng kiến nghị hoàn thiện Ngoài ra, tác giả sử dụng phương pháp này để tóm tắt và đưa ra kết luận nội dung từng chương và kết luận chung của Luận văn

6 Dự kiến các điểm mới, các đóng góp mới về mặt lý luận

So với tình hình nghiên cứu hiện nay, Luận văn có những đóng góp mới sau:

Thứ nhất, Luận văn góp phần làm rõ cơ sở lý luận về miễn trách nhiệm, giới

hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics

Thứ hai, Luận văn làm rõ vấn đề miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm

của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics theo pháp luật Việt Nam hiện nay bao gồm các quy định pháp luật hiện hành trong LTM 2005, Nghị định 163/2017/NĐ-

CP, các luật chuyên ngành Luận văn nêu được bất cập và đề xuất kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về chủ thể được miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm, các trường hợp được miễn trách nhiệm, phạm vi trách nhiệm được giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics và sự chồng chéo của pháp luật chuyên ngành đối với vấn đề này

Trang 13

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM VÀ GIỚI HẠN TRÁCH NHIỆM

CỦA THƯƠNG NHÂN KINH DOANH DỊCH VỤ LOGISTICS

1.1 Khái niệm về miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm

1.1.1 Khái niệm về miễn trách nhiệm

Pháp luật Việt Nam không đưa ra khái niệm “miễn trách nhiệm” trong hợp

đồng thương mại cũng như trong hợp đồng kinh doanh dịch vụ logistics mà chỉ nêu

ra các trường hợp các bên tham gia hợp đồng được miễn trách nhiệm tại Điều 294, Điều 237 LTM 2005, Điều 151 BLHH 2015, Điều 41 Luật Bưu chính 2010,… Tuy nhiên, ở một số văn bản quy phạm pháp luật khác ở Việt Nam và trên thế giới

không sử dụng cụm từ “miễn trách nhiệm” mà lại sử dụng “không phải chịu trách nhiệm” Theo đó, BLDS 2015 sử dụng cụm từ “không phải chịu trách nhiệm”4 dùng

để chỉ những trường hợp bên vi phạm được loại trừ trách nhiệm khi có hành vi vi phạm hợp đồng Ngoài ra, Hiệp định khung ASEAN về vận tải đa phương thức

cũng sử dụng “không chịu trách nhiệm” để thể hiện nội dung loại trừ trách nhiệm

cho thương nhân kinh doanh vận tải đa phương thức Mặc dù, quy định pháp luật sử

dụng nhiều cụm từ khác nhau, nhưng bản chất ý nghĩa của “miễn trách nhiệm” và

“không phải chịu trách nhiệm” đều mang nghĩa là loại trừ trách nhiệm cho bên vi

phạm khi bên này có hành vi vi phạm hợp đồng

Do đó, để hiểu rõ về “miễn trách nhiệm” tác giả đã tham khảo một số định nghĩa sau: theo Từ điển tiếng Việt “miễn là cho khỏi phải chịu, khỏi phải làm”5

,

theo Baron’s Law Dictionary định nghĩa điều khoản miễn trách nhiệm là “điều khoản trong một văn bản pháp lý miễn trừ trách nhiệm cho một bên cho hành vi của bên này trừ những hành vi vi phạm cố ý hoặc bất cẩn nghiêm trọng”6 Bên cạnh đó,

theo tác giả Lê Thị Tuyết Hà “miễn trừ trách nhiệm là việc người có quyền trong hợp đồng thương mại không áp dụng một phần trách nhiệm hoặc toàn bộ trách nhiệm cho bên có nghĩa vụ khi bên này có hành vi vi phạm hợp đồng”7 Theo tác giả

Đỗ Văn Đại, miễn trách nhiệm được hiểu là “trách nhiệm đã phát sinh nhưng được

Lê Thị Tuyết Hà (2016), Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng ở Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ,

Học viện khoa học xã hội, tr.70

Trang 14

miễn nên không phải chịu trách nhiệm”8 Từ những quan điểm nêu ở trên, miễn trách nhiệm có nghĩa là miễn toàn bộ trách nhiệm Miễn trách nhiệm được áp dụng theo các căn cứ miễn trách nhiệm do luật định, theo sự thỏa thuận của các bên hoặc bên bị vi phạm chủ động không áp dụng trách nhiệm pháp lý đối với bên có hành vi

vi phạm nghĩa vụ hợp đồng

Để hiểu được khái niệm “miễn trách nhiệm” cần xuất phát từ khái niệm

“trách nhiệm pháp lý” Theo đó, trách nhiệm pháp lý được hiểu là “hậu quả pháp lý bất lợi về vật chất hoặc tinh thần được áp dụng bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với các chủ thể vi phạm pháp luật”9 Khái niệm trách nhiệm pháp lý này được hiểu theo nghĩa hẹp vì cho rằng trách nhiệm pháp lý khi có hành vi vi phạm pháp luật Tuy nhiên, vi phạm pháp luật chỉ là một trong các nguồn làm phát sinh trách nhiệm pháp lý10 Trách nhiệm pháp lý không chỉ phát sinh khi có hành vi vi phạm pháp luật mà còn có nguồn gốc từ vi phạm hợp đồng trong các quan hệ pháp luật khác như dân sự, thương mại, lao động,… Tuy nhiên, trong nội dung của Luận văn, tác giả đang xét đến trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng phát sinh khi bên có nghĩa vụ vi phạm dưới hình thức không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ không đúng cam kết đối với bên

có quyền11 Do đó, có thể hiểu trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng là hậu quả pháp lý bất lợi mà bên vi phạm hợp đồng phải gánh chịu Vì vậy, từ những phân tích trên, tác giả đưa ra khái niệm miễn trách nhiệm là bên vi phạm không phải chịu toàn bộ trách nhiệm pháp lý khi có hành vi vi phạm

1.1.2 Khái niệm về giới hạn trách nhiệm

Theo từ điển Tiếng Việt, “giới hạn là phạm vi, mức độ nhất định, không thể hoặc không được phép vượt qua”12 Giới hạn trách nhiệm là phạm vi trách nhiệm nhất định mà bên có hành vi vi phạm phải gánh chịu đối với bên bị vi phạm Mức giới hạn trách nhiệm có thể là mức tối đa hoặc mức tối thiểu hay có thể gọi là mức giới hạn dưới hoặc mức giới hạn trên Tùy vào quy định của luật, sự thỏa thuận của các bên, mức giới hạn trách nhiệm có thể được xác định là mức tối đa hoặc mức tối

Khúc Thị Trang Nhung (2014), Những vấn đề về miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp

đồng theo pháp luật Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội tr.7

12

Hoàng Phê, tlđd (5), tr 405

Trang 15

thiểu Chẳng hạn như trong LTM 2005 xác định giới hạn cho thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics được xác định là mức tối đa không vượt quá tổn thất đối với toàn bộ hàng hóa13 Tuy nhiên, theo quy định trong lĩnh vực bưu chính, pháp luật lại xác định mức giới hạn trách nhiệm dựa theo mức trách nhiệm tối thiểu14

Ngoài ra,

theo tác giả Lê Nết “Một biến thể của điều khoản miễn trừ trách nhiệm là điều khoản hạn chế trách nhiệm (limitation clause)”15 Do đó, xét về bản chất, giới hạn trách nhiệm được hiểu là miễn một phần trách nhiệm cho bên có hành vi vi phạm

Khác với trường hợp miễn trách nhiệm, pháp luật thương mại Việt Nam có quy định khái niệm về giới hạn trách nhiệm Tuy nhiên, pháp luật không quy định

về khái niệm giới trách nhiệm nói chung mà chỉ quy định về về khái niệm giới hạn

trách nhiệm cho thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics, cụ thể “Giới hạn trách nhiệm là hạn mức tối đa mà thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho khách hàng đối với những tổn thất phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện dịch vụ logistics theo quy định tại Nghị định này”16 Qua đó, có thể thấy giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics được xác định là hạn mức trách nhiệm tối đa mà thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics phải chịu Từ đó, theo tác giả, giới hạn trách nhiệm là miễn một phần trách nhiệm pháp lý cho bên có hành vi vi phạm

1.2 Khái quát về dịch vụ logistics

1.2.1 Khái niệm dịch vụ logistics

Để tìm hiểu về khái niệm dịch vụ logistics, trước hết cần phải tìm hiểu về khái niệm dịch vụ và khái niệm logistics Đối với khái niệm dịch vụ, theo Philip

Kotler và Kellers (2006): “Dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất 17” Bên

cạnh đó, từ điển Tiếng Việt đưa ra cách giải thích tương đối ngắn gọn: “Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công”18

Từ đó, có thể hiểu dịch vụ là những công việc và kết quả mà một bên (được gọi là bên cung cấp) có thể cung cấp cho bên kia (được gọi là bên sử

Lê Nết (2005), “Góp ý dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) về điều khoản miễn trừ trách nhiệm và hạn chế

quyền lợi trong hợp đồng”, Tạp chí Khoa học Pháp lý, số 2 (27)/2005, tr 14

Trang 16

dụng) nhằm thỏa mãn nhu cầu của bên sử dụng và nhận thanh toán

Về mặt lịch sử, thuật ngữ “logistics” có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp cổ - được

sử dụng trong toán học từ thế kỷ XVII với tên gọi “logistikos”19 có nghĩa là kỹ năng

tính toán Trong lĩnh vực quân sự, “logistikos” được gọi là hậu cần Trong các cuộc

chiến tranh cổ đại của đế chế Hy Lạp và La Mã, những chiến binh với chức danh là logistikas chịu trách nhiệm chu cấp, phân phối vũ khí và nhu yếu phẩm đảm bảo điều kiện cho quân sĩ hành quân an toàn từ bản doanh đến các vị trí khác20

Công việc hậu cần này có ý nghĩa rất quan trọng đến cục diện của chiến tranh khi các bên tìm mọi cách để duy trì, bảo vệ nguồn cung ứng của mình và tìm cách triệt phá nguồn cung ứng của đối phương Trong thế chiến thứ hai, vai trò của “logistics”

Ngày nay, thuật ngữ “logistics” không chỉ được sử dụng trong lĩnh vực quân

sự mà còn được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực kinh tế Trong hoạt động kinh tế, dịch vụ logistics đã ra đời, tồn tại, phát triển một cách nhanh chóng và đang từng ngày trở thành hoạt động quan trọng trong giao thương quốc tế Trên thế giới, thuật

ngữ “logistics” đã được sử dụng phổ biến nhưng đến nay vẫn chưa có một khái

niệm thống nhất về dịch vụ logistics Hiện nay trên thế giới, logistics được biết đến với những khái niệm chủ yếu như:

- Hội đồng quản trị logistics Hoa Kỳ (The Council of Logistics

Management) năm 1991 đã đưa ra định nghĩa như sau: “Logisitics là quá trình lập

kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm soát một cách có hiệu quả về mặt chi phí của quá trình lưu chuyển và dự trữ nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩm cùng những thông tin liên quan từ điểm xuất phát của quá trình sản xuất đến nơi tiêu thụ cuối cùng nhằm mục đích thỏa mãn được yêu cầu của khách hàng”22 Định

19

Đoàn Thị Hồng Vân (2010), Logistics những vấn đề cơ bản, Nxb Lao động- Xã hội, tr.25

20

Lê Thành Trung, “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật dịch vụ logistics ở Việt Nam”, Tạp chí

Dân chủ & Pháp luật, số 8 (221)/2010, tr 9

Trang 17

nghĩa này đưa ra một cái nhìn tổng thể về hoạt động logistics trong quá trình kinh doanh, từ việc lên kế hoạch, tổ chức, thực hiện đến việc vận chuyển và tiêu thụ sản phẩm Bên cạnh đó, định nghĩa này còn đề cao vai trò của khách hàng xuyên suốt trong quá trình vận hành, hướng đến mục đích duy nhất là đáp ứng nhu cầu của khách hàng

- Theo tài liệu giảng dạy của World Maritime University 1999, logistics dưới

góc nhìn của quản trị chuỗi cung ứng được định nghĩa như sau: “Logistics là quá trình tối ưu hóa về vị trí, lưu trữ và chu chuyển các tài nguyên / yếu tố đầu vào từ điểm xuất phát đầu tiên là nhà cung cấp, qua nhà sản xuất, người bán buôn, bán lẻ đến tay người tiêu dùng cuối cùng thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế”23

Định nghĩa này cho thấy đối tượng tác động của logistics không phải là hàng hóa

mà logistics chỉ thực hiện việc chu chuyển hàng hóa từ khi còn là yếu tố đầu vào cho đến khi trở thành sản phẩm đến tay người tiêu dùng cuối cùng

- Theo Martin Christopher (UK) “Logistics là quá trình quản trị chiến lược thu mua, di chuyển và dự trữ nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm (và dòng thông tin tương ứng) trong một công ty và qua các kênh phân phối của công ty

để tối đa hóa lợi nhuận hiện tại và tương lai thông qua việc hoàn tất các đơn hàng với chi phí thấp nhất”24 Quan điểm này cho rằng logistics chính là quá trình quản trị chiến lược từ khâu chuẩn bị nguyên vât liệu để sản xuất đến việc phân phối sản phẩm nhằm tối ưu hóa lợi nhuận và hoàn tất các đơn hàng với chi phí thấp nhất

- Tại Việt Nam, theo tác giả Đoàn Thị Hồng Vân đã đưa ra quan điểm về

dịch vụ logistics như sau: “Logistics là quá trình tối ưu hóa về vị trí và thời điểm vận chuyển và dự trữ nguồn tài nguyên từ điểm đầu tiên của dây chuyền cung ứng đến tay người tiêu dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế”25

Quan điểm này đã nhấn mạnh mục đích của hoạt động logistics là chu chuyển các yếu tố đầu vào và các yếu tố đầu ra từ nhà cung cấp, nhà sản xuất, nhà phân phối đến tay người tiêu dùng cuối cùng một cách hiệu quả nhất

Qua các định nghĩa trên cho thấy, logistics không phải là một dịch vụ đơn lẻ Logistics luôn là một chuỗi các dịch vụ liên quan đến hàng hóa như: làm các thủ tục giấy tờ, tổ chức vận tải, bao bì đóng gói, ghi nhãn hiệu, lưu kho, lưu bãi, phân phát

23

Ma Shuo (1999), Logistics and Supply Chain Management, Tài liệu giảng dạy của World Maritime

University

24

Christopher, M (1986), “Implementing Logistics Strategy”, International Journal of Physical Distribution

& Materials Management, Vol 16 No 1, pp.52-62

25

Đoàn Thị Hồng Vân, tlđd (19), tr.31

Trang 18

hàng hóa (nguyên liệu hay thành phẩm) tới các địa chỉ khác nhau26 Chính vì vậy, khi nói tới logistics người ta bao giờ cũng nói tới một chuỗi hệ thống dịch vụ (logistics system chain)

Từ khái niệm logistics và khái niệm dịch vụ, có thể hiểu dịch vụ logistics là một chuỗi các dich vụ liên quan đến hàng hóa như: làm các thủ tục giấy tờ, tổ chức vận tải, bao bì đóng gói, ghi nhãn hiệu, lưu kho, lưu bãi, phân phát hàng hóa (nguyên liệu hay thành phẩm) tới các địa chỉ khác nhau do bên cung cấp dịch vụ thực hiện theo yêu cầu của bên sử dụng dịch vụ và được nhận thù lao

Bên cạnh đó, trong quy định của pháp luật Việt Nam, lần đầu tiên khái niệm dịch vụ logistics được pháp điển hóa Cụ thể tại Điều 233 LTM 2005 quy định

“Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi

ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao” Theo khái niệm “dịch vụ logistics” trong

LTM 2005, dịch vụ logistics bao gồm các công việc liên quan đến hàng hóa như nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch

vụ khác có liên quan tới hàng hóa Khái niệm này cũng tương tự đối với thông lệ quốc tế và quan điểm trong lĩnh vực kinh tế được nêu ở trên Thương nhân chỉ cần cung cấp một dịch vụ trong các dịch vụ như nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao

bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa cũng được pháp luật công nhận là thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics Hiện nay ở Việt nam, số lượng thương nhân cung cấp một dịch vụ trong chuỗi các dịch vụ logistics chiếm phần lớn Bởi vì, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics ở Việt Nam đa số có quy mô vừa và nhỏ chưa thể đáp ứng được đầy đủ điều kiện về vật chất, trang thiết bị để cung ứng một số hoặc toàn bộ các dịch vụ trong chuỗi cung ứng logistics Cụ thể, theo số liệu thống kê, ở Việt Nam hiện nay có trên 70% doanh nghiệp logistics đang hoạt động hiện nay có quy mô vốn vừa và nhỏ, chỉ có 7% doanh nghiệp có vốn trên 1.000 tỷ đồng, trong đó nhóm vốn lớn chủ yếu là các

26

Châu Thị Ngọc Tuyết (2020), Pháp luật về dịch vụ logistics tại Việt Nam: Bất cập và kiến nghị hoàn thiện,

Kỷ yếu hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020, tr 614

Trang 19

doanh nghiệp đa quốc gia27 Do đó, LTM 2005 đưa ra khái niệm logistics trên là phù hợp với thông lệ quốc tế và thực trạng nền kinh tế hiện nay của nước ta Vì vậy, theo quan điểm của tác giả, dịch vụ logistics là việc thương nhân cung cấp một hoặc một số dịch vụ bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao Đây cũng là khái niệm được sử dụng trong Luận văn này

1.2.2 Đặc điểm của dịch vụ logistics

- Chủ thể của dịch vụ logistics bao gồm chủ thể cung ứng dịch vụ logistics

và khách hàng Chủ thể cung ứng dịch vụ logistics và khách hàng thiết lập mối

quan hệ thông qua hợp đồng dịch vụ logistics Cụ thể, khách hàng là bên sử dụng dịch vụ logistics, thanh toán thù lao cho bên cung ứng dịch vụ và bên cung ứng dịch

vụ là bên thực hiện công việc đối với hàng hóa theo mong muốn, chỉ dẫn của khách hàng để hưởng thù lao

+ Chủ thể cung ứng dịch vụ logistics: Đây là bên thực hiện công việc đối với hàng hóa theo mong muốn và chỉ dẫn của khách hàng Chủ thể cung ứng dịch vụ logistics là thương nhân có đăng ký kinh doanh để thực hiện một hoặc một số hoạt động logistics cụ thể.Thương nhân chính là chủ thể thường xuyên và chủ yếu trong hoạt động thương mại Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế, cá nhân thực hiện hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh28

Trong đó, tổ chức kinh tế bao gồm doanh nghiệp được thành lập hoạt động theo Luật Doanh nghiệp (doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh); hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được thành lập theo Luật hợp tác xã; các tổ chức kinh tế thành lập theo luật đầu tư kinh doanh29 Cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh đó chính là hộ kinh doanh30 Do đó, thương nhân bao gồm doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và hộ kinh doanh

Logistics là một loại hình dịch vụ bao gồm nhiều công việc khác nhau liên

Trang 20

quan đến hàng hóa Cho nên, trong thực tế, không có thương nhân đăng ký kinh doanh dịch vụ logistics nói chung mà thương nhân sẽ phải đăng ký cụ thể những lĩnh vực logistics mà mình mong muốn thực hiện Trong đó, một số dịch vụ thuộc ngành nghề kinh doanh có điều kiện như các dịch vụ vận tải, dịch vụ chuyển phát31,… nhưng một số dịch vụ khác lại không thuộc ngành nghề kinh doanh có điều kiện như lưu kho, lưu bãi, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu…Vì vậy, khi muốn thực hiện một hoặc một số dịch vụ logistics cụ thể, thương nhân phải đăng ký kinh doanh đối với từng dịch vụ cụ thể và đáp ứng điều kiện đối với những dịch vụ kinh doanh có điều kiện32

Ví dụ, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics muốn kinh doanh vận tải biển nội địa thì một trong những điều kiện mà doanh nghiệp này phải đáp ứng là phải có quyền sử dụng hợp pháp tối thiểu 01 tàu biển mang cờ quốc tịch Việt Nam phù hợp với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia do Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải ban hành33

+ Khách hàng:là cá nhân, tổ chức có hàng hóa cần gửi hoặc cần nhận và có nhu cầu sử dụng dịch vụ logistics Pháp luật không đặt cho chủ thể này bất kì một yêu cầu nào cả Vì vậy, khách hàng có thể là thương nhân, hoặc không phải là thương nhân, có thể là chủ sở hữu hàng hóa hoặc không phải là chủ sở hữu hàng hóa

- Nội dung của dịch vụ logistics bao gồm nhiều dịch vụ khác nhau liên

quan đến sự dịch chuyển hàng hóa và kiểm soát hàng hóa từ nơi sản xuất đến điểm

tiêu thụ cuối cùng Các hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics bao gồm “dịch vụ xếp dỡ container, trừ dịch vụ cung cấp tại các sân bay; dịch vụ kho bãi container thuộc dịch vụ hỗ trợ vận tải biển; dịch vụ kho bãi thuộc dịch vụ hỗ trợ mọi phương thức vận tải, dịch vụ chuyển phát, dịch vụ đại lý vận tải hàng hóa; dịch vụ đại lý làm thủ tục hải quan (bao gồm cả dịch vụ thông quan…”34 Danh sách các dịch vụ thuộc lĩnh vực logistics bao gồm các dịch vụ vận tải mà Việt Nam đã cam kết mở cửa trong WTO như vận tải đường biển, vận tải đường thủy nội địa, vận tải đường

bộ, vận tải đường sắt, vận tải đường hàng không, vận tải đa phương thức35 Dịch vụ logistics bao gồm nhiều công việc khác nhau bởi vì bản chất của dịch vụ logistics là một chuỗi các dịch vụ có mối liên hệ chặt chẽ với nhau từ cung ứng nguyên vật liệu

Trang 21

cho đến việc đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng cuối cùng Do đó, logistics không phải là một hoạt động đơn lẻ mà nó bao gồm nhiều hoạt động khác nhau nên thuật ngữ logistics bao giờ cũng ở dạng số nhiều

- Dịch vụ logistics có tính rủi ro cao

Như đã nêu ở đặc điểm trên, dịch vụ logistics rất đa dạng gồm một chuỗi các dịch vụ gắn liền với hàng hóa như vận chuyển, phân phối, lưu kho bãi của hàng hóa trong nước và ngoài nước Hay nói cách khác dịch vụ logistics bao gồm những hoạt động liên quan trực tiếp đến hoạt động vận tải hoặc hỗ trợ hoạt động vận tải

Có thể nhận thấy đối tượng của dịch vụ logistics không phải là hàng hóa, mà là những công việc liên quan trực tiếp đến hàng hóa Dịch vụ logistics, đặc biệt là dịch

vụ vận tải chịu rủi ro rất lớn từ các yếu tố khách quan và đặc biệt là chịu ảnh hưởng rất lớn bởi thiên nhiên như bão, sóng lớn, biển động và tai nạn như mắc cạn, chìm đắm, cháy nổ hay đâm va36

Trên các tuyến đường vận chuyển, rủi ro rất dễ xảy ra

và có thể dẫn đến thiệt hại rất lớn về hàng hóa Mức độ rủi ro trên đường biển sẽ khác mức độ rủi ro trên đường thủy nội địa, đường hàng không, đường bộ, đường sắt Mỗi loại hình dịch vụ trong chuỗi logistics có mức độ rủi ro khác nhau nên quy định pháp luật đối với mức độ gánh chịu rủi ro của các dịch vụ cũng sẽ khác nhau Điều này dẫn đến quy định về miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm cũng sẽ khác nhau giữa các loại hình dịch vụ Các trường hợp miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm trong dịch vụ vận tải được quy định riêng trong từng luật chuyên ngành

và những quy định này khác nhau tương ứng với mức độ rủi ro của từng loại hình vận tải Còn vấn đề miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics thực hiện những dịch vụ khác như chuyển phát, đại lý làm thủ tục hải quan, kho bãi,… thì áp dụng quy định của Luật Bưu chính 2010 và LTM

2005

- Dịch vụ logistics là hoạt động cung ứng những công việc liên quan đến

hàng hóa, không tác động đến số lượng, chất lượng của hàng hóa Bản chất của

dịch vụ logistics chính là loại hình dịch vụ được thực hiện với rất nhiều công đoạn khác nhau từ nhận hàng, vận chuyển hàng hóa, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, đóng gói, ghi ký mã hiệu, Đặc thù của dịch vụ logistics là người làm dịch

vụ có nghĩa vụ quản lý toàn bộ hàng hóa do khách hàng hoặc người được khách hàng ủy quyền giao Công việc mà thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics thực

36

Các loại rủi ro phổ biến trong vận tải đường biển bien-trong-van-tai-duong-bien-160-26.html , truy cập ngày 30/4/2021

Trang 22

https://vantaiduongbien.com.vn/cac-loai-rui-ro-pho-hiện cho khách không trực tiếp tác động đến hàng hóa, không làm gia tăng giá trị của hàng hóa một cách trực tiếp Trong hoạt động cung ứng dịch vụ logistics, hàng hóa không phải là đối tượng trong quan hệ hợp đồng này mà đó chính là công việc được thực hiện, cụ thể đó là những công việc liên quan đến hàng hóa như giao nhận, vận chuyển, lưu kho, làm thủ tục hải quan Khác với hợp đồng mua bán hàng hóa thì bên bán phải có trách nhiệm đối với chất lượng và số lượng hàng hóa khi hàng hóa không đúng với thỏa thuận, tuy nhiên trong quan hệ hợp đồng dịch vụ logistics thì thương nhân thực hiện các công việc liên quan đến hàng hóa Trong khi đó, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics phải tuân thủ và thực hiện theo những chỉ dẫn của khách hàng đưa ra mà không có toàn quyền xử lý các tình huống liên quan Điều đó dẫn đến tình trạng vượt quá tầm kiểm soát của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics đối với hàng hóa của khách hàng Cho nên, pháp luật thương mại quy định thêm một số trường hợp thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics được miễn trách nhiệm khi xảy ra tổn thất đối với hàng hóa

Trên đây là những đặc điểm cơ bản của dịch vụ logistics Một ngành dịch vụ được xem là dịch vụ logistics khi và chỉ khi nó mang trong mình những đặc điểm trên Ngoài ra, những đặc điểm này còn dùng để phân biệt hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics với các hoạt động thương mại khác

1.3 Cơ sở lý luận về miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics

1.3.1 Cơ sở lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics

Bồi thường thiệt hại là chế tài quan trọng và cơ bản nhất nhằm bảo đảm lợi ích của các bên khi hợp đồng bị vi phạm, tạo ra khả năng đảm bảo lợi ích một cách tối đa cho mọi bên có liên quan trong quan hệ hợp đồng37 Đây là chế tài nhằm buộc bên có hành vi gây ra thiệt hại phải khắc phục hậu quả đã gây ra cho bên bị thiệt hại bằng cách đền bù bằng vật chất đối với những tổn thất gây ra cho bên bị thiệt hại

Chế tài bồi thường thiệt hại được áp dụng dựa trên nguyên tắc bồi thường toàn bộ Có nghĩa là bên có hành vi vi phạm phải bồi thường toàn bộ thiệt hại thực

tế, trực tiếp và các khoản lợi mà bên bị phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm Nguyên tắc bồi thường toàn bộ trong chế tài bồi thường thiệt hại là

37

Nguyễn Đô (2018), Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế ở

Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc sĩ, Học viện khoa học xã hội, tr.16

Trang 23

hệ luận của nguyên tắc pacta sunt servanda38 Cụ thể, theo nguyên tắc pacta sunt servanda thì các bên phải thực hiện đúng cam kết như đã thỏa thuận trong hợp đồng Trường hợp một bên có hành vi vi phạm hợp đồng, có nghĩa là bên đó không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trong hợp đồng

mà gây thiệt hại cho bên kia thì bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạm bồi thường thiệt hại cho những tổn thất mà bên này phải gánh chịu Có thể nhận thấy chế tài bồi thường thiệt hại có ý nghĩa thay thế nghĩa vụ phải thực hiện đúng hợp đồng bằng việc phải trả một khoản tiền tương ứng với thiệt hại mà bên bị vi phạm phải gánh chịu trong trường hợp bên vi phạm đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trong hợp đồng Do đó, nguyên tắc bồi thường thiệt hại là bồi thường toàn bộ các thiệt hại là hậu quả của hành vi vi phạm hợp đồng

Nguyên tắc bồi thường toàn bộ đóng vai trò là nguyên tắc cơ bản trong chế tài bồi thường thiệt hại Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp nguyên tắc này được áp dụng một cách tuyệt đối mà nó có thể được áp dụng một cách linh hoạt

và mềm dẻo thông qua những trường hợp bên có hành vi vi phạm gây ra thiệt hại nhưng họ được hưởng quyền miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm Các trường hợp miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics là một ngoại lệ của chế tài bồi thường thiệt hại trong hoạt động thương mại nói chung Bởi vì xuất phát từ đặc điểm của dịch vụ logistics là loại hình dịch vụ mang tính rủi ro cao cho thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động thương mại chỉ phát sinh khi có đầy đủ các yếu tố sau đây: có hành vi vi phạm hợp đồng, có thiệt hại thực tế

và mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hậu quả39 Qua đó, có thể thấy yếu tố lỗi không phải là căn cứ bắt buộc làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động thương mại Tuy nhiên, trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong dịch vụ logistics là trường hợp ngoại lệ của trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung trong hoạt động thương mại Đối với dịch vụ logistics, yếu tố lỗi đóng vai trò hết sức quan trọng Bởi vì, yếu tố lỗi là căn cứ để xác định thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics có được hưởng quyền miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm hay không Cụ thể, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics được hưởng quyền miễn trách nhiệm đối với tổn thất hàng hóa trong trường hợp tổn thất đó xả ra là do

38

Bùi Thị Thanh Hằng (2017), Nguyên tắc bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng, Tạp chí Đại học Quốc

gia Hà Nội: Luật học,, tập 33, số 2 (2017), tr.41

39

Điều 303 LTM 2005

Trang 24

lỗi của khách hàng hoặc người được khách hàng ủy quyền, do làm theo đúng chỉ dẫn của khách hàng hoặc người được khách hàng ủy quyền, do khuyết tật của hàng hóa40 Đối với quyền được hưởng giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics, yếu tố lỗi được dùng làm căn cứ xác định thương nhân có được hưởng quyền giới hạn trách nhiệm hay không Theo đó, thương nhân sẽ không được hưởng quyền giới hạn trách nhiệm dành riêng cho dịch vụ logistics nếu thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics có lỗi cố ý gây ra mất mát, hư hỏng, chậm trễ hoặc đã hành động hoặc không hành động một cách mạo hiểm và biết rằng sự mất mát, hư hỏng, chậm trễ đó chắc chắn xảy ra41

1.3.2 Cơ sở lý luận về miễn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics

Miễn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics là miễn trách nhiệm về những tổn thất đối với hàng hóa phát sinh Trách nhiệm về những tổn thất đối với hàng hóa thuộc vào loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại Theo mục 1.1.1, miễn trách nhiệm là bên vi phạm không phải chịu trách nhiệm pháp lý khi có hành vi vi phạm Cho nên, miễn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch

vụ logistics là thương nhân kinh doanh kinh doanh dịch vụ logistics không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với tổn thất hàng hóa khi có thiệt hại xảy ra

Việc thừa nhận các trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại dành riêng cho thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics xuất phát từ việc áp dụng một cách linh hoạt, mềm dẻo nguyên tắc pacta sunt servanda Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics là trường hợp ngoại

lệ của chế tài bồi thường thiệt hại Theo nguyên tắc pacta sunt servanda, hợp đồng ràng buộc các bên nên bên vi phạm phải chịu trách nhiệm pháp lý đối với hành vi vi phạm của mình trong quá trình thực hiện hợp đồng Theo đó, nếu áp dụng cứng nhắc nguyên tắc pacta sunt servanda trong trường hợp thiệt hại xảy ra do lỗi của khách hàng hoặc thiệt hại xảy ra nằm ngoài tầm kiểm soát42 của thương nhân là trái với công lý và tạo ra sự bất công đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics

Do đó, pháp luật hợp đồng cũng còn dựa trên nguyên tắc công bằng43, theo đó trong một số trường hợp bên có hành vi vi phạm có thể được hưởng quyền miễn trách

Đại học Luật Tp HCM (2017), Giáo trình thương mại hàng hóa và dịch vụ, Phan Huy Hồng, NXB Hồng

Đức- Hội Luật gia Việt Nam, tr 440

Trang 25

nhiệm, có nghĩa là họ không phải chịu trách nhiệm khi có hành vi vi phạm

Trong nhiều trường hợp thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không thực hiện được các nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng, gây tổn thất cho khách hàng Tuy nhiên, không phải tổn thất nào thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics cũng phải chịu trách nhiệm Bởi vì, đối với những tổn thất gây ra cho khách hàng không do ý chí chủ quan hoặc không do lỗi của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics thì ngoài những trường hợp miễn trách nhiệm chung dành cho các chủ thể hoạt động thương mại, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics còn được hưởng các trường hợp miễn trách nhiệm dành riêng cho mình

Vấn đề miễn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics xuất phát từ bản chất dịch vụ logistics là một hoạt động thương mại với đặc thù riêng biệt Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics trong quá trình cung ứng dịch vụ luôn phải chịu những rủi ro khách quan, đặc biệt là trong hoạt động vận tải Bên cung ứng dịch vụ logistics còn phải chịu ảnh hưởng nhiều từ những yếu tố khách quan và lệ thuộc nhiều vào những chỉ dẫn của khách hàng cũng như không thể kiểm soát được những vấn đề liên quan đến chất lượng bên trong của hàng hóa, đặc biệt

là trong điều kiện vận tải container ngày càng trở nên phổ biến Ngoài đặc điểm thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics phải đối mặt với nhiều rủi ro khi thực hiện hợp đồng cung ứng dịch vụ logistics, công việc thương nhân thực hiện là hoạt động liên quan đến hàng hóa, không tác động đến số lượng, chất lượng của hàng hóa Do đó, đối với những thiệt hại liên quan đến hàng hóa không phải do ý chí chủ quan, không phải do sự bất cẩn, tắc trách của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics gây ra thì thương nhân sẽ được miễn trách nhiệm Đó là những hợp tổn thất hàng hóa xảy ra do lỗi của khách hàng hoặc người được khách hàng ủy quyền, do khuyết tật của hàng hóa, do thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics là đúng theo chỉ dẫn của khách hàng hoặc người được khách hàng ủy quyền Những trường hợp miễn trách nhiệm dành cho thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics đưa ra dựa trên nguyên tắc công bằng Bởi vì, sẽ là không công bằng cho thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics nếu họ phải chịu trách nhiệm pháp lý khi họ thực hiện công việc đúng với thỏa thuận và mẫn cán nhưng thiệt hại đối với hàng hóa xảy ra khi thương nhân đó không có lỗi và nằm ngoài sự mong muốn của họ Ngoài ra, trong quá trình cung cấp dịch vụ logistics có những tổn thất xảy ra đối với hàng hóa phần lớn không xuất phát từ hành vi vi phạm của thương nhân mà là do lỗi của khách hàng hoặc người được khách hàng ủy quyền, do khuyết tật của hàng hóa, do thương

Trang 26

nhân kinh doanh dịch vụ logistics là đúng theo chỉ dẫn của khách hàng hoặc người được khách hàng ủy quyền Trong những trường hợp đó, khách hàng đã thực hiện đúng nghĩa vụ của mình, tổn thất đối với hàng hóa xảy ra nằm ngoài ý muốn của thương nhân Nếu yêu cầu thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics phải chịu trách nhiệm đối với những tổn thất nêu trên sẽ là bất hợp lý và không công bằng Vì vậy, cần phải quy định về miễn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics đối với tổn thất hàng hóa để nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics

Vì những lý do trên, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics được hưởng thêm quyền miễn trách nhiệm đối với tổn thất hàng hóa Như đã nêu ở mục 1.3.1, yếu tố lỗi là một trong những yếu tố làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics Do đó, trong những trường hợp thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không có lỗi dẫn đến tổn thất của hàng hóa, họ sẽ không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với tổn thất của hàng hóa Những trường hợp thương nhân không có lỗi gây ra tổn thất của hàng hóa

đó là do lỗi của khách hàng hoặc người được khách hàng ủy quyền, do khuyết tật của hàng hóa, do thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics là đúng theo chỉ dẫn của khách hàng hoặc người được khách hàng ủy quyền Ngoài ra, dịch vụ logistics là dịch vụ tiềm ẩn nhiều rủi ro nên thời hạn khiếu nại và thời hiệu khởi kiện cũng được rút ngắn hơn so với các thương nhân hoạt động thương mại khác Bên cạnh đó, dịch

vụ logistics là dịch vụ bao gồm nhiều công đoạn, đặc biệt liên quan đến vận tải nên thương nhân cũng được hưởng các trường hợp miễn trách nhiệm riêng tương ứng với dịch vụ vận tải thương nhân thực hiện

1.3.3 Cơ sở lý luận về giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch

vụ logistics

Theo khái niệm giới hạn trách nhiệm ở mục 1.1.2, giới hạn trách nhiệm là miễn một phần trách nhiệm pháp lý cho bên có hành vi vi phạm Cho nên, giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics là miễn một phần trách nhiệm pháp lý cho thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics khi có hành vi vi phạm hợp đồng Tương tự như miễn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics thì giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics là một trong những trường hợp ngoại lệ của trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động thương mại

Về nguyên tắc, trong quan hệ hợp đồng, bên có hành vi vi phạm nghĩa vụ mà

Trang 27

gây thiệt hại cho bên kia thì phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại Như đã nêu ở mục 1.3.1 nguyên tắc bồi thường toàn bộ được xem là nguyên tắc cơ bản của chế định bồi thường thiệt hại Cụ thể, bên có hành vi vi phạm phải bồi thường toàn bộ thiệt hại thực tế, trực tiếp và các khoản lợi mà bên bị phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm Toàn bộ thiệt hại thực tế, trực tiếp bao gồm thiệt hại về hàng hóa và những thiệt hại khác như chi phí để ngăn chặn và hạn chế thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút, Tuy nhiên, xuất phát từ bản chất dịch vụ logistics mang tính rủi ro cao nên thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics được ưu ái hơn trong vấn đề gánh chịu trách nhiệm đối với tổn thất hàng hóa Việc quy định về giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics nhằm giảm thiểu mức trách nhiệm đối với tổn thất hàng hóa trong quá trình kinh doanh cho thương nhân Do đó, phạm vi trách nhiệm mà thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics phải gánh chịu khi xảy ra tổn thất đối với hàng hóa sẽ hẹp hơn nhiều so với toàn bộ thiệt hại xảy ra Ngoài ra, trong nhiều trường hợp, thù lao mà thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics được nhận nhỏ hơn so với giá trị của hàng hóa mà họ phải thực hiện các công việc giao nhận, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan 44 Ví dụ, trong Bản án sơ thẩm số 05/2019/KDTM-ST ngày 12/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang về việc giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển, giá trị thiệt hại đối với hàng hóa là 230,962,174 VNĐ, còn thù lao vận chuyển của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics là 20,900,000 VNĐ Thực

tế khi xảy ra tổn thất đối với hàng hóa thường sẽ dẫn đến thiệt hại rất lớn, nhiều trường hợp thiệt hại này còn lớn hơn rất nhiều lần so với mức thù lao mà thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics nhận được khi thực hiện công việc đó Vì vậy, mức giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics nằm trong khoảng giá trị tổn thất của toàn bộ hàng hóa là phù hợp

Một trong những căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics là có lỗi của thương nhân Trong trường hợp thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không có lỗi thì đương nhiên họ được miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với tổn thất của hàng hóa Còn nếu thương nhân có lỗi thì họ sẽ phải chịu trách nhiệm Tuy nhiên, như phân tích phía trên, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics được hưởng thêm quyền giới hạn trách nhiệm Có nghĩa là thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics chỉ phải chịu

44

Nguyễn Thị Dung (2020), Pháp luật về hợp đồng thương mại và đầu tư- những vấn đề pháp lý cơ bản,

NXB Chính trị quốc gia sự thật, tr 251

Trang 28

một phần trách nhiệm, phần trách nhiệm còn lại sẽ được loại bỏ Vì vậy, các vấn đề đặt ra đó là có phải trong mọi trường hợp thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics đều được hưởng quyền giới hạn trách nhiệm? Đối với hành vi vi phạm với lỗi cố ý hoặc với lỗi vô ý thì thương nhân có được giới hạn trách nhiệm hay không? Việc xác định hình thức lỗi cố ý và lỗi vô ý trong vi phạm hợp đồng có vai trò quan trọng trong việc xác định giới hạn và phạm vi của trách nhiệm bồi thường thiệt hại

- Đối với lỗi cố ý, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics cố ý hành động hoặc không hành động cho dù thương nhân nhận thức được hành vi của mình là hành vi vi phạm hợp đồng và thấy trước được thiệt hại đối với hàng hóa sẽ xảy ra Khi các bên có hành vi vi phạm với lỗi cố ý thì chắc chắn bên vi phạm không thể được coi là trung thực45

Nguyên tắc “thiện chí và trung thực”46 là một trong những nguyên tắc nền tảng của việc ký kết và thực hiện hợp đồng trong pháp luật Việt Nam Nếu giới hạn trách nhiệm cho thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics cố ý gây ra thiệt hại đối với hàng hóa, việc này đi ngược lại với nguyên tắc thiện chí và trung thực Do đó, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics có hành vi vi phạm hợp đồng với lỗi cố ý thì không nên được hưởng quyền giới hạn trách nhiệm

- Đối với lỗi vô ý, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được Với ý chí không mong muốn thiệt hại xảy ra đối với hàng hóa của khách hàng và có ý thức ngăn chặn thiệt hại xảy ra, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics nên được giới hạn trách nhiệm Tuy nhiên, hành vi gây thiệt hại do lỗi bất cẩn nghiêm trọng là trường hợp bên gây thiệt hại do không tuân thủ những tiêu chuẩn cẩn trọng tối thiểu Hành vi không tuân thủ những tiêu chuẩn cẩn trọng tối thiểu là một hành vi không thể chấp nhận được Do đó bên thực hiện hành vi này không được miễn trách nhiệm hoặc giới hạn trách nhiệm47

Vì vậy, theo tác giả, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không nên được giới hạn trách nhiệm đối với lỗi cố ý và lỗi vô ý do sự bất cẩn nghiêm trọng

45

Dương Anh Sơn, Nguyễn Ngọc Sơn, “Tác động của hình thức lỗi đến việc xác định trách nhiệm hợp đồng

nhìn từ góc độ nguyên tắc thiện chí và trung thực”, Tạp chí khoa học pháp lý số 1 (38), 2007, tr 34

46

Khoản 3 Điều 3 BLDS 2015

47

Nguyễn Lan Anh (2016), “Một số vấn đề pháp lý về điều khoản miễn trách nhiệm”, Tạp chí Quản lý Kinh

tế Quốc tế (Journal of International Economics and Management), số 86 (2016), tr 7

Trang 29

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chương 1 đã khái quát về khái niệm, đặc điểm của miễn trách nhiệm, giới hạn trách nhiệm, dịch vụ logistics, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics cũng như đưa ra những cơ sở lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại, miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics

Thuật ngữ “logistics” được sử dụng rộng rãi và phổ biến trong nhiều lĩnh vực

như quân đội, pháp luật, kinh tế Logistics là một chuỗi các dịch vụ từ khâu cung ứng, sản xuất đến tay người tiêu dùng cuối cùng bao gồm các hoạt động hoạch định, thực hiện và kiểm soát hiệu quả, tiết kiệm trong việc chu chuyển và lưu trữ hàng hóa, dịch vụ và thông tin liên quan với mục tiêu đáp ứng nhu cầu khách hàng Dịch

vụ logistics mang trong mình nhiều đặc điểm riêng biệt so với các ngành dịch vụ khác, đó là chủ thể của dịch vụ logistics bao gồm thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics và khách hàng, nội dung bao gồm nhiều dịch vụ khác nhau, dịch vụ mang tính rủi ro cao và hoạt động cung ứng dịch vụ không tác động đến số lượng, chất lượng của hàng hóa

Xuất phát từ những đặc điểm của dịch vụ logistics cũng như thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics, pháp luật đã dành cho thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics sự ưu ái hơn so với thương nhân khác khi quy định về trường hợp miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm dành riêng cho họ Quy định này rất cần thiết

và có ý nghĩa đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics khi họ thực hiện hoạt động kinh doanh với nhiều rủi ro và thực hiện các công việc liên quan đến hàng hóa, không tác động đến số lượng chất lượng của hàng hóa Bản chất của miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics chính là miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại và giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics được hưởng nhiều trường hợp miễn trách nhiệm hơn và mức giới hạn trách nhiệm thấp hơn so với các thương nhân kinh doanh ngành nghề khác

Trang 30

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM CỦA

THƯƠNG NHÂN KINH DOANH DỊCH VỤ LOGISTICS-

KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 2.1 Thực trạng pháp luật về miễn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics

2.1.1 Chủ thể kinh doanh dịch vụ logistics được miễn trách nhiệm

Theo khoản 1 Điều 234 LTM 2005 quy định: “Thương nhân kinh doanh dịch

vụ logistic là doanh nghiệp có đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ logistic theo quy định của pháp luật” Thương nhân bao gồm các doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp

hợp tác xã và hộ kinh doanh48 Do đó, có thể hiểu LTM 2005 quy định chủ thể kinh doanh dịch vụ logistic chỉ có thể là doanh nghiệp, mà không thể là hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và hộ kinh doanh Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 1 Điều 67 Luật GTĐB 2008 quy định thương nhân kinh doanh dịch vụ vận tải bằng xe ô tô là doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh Dịch vụ vận tải hàng hóa bằng ô tô là một trong những loại hình dịch vụ logistics theo quy định tại Điều 3 Nghị định 163/2017/NĐ-CP nên thương nhân kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hóa bằng ô tô cũng được gọi là thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics Qua đó, có thể nhận thấy sự chênh nhau trong quy định của LTM 2005 và Luật GTĐB 2008 về chủ thể kinh doanh dịch vụ logistics nói chung và chủ thể kinh doanh dịch vụ vận tải bằng ô

tô nói riêng Cụ thể, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics chỉ là doanh nghiệp, còn thương nhân kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hóa bằng ô tô có thể là doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh Bên cạnh đó, hoạt động cung cấp dịch vụ vận tải hàng hóa bằng ô tô là một trong những hoạt đông kinh doanh dịch vụ logistics Do

đó, một câu hỏi đặt ra là những thương nhân kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hóa bằng ô tô đăng ký kinh doanh dưới hình thức hợp tác xã, hộ kinh doanh, không phải

là doanh nghiệp thì có được xem là thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics hay không? Những thương nhân đó có được hưởng quyền miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics hay không? Thực tiễn hiện nay, có nhiều thương nhân là hộ kinh doanh, hợp tác xã có tham gia vào chuỗi

48

Phan Huy Hồng, tlđd (43), tr 25

Trang 31

cung ứng dịch vụ logistic, như vận tải, đóng gói, kiểm đếm…49 Nhiều thương nhân kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hóa bằng ô tô không chỉ đăng ký kinh doanh dưới loại hình doanh nghiệp mà còn đăng ký dưới hình thức hợp tác xã, hộ kinh doanh

Ví dụ, một số hợp tác xã có đăng ký kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hóa đường bộ như Hợp tác xã Dịch vụ vận tải Thanh Hà, Hợp tác xã Dịch vụ vận tải Bình Minh50

Vậy thì những hợp tác xã này có được hưởng quyền miễn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics hay không?

Theo quan điểm của tác giả, việc xác định chủ thể kinh doanh dịch vụ logistics sẽ phụ thuộc vào loại hình dịch vụ mà họ cung cấp có thuộc vào danh mục dịch vụ logistics hay không, chứ không phụ thuộc vào mô hình kinh doanh mà họ đăng ký thành lập Vì vậy, theo quan điểm của tác giả, thương nhân kinh doanh dịch

vụ vận tải hàng hóa bằng ô tô đăng ký kinh doanh dưới loại hình doanh nghiệp, hợp tác xã hay hộ kinh doanh đều là thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics và họ chính là chủ thể được hưởng quyền miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics Việc xác định chủ thể kinh doanh dịch vụ logistics có ý nghĩa rất quan trọng Bởi vì, nếu là chủ thể kinh doanh dịch vụ logistics thì họ sẽ được hưởng nhiều đặc quyền hơn so với những thương nhân hoạt động thương mại thông thường Cụ thể đó là quyền được miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm dành riêng cho thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics

Ngoài cụm từ “thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics” dùng để chỉ chủ

thể được hưởng quyền miễn trách nhiệm dành riêng cho thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics theo quy định của LTM 2005, quy định của pháp luật chuyên ngành sử dụng nhiều tên gọi khác nhau đối với chủ thể được hưởng quyền miễn trách nhiệm trong dịch vụ logistics Cụ thể, đối với dịch vụ vận tải biển đó là người vận chuyển51, đối với dịch vụ vận tải thủy nội địa đó là người kinh doanh vận tải thủy nội địa52, đối với dịch vụ vận tải hàng không đó là người khai thác tàu bay53

, đối với dịch vụ vận tải đường sắt đó là doanh nghiệp kinh doanh vận tải đường sắt54, đối với dịch vụ bưu chính đó là doanh nghiệp cung ứng dịch vụ bưu chính55

Trang 32

2.1.2 Phạm vi trách nhiệm được miễn của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics

Khoản 1 Điều 237 LTM 2005 quy định những trường hợp thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không phải chịu trách nhiệm về những tổn thất đối với hàng

hóa phát sinh Có thể nhận thấy, “trách nhiệm về những tổn thất đối với hàng hóa”

thuộc vào loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại Do đó, phạm vi trách nhiệm mà thương nhân được miễn khi thuộc vào các trường hợp tại khoản 1 Điều 237 LTM

2005 chỉ là trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà không bao gồm các trách nhiệm khác như buộc thực hiện đúng hợp đồng, phạt vi phạm, tạm ngưng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiên hợp đồng và hủy bỏ hợp đồng Có nghĩa, song song với thiệt hại hàng hóa xảy ra, nếu thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics thực hiện các hành vi vi phạm thì vẫn phải chịu các chế tài khác khi đáp ứng đủ điều kiện áp dụng đối với chế tài đó như buộc thực hiện đúng hợp đồng, phạt vi phạm, tạm ngưng hợp đồng, đình chỉ hợp đồng và hủy bỏ hợp đồng

Ngoài ra, đối với chế tài bồi thường thiệt hại trong hoạt động thương mại nói chung, giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên

bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm56 Trong đó, tổn thất thực

tế, trực tiếp có thể bao gồm tổn thất đối với hàng hóa, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại57,… Cho nên, “miễn trách nhiệm về những tổn thất đối với hàng hóa” theo khoản 1 Điều 237 LTM 2005, có nghĩa là miễn trách nhiệm bồi

thường thiệt hại đối với hàng hóa mà không bao gồm các thiệt hại khác như chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, các khoản lợi trực tiếp mà bên vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm,…

Bên cạnh đó, nếu như thương nhân không có lỗi gây ra sự chậm trễ hoặc thực hiện dịch vụ sai địa chỉ thì thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics còn được miễn trách nhiệm với những khoản lợi mà khách hàng đáng lẽ được hưởng tại

khoản 2 Điều 237 LTM2005 Theo đó, “khoản lợi mà khách hàng đáng lẽ được hưởng” chính là một phần giá trị bồi thường thiệt hại58 Ngoài ra, “sự chậm trễ hoặc thực hiện dịch vụ sai địa chỉ” có nghĩa trường hợp miễn trách nhiệm này áp dụng

đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics có cung cấp dịch vụ giao nhận

Trang 33

hàng hóa59 Cho nên, nếu thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics về giao nhận hàng hóa không có lỗi trong việc giao hàng chậm hoặc giao sai địa điểm thì thương nhân sẽ không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với khoản lợi mà khách hàng đáng lẽ được hưởng

Do đó, theo Điều 237 LTM 2005 thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics

được miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với “tổn thất hàng hóa” theo các trường hợp được nêu tại khoản 1 và “những khoản lợi đáng lẽ được hưởng của khách hàng” theo khoản 2 Qua đó, có thể thấy thương nhân kinh doanh dịch vụ

logistics có nhiều cơ hội để được miễn trách nhiệm hơn so với các thương nhân thực hiện hoạt động thương mại thông thường

Trong thực tiễn xét xử, khi thuộc vào các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 237 LTM 2005 thì thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics được miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với tổn thất hàng hóa Theo Bản án số 28/2019/KDTM-ST ngày 11/11/ 2019 về tranh chấp hợp đồng dịch vụ logistics của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa- tỉnh Đồng Nai Cụ thể, tranh chấp giữa bên thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics- công ty DT L VN nhận vận chuyển 3 lô hàng cho khách hàng- công ty OT Sau khi giao hàng, phát hiện có 02 lô hàng bị móp méo HĐXX nhận định bên khách hàng đã khiếu nại về tổn thất hàng hóa quá

14 ngày kể từ ngày giao hàng theo khoản 1 Điều 237 LTM 2005 Do đó, công ty

DT L VN được miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với 2 lô hàng bị bóp méo

do quá trình vận chuyển gây ra Nội dung bản án này sẽ được trình bày cụ thể và bình luận tại điểm e mục 2.1.3

2.1.3 Các căn cứ được miễn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics

a Tổn thất là do lỗi của khách hàng hoặc người được khách hàng ủy quyền

Khi tổn thất hàng hóa phát sinh do lỗi của khách hàng hoặc người được khách hàng ủy quyền thì thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics được miễn trách nhiệm đối với tổn thất hàng hóa phát sinh60 Theo quy định này có thể thấy yếu tố lỗi ở đây bao gồm lỗi cố ý và lỗi vô ý Tuy nhiên, LTM 2005 không có quy định như thế nào là lỗi Theo nguyên tắc áp dụng luật, trong trường hợp này LTM 2005 không có quy định về lỗi nên sẽ dẫn chiếu đến quy định tại Điều 364 BLDS 2015 để

Trang 34

xem xét đến yếu tối lỗi khi có hành vi vi phạm hợp đồng Theo đó, lỗi cố ý là trường hợp một người nhận thức được hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc tuy không mong muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra Lỗi vô ý là trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được Từ đó, có thể hiểu khi khách hàng hoặc người được khách hàng ủy quyền có lỗi, dù là lỗi cố ý hay lỗi vô ý, đều phải chịu trách nhiệm do lỗi của mình gây ra đối với tổn thất hàng hóa Đồng nghĩa với việc thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics được miễn trách nhiệm đối với tổn thất hàng hóa do lỗi của khách hàng hoặc người được khách hàng ủy quyền

Tuy nhiên, quy định này chỉ là “do lỗi của khách hàng hoặc người được khách hàng

ủy quyền” mà không quy định rõ là do hoàn toàn lỗi hay chỉ cần một phần lỗi của

khách hàng hoặc người được khách hàng ủy quyền Theo như phân tích tại mục 1.3.2, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không có lỗi gây ra thiệt hại đối với hàng hóa thì sẽ được miễn toàn bộ trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với hàng hóa Do đó, trường hợp miễn trách nhiệm này có thể hiểu là do hoàn toàn lỗi của khách hàng hoặc người được khách hàng ủy quyền gây ra Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra đó là nếu thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics có một phần lỗi gây ra thiệt hại thì thương nhân có được miễn một phần trách nhiệm về tổn thất hàng hóa tương ứng với phần tổn thất không do lỗi của mình gây ra hay không

Trong khi đa số các quy định của pháp luật chuyên ngành đối với từng lĩnh vực cụ thể trong dịch vụ logistics đều có quy định về trường hợp miễn trách nhiệm

do lỗi của khách hàng Tuy nhiên, các quy định này còn tồn tại một số khác biệt xuất phát từ bản chất của từng ngành nghề dịch vụ khác nhau trong dịch vụ logistics Pháp luật chuyên ngành quy định về căn cứ miễn trách nhiệm này đối với từng lĩnh vực dịch vụ cụ thể như sau:

- Pháp luật chuyên ngành về lĩnh vực vận tải đều có quy định về trường hợp miễn trách nhiệm này ví dụ như Luật GTĐTNĐ, BLHH, Nghị định số 87/2009/NĐ-

CP về vận tải đa phương thức Đối với trường hợp miễn trách nhiệm này, các văn bản nêu trên đều quy định tương tự với LTM 2005 Tuy nhiên, tùy thuộc vào từng loại dịch vụ khác nhau mà pháp luật quy định chủ thể có lỗi khác nhau Đối với dịch

vụ vận tải thủy nội địa, tại điểm d khoản 1 Điều 94 Luật GTĐTNĐ 2004, sửa đổi năm 2014 quy định chủ thể có lỗi đó là người thuê vận tải, người nhận hàng hoặc

Trang 35

người áp tải hàng hóa Đối với dịch vụ vận tải biển, theo điểm i khoản 2 Điều 151 BLHH chủ thể có lỗi đó là người giao hàng, chủ sở hữu hàng, đại lý hoặc đại diện của họ Đối với dịch vụ vận tải đa phương thức Điều 22 NĐ 87/2009/NĐ-CP quy định chủ thể có lỗi gây ra tổn thất hàng hóa là người gửi hàng, người nhận hàng, người được người gửi hàng, người nhận hàng ủy quyền hoặc đại lý của họ

- Ngoài ra, đối với dịch vụ chuyển phát và dịch vụ vận tải đường hàng không, quy định của pháp luật về trường hợp miễn trách nhiệm này khá chặt chẽ và tiến bộ hơn so với quy định trong pháp luật chuyên ngành đã nêu ở trên Bởi vì quy định trong hai dịch vụ này đã phân định rõ trách nhiệm khi các bên cùng có một phần lỗi Cụ thể, đó là thương nhân cung ứng dịch vụ được miễn toàn bộ hoặc một phần trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với hàng hóa tương ứng với mức thiệt hại

do lỗi của mình gây ra

+ Điểm a khoản 4 Điều 41 Luật Bưu chính 2010 quy định thương nhân cung ứng dịch vụ bưu chính được miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi thiệt hại xảy

ra hoàn toàn do lỗi vi phạm hợp đồng của người sử dụng dịch vụ bưu chính Bên cạnh đó, theo tại khoản 2 Điều 41 Luật này quy định trường hợp một phần thiệt hại xảy ra do người sử dụng dịch vụ bưu chính vi phạm hợp đồng đã giao kết thì doanh nghiệp được miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại tương ứng với mức độ thiệt hại

do người sử dụng dịch vụ bưu chính gây ra Vì vậy, Luật Bưu chính 2010 cho phép thương nhân kinh doanh dịch vụ bưu chính được miễn trách nhiệm tương ứng với mức độ lỗi của khách hàng gây ra

+ Luật HKDDVN không chỉ miễn trách nhiệm cho thương nhân đối với phần thiệt hại do lỗi của người gửi mà còn đối với phần thiệt hại do lỗi của người nhận hàng hóa, người áp tải được người gửi hàng hoặc người nhận hàng cử đi kèm hàng hóa tại điểm d khoản 3 Điều 165 Luật này Tuy nhiên, thương nhân cung ứng dịch vụ vận tải hàng không phải chứng minh được thiệt hại xảy ra đối với hàng hóa là do lỗi của bên bị vi phạm Vì vậy, điểm tiến bộ của Luật HKDDVN là đã phân định rõ ràng về trách nhiệm của các bên đối với tổn thất hàng hóa tương ứng

do lỗi của mình gây ra Quy định về trường hợp miễn trách nhiệm này trong Luật HKDDVN tương tự với Điều 21 Công ước Vacsava61, đó là nếu người vận chuyển chứng minh được thiệt hại do lỗi của người bị thiệt hại gây ra hoặc góp phần gây

ra thì Tòa án có thể miễn một phần hoặc toàn bộ trách nhiệm phù hợp với quy

61

Việt Nam đã chính thức gia nhập Công ước này vào ngày 11/10/1982 và ngày 09/01/1983 Công ước đã có hiệu lực đối với Việt Nam

Trang 36

định của luật Tòa án

Từ những phân tích trên, có thể thấy trường hợp miễn trách nhiệm tại điểm a

khoản 1 Điều 237 LTM 2005 quy định “do lỗi của khách hàng hoặc người được khách hàng ủy quyền” là chưa rõ ràng Chưa phân định rõ là chỉ cần một phần lỗi

hay hoàn toàn lỗi của khách hàng hoặc người được khách hàng ủy quyền thì thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics được hưởng quyền miễn trách nhiệm đối với tổn thất của hàng hóa

Bản án số 140/2018/KDTM-PT ngày 22/10/2018 về tranh chấp hợp đồng vận chuyển tài sản của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội

Nội dung: Nguyên đơn- Công ty TNHH nhà thép tiền chế Z Việt Nam (công

ty Z), bị đơn- Công ty TNHH giao nhận vận tải A (công ty A) Ngày 01/9/2013, công ty A và công ty Z ký hợp đồng vận chuyển và giao nhận hàng hóa No.AAL/ZSV-2012/2013 thỏa thuận vận chuyển lô hàng bằng vận tải đường biển tới Jakarta, Indonesia Vì công ty A không vận chuyển trực tiếp hàng sang Indonesia được nên ngày 29/5/2013 hai bên đã thống nhất qua email về việc vận chuyển lô hàng thông qua bên thứ 3 là công ty TNHH thương mại và truyền thông quốc tế M (công ty M) do công ty A thuê vận chuyển Khi công ty M vận chuyển hàng đến Indonesia nhưng không giao được cho khách hàng vì không có giấy phép nhập khẩu Việc hàng không có giấy phép nhập khẩu, công ty A đã được công ty Z thông báo qua email trước khi hàng được vận chuyển Do không giao được hàng, công ty Z đã phải mua hàng tương tự tại Indonesia để giao cho khách hàng của mình với giá trị lô hàng 42.700.000Rp Công ty A không hoàn trả lại lô hàng cho công ty Z nên làm thiệt hại toàn bộ giá trị lô hàng Công ty Z yêu cầu công ty A hoàn trả chi phí dịch vụ vận chuyển là 269.765.664đ và số tiền mua hàng hóa thay thế 42.700.000Rp tương đương 76.414.889đ Tổng số tiền công ty A phải thanh toán là 346.180.553đ

Tại bản án sơ thẩm số 02/2018/KDTM-ST ngày 07/02/2018 của Tòa án nhân dân Quận Hai Bà Trưng đã quyết định chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của công ty Z đối với công ty A Buộc công ty A phải trả lại số tiền vận chuyển hàng hóa và số tiền giá trị của lô hàng thay thế là 173.090.276đ Ngày 12/02/2018 công

ty A có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm

Phán quyết của tòa phúc thẩm: Theo hợp đồng nguyên tắc giữa công ty Z

và công ty A, công ty Z phải đưa hồ sơ về hàng hóa để công ty A vận chuyển hàng đến được nơi nhận Tuy nhiên, công ty A không yêu cầu công ty Z cung cấp hồ sơ

Trang 37

về hàng hóa và cam kết đưa hàng đến tận tay khách hàng Do đó, khi công ty M không giao được hàng đến tay khách hàng thì trường hợp này đều có lỗi của cả công

ty A và công ty Z Việc vận chuyển hàng hóa không đạt được mục đích giao hàng thì thiệt hại là khoản chi phí cước phí vận chuyển, vì là lỗi của hai bên nên mỗi bên phải chịu ½ cước phí vận chuyển là 133.382.831 đồng Việc công ty Z phải mua hàng thay thế để giao cho khách hàng là do lỗi của công ty Z đã giao thiếu hồ sơ hàng hóa dẫn đến việc không đủ thủ tục nhập khẩu Cho nên, số tiền 42.700.000 Rp giá trị tiền hàng thay thế do công ty Z gánh chịu vì công ty A không có lỗi trong trường hợp này nên công ty A sẽ không chịu trách nhiệm

Bình luận: Tòa phúc thẩm xác định lỗi của các bên và căn cứ vào Điều 302

và Điều 303 LTM 2005 để xác định mức trách nhiệm bồi thường thiệt hại của bị đơn là không phù hợp Bởi vì, Điều 302 và Điều 303 LTM 2005 là những quy định

cơ bản về chế tài bồi thường thiệt hại trong hợp đồng thương mại và không quy định yếu tố lỗi là căn cứ để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại Bên cạnh đó, trong bản án này, hợp đồng giữa công ty A và công ty Z là hợp đồng dịch vụ logistics vì đây là hợp đồng vận chuyển và giao nhận hàng hóa giữa hai thương nhân Cho nên, tòa phải căn cứ vào các quy định dành riêng cho thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics trong LTM 2005 và pháp luật chuyên ngành để xác định mức trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các bên, không thể căn cứ vào trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động thương mại nói chung tại Điều 302 và Điều 303 LTM 2005

Trong trường hợp này, công ty A có thể được hưởng quyền miễn trách nhiệm dành riêng cho thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics tại Điều 237 LTM 2005 Theo bản án, việc không giao được hàng theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng vừa

có lỗi của cả thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics và khách hàng Cụ thể, công

ty Z có lỗi khi không đưa hồ sơ về hàng hóa để công ty A vận chuyển hàng đến được nơi nhận và công ty A có lỗi khi không yêu cầu công ty Z cung cấp hồ sơ về hàng hóa và cam kết đưa hàng đến tận tay khách hàng Do đó, trong trường hợp này, công ty Z có một phần lỗi gây ra tổn thất đối với hàng hóa thì công ty A có thể được hưởng quyền miễn trách nhiệm tại điểm a khoản 1 Điều 237 LTM 2005 Tuy nhiên, quy định miễn trách nhiệm này chưa phân định rõ ràng đây là một phần lỗi hay hoàn toàn lỗi của khách hàng hoặc người được khách hàng ủy quyền và thương nhân được miễn hoàn toàn hay một phần trách nhiệm tương ứng với phần lỗi của khách hàng hoặc người được khách hàng ủy quyền Công ty A và công ty Z đều có

Trang 38

lỗi gây ra thiệt hại đối với hàng hóa thì công ty A được miễn một phần trách nhiệm bồi thường thiệt hại tương ứng với lỗi của công ty Z gây ra theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 237 LTM 2005 Theo tác giả, vì công ty Z có một phần lỗi gây ra thiệt hại đối với hàng hóa nên công ty A chỉ phải chịu ½ thiệt hại đối với hàng hóa đã gây ra cho công ty Z, phần còn lại công ty Z phải gánh chịu Tuy nhiên, thiệt hại công ty Z yêu cầu công ty A bồi thường bao gồm cước phí vận chuyển và giá trị hàng hóa thay thế Trong đó, chỉ có giá trị hàng thay thế là phần thiệt hại đối với tổn thất hàng hóa, còn cước phí vận tải không phải là thiệt hại đối với tổn thất hàng hóa Cho nên, công ty A được miễn ½ giá trị hàng hóa thay thế tương ứng với phần lỗi của công ty Z

b Tổn thất phát sinh do thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics làm đúng theo chỉ dẫn của khách hàng hoặc người được khách hàng ủy quyền

Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 235 LTM 2005, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics có nghĩa vụ phải tuân theo chỉ dẫn của khách hàng, khi xảy

ra trường hợp có thể dẫn đến việc không thực hiện được một phần hoặc toàn bộ những chỉ dẫn của khách hàng thì phải thông báo ngay cho khách hàng để xin chỉ dẫn Việc tuân theo chỉ dẫn từ phía khách hàng là một nghĩa vụ của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics Khách hàng là người chi phối đến hoạt động cung ứng dịch vụ của thương nhân thực hiện, đồng nghĩa với việc thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không có toàn quyền trong việc quyết định đối với những tình huống phát sinh Vì lẽ đó, pháp luật quy định khi thương nhân thực hiện theo những chỉ dẫn của khách hàng mà dẫn đến tổn thất của hàng hóa thì thương nhân được miễn trách nhiệm

Theo căn cứ miễn trách nhiệm này, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics chỉ cần tuân theo đúng chỉ dẫn mà khách hàng hoặc người được khách hàng ủy quyền thì sẽ không phải chịu trách nhiệm đối với tổn thất của hàng hóa Ngoài ra, LTM 2005 có quy định thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics có thể thực hiện khác chỉ dẫn của khách hàng vì lợi ích chính đáng của khách hàng, nhưng phải

thông báo ngay cho khách hàng tại điểm b khoản 1 Điều 235 Luật này Cụm từ “có thể” trong quy định này cho ta thấy việc thương nhân làm khác những chỉ dẫn của

khách hàng đưa ra vì lợi ích của khách hàng đó là quyền chứ không phải nghĩa vụ của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics Vì vậy, một vấn đề đặt ra là trong trường hợp thương nhân biết chắc rằng làm theo chỉ dẫn của khách hàng sẽ gây ra tổn thất cho khách hàng mà thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics vẫn thực hiện

Trang 39

thì sẽ giải quyết như thế nào? Quy định này có thể dẫn đến tình trạng không mong đợi trên thực tế, bởi vì thương nhân chỉ cần làm đúng theo chỉ dẫn của khách hàng thì họ luôn được miễn trách nhiệm, cho dù chỉ dẫn đó là hợp lý hay không Đó chính là giải pháp an toàn mà thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics có thể lựa chọn để không bị ảnh hưởng đến lợi ích của mình Quy định của pháp luật trong trường hợp miễn trách nhiệm này không có ngoại lệ Bên cạnh đó, quy định về miễn trách nhiệm của thương nhân khi làm đúng theo chỉ dẫn của khách hàng khiến quy định về quyền làm khác chỉ dẫn của khách hàng vì lợi ích của khách hàng không có hiệu quả áp dụng trên thực tế, ảnh hưởng đến quyền lợi của khách hàng sử dụng dịch vụ logistics Vì vậy, để đảm bảo cho quyền lợi của khách hàng, LTM 2005 nên quy định theo hướng đặt ra nghĩa vụ thông báo của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics, khi thương nhân biết trước hoặc dự đoán được nếu thực hiện theo chỉ dẫn của khách hàng có thể sẽ dẫn đến tổn thất của hàng hóa Đặt ra nghĩa vụ này để nhằm ràng buộc trách nhiệm của thương nhân và đồng thời thông tin cho khách hàng biết để có những chỉ dẫn phù hợp tránh xảy ra rủi ro Khi thương nhân thực hiện nghĩa vụ thông báo cho khách hàng về việc thực hiện chỉ dẫn có thể dẫn đến tổn thất hàng hóa, nếu khách hàng vẫn yêu cầu thực hiện theo chỉ dẫn đó thì đương nhiên thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics được miễn trách nhiệm Trường hợp thương nhân biết nhưng không thông báo cũng như không xin ý kiến của khách hàng thì thương nhân vẫn phải chịu trách nhiệm đối với tổn thất hàng hóa Ngoài ra, pháp luật chuyên ngành về từng lĩnh vực cụ thể trong hoạt động logistics không có quy định riêng đối với trường hợp miễn trách nhiệm này

c Tổn thất do khuyết tật của hàng hóa

Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 237 LTM 2005 thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics được miễn trách nhiệm liên quan đến khuyết tật của hàng hóa Tuy nhiên LTM 2005 và pháp luật chuyên ngành không có quy định về khái

niệm “khuyết tật của hàng hóa” Từ “khuyết tật” theo từ điển tiếng Việt được hiểu

là thiếu sót khó sửa vốn có trên sản phẩm ngay sau khi chế tạo, gia công xong62 Ngoài ra, có thể tham khảo quy định về hàng hóa có khuyết tật theo khoản 3 Điều 3 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 Theo quy định này, hàng hóa có khuyết tật là hàng hóa không đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng, có khả năng gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe, tài sản của người tiêu dùng kể cả trường hợp

62

Hoàng Phê, tlđd (5), tr.517

Trang 40

hàng hóa đó được sản xuất theo đúng tiêu chuẩn hoặc quy chuẩn kỹ thuật hiện hành nhưng chưa phát hiện được khuyết tật tại thời điểm hàng hóa được cung cấp cho người tiêu dùng, bao gồm: hàng hóa sản xuất hàng loạt có khuyết tật phát sinh từ thiết kế kỹ thuật; hàng hóa đơn lẻ có khuyết tật phát sinh từ quá trình sản xuất, chế biến, vận chuyển, lưu giữ; hàng hóa tiềm ẩn nguy cơ gây mất an toàn trong quá trình sử dụng nhưng không có hướng dẫn, báo cáo đầy đủ cho người tiêu dùng Qua

đó, có thể hiểu khuyết tật của hàng hóa là những khiếm khuyết, sai sót vốn có trên hàng hóa, có thể phát sinh từ thiết kế kỹ thuật, từ quá trình sản xuất, chế biến, vận chuyển, lưu giữ dẫn đến hàng hóa không đảm bảo an toàn, có khả năng gây thiệt hại cho khách hàng Trong trường hợp này, tổn thất của hàng hóa là do bản thân hàng hóa, không phải do lỗi của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics nên thương nhân đương nhiên không phải chịu trách nhiệm đối với tổn thất này

Pháp luật chuyên ngành Việt Nam có các quy định về trường hợp miễn trách nhiệm này trong năm lĩnh vực, đó là vận tải đường biển, vận tải đường thủy nội địa, vận tải đường sắt, vận tải hàng không, vận tải đa phương thức và dịch vụ bưu chính

Đối với dịch vụ vận tải bằng đường biển: Theo quy định tại điểm n khoản

2 Điều 151 BLHH 2015, thương nhân kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hải được miễn trách nhiệm đối với khách hàng khi có hao hụt về khối lượng, trọng lượng hoặc mất mát, hư hỏng khác của hàng hóa xảy ra do chất lượng, khuyết tật ẩn tỳ hoặc khuyết tật khác của hàng hóa Trong quy định này, thương nhân kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hải được miễn trách nhiệm đối với những tổn thất của hàng hóa

xảy ra do “khuyết tật ẩn tỳ” Tuy nhiên, BLHH không quy định như thế nào là

“khuyết tật ẩn tỳ” Khái niệm “ẩn tỳ” lại được quy định tại khoản 16 Điều 2 Nghị định 87/2009/NĐ-CP “ẩn tỳ là là những khuyết tật của hàng hóa, nếu chỉ kiểm tra bên ngoài hàng hóa một cách thông thường thì không thể phát hiện được” Do đó,

trong quy định miễn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hải, khuyết tật ẩn tỳ có thể được hiểu là những khiếm khuyết tồn tại bên trong hàng hóa mà bằng mắt thường hoặc bằng các phương pháp kiểm tra bên ngoài thông thường không thể phát hiện được Ngoài ra theo quy định tại Điều 198 BLHH, quy định miễn trách nhiệm này còn được áp dụng đối với thương nhân kinh doanh dịch

vụ vận tải đa phương thức có một phần được thực hiện bằng đường biển nếu xảy ra mất mát, hư hỏng hàng hóa ở phương thực vận tải đường biển hoặc không xác định được mất mát, hư hỏng hàng hóa xảy ra ở phương thức vận tải nào

Đối với dịch vụ vận tải đa phương thức: Theo khoản 5 Điều 22 Nghị định

Ngày đăng: 01/04/2022, 21:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w