Văn hoá doanh nghiệp là cách nghiên cứu phản ánh cách tiếp cận từ góc độ quản lý thực hành trong doanh nghiệp với tư cách một công cụ quản lý vận dụng để điều hành doanh nghiệp hoạt động
Trang 11
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
-*** -
BÁO CÁO TIỂU LUẬN MÔN HÀNH VI TỔ CHỨC
-*** -
NGHIÊN CỨU VĂN HÓA HỮU HÌNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ ĐÀ NẴNG
Giảng viên hướng dẫn: TS NGUYỄN THỊ BÍCH THU Học viên thực hiện: HỒ SỸ PHƯỚC LÂM
Lớp: K39.QTR.ĐN
Trang 2A VĂN HOÁ VÀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP
I TỔNG QUAN VỀ VĂN HOÁ
Văn hoá là một phạm trù rất rộng, phản ánh mọi mặt của đời sống con người Văn hóa vừa là sản phẩm sáng tạo của loài người, vừa là giá trị tạo nên cuộc sống của con người và sự tiến bộ của nhân loại
Văn hoá doanh nghiệp là cách nghiên cứu phản ánh cách tiếp cận từ góc độ quản lý thực hành trong doanh nghiệp với tư cách một công cụ quản lý vận dụng để điều hành doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trường toàn cầu hoá ngày nay
Quan niệm của người phương Tây và người phương Đông có đặc điểm chung nhưng cũng có những điểm khác nhau
+ Điểm chung giữa hai quan điểm văn hoá bao gồm nhiều tầng, lớp thể hiện những giá trị khác nhau được biểu hiện bằng những dấu hiệu khác nhau về khả năng nhận biết
Trang 3Theo cách tiếp cận của người phương Tây, văn hoá hình thành gồm ba lớp Thế giới quan, nhân sinh quan và niềm tin hình thành từ đó nằm ở hạt nhân Những giá trị này được thể hiện ra thành những ước mơ, hoài bão, triết lý, nguyên tắc hành động ở lớp trung gian Ở lớp ngoài cùng là những biểu hiện đặc trưng (biểu trưng trực quan), như mục tiêu, hành động/hành vi, thái độ, kết quả Một trong những tư tưởng có ảnh hưởng rất quan trọng đến đời sống của người phương Đông là thuyết Đức trị của Khổng Tử Trên nền tảng Đạo Nhân với năm chữ: Nhân - Nghĩa - Lễ - Trí - Tín, thuyết Đức trị nhấn mạnh đến vai trò của con người và nhân cách: tự thân là chữ đầu tiên đối với mỗi người để làm nên nghiệp lớn Nếu mô tả tư tưởng của đạo nhân thành cấu trúc ba lớp, chữ - nhân sẽ nằm ở
vị trí ở trung tâm với vai trò triết lý chi phối nhận thức và hành vi con người, các chữ - nghĩa, - lễ và - trí ở lớp giữa thể hiện phương châm hành động và - tín ở lớp ngoài cùng thể hiện mục đích và hệ quả của hành vi Về phương châm, trong ba chữ, - nghĩa là thể hiện phương châm hành động của cá nhân, -lễ gắn với phương pháp, thói quen, kinh nghiệm hành động, và - trí gắn với phương tiện, tri thức Chữ - tín thể hiện mục đích bởi thể hiện điều mình theo đuổi, nhưng lại thể hiện hệ quả do được nhận thức và đánh giá bởi những người khác Vận dụng đối với một tổ chức/doanh nghiệp, - nhân được hiểu là triết lý kinh doanh, triết lý quản lý; - nghĩa được hiểu là triết lý, kinh nghiệm, chuẩn mực hành vi của từng cá nhân; - lễ là quy định, nguyên tắc, phương pháp điều hành và ra quyết định, môi trường lao động; - trí là phương tiện công nghệ, điều kiện tác nghiệp; và tín là mục tiêu kinh doanh và kết quả thực hiện mục tiêu Tuy chưa được khái quát trong lý thuyết quản trị doanh nghiệp hiện đại, tư tưởng này đã được vận dụng trong các doanh nghiệp từ trước đến nay không chỉ ở phương Đông, mà còn ở nhiều doanh nghiệp phương Tây hiện nay
• Vận dụng khái niệm văn hoá vào doanh nghiệp
Văn hoá doanh nghiệp là một phương pháp quản lý kinh doanh được xây dựng và thực thi bởi tất cả các thành viên, thể hiện một bản sắc, phong cách riêng, có thể nhận biết nhờ những dấu hiệu đặc trưng, thể hiện những ý nghĩa, hình ảnh và giá trị nhất định đối với các đối tượng hữu quan, và được tổ chức, doanh nghiệp sử dụng để tạo lập lợi thế cạnh tranh bằng thương hiệu khi hoạt động trong nền kinh tế toàn cầu
II VĂN HOÁ DOANH NGHIỆP
1 Định nghĩa
Văn hoá doanh nghiệp bao gồm một hệ thống những ý nghĩa, giá trị, niềm tin chủ đạo, cách nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành viên trong một tổ chức cùng thống nhất và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến nhận thức và hành động của từng thành viên
Trang 4Xây dựng văn hoá doanh nghiệp thực chất:
- Về nội dung, là xây dựng và đạt được sự đồng thuận về một hệ thống các giá trị, triết
lý hành động và phương pháp ra quyết định đặc trưng cho phong cách của doanh nghiệp
và cần được tuân thủ nghiêm túc;
- Về mục đích, là thiết kế và triển khai các chương trình hành động nhằm đưa hệ thống các giá trị và phương pháp hành động vào trong nhận thức và phát triển thành năng lực hành động của các thành viên tổ chức; và
- Về tác động mong muốn, là hỗ trợ cho các thành viên để chuyển hoá hệ thống các giá trị và triết lý hành động đã nhận thức và năng lực đã hình thành thành động lực và hành động thực tiễn
2 Vai trò của văn hoá doanh nghiệp trong quản lý
Văn hóa doanh nghiệp trong quản lý thể hiện hai vai trò quan trọng sau:
- Văn hóa doanh nghiệp là công cụ triển khai chiến lược
- Văn hóa doanh nghiệp là phương pháp tạo động lực cho người lao động và sức mạnh đoàn kết cho tổ chức, doanh nghiệp
III CÁC DẤU HIỆU ĐẶC TRƯNG CỦA VĂN HOÁ DOANH NGHIỆP
1 Các biểu trưng trực quan
Các biểu trưng trực quan điển hình bao gồm:
- Đặc điểm kiến trúc - là phong cách, màu sắc, kiểu dáng kiến trúc, thiết kế;
- Nghi thức đặc trưng, hành vi, trang phục, lễ nghi, quy định, nội quy…;
- Biểu trưng ngôn ngữ, khẩu hiệu, từ ngữ đặc trưng;
- Biểu trưng phi-ngôn ngữ, biểu tượng, lo-gô, linh vật…;
- Mẩu chuyện, tấm gương, giai thoại, huyền thoại, nhân vật điển hình…;
- Ấn phẩm, tài liệu VHDN, chương trình quảng cáo, tờ rơi, bảo hành, cam kết…;
Trang 5- Truyên thống, giá trị, nề nếp, hành vi, tấm gương… trong quá khứ cần gìn giữ, tôn tạo, phát huy
2 Các biểu trưng phi-trực quan
Các biểu trưng phi - trực quan là những dấu hiệu đặc trưng thể hiện mức độ nhận thức đạt được ở các thành viên và những người hữu quan về văn hoá công ty Tuỳ theo mức độ nhận thức, trạng thái biểu cảm và tính chủ động trong hành vi, các biểu trưng phi-trực quan có thể được chia thành bốn cấp độ từ thấp đến cao là:
- Giá trị, biết những việc cần phải làm, những yêu cầu cần đápứng, những hành vi cần thực hiện, những quy định cần tuân thủ;
- Thái độ, hiểu được ý nghĩa của những việc cần phải làm, những yêu cầu cần đáp ứng, những hành vi cần thực hiện, những quy định cần tuân thủ;
- Niềm tin, thấy được lợi ích/giá trị của những việc cần phải làm, những yêu cầu cần đáp ứng, những hành vi cần thực hiện, những quy định cần tuân thủ đối với bản thân và mọi người;
- Nguyên tắc, coi việc thực hiện của những việc cần phải làm, những yêu cầu cần đáp ứng, những hành vi cần thực hiện, những quy định cần tuân thủlà cách hành động đúng đắn, tốt nhất đối với bản thân
Trang 6B VĂN HÓA HỮU HÌNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ ĐÀ NẴNG
1 Đặc điểm kiến trúc
Trong những năm qua, nhờ tăng cường công tác đầu tư nên đến nay Trường đã có một hệ thống cơ sở vật chất khá khang trang với các trang thiết bị phục vụ đào tạo, nghiên cứu và sinh hoạt tương đối hiện đại, cơ bản đáp ứng được các hoạt đổi mới giáo dục đại học đang được triển khai tại Trường Đặc biệt hệ thống thư viện đã được tăng cường đầu
tư lớn Nhờ đó số lượng đầu sách hiện có lên 12.906 với 228.711 bản sách, trong đó có nhiều bản sách ngoại văn có giá trị cao đáp ứng được nhu cầu học tập, nghiên cứu khoa học của giáo viên, sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh Hệ thống cơ sở vật chất phục vụ sinh hoạt như sân chơi thể thao, nhà tập, căn tin, ký túc xá, không gian cây xanh, ghế đá được cải tạo, xây mới hoặc trang bị tương đối đồng bộ và tiện dụng trên khuôn viên rộng gần 4,5 ha ngay trong nội đô thành phố Trường hiện có trên 90 phòng học và phòng tự học với tổng diện tích 18.142 m2, có sức chứa trên 5.000 chỗ ngồi tại mỗi thời điểm, trong đó có gần 30 phòng đã được cải tạo, trang bị mới hiện đại đáp ứng yêu cầu học tập của sinh viên chất lượng cao, sinh viên các chương trình liên kết đào tạo quốc tế Ngoài
ra, Trường còn có 04 phòng máy tính với gần 250 máy nối mạng internet được mở cửa thường xuyên cho sinh viên sử dụng Có 03 hội trường, nhiều phòng họp nhỏ và phòng chuyên đề phục vụ cho nhu cầu đào tạo, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế và quản lý điều hành của nhà trường Hệ thống máy chủ được đầu tư đồng bộ với nhiều phần mềm chuyên dụng đã giúp cho công tác quản lý điều hành, công tác quản lý đào tạo, nghiên cứu khoa học được tin học hóa cao, là tiền đề quan trọng để phát triển hệ thống quản trị trường đại học theo hướng hiện đại
Trang 82 Nghi thức đặc trưng
+ Nghi thức lễ ra mắt chức vụ mới, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đảm nhận vai trò mới + Tuyên dương, khen thưởng: tạo động lực cho các tập thể, cá nhân phấn đấu
+ Liên hoan, tổng kết: tạo điều kiện để các thành viên gắn bó, giao lưu với nhau, khích lệ tinh thần
Trang 93 Biểu trưng ngôn ngữ
Mục tiêu của nền giáo dục tiên tiến là hướng tới xây dựng một xã hội nhân văn, thịnh vượng và phát triển con người toàn diện Do đó, một hệ thống giáo dục phải đảm bảo tính nhân bản, tinh thần tự do và khả năng học tập suốt đời của mỗi cá nhân
Giáo dục đại học có sứ mệnh giúp con người làm việc độc lập, sáng tạo và giải quyết những vấn đề thuộc lĩnh vực được đào tạo Mỗi thành tố trong hệ thống giáo dục đại học có nhiệm vụ hun đúc tinh thần khoa học, khơi dậy, nuôi dưỡng, phát triển tài năng của mỗi cá nhân, góp phần xây dựng một xã hội phồn vinh và tốt đẹp
Trên cơ sở triết lý giáo dục đó, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng hướng
tới giáo dục đại học có một vai trò làm “nền tảng kiến tạo xã hội tương lai”
- Viễn cảnh: Khát vọng của chúng tôi là trở thành đại học nghiên cứu hàng đầu Việt
Nam, đóng góp tích cực vào sự thịnh vượng của cộng đồng ASEAN và tri thức nhân loại
- Sứ mệnh: Là một trường đại học định hướng nghiên cứu, chúng tôi tạo dựng môi
trường học thuật tiên tiến nhằm thúc đẩy khám phá, ứng dụng, chuyển giao tri thức khoa học kinh tế và quản lý, đảm bảo nền tảng thành công và năng lực học tập suốt đời cho người học, nuôi dưỡng và phát triển tài năng, giải quyết các thách thức kinh tế - xã hội phục vụ sự phát triển thịnh vượng của cộng đồng
- Những giá trị được Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng xây dựng, bảo vệ
và phát triển trở thành nền tảng định hướng mọi hoạt động là: sự chính trực, tôn trọng, cảm thông, hợp tác, sáng tạo
• Sự chính trực: thực hành các nguyên tắc đề cao sự thật, minh bạch và không gian
dối
• Tôn trọng cá nhân: nguyên tắc hành xử có tính nhân văn và chuẩn mực, trong đó
các thành viên phải tôn trọng con người, tôn trọng các giá trị cá nhân và tôn trọng sự khác biệt
• Cảm thông: tất cả thành viên hành động với tinh thần sẻ chia và đồng cảm
• Hợp tác: tinh thần hỗ trợ lẫn nhau của các thành viên
• Sáng tạo: đề cao tinh thần sáng tạo, khám phá và đổi mới: các thành viên được
khuyến khích theo đuổi các tư tưởng và quan điểm mới, liên tục đổi mới và chấp nhận sự khác biệt
4 Biểu tượng, logo
Trang 105 Mẩu chuyện, tấm gương
36 tuổi với 36 công trình nghiên cứu, bao gồm 28 bài báo, báo cáo khoa học, 5 đề tài nghiên cứu và 3 cuốn sách, nỗ lực của TS Đặng Hữu Mẫn đã được thành phố công nhận với 2 bằng khen của Chủ tịch UBND thành phố cho tác giả
có bài báo khoa học được công bố trên tạp chí khoa học quốc tế có uy tín thuộc danh mục ISI (Viện Thông tin Khoa học, Hoa Kỳ) năm 2017 và 2018, giải thưởng công trình khoa học tiêu biểu của ĐH Đà Nẵng năm 2018 Từ năm 2016 đến nay,
TS Đặng Hữu Mẫn đã công bố 7 bài báo trên các tạp chí quốc tế ISI
Trang 11“Khác với nghiên cứu khoa học kỹ thuật sẽ thấy được kết quả nghiên cứu bằng thực tế, nghiên cứu kinh tế học từ kết luận cuối cùng sẽ rút ra hàm ý để những nhà chuyên môn, nhà hoạch định chính sách của quốc gia, thành phố có sự điều chỉnh sao cho phù hợp Có thể thấy, thị trường tài chính thành phố có tiềm năng phát triển rất lớn nhưng chưa được quan tâm đúng mức, tôi mong muốn những công trình nghiên cứu của mình sẽ đóng góp vào sự phát triển của nền tài chính Việt Nam nói chung và thành phố nói riêng”, TS Đặng Hữu Mẫn cho biết
Các nghiên cứu của TS Đặng Hữu Mẫn chuyên về tài chính công ty, sáp nhập và mua bán và thị trường chứng khoán Bên cạnh đó, TS Mẫn còn thường xuyên phối hợp nghiên cứu với Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế-Xã hội thành phố để tổ chức các hội thảo, hội nghị tư vấn, quản trị cho doanh nghiệp hoạt động hiệu quả Hiện TS Mẫn đang phối hợp nghiên cứu với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Cục Xúc tiến đầu tư nước ngoài (Bộ Công thương) về những rủi ro chính sách ảnh hưởng thế nào tới thị trường tài chính và doanh nghiệp… qua đó, đóng góp vào việc điều chỉnh những chính sách kinh tế
Trong công tác giảng dạy, là Phó Trưởng phòng Khoa học và Hợp tác quốc
tế, Trường Đại học Kinh tế (Đại học Đà Nẵng), TS Đặng Hữu Mẫn thường xuyên làm việc với các trường, cơ sở giáo dục nước ngoài để mời nhiều chuyên gia nổi tiếng của khu vực và thế giới đến Trường Đại học Kinh tế để giảng dạy cho sinh viên Năm 2016, sau thời gian học nghiên cứu sinh tiến sĩ chuyên ngành tài chính tại Đại học La Trobe, Úc, khi trở về giảng dạy tại Trường Đại học Kinh tế, TS Mẫn
đã chủ động mời GS Darren Henry, Trưởng Khoa Tài chính Đại học La Trobe để
hỗ trợ giảng dạy và tư vấn nghiên cứu khoa học
Ngoài những chi phí của nhà trường bỏ ra, TS Đặng Hữu Mẫn cũng đã mời khá nhiều giảng viên nước ngoài cùng cộng tác và giảng dạy từ nguồn tài chính của bản thân với mong muốn truyền được cảm hứng học tập cao nhất cho sinh viên
và cũng là cơ hội cho các giảng viên được trao đổi hiệu quả hơn, về phía nhà trường, việc tăng cường giao lưu, học hỏi giúp phát triển các chương trình hợp tác nghiên cứu “Vừa làm công tác giảng dạy vừa nghiên cứu khoa học nên có nhiều khó khăn về mặt thời gian, tuy nhiên, tôi luôn mong muốn được truyền lửa đam mê nghiên cứu, sáng tạo cho các sinh viên, những người có đủ điều kiện hội nhập quốc
tế và khẳng định mình”, TS Đặng Hữu Mẫn chia sẻ
6 Ấn phẩm
Tạp chí Khoa học Kinh tế (Journal of Economic Studies) là diễn đàn khoa học và giáo dục của Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng, được Bộ Thông
Trang 12tin và Truyền thông cấp Giấy phép hoạt động số 2469/GP-BTTTT ngày
18-12-2012, có trụ sở đặt tại số 71 Ngũ Hành Sơn, quận Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng
Tạp chí hướng đến đối tượng độc giả là các nhà khoa học, các nhà quản lý, giảng viên và sinh viên với mục tiêu phổ biến các chủ trương và đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật về kinh tế, kinh doanh và quản lý của Nhà nước; trao đổi, nghiên cứu về lý luận, thực tiễn các vấn đề của khoa học kinh tế, kinh doanh, quản lý đương đại của Việt Nam và thế giới; công bố các kết quả nghiên cứu khoa học kinh tế, kinh doanh, quản lý và các kinh nghiệm của các nhà khoa học, các nhà quản lý ở trong và ngoài nước; đồng thời phản ánh những vấn đề thời
sự, cấp thiết trong lĩnh vực kinh tế, kinh doanh, quản lý Tạp chí xuất bản 3 tháng 1
kỳ, khổ 18,5 x 26,5 cm, gồm 150 trang với phương thức phát hành qua bưu điện và
tự phát hành Số lượng phát hành mỗi kỳ là 500 bản, được in tại Đà Nẵng và phát hành rộng rãi trên phạm vi cả nước
7 Truyền thống
Tiền thân của Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng là Khoa Kinh tế thuộc Viện Đại học Đà Nẵng (sau đổi tên thành Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng) được thành lập vào tháng 7 năm 1975 Sau nhiều lần thay đổi, đến năm 2004, Nhà trường chính thức mang tên Trường Đại học Kinh tế thuộc Đại học Đà Nẵng theo Quyết định số 129/CP-KG của Chính phủ
Khi thành lập Trường chỉ có 01 khoa trực thuộc chưa tới 20 cán bộ, giảng viên với
02 chuyên ngành đào tạo, mỗi năm chỉ tuyển sinh trên dưới 100 sinh viên đại học Hiện nay, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng đã là một cơ sở đào tạo đại học đa