1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Điều khoản chuyển tiếp theo quy định của bộ luật dân sự 2015 (luận văn thạc sỹ luật)

133 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 38,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khoản 1 Điều 688 BLDS 2015 quy định “Đối với giao dịch dân sự được xác lập trước ngày Bộ luật này có hiệu lực thì việc áp dụng pháp luật được quy định như sau: a Giao dịch dân sự chưa đ

Trang 1

NGUYỄN THỊ KIM THÚY

ĐIỀU KHOẢN CHUYỂN TIẾP THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT DÂN SỰ VÀ TỐ TỤNG DÂN SỰ

ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2021

Trang 2

ĐIỀU KHOẢN CHUYỂN TIẾP THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015

Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan danh dự Luận văn này là kết quả của quá trình tổng hợp

và nghiên cứu nghiêm túc của bản thân tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của

PGS.TS Đỗ Văn Đại Nội dung của Luận văn có tham khảo và sử dụng một

số thông tin từ các nguồn sách, tạp chí, tài liệu… được liệt kê trong danh mục tài liệu tham khảo

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Kim Thúy

Trang 4

Viết tắt Viết dầy đủ

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 ÁP DỤNG BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015 CHO GIAO DỊCH DÂN SỰ ĐƯỢC XÁC LẬP TRƯỚC NGÀY 01/01/2017 7 1.1 Giao dịch dân sự chưa thực hiện, đang thực hiện 7

1.1.1 Yêu cầu giao dịch dân sự chưa thực hiện, đang được thực hiện 7 1.1.2 Bất cập về việc xác định giao dịch dân sự chưa thực hiện, đang thực hiện 8 1.1.3 Kiến nghị về việc xác định giao dịch dân sự chưa thực hiện, đang thực hiện 11

1.2 Giao dịch dân sự có hình thức, nội dung phù hợp với Bộ luật dân

sự năm 2015 13

1.2.1 Yêu cầu giao dịch dân sự có hình thức và nội dung phù hợp với Bộ luật dân sự 2015 13 1.2.2 Bất cập về việc áp dụng Bộ luật dân sự 2015 trong trường hợp căn

cứ vào hình thức, nội dung của giao dịch dân sự được thực hiện trước ngày 01/01/2017 14 1.2.3 Kiến nghị hoàn thiện về việc áp dụng Bộ luật dân sự 2015 trong trường hợp căn cứ vào hình thức, nội dung của giao dịch dân sự được thực hiện trước ngày 01/01/2017 18

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 21 CHƯƠNG 2 ÁP DỤNG BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015 TRONG MỘT SỐ QUAN HỆ DÂN SỰ KHÁC PHÁT SINH TRƯỚC NGÀY 01/01/2017 22 2.1 Quan hệ về thời hiệu khởi kiện 22

2.1.1 Bất cập về việc áp dụng Bộ luật dân sự 2015 về thời hiệu khởi kiện đối với quan hệ không phát sinh từ giao dịch dân sự 23

Trang 6

2.2 Quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 30

2.2.1 Bất cập về áp dụng Bộ luật dân sự 2015 khi có sự khác nhau về giá trị bồi thường thiệt hại đối với về quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 31 2.2.2 Kiến nghị hoàn thiện về việc áp dụng Bộ luật dân sự 2015 khi có

sự khác nhau về giá trị bồi thường thiệt hại đối với về quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 32

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 34 KẾT LUẬN 35 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đại hội VI (1986) của Đảng ta đánh dấu một sự chuyển mình to lớn trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước Kết quả của sự đổi mới đã đưa đất nước không ngừng phát triển, đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện Hệ thống chính trị, khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố, tăng cường, chính trị - xã hội ổn định quốc phòng an ninh được giữ vững Vị thế nước ta trên thị trường quốc tế không ngừng nâng cao

Song song với sự phát triển của xã hội, nhất là đối với những nước đang phát triển như nước ta thì quan hệ xã hội luôn luôn vận động, thay đổi, phát triển Để kịp thời thích ứng với sự thay đổi đó thì việc điều chỉnh các quy định pháp luật là vấn đề cần phải thực hiện ngay Cũng chính vì lý do này mà pháp luật của nước ta có tuổi thọ trung bình ngắn Từ đó, vấn đề đặt

ra là cần phải có quy phạm pháp luật điều chỉnh việc áp dụng luật, đối với các quan hệ phát sinh trước ngày luật mới có hiệu lực mà sau ngày này mới được giải quyết

Một trong những đạo luật quan trọng trong hệ thống pháp luật nước ta nói riêng, cũng như các nước trên thế giới nói chung đó là luật dân sự hay còn được gọi là bản hiến pháp của dân sự Do đó, để kịp thời thích ứng với tình hình mới ngày 24/11/2015,Quốc hội đã thông qua Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2017 BLDS 2015 là một đạo luật hiện đại, tiến bộ, chứa đựng tính nhân văn và kỹ thuật lập pháp rất cao, góp phần điều chỉnh các quan hệ xã hội một cách thống nhất, phù hợp Trong đó, điều khoản chuyển tiếp là một phần không thể thiếu cấu thành nên đạo luật này, đây là cơ sở để các chủ thể, người có thẩm quyền áp dụng luật một cách thống nhất Điều 688 BLDS 2015 quy định việc áp dụng luật đối với các GDDS giao kết trước ngày 01/01/2017 mà sau ngày này mới phát sinh tranh chấp, giải quyết Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn một số nhận thức khác nhau về sự phù hợp hay không phù hợp của GDDS đó với BLDS 2015; hay vấn đề xác định giao dịch dân sự đang thực hiện hay chưa thực hiện

Trang 8

Bên cạnh đó, Điều 688 BLDS 2015 chỉ quy định chuyển tiếp đối với các GDDS, đối với các quan hệ dân sự khác BLDS 2015 vẫn còn bỏ ngỏ nên việc tồn tại quan điểm, nhận thức khác nhau khi áp dụng luật là không thể tránh khỏi Đơn cử như việc áp dụng pháp luật đối với tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và thừa kế theo pháp luật

Từ những bất cập thực tiễn giải quyết tranh chấp và các quy định của

BLDS, tác giả chọn đề tài “Điều khoản chuyển tiếp theo quy định của Bộ luật

dân sự 2015” làm đề tài Luận văn thạc sĩ

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

“Điều khoản chuyển tiếp” là vấn đề được nghiên cứu dưới nhiều góc độ

khác nhau như hình sự, kinh tế, hành chính, dân sự, với hình thức, quy mô

nghiên cứu cũng khác nhau, điển hình như:

- Nguyễn Văn Cừ, Trần Thị Huệ“Bình luận khoa học của BLDS 2015 của nước CHXHCN Việt Nam“ Tại trang 1091, 1092 tác giả đã bình luận quy

định về điều khoản chuyển tiếp của BLDS mà cụ thể là Điều 688 BLDS 2015 Theo đó, tác giả đã phân tích, bình luận làm rõ từng nội dung quy định tại Điều 688 và đưa ra một số ví dụ cụ thể để dẫn chứng cho việc áp dụng pháp luật Bên cạnh đó, tác giả cũng phân tích một số trường hợp hồi tố theo quy định của Luật ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, góp phần cho người

đọc hiểu rõ thêm các trường hợp áp dụng pháp luật

- Chu Xuân Minh (2017), “Điều khoản chuyển tiếp (Điều 688) thi hành

Bộ luật dân sự năm 2015”, Tạp chí điện tử Tòa án nhân dân, (2017) Trong

bài viết của mình tác giả đã nêu lên những vấn đề thực tiễn vướng mắc; mối quan hệ giữa LBHVBQPPL và các pháp luật khác về quy định chuyển tiếp;

về Điều khoản chuyển tiếp của Bộ luật dân sự năm 2015; việc áp dụng những quy định chuyển tiếp trong Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP; những vướng

mắc cần tiếp tục giải quyết về quy định chuyển tiếp

- Nguyễn Thị Huyền (2017), “Vướng mắc trong việc vận dụng Điều 688

(Điều khoản chuyển tiếp) Bộ luật dân sự 2015” Đăng trên cổng thông tin

điện tử Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (2017) Tác giả đã

Trang 9

nói lên một khía cạnh về việc xác định GDDS chưa thực hiện hay GDDS đã thực hiện xong khi một bên giữa chừng đơn phương chấm dứt Đồng thời tác giả đưa ra quan điểm việc áp dụng pháp luật đối với các quan hệ này Công trình này chỉ có giá trị xây dựng nền tảng, định hướng so sánh để triển khai

luận văn đang nghiên cứu

- Tưởng Duy Lượng (2018), “Những vấn đề cơ bản về điều khoản chuyển tiếp và thời điểm có hiệu lực của BLDS 2015”, Tạp chí Toà án số 17, 18/2018 Bài viết đã làm rõ một số nội dung cơ bản của điều khoản chuyển tiếp, giải thích một số thuật ngữ pháp lý trong điều luật như giao dịch dânsự chưa thực hiện, đang thực hiện, đã thực hiện xong, nội dung, hình thức khác hay phù hợp với BLDS 2015 Bên cạnh đó, bài viết cũng phân tích làm rõ các trường hợp áp dụng thời hiệu đối với các GDDS được xác lập trước ngày

BLDS 2015 có hiệu lực pháp luật

- Đặng Quang Dũng, Châu Thanh Quyền (2021), “Áp dụng pháp luật

nội dung trong xét xử các vụ án hình sự và dân sự”, Tạp chí Toà án số

8/2021 Nội dung bài viết tác giả đã bình luận về các căn cứ áp dụng pháp luật đối với các quan hệ hình sự, dân sự phát sinh trước ngày BLHS 2015 và BLDS 2015 có hiệu luật pháp luật Đồng thời tác giả đã đưa ra quan điểm áp dụng pháp luật đối với các quan hệ dân sự phát sinh trước ngày BLDS 2015

có hiệu lực nhưng sau ngày này mới phát sinh tranh chấp, giải quyết

Hầu hết các bài tạp chí, đề tài nghiên cứu khoa học đều đã thực hiện việc nghiên cứu một hoặc một số khía cạnh liên quan đến điều khoản chuyển tiếp Các nội dung liên quan trực tiếp đến vấn đề áp dụng luật đối với các quan hệ dân sự phát sinh trước ngày 01/01/2017, chưa được đề cập nghiên cứu sâu Đặc biệt chưa có công trình nào trực tiếp liên quan đến đề tài luận

văn và chưa có Luận văn thạc sĩ nào nghiên cứu về “Điều khoản chuyển tiếp

theo quy định của BLDS 2015”

3 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Mục đích nghiên cứu của đề tài là nhằm nghiên cứu việc áp dụng luật dân sự đối với các GDDS và các quan hệ dân sự khác phát sinh trước ngày

Trang 10

01/01/2017 Từ đó phát hiện những vướng mắc trong thực tiễn giải quyết của Tòa án Đồng thời đưa ra kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật và người áp

dụng pháp luật có nhận thức nhất quán, đúng đắn khi áp dụng pháp luật

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu việc áp dụng pháp luật của Toà án dựa trên quyđịnh chuyển tiếp của BLDS 2015 đối với GDDS và các quan hệ dân sự khác phát sinh trước ngày 01/01/2017 mà sau thời điểm này mới

được giải quyết

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu việc áp dụng pháp luật đối với các GDDS và các quan hệ dân sự khác phát sinh trước ngày 01/01/2017 mà sau thời điểm này mới được giải quyết Từ đó đối chiếu với thực tiễn xét xử của Tòa án các cấp

tại Việt Nam

Tuy nhiên, điều khoản chuyển tiếp là điều luật hồi tố, trong đó có các tranh chấp áp dụng BLDS năm 2005 để giải quyết nên những quy định có liên

quan của BLDS năm 2005 cũng sẽ được xem xét, nghiên cứu trong luận văn

Luận văn nghiên cứu quy định về điều khoản chuyển tiếp thi hành BLDS năm 2015 và thực tiễn giải quyết các vụ án từ đó nêu lên những bất cấp, hạn chế còn tồn tại trong quá trình áp dụng quy định này Từ đó đưa ra một số kiến nghị góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật về việc áp dụng pháp luật được quy định tại điều khoản chuyển tiếp thi hành bộ luật dân sự

năm 2015

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Để nghiên cứu có hiệu quả đề tài, tác giả sử dụng phương pháp bình luận án, phân tích, tổng hợp và so sánh xuyên suốt quá trình nghiên cứu luận văn Phương pháp bình luận án được tác giả sử dụng khi dẫn chứng một số

vụ án cụ thể trên thực tế để làm rõ nhận thức của người áp dụng pháp luật Kết hợp với bình luận án tác giả sử dụng phương pháp phân tích luật viết để

Trang 11

làm rõ nội dung quy định điều khoản chuyển tiếp và các quy định có liên quan Phương pháp so sánh được tác giả vận dụng trong việc so sánh các vụ

án trên thực tế để làm rõ sự bất đồng trong nhận thức áp dụng pháp luật Từ những phân tích, bình luận, so sánh trên cơ sở đó tác giả tổng hợp một cách toàn diện các nội dung đó, từ đó đề xuất hướng áp dụng thống nhất pháp luật Kết thúc mỗi chương, tác giả sử dụng phương pháp tổng hợp được sử dụng song song với phương pháp phân tích để đánh giá khái quát kết quả

nghiên cứu của từng chương

Kết luận của luận văn, tác giả sử dụng phương pháp tổng hợp để khái quát những phân tích trong phần nội dung, từ đó rút ra kết luận những vấn đề trọng tâm cần đạt được, nhằm giúp cho người đọc có cách nhìn tổng quát rõ ràng hơn về nội dụng của đề tài

6 Giá trị ứng dụng của đề tài

Kết quả nghiên cứu giúp người đọc dễ dàng tiếp cận hơn với quy định điều khoản chuyển tiếp; giúp đánh giá được thực trạng áp dụng pháp luật của Tòa án, kịp thời phát hiện những vướng mắc và đề xuất hướng giải quyết

Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng làm nguồn tài liệu tham khảo cho các sinh viên chuyên ngành luật và được dùng để kiến nghị Tòa án nhân dân tối cao tổng kết thực tiễn để hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật

7 Bố cục của Luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn gồm 2 Chương được bố cục như sau:

Chương 1 Áp dụng Bộ luật dân sự 2015 cho GDDS được xác lập trước

ngày 01/01/2017

Chương 2 Áp dụng Bộ luật dân sự 2015 cho quan hệ dân sự khác phát

sinh trước ngày 01/01/2017

Kết cấu này được xây dựng xuất phát từ những bất cập cơ bản và chính yếu khi nghiên cứu về điều khoản chuyển tiếp của BLDS năm 2015

Trang 12

Thứ nhất, điều khoản chuyển tiếp quy định áp dụng pháp luật trong quá trình giải quyết tranh chấp dân sự, điều khoản chuyển tiếp quy định áp dụng luật đối với các quan hệ phát sinh từ GDDS nhưng chưa quy định cụ thể đối với các quan hệ phát sinh không từ giao dịch dân sự, như thừa kế hay bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Do đó, khi nghiên cứu về đề tài, tác giả nhận thấy rằng hai vấn đề cơ bản và cốt yếu về điều khoản chuyển tiếp năm 2015 Nên, luận văn được chia thành hai chương tương ứng để triển khai nội dung nghiên cứu

Thứ hai, những vấn đề khác có liên quan như thời hiệu, hiệu lực của hợp đồng, tuy cũng là những nội dung được đề cập trong điều khoản chuyển tiếp nhưng tác giả nhận thấy đây không phải là những vấn đề chủ chốt hoặc có thể lồng ghép để phân tích trong hai chương nêu trên, do đó, không đặt thành mục riêng để nghiên cứu

Trang 13

là một trong những cơ sở để người áp dụng pháp luật vận dụng cho những giao dịch phát sinh trước ngày 01/01/2017 mà sau ngày này mới phát sinh

tranh chấp Khoản 1 Điều 688 BLDS 2015 quy định “Đối với giao dịch dân

sự được xác lập trước ngày Bộ luật này có hiệu lực thì việc áp dụng pháp luật được quy định như sau: a) Giao dịch dân sự chưa được thực hiện mà có nội dung, hình thức khác với quy định của Bộ luật này thì áp dụng…; Giao dịch dân sự đang được thực hiện mà có nội dung, hình thức khác với quy định của Bộ luật này thì áp dụng…; b) Giao dịch dân sự chưa được thực hiện hoặc đang được thực hiện mà có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật này thì áp dụng quy định của Bộ luật này” Như vậy,

chúng ta có thể thấy rằng để áp dụng BLDS 2015 cho những giao dịch này thì GDDS cần phải đáp ứng được hai điều kiện là GDDS chưa thực hiện, đang thực hiện và có nội dung hình thức phù hợp với BLDS 2015

Tuy nhiên, trên thực tế giải quyết tranh chấp thì vấn đề xác định hai điều kiện trên vẫn còn quan điểm khác nhau, dẫn đến áp dụng luật chưa thống nhất Do đó, vấn đề nghiên cứu làm rõ giao dịch đang thực hiện, chưa thực hiện và xác định hình thức, nội dung của GDDS có phù hợp với BLDS 2015

là cần thiết

1.1 Giao dịch dân sự chƣa thực hiện, đang thực hiện

1.1.1 Yêu cầu giao dịch dân sự chưa thực hiện, đang được thực hiện

“Khi BLDS 2015 có hiệu lực giao dịch đó có thể đã được thực hiện xong,

có thể đang được thực hiện và cũng có thể chưa được thực hiện Mỗi trường hợp đã chứa đựng trong đó sự khác nhau và cũng có thể khác hoặc phù hợp về

Trang 14

nội dung, về hình thức so với quy định của mỗi bộ luật 1” Do đó, điều khoản chuyển tiếp quy định tại Điều 688 BLDS 2015 có một số điều kiện nhất định

để khi xem xét áp dụng luật Trong đó, quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 688 BLDS 2015 đã xác định điều kiện trước tiên người áp dụng cần phải làm rõ là

GDDS đó “đang thực hiện hay chưa thực hiện” Trong trường hợp GDDS đã

thực hiện xong mà có phát sinh tranh chấp theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 688 BLDS 2015 thì áp dụng pháp luật dân sự 2005 để giải quyết mà không phải xét đến các điều kiện khác của giao dịch đó

Đây là một điều khoản quan trọng để thi hành của BLDS 2015 nên việc xác định không chính xác các thuật ngữ, khái niệm, ý nghĩa của nó sẽ dẫn đến

áp dụng không chính xác Để áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 688 BLDS

2015 thì người áp dụng cần phải xác định được thế nào là giao dịch dân sự chưa thực hiện, đang thực hiện Đây là những vấn đề cơ bản của khoản 1 Điều

688 BLDS nhưng trên thực tế vấn đề này trong một số trường hợp vẫn còn các quan điểm khác nhau khi giải quyết tranh chấp

1.1.2 Bất cập về việc xác định giao dịch dân sự chưa thực hiện, đang thực hiện

Xác định GDDS chưa thực hiện, đang thực hiện là những điều kiện tiên quyết mà người áp dụng luật phải xác định được Tuy nhiên, trên thực tế vấn

đề này vẫn còn tồn tại một số quan điểm, nhận thức khác nhau khi giải quyết các vụ việc

Đơn cử như trường hợp GDDS được giao kết trước thời điểm BLDS

2015 có hiệu lực và khi GDDS đó đang được thực hiện mà một bên yêu cầu ngưng thực hiện hay có thể hiểu là một bên đơn phương chấm dứt thực hiện giao dịch Như vậy, trong trường hợp này chúng ta xác định đây là giao dịch đang thực hiện hay đã thực hiện xong Vấn đề này có các quan điểm khác nhau khi xác định tình trạng của GDDS nên dẫn đến việc áp dụng pháp luật khác nhau khi giải quyết tranh chấp trên thực tế

1 Tưởng Duy Lượng (2018), “Những vấn đề cơ bản về điều khoản chuyển tiếp và thời điểm có hiệu lực của

BLDS 2015”, Tạp chí Toà án, số 17, tr 7

Trang 15

Ví dụ: Bản án dân sự 08/2018/DS-ST ngày 16/7/2018 của Toà án nhân

dân thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang có nội dung như sau: “Năm 2008, ông C,

bà P chuyển nhượng 735m 2 đất cho ông H, bà K bằng giấy tay không có công chứng, chứng thực Bà P, ông C yêu cầu huỷ hợp đồng, ngày 16/7/2018 thì Toà án xét xử sơ thẩm”; tại phần nhận định áp dụng pháp luật HĐXX đã nhận

định như sau, “Tại Điều 688 Điều khoản chuyển tiếp của BLDS 2015; tại

điểm c khoản 1 điều này quy định: Giao dịch dân sự được thực hiện xong trước ngày Bộ luật này có hiệu lực mà có tranh chấp thì áp dụng quy định của BLDS số 33/2005/QH11 và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết BLDS số 33/2005/QH11 để giải quyết”

Như vậy, theo nhận định của Bản án chúng ta có thể thấy rằng trường hợp một bên không mong muốn tiếp tục thực hiện GDDS thì xác định GDDS đó đã thực hiện xong Mặc dù các bên chưa thực hiện hết toàn bộ giao dịch như thoả thuận nhưng hành vi đơn phương chấm dứt thực hiện giao dịch của một bên đã làm cho GDDS không thể tiếp tục được thực hiện

Do đó, khi giải quyết tranh chấp đối với các GDDS trong trường hợp này cần phải căn cứ vào khoản 3 Điều 688 của BLDS 2015 và áp dụng quy định của pháp luật dân sự 2005 để giải quyết Tuy nhiên, quan điểm này chưa phù

hợp với quy định tại Điều 373 BLDS 2015 “Nghĩa vụ hoàn thành khi bên có

nghĩa vụ đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ hoặc thực hiện một phần nghĩa vụ nhưng phần còn lại được bên có quyền cho miễn thực hiện” Trong vụ án

trên các bên chưa thực hiện xong toàn bộ nghĩa vụ, cũng không được miễn thực hiện phần còn lại của nghĩa vụ Như vậy, việc thực hiện quyền, nghĩa

vụ của các bên vẫn chưa hoàn thành thì không thể kết luận đây là GDDS đã thực hiện xong

Tuy nhiên, trong một bản án khác như Bản án số 200/2021/DS-ST ngày 02/7/2021 của Toà án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất Theo đó, hợp đồng được giao kết từ năm 1999, sửa đổi, bổ sung hợp đồng năm 2008

và các bên đã thực hiện việc giao đất, cất nhà và thanh toán đầy đủ theo thoả thuận nhưng chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền Nguyên đơn yêu

Trang 16

cầu công nhận hợp đồng; bị đơn yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu Bản

án đã nhận định: “Về áp dụng luật: Xét hợp đồng chuyển nhượng quyền sử

dụng đất tranh chấp là hợp đồng dân sự đang được thực hiện; hình thức hợp đồng có lập thành văn bản nhưng không công chứng, chứng thực, đăng ký nên không phù hợp với quy định của BLDS 2015 Căn cứ Điều 688 BLDS 2015 HĐXX áp dụng BLDS 2005 và văn bản hướng dẫn để giải quyết vụ án”

Mặc dù nội dung cụ thể so với Bản án trước đó có khác nhau nhưng về quan hệ pháp luật cũng như tình trạng thực hiện của GDDS là giống nhau Tuy nhiên, việc nhận thức về tình trạng thực hiện của GDDS lại khác nhau, cụ thể là bản án này đã xác định đây là giao dịch đang thực hiện Do đó, Bản án

đã vận dụng quy định của pháp luật dân sự 2015 để giải quyết tranh chấp

Từ hai bản án trên chúng ta có thể thấy trong thực tiễn giải quyết tranh chấp vẫn còn một số quan điểm khác nhau khi xác định tình trạng thực hiện của GDDS, dẫn đến việc áp dụng pháp luật không thống nhất Trong trường hợp xác định GDDS chưa thực hiện hay đang thực hiện nếu có sự không thống nhất vẫn không ảnh hưởng đến việc áp dụng pháp luật Tuy nhiên, việc xác định không chính xác giữa GDDS đang thực hiện với GDDS đã thực hiện xong sẽ dẫn đến việc áp dụng pháp luật khác nhau có thể ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự

Bởi lẽ, theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 688 BLDS 2015 thì được áp dụng cho các GDDS chưa được thực hiện hoặc đang được thực hiện Đối với quy định tại điểm c khoản 1 Điều 688 BLDS 2015 thì được áp dụng cho các GDDS đã được thực hiện xong Mặt khác, điều khoản chuyển tiếp của BLDS năm 2015 không quy định việc áp dụng pháp luật đối với các GDDS giữa chừng bị chấm dứt do việc đơn phương vi phạm thỏa thuận của một bên Bên cạnh đó, pháp luật chưa định nghĩa rõ ràng thế nào là giao dịch dân sự chưa thực hiện, đang thực hiện hay đã thực hiện xong Do đó, khi giải quyết các tranh chấp trên thực tế tồn tại quan điểm, nhận thức khác nhau khi áp dụng pháp luật

Trang 17

1.1.3 Kiến nghị về việc xác định giao dịch dân sự chưa thực hiện, đang thực hiện

Điều 688 BLDS 2015 quy định về điều khoản chuyển tiếp đối với các giao dịch thực hiện trước ngày BLDS 2015 có hiệu lực và việc áp dụng luật

để tiếp tục thực hiện giao dịch hoặc nhằm giải quyết tranh chấp Một trong những vẫn đề cần phải xác định trước tiên là giao dịch đó đang thực hiện, chưa thực hiện hay đã thực hiện xong Tuy nhiên, vấn đề này trên thực tế vẫn còn một số quan điểm nhận định khác nhau đã làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và chất lượng xét xử của Tòa án Do đó, vấn đề này cần phải được nghiên cứu và tiếp tục hoàn thiện

BLDS dân sự 2005 cũng như BLDS 2015 không có quy định cụ thể về khái niệm GDDS chưa thực hiện, đang thực hiện hay đã thực hiện xong Tuy nhiên khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP đã định nghĩa thế nào

là hợp đồng chưa thực hiện, đang thực hiện hay đã thực hiện xong, cụ thể như sau:

“Hợp đồng chưa được thực hiện là hợp đồng mà các bên chưa phải thực hiện quyền, nghĩa vụ theo thỏa thuận và các quyền, nghĩa vụ khác phát sinh từ hợp đồng mà pháp luật có quy định”

“Hợp đồng đang được thực hiện là hợp đồng mà các bên chưa thực hiện xong quyền, nghĩa vụ theo thỏa thuận và các quyền, nghĩa vụ khác phát sinh từ hợp đồng mà pháp luật có quy định”

Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP đã đưa ra các khái niệm về hợp đồng chưa thực hiện, đang thực hiện và đã thực hiện xong nhưng vẫn chưa có khái niệm cụ thể GDDS chưa thực hiện, đang thực hiện hay đã đã thực hiện xong

là như thế nào Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả khi giải quyết các tranh chấp trên thực tế thì Toà án cần áp dụng tương tự pháp luật để xác định GDDS chưa thực hiện, đang thực hiện hay đã thực hiện xong của hợp đồng tại

Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP “Nghị quyết 01/2019 có những quy định

về khái niệm có thể tham khảo khi áp dụng quy định chuyển tiếp của Điều 688 như: hợp đồng được thực hiện xong; hợp đồng chưa được thực hiện; hợp

Trang 18

đồng đang được thực hiện; hợp đồng có quy định phù hợp với quy định của

Bộ luật Dân sự năm 2015” 2

Từ định nghĩa trên, theo quan điểm của tác giả đối với trường hợp GDDS được giao kết trước thời điểm BLDS 2015 có hiệu lực và một bên đã đơn phương chấm dứt thực hiện thì đây là GDDS chưa thực hiện xong Bởi lẽ, một bên đơn phương chấm dứt thực hiện GDDS làm cho bên kia không thể thực hiện được nghĩa vụ của mình như những gì thỏa thuận trong GDDS đã

ký kết “Trường hợp một bên tự ý chấm dứt việc thực hiện hợp đồng nên bên

kia không thể thực hiện xong hợp đồng như thỏa thuận ban đầu, giao dịch dân sự giữa hai bên chấm dứt nhưng chưa được thực hiện xong như giao kết” 3

Do đó, GDDS giữa hai bên chấm dứt nhưng vẫn chưa được thực hiện

xong như giao kết Bên cạnh đó, BLDS 2015 quy định “Nghĩa vụ được hoàn

thành khi bên có nghĩa vụ đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ hoặc thực hiện một phần nghĩa vụ nhưng phần còn lại được bên có quyền cho miễn thực hiện”

Trong trường hợp này các bên chưa thực hiện được toàn bộ nghĩa vụ và phần còn lại không được miễn mà do một bên đơn phương chấm dứt nên GDDS này chưa thực hiện xong Chính vì vậy, tuỳ từng trường hợp cụ thể mà người

có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể xác định đây là GDDS chưa thực hiện hay đang thực hiện Trong trường hợp GDDS đã được giao kết nhưng chưa đến thời điểm thực hiện nghĩa vụ của các bên mà các bên đơn phương chấm dứt GDDS thì cần phải xác định là GDDS chưa thực hiện Đối với trường hợp GDDS đã được giao kết và các bên đang trong giai đoạn thực hiện nghĩa vụ của mình như thoả thuận mà một bên đơn phương chấm dứt GDDS thì cần phải được xác định là GDDS đang thực hiện

Từ những phân tích trên, các khái niệm về hợp đồng chưa thực hiện, đang thực hiện, đã thực hiện xong theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP chúng ta cần được áp dụng tương tự pháp luật

Trang 19

như là giao dịch dân sự Tuy nhiên, trong thời gian tới cơ quan có thẩm quyền, trước tiên là Toà án nhân dân tối cao cần có văn bản xác định khái niệm GDDS chưa thực hiện, đang thực hiện, đã thực xong Đây là căn cứ xác thực nhất để các cấp Toà án trong cả nước áp dụng thống nhất pháp luật

1.2 Giao dịch dân sự có hình thức, nội dung phù hợp với Bộ luật dân sự năm 2015

1.2.1 Yêu cầu giao dịch dân sự có hình thức và nội dung phù hợp với

Bộ luật dân sự 2015

Sự giao thoa giữa các quy định của pháp luật cũ, mới ít nhiều sẽ có sự thay đổi quy định về hình thức, nội dung của các loại GDDS Chính vì vậy, việc quy định về điều khoản chuyển tiếp để các bên tham gia giao dịch tiếp tục thực hiện hoặc nhằm để giải quyết các tranh chấp có liên quan đến GDDS được thực hiện trước ngày BLDS 2015 có hiệu lực là vô cùng cần thiết

Hình thức, nội dung của GDDS cũng là một trong các điều kiện để áp dụng pháp luật đối với các GDDS phát sinh trước ngày 01/01/2017 mà sau ngày này mới phát sinh tranh chấp, giải quyết Theo quy định tại điểm a, b

khoản 1 Điều 688 BLDS 2015 thì “Điều kiện trước tiên cần phải xác định là

GDDS đó đang thực hiện hay chưa thực hiện; điều kiện thứ hai là sự phù hợp hay khác nhau về hình thức, nội dung giữa GDDS và BLDS 2015”

Pháp luật về dân sự của nước ta không định nghĩa thế nào là hình thức

của GDDS mà chỉ liệt kê một số hình thức thể hiện của giao dịch dân sự như

“GDDS có thể thực hiện bằng lời nói, văn bản hoặc hành vi cụ thể, trong trường hợp luật quy định GDDS phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó” 4

Tuy nhiên, hình

thức được hiểu theo nghĩa thông thường là “toàn thể nói chung những gì làm

thành hình bề ngoài của sự vật, cái chứa đựng thể hiện nội dung” 5 Từ đó,

theo quan điểm của tác giả thì hình thức của GDDS có thể được hiểu là “cách

thức thể hiện thông tin, nội dung của giao dịch dân sự”

4 Điều 119 Bộ luật dân sự 2015;

5 Viện ngôn ngữ học (1994), Từ điển tiếng việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr.427

Trang 20

Bên cạnh đó, nội dung của GDDS cũng chưa được pháp luật định nghĩa một cách cụ thể như thế nào Tuy nhiên, từ lý luận cũng như các quy định của

pháp luật chúng ta có thể hiểu:“Nội dung của hợp đồng thể hiện ý chí, mong

muốn của các bên được ghi nhận bằng các điều khoản cụ thể của hợp đồng

Vì vậy, nội dung của hợp đồng là tổng hợp các điều khoản mà các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng đã thoả thuận Các điều khoản đó xác định những quyền và nghĩa vụ cụ thể của các bên trong hợp đồng” 6 Mặc dù quan điểm

này nói về nội dung của hợp đồng nhưng chúng ta cũng có thể hiểu tương tự đối với GDDS, đó là các quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng

Trên thực tế giải quyết tranh chấp có rất nhiều các giao dịch được thực hiện trước đó một thời gian dài nhưng kể từ ngày BLDS 2015 có hiệu lực mới phát sinh tranh chấp Tuy nhiên, khi thi hành trên thực tế thì vấn đề áp dụng điều khoản chuyển tiếp khi xác định sự phù hợp hay khác nhau giữa hình thức, nội dung của GDDS và quy định của BLDS 2015 vẫn còn một số quan điểm, nhận thức khác Chính vì vậy, đã dẫn đến áp dụng pháp luật không thống nhất khi xét xử, làm ảnh hưởng đến quyền lợi ích của các đương sự

1.2.2 Bất cập về việc áp dụng Bộ luật dân sự 2015 trong trường hợp căn cứ vào hình thức, nội dung của giao dịch dân sự được thực hiện trước ngày 01/01/2017

a Bất cập về việc áp dụng BLDS 2015 trong trường hợp căn cứ vào hình thức của giao dịch dân sự được thực hiện trước ngày 01/01/2017

GDDS được thực hiện trước ngày 01/01/2017 nhưng sau ngày này mới phát sinh tranh chấp mà GDDS đó vi phạm quy định về hình Tuy nhiên, các bên đã thực hiện được 2/3 nghĩa vụ theo quy định tại Điều 129 của BLDS

2015 thì có được xem là phù hợp với BLDS 2015 hay không Trên thực tế giải quyết tranh chấp, phổ biến nhất là các tranh chấp liên quan đến giao dịch quyền sử dụng đất có những nhận định khác nhau, dẫn đến việc áp dụng pháp

luật khác nhau

6 Võ Văn Hoà (2016), Pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong kinh doanh bất động

sản tại Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Đại học Cần thơ, tr49

Trang 21

Ví dụ: Bản án dân sự sơ thẩm số 200/2021/DS-ST ngày 02/7/2021 của Toà án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất Theo đó, các bên ký kết hợp đồng từ năm

1999, sửa đổi, bổ sung hợp đồng năm 2008 và các bên đã thực hiện việc giao đất, cất nhà và thanh toán đầy đủ theo thoả thuận Tuy nhiên, hợp đồng các bên thực hiện bằng văn bản không có công chứng, chứng thực nên Bản án đã

nhận định: “Hình thức của hợp đồng không phù hợp với quy định của BLDS

2015 và áp dụng quy định của BLDS 2005 và Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP

để giải quyết vụ án”

Đây cũng là quan điểm thứ nhất xác định hình thức của GDDS Theo

đó, quan điểm này cho rằng hình thức của GDDS không phù hợp với BLDS

2015 nên đã áp dụng quy định của BLDS 2005 và văn bản hướng dẫn của Bộ

luật này để giải quyết

Tuy nhiên, trong một bản án khác mặc dù giao dịch được thực hiện trước ngày 01/01/2017 và sau ngày này mới phát sinh tranh chấp nhưng đã

xác định hình thức của hợp đồng phù hợp với Điều 129 của BLDS 2015

“Năm 2006, ông T và vợ chồng ông Đ, bà Y lập giấy chuyển nhượng QSDĐ 1.350m 2

tại thôn Mỹ Quang Nam, xã An Chấn, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên “giấy chuyển nhượng đất” viết tay ghi ngày 03/6/2006 có chữ ký của vợ chồng bà Y và 8 người con trong hộ gia đình Bên vợ chồng bà Y đã nhận 30 triệu đồng và giao đất cho ông T sử dụng, ông T trồng cây ăn quả

và xây dựng tường rào nằm liền kề với mặt bằng của ngôi chùa do ông T làm trụ trì Đối với hợp đồng này mặc dù chưa được công chứng, chứng thực nhưng thể hiện rõ ý chí của những người có quyền sử dụng đất Bên bán đã nhận tiền và bên mua đã nhận đất, các bên đã thực hiện trên hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch nên không nhất thiết phải công chứng, chứng thực theo khoản 2 Điều 129 BLDS 2015” 7

Theo quan điểm nhận

định của Bản án này thể hiện rất rõ ràng sự phù hợp của GDDS theo Điều

7

Hiệu lực của Bộ luật Dân sự 2015 khi giải quyết các hợp đồng vi phạm hình thức bắt buộc”, https:// thuvienphapluat.vn/banan/tin-tuc/hieu-luc-cua-blds-nam-2015-khi-giai-quyet-cac-hop-dong-vi-pham-hinh- thuc-bat-buoc-3072 [truy cập 27/9/2021];

Trang 22

129 BLDS 2015, từ đó đã áp dụng pháp luật dân sự 2015 để giải quyết

tranh chấp

Từ những vụ án thực tế trên chúng ta có thể thấy rằng việc nhận định sự phù hợp hay không phù hợp về hình thức của GDDS vẫn còn tồn tại quan điểm, nhận thức khác nhau Do đó, dẫn đến việc áp dụng pháp luật khác nhau đối với các GDDS xác lập trước ngày 01/01/2017 mà sau ngày này mới phát

2015 hay không vẫn còn một số quan điểm, nhận thức khác nhau

Trong một vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản bản án nhận định:

“Ông H cho ông V vay tiền ngày 21/9/2016, ngày 18/11/2016 và ngày

18/12/2016 có thỏa thuận trả lãi nhưng không xác định rõ về lãi suất, thời hạn vay là 03 tháng Tại phiên tòa ông H yêu cầu ông V phải chịu lãi suất trong hạn và lãi suất quá hạn là 9%/năm Ông V đồng ý nhưng vì hoàn cảnh khó khăn nên xin trả lãi 15.000.000đ nhưng ông H không chấp nhận Vì vậy, yêu cầu của tính lãi trong hạn và lãi quá hạn của ông H là có cơ sở (Căn cứ khoản 5 Điều 474, khoản 2 Điều 476 của Bộ luật dân sự năm 2005; Quyết định số: 2868/QĐ-NHNN ngày 29-11-2010 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định về mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam)” 8

Trang 23

quy định của BLDS năm 2015 thì áp dụng BLDS năm 2015” 9 Tuy nhiên, Bản

án đã áp dụng quy định của BLDS 2005 và các văn bản hướng dẫn cho Bộ luật này để làm căn cứ xác định lãi suất Từ đó, chúng ta có thể hiểu theo quan điểm nhận định và áp dụng pháp luật của Bản án đã thể hiện nội dung

thoả thuận về lãi suất trong hợp đồng không phù hợp với BLDS 2015

Tuy nhiên, trong một vụ án khác đã nhận định, “Ngày 24/5/2016, ông Y

ký hợp đồng với Ngân hàng sử dụng thẻ tín dụng hạn mức 15.000.000đ, ông

đã sử dụng 14.500.000đ Do ông y vi phạm nghĩa vụ trả tiền nên ngày 22/8/2019 Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Y phải trả tiền vốn là 13.104.040 đồng, lãi quá hạn 11.695.320 đồng (tạm tính đến ngày 14/6/2019) và tiếp tục trả nợ lãi phát sinh theo hợp đồng đã ký kết Xét thấy yêu cầu của Ngân hàng

là phù hợp với quy định tại Điều 463, 466 và 468 của Bộ luật dân sự 2015” 10

Cũng là giao dịch phát sinh trước ngày 01/01/2017 nhưng sau ngày này mới phát sinh tranh chấp, mặc dù lãi suất của GDDS có khác so với BLDS

2015 nhưng bản án đã nhận định sự phù hợp của GDDS so với BLDS 2015

Từ đó, Bản án đã áp dụng quy định của BLDS 2015 để làm căn cứ giải quyết

vụ án

Trong một bản án dân sự khác, cụ thể là bản án dân sự phúc thẩm số 1213/2019/DS-PT ngày 26/12/2019 của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí

Minh đã nhận định việc áp dụng luật như sau: “Đối với các GDDS trên, tuy

ký kết tại thời điểm BLDS năm 2015 chưa có hiệu lực nhưng các GDDS này

có hình thức và nội dung phù hợp với BLDS năm 2015 để điều chỉnh quan hệ tranh chấp trên theo quy định của điều khoản chuyển tiếp Điều 688 vừa nêu

là có căn cứ” Bên cạnh đó, Bản án còn nhận định việc áp dụng Nghị quyết

số 01/2019/NQ-HĐTP để làm căn cứ tính lãi suất

Lãi suất là một trong những nội dung có nhiều thay đổi của BLDS 2015 nên sau ngày 01/01/2017 đã có nhiều xáo trộn khi giải quyết các tranh chấp đối với nội dung này Tuy nhiên, trên thực tế có một số quan điểm khác nhau

trong việc nhận thức tính phù hợp về lãi suất của GDDS so với BLDS 2015

9 Phần 3, mục 3 Giải đáp số 01/GĐ-TANDTC ngày 25/7/2016

10 Bản án số 60/2019/DS-ST ngày 12/11/2019 của Toà án nhân dân huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu

Trang 24

Từ các vụ án thực tế chúng ta có thể thấy rằng việc nhận thức về nội dung của GDDS phù hợp hay không phù hợp với BLDS 2015 vẫn còn khác nhau, dẫn đến việc áp dụng pháp luật khác nhau Việc áp dụng pháp luật không thống nhất, cũng như không đúng đắn về nội dung của GDDS ít nhiều

sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của đương sự Do đó, vấn đề xác định rõ quy định về việc áp dụng luật nội dung, trong đó có vấn đề về lãi suất

là quan trọng và cấp thiết

1.2.3 Kiến nghị hoàn thiện về việc áp dụng Bộ luật dân sự 2015 trong trường hợp căn cứ vào hình thức, nội dung của giao dịch dân sự được thực hiện trước ngày 01/01/2017

a Kiến nghị hoàn thiện về việc áp dụng BLDS 2015 trong trường hợp căn cứ vào hình thức của GDDS được thực hiện trước ngày 01/01/2017

Theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 688 BLDS 2015 quy định

“GDDS chưa thực hiện, đang thực hiện mà có nội dung, hình thức khác với

Bộ luật này hay phù hợp với Bộ luật này” Do đó, theo quan điểm của tác giả

hình thức của GDDS không nhất thiết phải phù hợp với chế định cụ thể của

BLDS mà có thể phù hợp với các quy định chung của BLDS

Ví dụ: Điều 502 của BLDS 2015 quy định “Hợp đồng chuyển quyền sử

dụng đất phải được lập thành văn bản theo hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật này, pháp luật về đất đai và quy định khác của pháp luật có liên quan”; Điểm a khoản 3 Điều 167 Luật đất đai 2013 quy định “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, ”

Trong trường hợp các bên vi phạm về hình thức của GDDS như quy định tại Điều 502 BLDS 2015 và điểm a khoản 3 Điều 167 Luật đất đai nhưng một hoặc các bên đã thực hiện được 2/3 nghĩa vụ Trong trường hợp này mặc

dù có vi phạm về hình thức của GDDS tại các chế định về hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất nhưng lại phù hợp với quy định tại Điều 129 là quy định chung của BLDS 2015 Vì vậy, chúng ta cần phải xem hình thức của GDDS này phù hợp với BLDS 2015 Do đó, khi giải quyết tranh chấp cần phải áp

Trang 25

dụng quy định của BLDS 2015 và văn bản hướng dẫn Bộ luật này để làm cơ

sở giải quyết tranh chấp

Mặt khác, theo quan điểm của tác giả GDDS khi các bên giao kết với mục đích là nhằm để thực hiện, để thoả mãn mong muốn của các bên chứ không nhằm mục đích để tuyên vô hiệu hay để lổ hỏng nhằm bội tín Chính vì vậy, khi ý chí các bên đã thể hiện sự mong muốn đạt được mục đích của mình thông qua hành vi đã thực hiện nghĩa vụ của các bên thì chúng ta cần tôn

trọng và để giao dịch đó hoàn thành

Từ những phân tích trên tác giả kiến nghị:

Thứ nhất, sự phù hợp về hình thức của GDDS trước tiên phải căn cứ

vào sự giống nhau về hình thức của GDDS so với quy định của BLDS 2015

Ví dụ: Khoản 2 ĐIều 504 BLDS 2015 quy định “Hợp đồng hợp tác phải được lập thành văn bản” Trường hợp các bên ký kết hợp đồng hợp tác bằng

văn bản là phù hợp với quy định của BLDS 2015

Thứ hai, trường hợp có sự khác nhau giữa GDDS và BLDS 2015 nhưng

GDDS đó được thực hiện với một hình thức có giá trị chứng minh cao hơn;

Ví dụ: Hợp đồng hợp tác chỉ quy định hình thức là văn bản, trong trường hợp các bên thực hiện việc công chứng hoặc chứng thực thì vẫn được xem là phù hợp với quy định của BLDS 2015

Thứ ba, trong trường hợp các bên vi phạm về hình thức thì cần phải xem xét quy định tại Điều 129 BLDS 2015 để làm căn cứ xác định sự phù hợp của GDDS đó như đã trình bày

b Kiến nghị hoàn thiện về việc áp dụng Bộ luật dân sự 2015 trong trường hợp căn cứ nội dung của GDDS được thực hiện trước ngày 01/01/2017

Việc xác định nội dung của GDDS phù hợp hay không phù hợp với BLDS 2015 vẫn còn nhận thức khác nhau Từ một số nhận thức khác nhau khi giải quyết các vụ việc trên thực tế, theo quan điểm của tác giả để xác định

sự phù hợp hay không phù hợp về nội dung của GDDS so với BLDS 2015 thì

GDDS đó cần phải đáp ứng được các điều kiện sau:

Trang 26

Thứ nhất, nội dung của GDDS chúng ta có thể hiểu là quyền, nghĩa vụ

của các bên khi tham gia giao dịch, quyền và nghĩa vụ này do các bên thoả thuận Một trong những điều kiện có hiệu lực của GDDS quy định tại Điều

117 của BLDS 2015 là nội dung của GDDS không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội Chính vì vậy, khi xác định sự phù hợp của GDDS với BLDS thì trước tiên chúng ta cần phải xác định được GDDS đó không vi

phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội

Thứ hai, sự phù hợp không nhất thiết là phải giống hoàn toàn giữa

GDDS và BLDS mà có thể là sự thoả thuận về nội dung của GDDS không vượt giới hạn mà BLDS cho phép thực hiện Chẳng hạn như, khoản 1 Điều

468 BLDS 2015 quy định “Lãi suất do các bên thoả thuận Trường hợp các

bên có thoả thuận về lãi suất thì lãi suất theo thoả thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có quy định khác”

Giới hạn của sự thỏa thuận về lãi suất là 20%/năm, nếu các bên thoả thuận mức lãi suất từ 20%/năm trở xuống thì chúng ta xác định là phù hợp với

BLDS; ngược lại nếu thoả thuận lãi suất trên 20%/năm là không phù hợp

Thứ ba, “để xác định có phù hợp hay không phù hợp về nội dung, về

hình thức so với quy định của BLDS 2015 thì không phải chỉ đối chiếu một hay một vài điều luật là đủ mà trong nhiều trường hợp phải xem xét toàn bộ các quy định có liên quan đến giao dịch đó để xác định khác hay phù hợp” 11

Ngoài các chế định cụ thể đối với GDDS đó thì để xác định sự phù

hợp hay không phù hợp thì chúng ta cần phải xem xét đến các quy định khác

có liên quan Chẳng hạn đối với hợp đồng chuyển quyền sử dựng đất, ngoài quy định của BLDS 2015 thì chúng ta cần phải xem xét đến quy định của Luật đất đai, Luật kinh doanh bất động sản, việc xem xét toàn diện các quy định có liên quan giúp chúng ta xác định được sự phù hợp hay không phù

hợp của GDDS đó

11 Tưởng Duy Lượng, “Những vấn đề cơ bản về điều khoản chuyển tiếp và thời điểm có hiệu lực của BLDS 2015”, Tạp chí Toà án nhân dân số 17/2018, tr16

Trang 27

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Việc áp dụng pháp luật đối với các giao dịch dân sự phát sinh trước ngày 01/01/2017, nhưng sau ngày này mới phát sinh tranh chấp trên thực tế vẫn còn nhận thức khác nhau Do đó, trong phạm vi Chương 1 tác giả đã tập trung làm rõ các nội dung liên quan đến việc xác định GDDS chưa thực hiện, đang thực hiện; Áp dụng BLDS 2015 trong trường hợp căn cứ vào sự phù hợp hay không phù về hình thức, nội dung của GDDS được thực hiện trước ngày 01/01/2017 Đồng thời tác giả liên hệ với các vụ án trên thực tế để làm rõ thực trạng áp dụng pháp luật đối với các GDDS này Từ đó, tác giả đưa ra một số kiến nghị nhằm góp phần làm rõ hơn nội dung của điều khoản chuyển tiếp, làm nền tảng cho việc thống nhất về nhận thức hơn đối với các điều kiện áp dụng BLDS 2015

Trang 28

CHƯƠNG 2

ÁP DỤNG BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015 TRONG MỘT SỐ QUAN HỆ DÂN SỰ KHÁC PHÁT SINH TRƯỚC NGÀY 01/01/2017

BLDS có phạm vi điều chỉnh rất rộng, điều chỉnh hầu hết các quan hệ

trong đời sống xác hội như “Địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý về cách ứng

xử của cá nhân, pháp nhân; quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản của cá nhân, pháp nhân trong các quan hệ được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự

do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm (sau đây gọi chung là quan

hệ dân sự)” 12

Mặc dù phạm vi điều chỉnh của BLDS rất rộng nhưng hầu hết đều có mối quan hệ cơ hữu với nhau, trong đó GDDS là mối quan hệ được điều chỉnh chiếm phần lớn của Bộ luật Tuy nhiên, các mối quan hệ dân sự khác được BLDS điều chỉnh cũng không kém phần quan trọng, như các quan

hệ về thừa kế hay bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, nhưng các quan hệ này không được quy định chuyển tiếp cụ thể trong BLDS 2015 Trong khi đó, giữa sự giao thoa của hai Bộ luật thì chắc chắn sẽ có những tranh chấp phát sinh đối với các quan hệ phát sinh trước ngày 01/01/2017 Vì vậy, việc áp dụng pháp luật cần phải được điểu chỉnh thống nhất

2.1 Quan hệ về thời hiệu khởi kiện

Thừa kế theo pháp luật, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một trong các quan hệ dân sự phổ biến phát sinh trên thực tế BLDS 2015 là một đạo luật tiến bộ, văn minh cả về kỹ thuật lập pháp cũng như nội dung điều chỉnh các quan hệ xã hội, trong đó có quan hệ về thừa kế theo pháp luật, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Tuy nhiên, việc thay đổi luật sẽ có quy định khác nhau nên trong giai đoạn chuyển giao hiệu lực của các luật thì vấn đề đặt

ra là việc áp dụng luật như thế nào cho phù hợp và đảm bảo pháp chế Đặc biệt đối với các vấn đề pháp luật chưa quy định rõ ràng như việc áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp thừa kế theo pháp luật, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Chính vì vậy, việc nghiên cứu để thống nhất áp dụng pháp luật trong trường hợp này là cần thiết

12 Điều 1 Bộ luật Dân sự 2015;

Trang 29

2.1.1 Bất cập về việc áp dụng Bộ luật dân sự 2015 về thời hiệu khởi kiện đối với quan hệ không phát sinh từ giao dịch dân sự

a) Bất cập về việc áp dụng Bộ luật dân sự 2015 về thời hiệu đối với quan hệ thừa kế theo pháp luật

Đối với BLDS 2015, vấn đề áp dụng thời hiệu được quy định tại điểm d

khoản 1 Điều 688 “Điều đó có nghĩa là các quy định về thời hiệu trong BLDS

2015 có sửa đổi, bổ sung cũng được áp dụng đối với tất cả các quan hệ dân sự, các GDDS được xác lập trước hoặc sau khi BLDS 2015 có hiệu lực 13 ”

Đối với tranh chấp thừa kế tài sản được thụ lý trước ngày 01/01/2017 thì áp dụng quy định về thời hiệu theo BLTTDS 2004 và BLDS 2005 để xác định thời hiệu, thời hiệu chia thừa kế là 10 năm Trong trường hợp hết thời hạn chia thừa kế thì Toà án đình chỉ vụ án theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2004 Tuy nhiên, theo quy định của BLDS 2015 việc chia thừa kế tài sản là bất động sản có thời hạn là 30 năm nên việc khởi kiện yêu

cầu chia di sản thừa vẫn còn “Do đó, sẽ có một số trường hợp theo luật cũ thì

đã hết thời hiệu khởi kiện nhưng theo quy định của BLDS 2015 thì vẫn còn thời hiệu Nếu quan hệ pháp luật này chưa được giải quyết bằng bản án quyết định có hiệu lực của Toà án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (trừ trường hợp đình chỉ giải quyết tranh chấp thừa kế vì lý do hết thời hiệu khởi kiện)” 14

Tuy nhiên, việc áp dụng quy định về thời hiệu khởi kiện trên thực tế giải quyết tranh chấp vẫn còn tồn tại quan điểm áp dụng khác nhau

Do đó, nhằm thống nhất áp dụng pháp luật trên cả nước Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã ban hành án lệ số 26/2018/AL ngày 17/10/2018 Nội dung của án lệ về việc áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp thừa kế tài sản như sau:

“[5] Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01-01-2017), thì thời hiệu để người

Trang 30

thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, kể từ thời điểm

mở thừa kế

[6] Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm

2015, đối với giao dịch dân sự được xác lập trước ngày Bộ luật Dân sự này

có hiệu lực, thì thời hiệu được áp dụng theo quy định của Bộ luật này

[7] Như vậy kể từ ngày Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành, Tòa án áp dụng quy định tại Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 để xác định thời hiệu đối với trường hợp mở thừa kế trước ngày 01-01-2017 Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 36 Pháp lệnh thừa kế ngày 30-8-1990 và Bộ luật Dân

sự năm 2015, trong trường hợp này thời hiệu khởi kiện chia di sản của cụ T cho các đồng thừa kế vẫn còn theo quy định của pháp luật.”

Án lệ đã góp phần tích cực trong việc thống nhất áp dụng thời hiệu trong cả nước Tuy nhiên, sự ra đời của án lệ số 26/2018/AL cũng vấp phải

một số quan điểm khác nhau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng: “Hội đồng thẩm phán Tối cao cần rút lại

Án lệ số 26/2018/AL do nội dung án lệ không đảm bảo về tính pháp lý” 15, với

các lý do sau:

Một là, Điều 688 BLDS quy định “Điều 688 Điều khoản chuyển tiếp:

1 Đối với giao dịch dân sự được xác lập trước ngày Bộ luật này có hiệu lực thì việc áp dụng pháp luật được quy định như sau: a)….; b)….;c)….; d) Thời hiệu được áp dụng theo quy định của Bộ luật này” Thời hiệu được quy định

tại điểm d của khoản 1 Điều 688, trong khi khoản 1 Điều 688 quy định việc

áp dụng luật đối với GDDS Do đó, theo quan điểm này việc áp dụng thời hiệu theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 688 được giới hạn cho GDDS Trong khi đó quan hệ thừa kế theo pháp luật là một quan hệ dân sự khác không phải là GDDS nên việc viện dẫn điểm d khoản 1 Điều 688 để xác định thời hiệu khởi kiện chia thừa kế theo pháp luật của án lệ số 26/2018 là chưa thuyết phục

Trang 31

Hai là, việc viện dẫn khoản 4 Điều 36 Pháp lệnh thừa kế ngày

30-8-1990, nhưng lại bỏ quên Nghị quyết số 02/1990/NQ-HĐTP ngày 19/10/1990 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp lệnh thừa kế 1990 là thiếu sót

Theo đó tại Nghị quyết 02/1990/NQ-HĐTP đã quy định rõ như sau: “10 Về

thời hiệu khởi kiện: Khi áp dụng thời hiệu khởi kiện về thừa kế theo quy định

Điều 36 của Pháp lệnh Thừa kế cần chú ý như sau: a) … ; b) Đối với những việc thừa kế đã mở trước ngày 10-9-1990, thì thời hiệu khởi kiện được tính từ ngày 10-9-1990, do đó: Sau ngày 10-9-2000, đương sự không có quyền khởi kiện để yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác; Sau ngày 10-9-1993, đương sự không có quyền khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại, thanh toán các chi phí từ di sản” Như vậy, tại Nghị quyết

02 đã chốt rõ thời điểm quyền khởi kiện đối với các trường hợp mở thừa kế trước ngày 10/09/1990 Nhưng nay, HĐTP lại áp dụng Điều 623 BLDS 2015

để hồi tố lại quyền khởi kiện đối với các trường hợp mở thừa kế trước ngày 10/09/1990 lại tạo ra sự bất công bằng trong xã hội Vụ án đã được Tòa án thụ

lý vào năm 2010 và xét xử phúc thẩm xong vào ngày 05/04/2014, là thời điểm BLDS 2005 đang có hiệu lực pháp luật và Pháp lệnh thừa kế năm 1990 đã hết hiệu lực từ năm 1996 Việc áp dụng Pháp lệnh thừa kế 1990 cho đến thời điểm này là hoàn toàn không có căn cứ và không phù hợp

Ba là, vụ án đã được Tòa án thụ lý vào năm 2010 và xét xử phúc thẩm ngày 05/04/2014, là thời điểm BLDS 2005 đang có hiệu lực pháp luật và Pháp lệnh thừa kế năm 1990 đã hết hiệu lực từ năm 1996 Việc áp dụng Pháp lệnh thừa kế 1990 cho đến thời điểm này là hoàn toàn không có căn cứ và

không phù hợp Hội đồng thẩm phán cũng đã nhận định tại đoạn [4] “Tòa án

cấp phúc thẩm xác định thời hiệu khởi kiện về thừa kế của cụ T đã hết và không chấp nhận yêu cầu của các nguyên đơn về việc chia tài sản chung đối với phần di sản của cụ T là đúng” Như vậy, Tòa án cấp phúc thẩm đã giải

quyết quyền khởi kiện về thừa kế của cụ T đã hết là phù hợp, là đúng theo các quy định hiện hành tại thời điểm xét xử Căn cứ vào khoản 2 Điều 688 Bộ

luật Dân sự 2015 đã quy định: “Không áp dụng Bộ luật này để kháng nghị

Trang 32

theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với vụ việc mà Tòa án đã giải quyết theo quy định của pháp luật về dân sự trước ngày Bộ luật này có hiệu lực.”

Thì Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao không có căn cứ nào để giám đốc thẩm lại thời hiệu khởi kiện của vụ án

Quan điểm thứ hai cho rằng: “Án lệ số 26 đã mở rộng phạm vi áp dụng

các quy định mới về thời hiệu (thời hiệu mới không chỉ áp dụng cho GDDS

mà và cho cả thừa kế theo pháp luật),… Hướng dẫn nêu trên của án lệ số 26

là hoàn toàn thuyết phục vì các lý do sau đây” 16:

Một là, trước đây một số quy định có phạm vi ban đầu là áp dụng đối với GDDS nhưng thực tế cũng được áp dụng cho cả thừa kế theo pháp luật nên chúng ta đã có tiền lệ;

Hai là, hướng của án lệ số 26 phù hợp với tinh thần sửa đổi các quy định về thời hiệu trong BLDS 2015 vì khi tiến hành chỉnh lý Dự thảo BLDS tại Quốc hội, tinh thần chung mà chúng tôi nhận được là áp dụng ngay các quy định về thời hiệu với chủ trương rất rõ là quy định có lợi cho người dân thì áp dụng ngay và quy định mới về thời hiệu (thời hạn kéo dài so với BLDS 2005) là quy định có lợi cho người dân nên cũng cần được áp dụng ngay

Cả hai quan điểm trên đều đưa ra được nguyên nhân, lập luận để khẳng định quan điểm của mình về việc ủng hộ hay không ủng hộ đối với án

lệ số 26/2018/AL Mặc dù không ảnh hưởng đến giá trị pháp lý của án lệ nhưng các quan điểm khoa học này là một trong những cơ sở để cơ quan lập pháp, Toà án tối cao nghiên cứu, tiếp tục hoàn thiện quy định của pháp luật

Trang 33

đó BLDS 2005 quy định thời hiệu khởi kiện là 02 năm, BLDS 2015 là 03 năm Vì vậy, khi giải quyết tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh trước ngày 01/01/2017 thì vấn đề pháp lý đặt ra là sẽ áp dụng Bộ

luật nào để xác định thời hiệu khởi kiện

Đơn cử vụ án yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm có

nội dung như sau: “Ngày 05/6/2014, ông C, ông K có hành vi gây thương tích

cho bà T Ngày 26/4/2017 bà T khởi kiện yêu cầu ông C, K bồi thường thiệt hại về vật chất 10.500.000đ và tổn thất tinh thần theo quy định” 17

Trong vụ án trên hành vi gây thiệt hại xảy ra vào ngày 05/6/2014 nếu xác định thời hiệu khởi kiện theo quy định của BLDS 2005 thì thời gian hết thời hạn 02 năm là ngày 05/6/2016 Tuy nhiên, đến ngày 26/4/2017 bà T mới thực hiện việc khởi kiện và được Toà án thụ lý, giải quyết Như vậy, việc áp dụng thời hiệu khởi kiện trong vụ án trên có đúng quy định của pháp luật hay chưa, vấn đề này vẫn còn một số quan điểm ủng hộ và không ủng hộ đối với

bản án

Quan điểm ủng hộ (cũng là quan điểm của tác giả) cho rằng: Việc áp dụng kéo dài thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là cần thiết và nên áp dụng ngay vì việc này có lợi cho người bị thiệt hại Mặt khác, việc áp dụng thời hiệu khởi kiện như bản án đã giải quyết

là phù hợp với quy định về thời hiệu khởi kiện của BLDS 2015 nên hoàn toàn

đúng quy định của pháp luật

Tuy nhiên, có quan điểm cho rằng việc áp dụng thời hiệu như bản án trên

là chưa phù hợp, do BLDS 2015 không quy định cụ thể việc chuyển tiếp đối

với quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Do đó, “Trường hợp Tòa án

đã thụ lý đơn khởi kiện, đơn yêu cầu, nhưng đang trong quá trình giải quyết hoặc đã giải quyết nhưng bản án, quyết định giải quyết chưa có hiệu lực pháp luật, thì Tòa án vẫn áp dụng các quy định về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật

17 Bản án dân sự sơ thẩm số 146/2017/DS-ST ngày 23/8/2017 của Toà án nhân dân huyện Châu Phủ, tỉnh

An Giang;

Trang 34

số 65/2011/QH12 và của Bộ luật dân sự năm 2005 để giải quyết” 18

Như vây, theo quan điểm này thì thời hiệu được áp dụng đối với quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh trước ngày 01/01/2017 là hai năm theo quy định của BLDS 2005 Do đó, trong trường hợp người khởi kiện nộp đơn khởi kiện trước ngày 01/01/2017 nếu thời hiệu khởi kiện đã hết thì Toà án thụ lý và đình

chỉ giải quyết vụ án do hết hiệu khởi kiện “Trường hợp Tòa án đã ra quyết

định đình chỉ giải quyết vụ án vì lý do thời hiệu khởi kiện đã hết, thì đương sự không được quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án theo quy định tại điểm d khoản

3 Điều 192 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015” 19

Trên thực tế giải quyết tranh chấp một số vụ án bị đình chỉ giải quyết do hết thời hiệu khởi kiện Tuy nhiên, kể từ ngày 01/01/2017 thì thời hiệu khởi kiện vẫn còn (theo quy định của BLDS 2015 thì thời hiệu khởi kiện là 03 năm) nhưng vụ án lại thuộc trường hợp không được quyền nộp lại đơn khởi kiện Đây là vấn đề bất cập đã làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của

người bị thiệt hại nên cần có sự thay đổi cho phù hợp

2.1.2 Kiến nghị hoàn thiện về việc áp dụng Bộ luật dân sự 2015 về thời hiệu khởi kiện đối với quan hệ phát sinh không phải giao dịch dân sự

Từ những nhận thức khác nhau về áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với quan hệ thừa kế theo pháp luật và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh trước ngày 01/01/2017, tác giả kiến nghị một số quan điểm như sau:

a) Kiến nghị hoàn thiện về áp dụng Bộ luật dân sự 2015 về thời hiệu chia thừa kế theo pháp luật

Trong hệ thống pháp luật thành văn chúng ta, cho dù cố gắng như thế nào đi nữa cũng không thể điều chỉnh các quy phạm pháp luật cho các quan

hệ xã hội một cách hoàn thiện được Do đó, án lệ là một trong những công cụ

hiệu quả để che lắp những khoảng trống này “Án lệ là những lập luận, phán

quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về một vụ

Trang 35

việc cụ thể được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bố là án lệ để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử”20

Không phải bản án, quyết định nào của Toà án cũng có thể trở thành án

lệ mà việc xác định án lệ phải đáp ứng được các tiêu chí như: “1 Có giá trị

làm rõ quy định của pháp luật còn có cách hiểu khác nhau, phân tích, giải thích các vấn đề, sự kiện pháp lý và chỉ ra nguyên tắc, đường lối xử lý, quy phạm pháp luật cần áp dụng trong một vụ việc cụ thể hoặc thể hiện lẽ công bằng đối với những vấn đề chưa có điều luật quy định cụ thể; 2 Có tính chuẩn mực; 3 Có giá trị hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử” 21

Thời hiệu khởi kiện chia thừa kế theo pháp luật là một trong những trường hợp còn có cách hiểu khác nhau nên cần phải có hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử Do đó, tác giả hoàn toàn ủng hộ đối với án

lệ số 26/2018 Bởi lẽ, án lệ số 26/2018 đã che lắp được khoảng trống này và

hướng dẫn việc thống nhất áp dụng pháp luật trên cả nước Theo đó, “thời

hiệu khởi kiện được xác định theo quy định của BLDS 2015 là 30 năm và thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện theo quy định Pháp lệnh thừa kế ngày

30-8-1990”

Mặt khác, theo quan điểm của tác giả về bản chất tài sản thừa kế là tài sản chung của những người được hưởng di sản nên việc kéo dài thời hạn hưởng di sản cũng không ảnh hưởng đến quyền lợi của những người thừa kế theo pháp luật Do đó, việc áp dụng BLDS 2015 để xác định thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp thừa kế tài sản theo pháp luật là hoàn toàn phù hợp

b) Kiến nghị hoàn thiện về việc áp dụng Bộ luật dân sự 2015 về thời hiệu đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Theo quan điểm của tác giả thì khi các chủ thể thực hiện hành vi làm phát sinh là căn cứ phát sinh nghĩa vụ quy định tại Điều 275 của BLDS 2015

20 Điều 1 Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP ngày 18/6/2019 của HĐTP Toà án nhân dân tối cao về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ

21 Điều 2 Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP ngày 18/6/2019 của HĐTP Toà án nhân dân tối cao về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ

Trang 36

thì nghĩa vụ đó cần phải được thực hiện Nghĩa vụ đó được thực hiện trong một thời gian nhất định nhằm đảm bảo quyền yêu cầu của các chủ thể, cũng như đảm bảo trật xã hội chúng ta gọi đó là thời hiệu khởi kiện Pháp luật về dân sự ở nước ta ngày càng nêu cao tinh thần tự định đoạt của đương sự Trong đó, có quy định về thời hiệu khởi kiện, BLDS 2015 đã không ràng buộc một cách cứng nhắc mà quy định vừa cứng lại vừa buông, đó là áp dụng thời hiệu theo yêu cầu của đương sự

Do đó, theo quan điểm của tác giả về việc áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với các tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng xảy ra trước ngày 01/01/2017 thì áp dụng theo quy định của BLDS 2015 là phù hợp với tinh thần lập pháp

Đối với những vụ án đã bị đình chỉ giải quyết vụ án mà sau ngày 01/01/2017 vẫn còn thời hiệu khởi kiện theo quy định của BLDS 2015 thì cần phải có quy định mở rộng cho phép người bị thiệt hại có quyền nộp lại đơn khởi kiện

Theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 103/2015/Qh13 và Điều 4 Nghị quyết số 02/2016/NQ-HĐTP thì thời hiệu khởi kiện được xác định tại thời điểm nộp đơn khởi kiện Quy định này chỉ có lợi khi người khởi kiện nộp đơn kiện sau ngày 01/01/2017 nhưng trong một số trường hợp như trình bày tại phần bất cập lại ảnh hưởng đến quyền của đương sự Chính vì vậy, tác giả đề nghị bổ sung quy định về việc áp dụng thời hiệu khởi kiện như sau:

Bổ sung quy định tại Điều 4 Nghị quyết số 02/2016/NQ-QH “Trường

hợp vụ, việc đã bị đình chỉ giải quyết do hết thời hiệu khởi kiện thì người khởi kiện có quyền nộp lại yêu cầu khởi kiện và Toà án áp dụng thời hiệu theo quy định BLDS, TTDS 2015”

2.2 Quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng là một loại quan hệ dân sự không phát sinh từ giao dịch dân sự Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hay còn được gọi là trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng hay là trách nhiệm dân sự

do gây thiệt hại Hành vi trái pháp luật gây thiệt hại là một trong những căn

Trang 37

cứ làm phát sinh nghĩa vụ theo quy định tại khoản 5 Điều 275 BLDS 2015 và

được quy định cụ thể tại Chương XX phần thứ ba của BLDS 2015 “Trách

nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”

Tuy nhiên, cũng như quan hệ thừa kế theo pháp luật, Điều 688 BLDS

2015 cũng không quy định chuyển tiếp đối với quan hệ này nên trên thực tế vẫn

có tồn tại một số quan điểm, nhận thức khác nhau khi giải quyết tranh chấp

2.2.1 Bất cập về áp dụng Bộ luật dân sự 2015 khi có sự khác nhau về giá trị bồi thường thiệt hại đối với về quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

BLDS 2005 và BLDS 2015 có quy định khác nhau về việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Tuy nhiên, việc không quy định điều khoản chuyển tiếp cụ thể đối với quan hệ này nên dẫn đến việc áp dụng luật khác nhau trên thực tế

Ví dụ:“Ngày 01/10/2015, bà N bị bà L bà X, bà H, ông Đ đánh Bà N

yêu cầu bà L, bà X, bà H và ông Đ liên đới bồi thường 9.487.000đ và thiệt hại

về tinh thần theo quy định của pháp luật” 22

Tại phần nhận định của Bản án có

đoạn “Theo quy định tại điểm b, khoản 1.5, Điều 1, mục II của Nghị quyết

03/2006/NQ-HĐTP, ngày 08/7/2006 thì trong mọi trường hợp, khi sức khỏe bị xâm phạm, người bị thiệt hại được bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần…; Theo quy định tại khoản 2 Điều 609 Bộ luật dân sự 2005 thì ”

Tranh chấp trên xảy ra trước ngày 01/01/2017 nhưng sau ngày này mới được giải quyết Theo đó HĐXX đã áp dụng quy định của BLDS 2005 và văn bản hướng dẫn Bộ luật này để giải quyết tranh chấp Quan điểm giải quyết vụ

án này đúng với tinh thần quy định tại khoản 1 Điều 156 LBHVBQPPL là áp dụng luật tại thời điểm phát sinh thiệt hại

Tuy nhiên, cũng sự việc xảy ra trước ngày 01/01/2017 nhưng trong một

số vụ tranh chấp khác lại có quan điểm áp dụng BLDS 2015 để làm căn cứ giải quyết tranh chấp

22 Bản án dân sự số 15/2017/DS-ST ngày 11/4/2017 của Toà án nhân dân huyện Châu Phủ, tỉnh An Giang;

Trang 38

Ví dụ: “Bà T, bà P yêu cầu ông Tr, ông L, ông G bồi thường thiệt hại

do xâm phạm sức khoẻ cho hai bà xảy ra vào ngày 09/6/2015”23 Bản án nhận

định về áp dụng luật như sau: “Sự việc xảy ra vào ngày 09/6/2015; các

nguyên đơn khởi kiện và vụ án được thụ lý ngày 18/10/2016 vào thời điểm Bộ luật dân sự năm 2005 vẫn còn hiệu lực pháp luật Tuy nhiên, thời điểm mở phiên tòa xét xử vụ án thì Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực pháp luật Do vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự 2015, HĐXX áp dụng Bộ luật dân sự năm 2015 giải quyết”

Trên thực tế giải quyết tranh chấp các trường hợp vận dụng pháp luật khác nhau còn diễn ra rất nhiều Việc áp dụng luật khác nhau dẫn đến phán quyết về mức bồi thường thiệt hại khác nhau đối với các vụ án tương tự phát

sinh trước ngày 01/01/2017 Bởi lẽ, “BLDS 2005 và 2015 có nhiều quy định

khác nhau về giá trị bồi thường thiệt hại mà thể hiện rõ nhất là thiệt hại về tinh thần” 24 Chính vì vậy, việc áp dụng pháp luật khác nhau sẽ dẫn đến mức bồi thường thiệt hại sẽ khác nhau làm ảnh hưởng sự công bằng trong xã hội

và không phù hợp với thực tế hiện tại về giá trị của vật chất

Theo quan điểm của tác giả một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này là chưa có hướng dẫn cụ thể về việc áp dụng pháp luật Do

đó, việc nghiên cứu hướng dẫn việc thống nhất áp dụng luật trong trường hợp này là cần thiết

2.2.2 Kiến nghị hoàn thiện về việc áp dụng Bộ luật dân sự 2015 khi có

sự khác nhau về giá trị bồi thường thiệt hại đối với về quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

BLDS 2015 không quy định các trường hợp áp dụng hồi tố đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Theo nguyên tắc của luật dân sự, tố tụng dân sự của nước ta là bình đẳng, không áp dụng quy định có lợi cho một bên nào trong các quan hệ dân sự Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả đối với các tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đó là những thiệt hại

23 Bản án dân sự số 119/2017/DS-ST ngày 18/7/2017 của Toà án nhân dân huyện Châu Phủ, tỉnh An Giang;

24 Xem khoản 2 Điều 609, khoản 2 Điều 610 BLDS 2005; khoản 2 Điều 590, khoản 2 Điều 591 BLDS 2015

Trang 39

về thể xác, tinh thần, tài sản của người bị thiệt hại Những thiệt hại này không thể cân đo đong đếm bằng giá trị, giá trị bồi thường chỉ mang tính tương đối bồi thường một phần nào thiệt hại của người bị thiệt hại Sự thay đổi chính sách, pháp luật là sự điều chỉnh các quan hệ xã hội mới nhằm phù hợp với các quy luật phát triển của xã hội, khắc phục những hạn chế của luật không còn phù hợp trong giai đoạn hiện tại và định hướng trong tương lai Trong đó có giá trị bồi thường thiệt hại cần phải thay đổi cho phù hợp với tính chất mức độ của hành vi, giá trị đồng tiền Chính vì vậy, đối với những vụ án bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng mà hành vi gây thiệt hại thực hiện trước ngày 01/01/2017 mà sau ngày này mới giải quyết thì cần áp dụng quy định mới có lợi cho người bị thiệt hại

Việc áp dụng quy định của luật mới sẽ trái với quy định tại khoản 1 Điều 156 LBHVBQPPL Tuy nhiên, Theo quan điểm của tác giả nhằm đảm đảm bảo quyền lợi tốt nhất của người bị thiệt hại đối với thiệt hại ngoài hợp đồng thì cần phải áp dụng quy định của BLDS 2015 để giải quyết Do đó, trong thời gian tới Toà án nhân dân tối cao cần có hướng dẫn việc áp dụng pháp luật theo hướng áp BLDS 2015 đối với các trường hợp này để thống nhất việc áp dụng pháp luật và đảm bảo quyền lợi của người bị thiệt hại

Trang 40

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Chương 2 tác giả nhận diện và phân tích một số vấn đề điều khoản chuyển tiếp trong quan hệ không phát sinh từ GDDS như thừa kế theo pháp luật và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Đối với hai vấn đề này tác giả xoay quanh việc làm rõ vấn đề áp dụng pháp luật đối với các trường hợp phát sinh trước ngày 01/01/2017 nhưng sau thời điểm này Toà án mới giải quyết

Dựa trên các quy định của pháp luật và thực tiễn xét xử, cũng như các quan điểm khoa học khác tác giả đã nêu lên một số hạn chế, bất cập, đồng thời đưa ra một số kiến nghị nhằm góp phần khắc phục các tình trạng này

Ngày đăng: 01/04/2022, 21:31

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w