Khi đến với tác phẩm này, người đọc không thể không ngỡ ngàng/ bỏ qua/ không xúc động với đoạn thơ sau: dẫn tắt đoạn thơ 2 Thân bài: a Giới thiệu đoạn trích: Đoạn trích trên là phần
Trang 1THAM KHẢO MỘT SỐ CÁCH VIẾT MỞ BÀI NGHỊ LUẬN VĂN CHƯƠNG
Đi từ khái
quát đến cụ
thể (từ nhà
văn đến tác
phẩm và
nhân vật)
Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Kim Lân là một gương mặt độc đáo Do
hoàn cảnh sống của mình, ông am hiểu sâu sắc sinh hoạt, tâm lí của người nông dân Kim Lân được xem là nhà văn của nông thôn, của người dân quê Việt Nam với những
vẻ đẹp mộc mạc mà đậm đà “Làng” là một trong những truyện ngắn đặc sắc nhất của
Kim Lân Tác phẩm này được viết trong thời kì đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, thể hiện một cách sinh động vẻ đẹp của tình yêu làng, lòng yêu nước ở người
nông dân Ai đến với “Làng”, chắc khó quên được ông Hai – một nhân vật nông dân
mang những nét đẹp thật đáng yêu qua ngòi bút khắc họa tài tình của Kim Lân
Nêu trực
tiếp những
suy nghĩ
của người
viết
Tình yêu làng, sự gắn bó với nơi chôn rau cắt rốn là một tình cảm sâu nặng ở con người Việt Nam nói chung, đặc biệt ở người nông dân nói riêng Lịch sử văn học dân tộc từng xây dựng thành công nhiều nhân vật mang tình cảm đáng quý ấy Nhân vật
ông Hai trong truyện ngắn “Làng” của Kim Lân là một trong những trường hợp tiêu
biểu như thế
Mở bài
cho kiểu
bài phân
tích một
tác phẩm
(một
đoạn
trích)
Thời gian vẫn trôi đi và bốn mùa luân chuyển Con người chỉ xuất hiện một lần trong đời và ra đi mãi mãi vào cõi vĩnh hằng Nhưng những gì là thơ, là văn, là tác phẩm nghệ thuật đích thực thì vẫn còn mãi với thời gian Tác phẩm của nhà văn (nhà thơ) là một trong số những tác phẩm nghệ thuật như thế Đặc biệt là trích đoạn sau:
Thời gian không ngừng chuyển động mà chúng ta chỉ sống một lần trên đời với tuổi thọ luôn là một con số hữu hạn Nhưng có một thứ mà con người tạo ra luôn tồn tại song song cùng với thời gian, đó là các bài thơ, câu chuyện, áng văn đi vào lòng người Tác phẩm (đoạn trích sau trong tác phẩm) của nhà văn (nhà thơ) là một trong những sáng tạo nghệ thuật đích thực như thế
(Chủ đề theo đề bài) xưa nay không phải là mới mẻ hoặc hiếm có trong văn học Việt Nam Thế nhưng, khi đến với tác phẩm (đoạn trích sau trong tác phẩm) của tác giả, người đọc mới có những cảm nhận sâu sắc hơn về (chủ đề theo đề bài) ấy
Mở bài
cho kiểu
bài phân
tích một
nhân vật
Trong các tác phẩm văn học Việt Nam, chúng ta đã từng gặp không ít những người (hình ảnh đối lập với đề bài) Nhưng khi tiếp cận sâu hơn vào một số tác phẩm tiêu biểu khác, ta lại bắt gặp những con người hoàn toàn khác Đó là những con người (tương ứng với đề bài) Một trong số đó là nhân vật của tác giả trong tác phẩm
Để xây dựng được một nhân vật có sức lay động, chiếm trọn trái tim người đọc quả là một điều vô cùng khó khăn với người sáng tác Thế nhưng nhà văn (nhà thơ) lại hoàn toàn làm được điều đó Hình ảnh nhân vật trong tác phẩm của ông đã ghi dấu ấn sâu đậm trong lòng người đọc
KẾT BÀI: Ông Hai trong “Làng” là một nhân vật tạo ấn tượng sâu sắc đối với người đọc Qua
truyện ngắn này, bằng những tình huống, chi tiết chân thực, thú vị, bằng nghệ thuật miêu tả tâm lí sinh
động, Kim Lân đã đem đến cho chúng ta một hình tượng hấp dẫn về người nông dân Việt Nam trong
cuộc kháng chiến chống Pháp Tình yêu thiết tha, sự gắn bó sâu nặng với làng quê, đất nước của nhân vật ông Hai luôn luôn có ý nghĩa giáo dục thấm thía đối với các thế hệ bạn đọc
Trang 2GỢI Ý CÁCH LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN
* Lưu ý:
- Khi viết bài văn nghị luận, mỗi luận điểm được trình bày bằng một đoạn văn
- Cần viết bố cục một bài văn hoàn chỉnh vào giấy nháp trước rồi từng bước tìm ý để hoàn chỉnh dàn bài trước khi viết bài văn.
Nghị
luận
về một
sự
việc,
hiện
tượng
đời
sống
1) Mở bài: Giới thiệu vấn đề (theo đề bài) Đây là một sự việc/hiện tượng rất đáng được
quan tâm
2) Thân bài:
a) Nêu biểu hiện: Quả thật, không khó để mỗi chúng ta nhận thấy (sự việc hiện tượng)
khá phổ biến trong xã hội Đó là (biểu hiện 1) Ngoài ra còn phải kể đến việc (biểu hiện 2) Hoặc cũng có thể là (biểu hiện 3)
b) Nêu nguyên nhân: Những hành động/hành vi đó được bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân
khác nhau Trước tiên cần phải nói đến là do từ chính (cá nhân)… Nhưng không chỉ mỗi (cá nhân), chính gia đình (xã hội) cũng là nguyên nhân dẫn đến sự việc/hiện tượng này….Và cả những nhân tố trong xã hội cũng khiến cho sự việc/hiện tượng này trở nên phổ biến, Đó là việc
c) Nêu tác hại/tác dụng: Sự việc/hiện tượng đó đã để lại nhiều tác hại khôn lường (hoặc:
đem lại nhiều kết quả tích cực) Trước hết là chính (cá nhân)… Bên cạnh đó, gia đình (hoặc
xã hội) cũng chịu tác động không kém…
d) Việc làm đúng: Để hạn chế tối đa những tác hại (hoặc: phát huy thêm những tác động
tích cực) của sự việc/hiện tượng, rất cần có những biện pháp khả thi của tất cả mọi người Trước hết là (cá nhân)…Ngoài ra, gia đình (hoặc xã hội) cũng phải…
3) Kết bài: Có thể thấy rằng/Nhìn chung/Nói tóm lại, sự việc/hiện tượng trong xã hội hiện
này đang khá phổ biến bởi nhiều nguyên nhân, và đã để lại nhiều hậu quả (hoặc: mang lại nhiều điều đáng mừng) Vì thế mà mỗi người chúng ta cần phải có những hành động cụ thể
để hạn chế nó (hoặc: phát huy nó) Bản thân em cũng sẽ …
Nghị
luận về
một
vấn đề
tư
tưởng
đạo lí
1) Mở bài: Trong đời sống, trong giao tiếp/trong học tập, (vấn đề) là một hành vi/hành
động/thái độ/phẩm chất không thể thiếu Điều này có ý nghĩa rất quan trọng
2) Thân bài:
a) Giải thích: Trước hết, ta cần hiểu được (vấn đề) có nghĩa là
b) Bàn luận:
- Có lẽ ai trong chúng ta cũng biết rằng (vấn đề) có một vai trò rất to lớn Nó giúp ta (tác dụng thứ nhất) Bên cạnh đó, (vấn đề) còn (tác dụng thứ hai)
- Ta có thế thấy rõ điều đó ở (dẫn chứng)
- Ấy vậy mà hiện nay vẫn còn có một số người (những ai đi ngược lại vấn đề) Những
con người này thật đáng bị chê trách/chỉ trích/phê phán/lên án
c) Bài học nhận thức và hành động: (vấn đề) có một vai trò/ý nghĩa/tác dụng lớn lao
Chính vì vậy mà mỗi người chúng ta hãy (nêu hành động đúng cho mọi người)
3) Kết bài: Có thể thấy rằng/Nhìn chung/Nói tóm lại, (vấn đề) đó có một vai trò/ý nghĩa/tác
dụng hết sức quan trọng trong cuộc sống/trong giao tiếp/trong học tập nên chúng ta cần phải biết rèn luyện/phát huy Là một công dân nhỏ tuổi, em thấy mình cũng phải
Nghị
luận
một
đoạn
thơ
1) Mở bài: Tác giả … đã khắc họa/ miêu tả/ bày tỏ/ tái hiện (chủ đề) trong bài thơ… Khi
đến với tác phẩm này, người đọc không thể không ngỡ ngàng/ bỏ qua/ không xúc động với
đoạn thơ sau: (dẫn tắt đoạn thơ)
2) Thân bài:
a) Giới thiệu đoạn trích: Đoạn trích trên là phần (đầu/giữa/cuối) của tác phẩm … được
tác giả … sáng tác bằng thể thơ… Có thể thấy đoạn trích đã nói lên/ khắc họa/ miêu tả/ bày
Trang 3tỏ/ tái hiện (các luận điểm)
b) Giới thiệu luận điểm 1: Mở đầu đoạn trích, tác giả…đã đưa người đọc đến với (luận
điểm 1) dẫn thơ cảm nhận về nội dung và nghệ thuật của luận điểm 1
c) Giới thiệu luận điểm 2: Khép lại đoạn trích, người đọc được cảm nhận những (luận
điểm 2) dẫn thơ cảm nhận về nội dung và nghệ thuật của luận điểm 2
3) Kết bài: Có thể thấy đoạn thơ thật đặc sắc nhờ cách dùng (nghệ thuật: thể thơ/từ ngữ -
câu/biện pháp tu từ/giọng thơ) của (tên tác giả) Nhờ đó mà người đọc cảm nhận được (chủ
đề) thật rõ ràng/sâu sắc/cụ thể Đoạn thơ nói riêng và (tên tác phẩm) nói chung đã để lại một
dư âm sâu lắng trong tâm hồn của biết bao thế hệ bạn đọc (hoặc: bồi đắp/khơi gợi thêm cho
mỗi chúng ta một…)
Nghị
luận
một
đoạn
truyện
1) Mở bài: Tác giả … đã khắc họa/ miêu tả/ bày tỏ/ tái hiện (chủ đề) trong (tên tác phẩm)
Khi đến với tác phẩm này, người đọc không thể không ngỡ ngàng/ bỏ qua/ không xúc động
với đoạn trích sau: (dẫn tắt đoạn trích)
2) Thân bài:
a) Giới thiệu đoạn trích: Đoạn trích trên là phần (đầu/giữa/cuối) của truyện ngắn (tên tác
phẩm) của (tên tác giả) Đó là câu chuyện kể về (tên nhân vật), (tóm tắt sơ lược tình huống
dẫn đến đoạn trích) để rồi từ đó (tên nhân vật) đã được khắc họa/ miêu tả bởi (các luận
điểm)
b) Giới thiệu luận điểm 1: Trước tiên, người đọc dễ dàng nhận thấy (tên nhân vật) đã có
(luận điểm 1) đánh giá những hành động, cử chỉ, lời nói của nhân vật theo trình tự của đoạn trích
c) Giới thiệu luận điểm 2: Bên cạnh đó, (tên nhân vật) cũng khiến người đọc xúc
động/cảm mến bởi (luận điểm 2)
d) Đánh giá nghệ thuật đoạn trích: Đoạn trích trên của tác giả còn lôi cuốn người đọc bởi cách kể chuyện hấp dẫn Từ cách xây dựng tình huống truyện hấp dẫn đến cách xây dựng nhân vật thật độc đáo và cả cách sử dụng ngôn ngữ kể chuyện của tác giả đã khiến cho đoạn trích trở nên sinh động, làm điểm nhấn cho tác phẩm
3) Kết bài: Có thể thấy đoạn trích đã thể hiện hết cái tài trong việc kể chuyện của (tên tác
giả) Nhờ đó mà người đọc cảm nhận được (chủ đề) thật rõ ràng/sâu sắc/cụ thể Đoạn trích
nói riêng và (tên tác phẩm) nói chung đã để lại một dư âm sâu lắng trong tâm hồn của biết
bao thế hệ bạn đọc (hoặc: bồi đắp/khơi gợi thêm cho mỗi chúng ta một…)
Nghị
luân hai
đoạn
thơ
không
liền
nhau
trong
một tác
phẩm
1) Mở bài: Tác giả … đã khắc họa/ miêu tả/ bày tỏ/ tái hiện (chủ đề) trong bài thơ… Khi
đến với tác phẩm này, người đọc không thể không ngỡ ngàng/ bỏ qua/ không xúc động với
hai đoạn thơ sau: (dẫn tắt hai đoạn thơ)
2) Thân bài:
a) Giới thiệu hai đoạn thơ: Cả hai đoạn thơ cùng khắc họa/ miêu tả/ bày tỏ/ tái hiện (chủ
đề) bằng thể thơ… Nhưng nếu đoạn thơ thứ nhất là phần (đầu/giữa) của bài thơ nói về/khắc họa/ miêu tả/ bày tỏ/ tái hiện (luận điểm 1) thì đoạn thơ thứ hai lại nằm ở phần (giữa/cuối)
để nói về/khắc họa/ miêu tả/ bày tỏ/ tái hiện (luận điểm 2)
b) Giới thiệu luận điểm 1: Những câu thơ đầu tiên đã đưa người đọc đến với (luận điểm
1) dẫn thơ cảm nhận về nội dung và nghệ thuật của luận điểm 1
c) Giới thiệu luận điểm 2: Từ (luận điểm 1), (tên tác giả) đã nói về/khắc họa/ miêu tả/ bày
tỏ/ tái hiện (sơ lược nội dung đoạn thơ ở giữa bị cắt) để rồi từ đó người đọc cảm nhận được
(luận điểm2) dẫn thơ cảm nhận về nội dung và nghệ thuật của luận điểm 2
d) Đánh giá: Có thể thấy cả hai đoạn thơ đã nói lên/ khắc họa/ miêu tả/ bày tỏ/ tái hiện
(chủ đề) thật rõ ràng/sâu sắc/cụ thể Ở đoạn thơ đầu tiên, bằng (nghệ thuật: thể thơ/từ ngữ - câu/biện pháp tu từ/giọng thơ), (tên tác giả) đã nói lên/ khắc họa/ miêu tả/ bày tỏ/ tái hiện
Trang 4(luận điểm 1 – đánh giá) Còn ở đoạn thơ sau, với (nghệ thuật), (tên tác giả) lại nói lên/ khắc họa/ miêu tả/ bày tỏ/ tái hiện (luận điểm 2 – đánh giá) Đặc biệt hơn, (chủ đề) ở đoạn thơ thứ hai nổi bật hơn/cụ thể hơn/ sâu sắc hơn so với đoạn thơ thứ nhất bởi từ … mà trở thành/thay đổi/nâng cấp/phát triển thành…
3) Kết bài: Như vậy, (chủ đề) của hai đoạn thơ đã dần dần đi vào lòng người đọc một cách
thật ấn tượng/thật thấm thía khó có thể quên nhờ phong cách sáng tác thơ của (tên tác giả)
Hai đoạn thơ nói riêng và (tên bài thơ) nói chung đã để lại một dư âm sâu lắng trong tâm hồn
của biết bao thế hệ bạn đọc (hoặc: bồi đắp/khơi gợi thêm cho mỗi chúng ta một…)
Nghị
luận hai
đoạn
thơ ở
hai tác
phẩm
1) Mở bài: (2) tác giả … đã khắc họa/ miêu tả/ bày tỏ/ tái hiện (chủ đề) trong (2) bài thơ…
Khi đến với (2) tác phẩm này, người đọc không thể không ngỡ ngàng/ bỏ qua/ không xúc động với hai đoạn thơ sau: (dẫn tắt hai đoạn thơ – chú ý ghi tên tác giả và tác phẩm dưới mỗi
đoạn thơ)
2) Thân bài:
a) Giới thiệu hai đoạn thơ: Cả hai đoạn thơ cùng khắc họa/ miêu tả/ bày tỏ/ tái hiện (chủ
đề) Nhưng nếu đoạn thơ thứ nhất nói về/khắc họa/ miêu tả/ bày tỏ/ tái hiện (luận điểm 1) bằng thể thơ … thì đoạn thơ thứ hai lại nói về/khắc họa/ miêu tả/ bày tỏ/ tái hiện (luận điểm
2) bằng thể thơ
b) Giới thiệu luận điểm 1: Những câu thơ đầu tiên của (tên tác giả hoặc tên tác phẩm) đã
đưa người đọc đến với (luận điểm 1) dẫn thơ cảm nhận về nội dung và nghệ thuật của luận điểm 1
c) Giới thiệu luận điểm 2: Trong khi đó/ Còn những dòng thơ của (tên tác giả hoặc tên tác
phẩm) lại khiến người đọc cảm nhận được (luận điểm 2) dẫn thơ cảm nhận về nội dung và nghệ thuật của luận điểm 2
d) Đánh giá: Có thể thấy cả hai đoạn thơ đã nói lên/ khắc họa/ miêu tả/ bày tỏ/ tái hiện
(chủ đề) thật rõ ràng/sâu sắc/cụ thể Nhưng mỗi đoạn thơ vẫn có một nét riêng độc đáo Ở
đoạn thơ đầu tiên, bằng (nghệ thuật: thể thơ/từ ngữ - câu/biện pháp tu từ/giọng thơ), (tên tác
giả) đã nói lên/ khắc họa/ miêu tả/ bày tỏ/ tái hiện (luận điểm 1 – đánh giá) Còn ở đoạn thơ sau cùng, với (nghệ thuật), (tên tác giả) lại nói lên/ khắc họa/ miêu tả/ bày tỏ/ tái hiện (luận
điểm 2 – đánh giá)
3) Kết bài: Như vậy, (chủ đề) của hai đoạn thơ đã dần dần đi vào lòng người đọc một cách
thật ấn tượng/thật thấm thía khó có thể quên nhờ phong cách sáng tác thơ của (tên 2 tác giả)
Hai đoạn thơ nói riêng và (tên bài thơ) nói chung đã để lại một dư âm sâu lắng trong tâm hồn
của biết bao thế hệ bạn đọc (hoặc: bồi đắp/khơi gợi thêm cho mỗi chúng ta một…)
ĐỀ THỰC HÀNH
1) Cảm nhận về những điều tác giả muốn nhắn gửi trong hai đoạn trích sau:
Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hòa ca
Một nốt trầm xao xuyến
Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc
(“MXNN”, Thanh Hải)
Người đồng mình thô sơ da thịt Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương Còn quê hương thì làm phong tục
Con ơi tuy thô sơ da thịt Lên đường
Không bao giờ nhỏ bé được Nghe con
(Nói với con”, Y Phương)
2) Cảm nhận của em về tình bà cháu trong hai đoạn thơ sau:
Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
Trang 5Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy
Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay
Mấy chục năm rồi đến tận bây giờ
Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi Nhóm nồi xôi gạp mới xẻ chung vui
Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa (“Bếp lửa” – Bằng Việt)
3) Phân tích sự thay đổi tâm trạng của bé Thu trong hai đoạn trích sau:
(…) Trong bữa cơm đó, anh Sáu gắp một cái trứng cá to vàng để vào chén nó Nó liền lấy đũa soi vào chén, để đó rồi bất thần hất cái trứng ra, cơm văng tung tóe cả mâm Giận quá và không kịp suy nghĩ, anh vung tay đánh vào mông nó và hét lên :
- Sao mày cứng đầu quá vậy hả ?
Tôi tưởng con bé sẽ lăn ra khóc, sẽ giẫy, sẽ đạp đổ cả mâm cơm, hoặc sẽ chạy vụt đi Nhưng không, nó ngồi im, đầu cúi gằm xuống Nghĩ thế nào nó cầm đũa, gắp lại cái trứng cá để vào chén, rồi lặng lẽ đứng dậy, bước ra khỏi mâm Xuống bến, nó nhảy xuống xuồng, mở lòi tói, cô làm cho dây lòi tói khua thật to, rồi lấy dầm bơi qua sông Nó sang qua nhà ngoại, mét với ngoại và khóc ở bên ấy Chiều đó, mẹ nó sang dỗ dành mấy nó cũng không về
(…) Trong lúc đó, nó vẫn ôm chặt lấy ba nó Không ghìm được xúc động và không muốn cho con thấy mình khóc, anh Sáu một tay ôm con, một tay rút khăn lau nước mắt, rồi hôn lên mái tóc con :
- Ba đi rồi ba về với con
- Không ! – Con bé hét lên, hai tay nó siết chặt lấy cổ, chắc nó nghĩ hai tay không thể giữ được
ba nó, nó dang hai chân rồi câu chặt lấy ba nó, và đôi vai nhỏ bé của nó run run
Nhìn cảnh ấy, bà con xung quanh có người không kìm được nước mắt còn tôi bỗng thấy khó thở như có bàn tay ai nắm lấy trái tim tôi
(“Chiếc lược ngà”, Nguyễn Quang Sáng)
4) Cảm nhận của em về đoạn trích sau:
- Trời ơi, chỉ còn có năm phút !
Chính là anh thanh niên giật mình nói to, giọng cười nhưng đầy tiếc rẻ Anh chạy ra nhà phía sau, rồi trở vào liền, tay cầm một cái làn Nhà họa sĩ tặc lưỡi đứng dậy Cô gái cũng đứng lên, đặt lại chiếc ghế, thong thả đi đến chỗ bác già
- Ô ! Cô còn quên chiếc mùi soa đây này !
Anh thanh niên vừa vào, kêu lên Để người con gái khỏi trở lại bàn, anh lấy chiếc khăn tay còn
vo tròn cặp giữa cuốn sách tới trả cho cô gái Cô kĩ sư mặt đỏ ửng, nhận lại chiếc khăn và quay vội
đi
- Chào anh - Đến bậu cửa, bỗng nhà họa sĩ già quay lại chụp lấy tay người thanh niên lắc mạnh - Chắc chắn rồi tôi sẽ trở lại Tôi ở với anh ít hôm được chứ ?
Đến lượt cô gái từ biệt Cô chìa tay ra cho anh nắm, cẩn trọng, rõ ràng, như người ta cho nhau cái gì chứ không phải là cái bắt tay Cô nhìn thẳng vào mắt anh - những người con gái sắp xa ta, biết không bao giờ gặp ta nữa, hay nhìn ta như vậy
- Chào anh
Lần đầu, chính là anh thanh niên quay mặt đi Anh ấn cái làn vào tay bác già và nói vội vã :
- Cái này để ăn trưa cho bác, cho cô và bác lái xe Cháu có bao nhiêu là trứng, ăn không xuể Cháu không tiễn bác và cô ra xe được, vì gần tới giờ “ốp” rồi Thôi chào bác, chào cô Bác sẽ trở lại nhé
Hai ông con theo bậc cấp bước xuống đồi, đến mặt đường nhìn lên, không thấy người con trai đứng đấy nữa Anh ta đã vào nhà trong Ông xách cái làn trứng, cô ôm bó hoa to Lúc bấy giờ, nắng
đã mạ bạc cả con đèo, đốt cháy rừng cây hừng hực như một bó đuốc lớn Nắng chiếu làm cho bó hoa càng thêm rực rỡ và làm cho cô gái cảm thấy mình rực rỡ theo Hai người lững thững đi về phía chiếc
xe đỗ, im lặng rất lâu Bỗng bác già nhìn đồng hồ nói một mình :
- Thanh niên bây giờ lạ thật ! Các anh chị cứ như con bướm Mà đã mười một giờ, đến giờ “ốp” đâu ? Tại sao anh ta không tiễn mình đến tận xe nhỉ ?
Trang 6Cô gái liếc nhìn bác già một cái rất nhanh, tự nhiên hồi hộp, nhưng vẫn im lặng
(Trích Lặng lẽ Sa Pa, Nguyễn Thành Long, Ngữ văn 9, Tập một)
5) Phân tích một trong ba đoạn thơ sau để thấy được vẻ đẹp của con người Việt Nam:
Ta hát bài ca gọi cá vào,
Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao
Biển cho ta cá như lòng mẹ
Nuôi lớn đời ta tự buổi nào
Sao mờ, kéo lưới kịp trời sáng,
Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng
Vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng đông,
Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng
Câu hát căng buồm với gió khơi,
Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời
Mặt trời đội biển nhô màu mới,
Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi
Những chiếc xe từ trong bom rơi
Đã về đây họp thành tiểu đội Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi
Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy Võng mắc chông chênh đường xe chạy Lại đi, lại đi trời xanh thêm
Không có kính, rồi xe không có đèn, Không có mui xe, thùng xe có xước,
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước : Chỉ cần trong xe có một trái tim
Người đồng mình thương lắm con ơi Cao đo nỗi buồn
Xa nuôi chí lớn Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn Sống trên đá không chê đá gập ghềnh Sống trong thung không chê thung nghèo đói Sống như sông như suối
Lên thác xuống ghềnh Không lo cực nhọc Người đồng mình thô sơ da thịt Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương Còn quê hương thì làm phong tục
KIẾN THỨC TIẾNG VIỆT
* Lưu ý:
- Đọc thật kĩ đề bài, đề hỏi gì trả lời nấy
- Nếu câu hỏi có hai ý thì cần trả lời rõ ràng từng ý, không nhập chung vào một câu trả lời
dễ bị thiếu ý
Các phương châm hội thoại: PC về lượng, PC về chất, PC cách thức, PC quan hệ, PC lịch sự
Các thành phần biệt lập: thành phần tình thái, thành phần cảm thán, thành phần phụ chú, thành phần
gọi – đáp
Các phép liên kết: phép nối, phép thế, phép lặp, phép đồng nghĩa, phép trái nghĩa, phép liên tưởng Khởi ngữ: là thành phần câu đứng trước chủ ngữ để nêu lên đề tài được nói đến trong câu
Nghĩa tường minh: là phần thông báo được diễn đạt trực tiếp bằng từ ngữ trong câu
Hàm ý: là phần thông báo tuy không được diễn đạt trực tiếp bằng từ ngữ trong câu nhưng có thể suy
ra từ những từ ngữ ấy
Cách dẫn trực tiếp, cách dẫn gián tiếp:
- Về hình thức: được đặt trong dấu ngoặc kép
(hoặc xuống dòng gạch đầu dòng)
- Về nội dung: nhắc lại nguyên văn lời nói hay ý
nghĩ của người hoặc nhân vật
- Về hình thức: không được đặt trong dấu ngoặc kép
- Về nội dung: thuật lại lời nói hay ý nghĩ của người hoặc nhân vật, có điều chỉnh cho thích hợp