Năng lực cạnh tranh điểm đến của du lịch Việt Nam trong bối cảnh mới: Trường hợp tỉnh Hải Dương Năng lực cạnh tranh điểm đến của du lịch Việt Nam trong bối cảnh mới: Trường hợp tỉnh Hải Dương Năng lực cạnh tranh điểm đến của du lịch Việt Nam trong bối cảnh mới: Trường hợp tỉnh Hải Dương Năng lực cạnh tranh điểm đến của du lịch Việt Nam trong bối cảnh mới: Trường hợp tỉnh Hải Dương Năng lực cạnh tranh điểm đến của du lịch Việt Nam trong bối cảnh mới: Trường hợp tỉnh Hải Dương Năng lực cạnh tranh điểm đến của du lịch Việt Nam trong bối cảnh mới: Trường hợp tỉnh Hải Dương Năng lực cạnh tranh điểm đến của du lịch Việt Nam trong bối cảnh mới: Trường hợp tỉnh Hải Dương Năng lực cạnh tranh điểm đến của du lịch Việt Nam trong bối cảnh mới: Trường hợp tỉnh Hải Dương Năng lực cạnh tranh điểm đến của du lịch Việt Nam trong bối cảnh mới: Trường hợp tỉnh Hải Dương Năng lực cạnh tranh điểm đến của du lịch Việt Nam trong bối cảnh mới: Trường hợp tỉnh Hải Dương Năng lực cạnh tranh điểm đến của du lịch Việt Nam trong bối cảnh mới: Trường hợp tỉnh Hải Dương
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN XUÂN TÙNG
NĂNG LỰC CẠNH TRANH ĐIỂM ĐẾN CỦA
DU LỊCH VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH MỚI:
TRƯỜNG HỢP TỈNH HẢI DƯƠNG
LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ
Hà Nội, năm 2022
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN XUÂN TÙNG
NĂNG LỰC CẠNH TRANH ĐIỂM ĐẾN CỦA DU LỊCH
VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH MỚI:
TRƯỜNG HỢP TỈNH HẢI DƯƠNG
LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Bùi Quang Tuấn
2 PGS.TS Phạm Trung Lương
Hà Nội, năm 2022
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi trong quá trình viết luận án Các số liệu, tƣ liệu và trích dẫn trong luận án đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực
Tác giả
Nguyễn Xuân Tùng
Trang 41.2.2 Các nghiên cứu năng lực cạnh tranh trong hoạt động du lịch nói
chung, điểm đến du lịch nói riêng dựa trên mô hình Michael Porter
25
1.2.3 Các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh trong hoạt động du lịch nói
chung, điểm đến du lịch nói riêng dựa trên các phương pháp khác
26
1.3 Đánh giá chung các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về
chủ đề nghiên cứu của luận án
31
Trang 5
2.2 Một số lý thuyết liên quan đến năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch 47
2.2.3 Mô hình kết hợp về năng lực cạnh tranh điểm đến của Dwyer và
Kim
50
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch 54
2.4 Tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch 58
Trang 62.4.4 Kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch 61
2.5 Kinh nghiệm quốc tế và trong nước về nâng cao năng lực cạnh tranh
điểm đến du lịch
63
2.5.2 Bài học về nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch cho Việt
Nam nói chung, Hải Dương nói riêng
71
Chương 3: Thực trạng năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Hải
Dương giai đoạn 2016 - 2020
75
3.1 Tổng quan về tiềm năng và lợi thế phát triển du lịch Hải Dương 75
3.2 Thực trạng năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Hải Dương giai
đoạn 2016-2020
81
3.2.4 Kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch tại điểm đến du
lịch Hải Dương
98
Trang 73.2.5 Nguồn nhân lực du lịch và thị trường lao động du lịch tại điểm đến
du lịch Hải Dương
101
3.3 Đánh giá chung về năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Hải Dương 107
Chương 4: Quan điểm và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh
điểm đến du lịch Hải Dương trong bối cảnh mới
116
4.1 Bối cảnh mới trên bình diện quốc tế và trong nước tác động đến năng
lực cạnh tranh điểm đến du lịch Hải Dương
116
4.1.4 Phân tích ma trận SWOT trong nâng cao năng lực cạnh tranh điểm
đến du lịch của Hải Dương
121
4.2 Quan điểm, định hướng chủ yếu đối với nâng cao năng lực cạnh tranh
điểm đến du lịch của tỉnh Hải Dương trong bối cảnh mới
123
4.2.1 Quan điểm nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch của tỉnh
Hải Dương
123
4.2.2 Định hướng nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch của
tỉnh Hải Dương trong bối cảnh mới
125
4.3 Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Hải Dương 128
Trang 8giai đoạn mới
4.3.1 Nâng cao nhận thức xã hội về phát triển du lịch nói chung, năng
lực cạnh tranh điểm đến du lịch Hải Dương nói riêng trong bối cảnh mới
128
4.3.2 Khai thác tài nguyên du lịch trên địa bàn Hải Dương theo hướng
phát triển bền vững
129
4.3.3 Hoàn thiện chính sách phát triển du lịch góp phần nâng cao năng
lực điểm đến du lịch Hải Dương
130
4.3.4 Đẩy mạnh phát triển thị trường và sản phẩm du lịch, đặc biệt là
sản phẩm du lịch đặc thù với thương hiệu du lịch Hải Dương
132
4.3.5 Tăng cường đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ
thuật du lịch thúc đẩy năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Hải Dương
4.3.8 Chủ động liên kết phát triển du lịch với các địa phương phụ cận
nhằm nâng cao NLCT điểm đến Hải Dương
143
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA
TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
151
Trang 9OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế
PCI Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
Trang 10Bảng 3.5: Tổng hợp kết quả đánh giá thực trạng năng lực cạnh
tranh điểm đến du lịch Hải Dương của các chuyên gia
105
Bảng 3.6: Đánh giá tổng hợp các yếu tố tham gia năng lực cạnh
tranh điểm đến của Hải Dương
106
Trang 11DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH
Hình 2.3: Năng lực cạnh tranh điểm đến của Ritchie và Crouch 50
Hình 2.4: Mô hình tích hợp năng lực cạnh tranh điểm đến của
Dwyer và Kim
52
Hình 2.6: Các chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh du lịch của WEF 53
Hình 3.1: Cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài luận án
Sau 35 năm tiến hành công cuộc Đổi mới, nền kinh tế Việt Nam nỗ lực tiến nhanh vào hiện đại trong bối cảnh đối mặt với thách thức phải phát triển nhanh hơn
để thu hẹp khoảng cách Việt Nam xác định khát vọng, tầm nhìn trở thành nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa với mục tiêu đến năm 2025 là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp, đến năm 2030 là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao
Việt Nam được biết đến không chỉ là quốc gia có nhiều điểm đến du lịch hấp dẫn trên bản đồ du lịch thế giới và được coi là quốc gia có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch, không chỉ là đất nước với thiên nhiên có cảnh quan đẹp đẽ mà còn có những di sản văn hoá đặc sắc Việt Nam nằm ở trung tâm khu vực châu Á - Thái Bình Dương và gần một số thị trường lớn, tiềm năng Giai đoạn vừa qua, chất lượng, tính chuyên nghiệp và năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch của nước ta từng bước được nâng cao, có bước phát triển quan trọng góp phần vào phát triển kinh tế -
xã hội đất nước, đẩy mạnh quá trình hội nhập quốc tế, quảng bá hình ảnh con người Việt Nam Năm 2021, kết quả bình chọn Giải thưởng Du lịch thế giới (WTA) lần thứ 28 khu vực châu Á - Thái Bình Dương đã vinh danh du lịch Việt Nam là “Điểm đến hàng đầu châu Á 2021” (Asia‟s Leading Destination 2021) bất chấp một năm đầy khó khăn do đại dịch Covid -19 Tuy nhiên, điểm đến du lịch nước ta chưa thực
sự phát triển tương xứng với tiềm năng và vị thế có giá trị về nhiều mặt
Là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm kinh tế phía Bắc, ở trung điểm của “tam giác” tăng trưởng du lịch Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh ở vùng Đồng bằng sông Hồng trên trục hành lang giao thương quốc tế, Hải Dương là địa phương
có nền kinh tế đang phát triển, là một trong những vùng văn hóa và văn hiến tâm linh của cả nước Hải Dương có vị trí địa lý thuận lợi và tiềm năng tài nguyên du lịch phong phú, đa dạng; là địa phương có số lượng và mật độ di tích vào loại lớn nhất không chỉ của vùng Đồng bằng sông Hồng mà còn của cả nước Đây được xem
Trang 13là lợi thế rất lớn đối với việc nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch đứng từ góc độ sản phẩm du lịch đặc thù kết hợp với những sản phẩm du lịch vốn là lợi thế của Hải Dương như du lịch văn hóa lịch sử với 04 di tích, cụm di tích cấp quốc gia đặc biệt, nhiều điểm tài nguyên du lịch có giá trị duy nhất hoặc đặc sắc, nội trội so với các địa phương ở vùng Đồng bằng sông Hồng và Duyên hải Đông Bắc, v.v… Tuy nhiên, những lợi thế này chưa được Hải Dương phát huy hiệu quả trong phát triển du lịch nói chung, nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch nói riêng, thiếu nguồn lực để bảo tồn và phát huy các giá trị tài nguyên du lịch, đặc biệt là những tài nguyên du lịch được xem là duy nhất, đặc sắc/nổi trội Năng lực quản lý nhà nước về du lịch còn hạn chế, ảnh hưởng đáng kể đến quản lý chất lượng du lịch theo các tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế cũng như trong hoạt động liên kết phát triển
du lịch Tác động của hoạt động phát triển kinh tế làm gia tăng sự xuống cấp của các điểm tài nguyên và tình trạng ô nhiễm môi trường tự nhiên trong điều kiện còn khó khăn về nguồn lực cho công tác bảo tồn và phát huy tiềm năng du lịch Trong tổng số khách du lịch đến Hải Dương, tỷ lệ khách có lưu trú là không cao với tỷ lệ khoảng 30% Như vậy, đến nay du lịch Hải Dương chỉ được xem là “Điểm dừng chân” trên tuyến du lịch Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh chứ chưa trở thành
“Điểm đến”
Ngày nay, bối cảnh quốc tế và trong nước có nhiều thay đổi nhanh chóng đã tác động mạnh mẽ đến năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch ở nước ta nói chung, Hải Dương nói riêng, có thể phác họa một số nét chủ yếu về giai đoạn mới như sau:
- Thế giới bước vào thời kỳ phát triển mới với đặc trưng là kỷ nguyên số, tăng trưởng xanh, nhất là cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư dù mang lại nhiều cơ hội nhưng cũng mang đến không ít thách thức, trong đó, chuyển đổi số (Digital Transformation) giữ một vai trò quan trọng Từ năm 2020 đến nay, đại dịch Covid-
19 trên phạm vi toàn cầu đã tác động, ảnh hưởng nặng nề đến nhiều ngành, lĩnh vực của nền kinh tế nước ta, trong đó ngành du lịch chịu tổn thất nghiêm trọng, số lượng khách quốc tế đến Việt Nam năm 2020 giảm 76,7% so với năm 2019 và năm 2021 giảm 95,9% so với năm 2020; qua đó tác động đến nhiều ngành, lĩnh vực liên quan
Trang 14trong chuỗi giá trị như: vận tải, ăn uống, khách sạn, lữ hành, bán lẻ, thương mại…, nhất là tại các điểm đến du lịch và hầu hết các địa phương trọng điểm du lịch của cả nước Đây có thể coi là “thảm họa” đối với ngành du lịch kể từ khi hình thành và phát triển, nó không chỉ chịu tác động đầu tiên, kéo dài mà còn thiệt hại nặng nề nhất Theo dự báo, ngành du lịch nước ta bị thiệt hại ước tính khoảng 6-7 tỷ USD trong khoảng thời gian bùng phát dịch Covid - 19 [151]
- Xác định vị trí và vai trò quan trọng của du lịch, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam (khoá XII) đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 “về phát triển du lịch thực sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn”, trong đó, nhấn mạnh quan điểm “Phát triển du lịch thực sự là ngành
kinh tế dịch vụ tổng hợp… có thương hiệu và khả năng cạnh tranh cao” để đảm
bảo thực hiện mục tiêu: „…Phấn đấu đến năm 2030, du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của các ngành, lĩnh vực khác Việt Nam thuộc nhóm các nước có ngành du lịch phát triển hàng đầu khu vực Đông Nam Á”… Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Hải Dương đến năm 2025, tầm nhìn 2030 đã xác định du lịch và dịch vụ là ngành kinh tế quan trọng
- Hiện có nhiều cách tiếp cận khác nhau trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh (NLCT) điểm đến du lịch ở quy mô quốc gia cũng như địa phương Theo báo cáo về “Cạnh tranh du lịch” tại Diễn đàn Kinh tế thế giới được tổ chức thường niên, những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến NLCT quốc gia gồm: tài nguyên du lịch, chính sách ưu tiên, hạ tầng, môi trường, giá sản phẩm và dịch vụ du lịch,… Mỗi điểm đến, dựa trên lợi thế của mình, có thể lựa chọn cách tiếp cận để tạo đột phá trong việc nâng cao NLCT Cho dù có thể có sự khác nhau về cách tiếp cận, tuy nhiên việc tạo
ra sự “khác biệt”, đặc biệt trong phát triển sản phẩm du lịch, việc quản lý chất lượng dịch vụ đạt các tiêu chuẩn quốc gia, quốc tế và việc đảm bảo được môi trường du lịch được tích hợp trong hoạt động phát triển du lịch sẽ luôn là cách tiếp cận quan trọng để nâng cao NLCT của điểm đến Cách tiếp cận này được Việt Nam và nhiều địa phương, trong đó có Hải Dương lựa chọn thực hiện trong chiến lược phát triển điểm đến du lịch
Trang 15- Đến nay, mặc dù đã có khá nhiều nghiên cứu về đánh gía NLCT điểm đến du lịch, tuy nhiên, qua tổng quan tài liệu nghiên cứu liên quan đến đề tài cho thấy chưa
có phương pháp hay mô hình nào phù hợp để đánh giá NLCT của tất cả các điểm đến và chưa có bộ chỉ số đánh giá nào có thể áp dụng cho tất cả các điểm đến với mọi thời điểm, nhất là đặc điểm địa lý cũng như nguồn lực khác nhau của mỗi điểm đến Đặc biệt, chưa có công trình nghiên cứu nào bàn về NLCT điểm đến du lịch Hải Dương và trả lời cho câu hỏi: Làm thế nào để nâng cao NLCT điểm đến du lịch tỉnh Hải Dương - với tư cách là một nghiên cứu điển hình cho điểm đến du lịch Việt Nam trong bối cảnh mới?
Trước tình hình đó, vấn đề “Năng lực cạnh tranh điểm đến của du lịch Việt Nam trong bối cảnh mới: Trường hợp tỉnh Hải Dương” được chọn làm đề tài luận án tiến sĩ, ngành kinh tế học là mang tính thời sự, cần thiết cả về lý luận và thực tiễn
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu:
Đánh gía thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh điểm
đến du lịch của tỉnh Hải Dương trong bối cảnh mới
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch
+ Phân tích, đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch của tỉnh Hải Dương, chỉ ra thành công, hạn chế và nguyên nhân
+ Đề xuất giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch của tỉnh Hải
Dương đến năm 2030
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch của tỉnh Hải Dương
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: luận án nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về năng
lực cạnh tranh điểm đến du lịch, cụ thể là nhìn dưới góc độ phát triển sản phẩm du
Trang 16lịch, quản lý chất lượng dịch vụ đạt tiêu chuẩn quốc gia, quốc tế và đảm bảo môi trường du lịch được tích hợp trong hoạt động phát triển du lịch một cách “khác biệt”, theo đó đánh giá thực trạng, đề xuất giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Hải Dương trong bối cảnh mới
- Phạm vi về không gian: luận án tập trung nghiên cứu năng lực cạnh tranh
điểm đến du lịch Hải Dương
- Phạm vi về thời gian: luận án nghiên cứu thực trạng năng lực cạnh tranh
điểm đến du lịch Hải Dương giai đoạn 2016-2020, đề xuất giải pháp đến năm 2030 (Năm 2020, do tác động Covid-19, nên chủ yếu xét đến chuỗi số liệu 2016-2019)
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Phương pháp luận
Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật lịch sử và duy vật biện chứng; sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học kinh tế nói chung và ngành kinh tế học nói riêng để nghiên cứu các nội dung của đề tài tạo nên sự nhất quán, logic và khoa học nhằm chỉ r được mối quan hệ nhân quả trong nghiên cứu về NLCT điểm đến du lịch tỉnh Hải Dương trong bối cảnh mới
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Xuất phát từ mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và vận dụng nhiều mô hình khác nhau trong nghiên cứu về năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch của một
số quốc gia trên thế giới cũng như ở Việt Nam, Luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khác nhau, bao gồm:
- Phương pháp nghiên cứu trong phòng (Desk Research) để tiến hành thu thập,
khai thác và phân tích nguồn dữ liệu thứ cấp: từ tài nguyên sẵn có liên quan đến lý
thuyết về du lịch, cạnh tranh, năng lực cạnh tranh, năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch, gồm: sách giáo trình, sách chuyên khảo, đề tài nghiên cứu khoa học các cấp, luận án, các báo cáo khoa học, bài báo có liên quan tại các thư viện, các số liệu thống kê của Tổ chức Du lịch thế giới, Viện Nghiên cứu phát triển Du lịch, Tổng cục Du lịch, Tổng cục Thống kê và một số trang điện tử trong nước và nước ngoài;
hệ thống văn kiện, nghị quyết, chiến lược, chỉ thị, quy định của Đảng và Nhà nước,
Trang 17Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Tỉnh uỷ và Uỷ ban nhân dân tỉnh Hải Dương; Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Hải Dương, Cục Thống kê Hải Dương…
- Từ cách tiếp cận quy nạp, luận án sử dụng phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp, so sánh, đối chiếu,… vào quá trình đánh giá thực trạng NLCT điểm đến
du lịch Hải Dương giai đoạn 2016-2020 cũng như sử dụng phương pháp dự báo vào phân tích bối cảnh quốc tế, trong nước và Hải Dương trong giai đoạn phát triển mới
- Phương pháp chuyên gia thông qua Bảng hỏi ý kiến chuyên gia để xác định
giá trị trung bình của thang đo, thu thập số liệu từ nguồn dữ liệu sơ cấp, dựa trên việc đánh giá tổng số điểm (điểm số tổng hợp) trong đánh giá NLCT điểm đến du lịch Hải Dương giai đoạn 2016-2020 cụ thể như sau:
Đối tượng: 15 chuyên gia là nhà khoa học, nhà quản lý liên quan đến hoạt động
du lịch ở các viện nghiên cứu khoa học, trường đại học và ở Hải Dương (Phụ lục 2)
Thiết kế bảng hỏi: “Bảng hỏi ý kiến” được thiết kế căn cứ vào khung nghiên
cứu của đề tài Để đo lường các biến quan sát trong Bảng hỏi, luận án sử dụng thang
đo Likert 5 mức độ Dạng thang đo quãng Likert được sử dụng chủ yếu trong việc
đo lường hành vi, thái độ và có độ tin cậy tương đương thang đo 7 hay 9 điểm (W.G Zimund, 1997) [139] Đây là thang đo thứ tự và đo lường mức độ đánh giá của đối tượng điều tra; nghĩa là 5 điểm biến thiên từ mức độ đánh giá “Rất kém” đến “Tốt” Kết quả thu thập được đánh giá theo thang đo Likert 1-5, trong đó: 1 (Rất kém); 2 (Kém); 3 (Trung bình); 4 (Khá); 5 (Tốt)
Nội dung Bảng hỏi: gồm ba phần: A/ Giới thiệu mục đích; B/ Nội dung
chính; C/ Góp ý, trong đó phần B gồm 6 yếu tố là: (i) Tài nguyên du lịch, (ii) Chính sách phát triển du lịch, (iii) Sản phẩm, thị trường và thương hiệu du lịch, (iv) Kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, (v) Nguồn nhân lực và thị trường lao động du lịch, và (vi) Môi trường du lịch (Phụ lục 1) Các yếu tố được lựa chọn này phù hợp với hệ thống các yếu tố đánh giá NLCT điểm đến mà hàng năm Diễn đàn kinh tế thế giới sử dụng để đánh giá NLCT điểm đến ở quy mô quốc gia Ở Việt Nam các yếu tố này thường được sử dụng trong các quy hoạch, đề án phát triển du lịch các địa phương để đánh giá lợi thế so sánh về du lịch giữa các điểm đến
Trang 18Cách thức thực hiện: Tiến hành thông qua các cuộc gặp trực tiếp hoặc trao
đổi qua email, điện thoại Tất cả các chuyên gia rất quan tâm và cung cấp thông tin, chia sẻ các quan điểm với các nội dung theo bảng hỏi
Thời gian thực hiện: từ tháng 01 năm 2021 đến tháng 8 năm 2021
Phân tích dữ liệu: Dữ liệu thu thập từ Bảng hỏi ý kiến của các chuyên gia
được tính toán dựa trên việc đánh giá tổng số điểm (điểm số tổng hợp) thực trạng
của 06 yếu tố chủ yếu nói trên theo thang điểm: (1 là thấp nhất, 5 là cao nhất) Kết
quả này nhằm minh chứng cho những nhận định mang tính định tính trong phân tích mức độ cạnh tranh điểm đến Hải Dương (Bảng 3.5)
- Luận án sử dụng phương pháp đánh giá tổng hợp nhằm mục đích xác định mức độ cạnh tranh điểm đến du lịch Hải Dương hiện ở mức nào Trên cơ sở kết quả phỏng vấn chuyên gia nói trên về đánh giá mức độ cạnh tranh đối với từng yếu tố thành phần theo phương pháp xác định điểm, NCS tiến hành xác định mức độ quan trọng của từng yếu tố đối với NLCT điểm đến Yếu tố nào xuất hiện nhiều nhất
trong số Bảng hỏi ý kiến thu về sẽ là yếu tố quan trọng nhất; tương tự là yếu tố có
tầm quan trọng thứ 2, … Mức độ quan trọng của từng yếu tố gồm 4 cấp độ: Rất quan trọng (R=4), quan trọng (R=3), khá quan trọng (R=2) và ít quan trọng (R=1) trong đó, yếu tố quan trọng nhất có hệ số cao nhất Phương pháp đánh giá tổng hợp các yếu tố tham gia vào NLCT điểm đến như sau:
Bảng đánh giá các yếu tố tham gia
Số điểm tối thiểu
∑ tối đa ∑ tối thiểu
Nguồn: Bassel H (1999), Indicator for sustainable development: theory, method and
application, IISD, Winnipeg, Manitorba, Canada
Trang 19K 1 : = 5 (tối đa); 2 : điểm số = 4; K 3 : điểm số = 3; K 4 : điểm số = 2; K 5 : điểm số =
1 R 1, … : trọng số (từ 1- 3 hoặc từ 1-4)
n: Số các yếu tố tham gia
m: Tổng số phiếu hợp lệ thu được các chuyên gia cho điểm đánh giá đối với từng yếu
tố
∑tối đa = nx (Rmax x K1) Trong đó, R max là trọng số lớn nhất, K 1 là điểm số đánh giá tối đa
∑tối thiểu = R1 K min + R 2 K min + R 3 K min + …+ R n K min = R 1 + R 2 + R 3 + …+ R n (vì K min = 1)
- Mức độ cạnh tranh của từng yếu tố: theo 5 cấp độ (ứng với thang điểm từ 1 - 5): (ý kiến chuyên gia), trong đó: Cạnh tranh thấp: 1,0 - 2,0; Ít cạnh tranh: 2,1 - 3,9; Khá cạnh tranh: 3,0 - 3,8; Cạnh tranh: 3,9 - 4,5; Rất cạnh tranh: 4,6 - 5,0 điểm
- Đánh giá tổng hợp mức độ cạnh tranh điểm đến (tính điểm tổng hợp):
∑ (R1 x A1) + (R2 x A2) + (R3 x A3) + … + (Rn x An) = B
- Mức độ cạnh tranh gồm 4 mức: Rất cạnh tranh, Cạnh tranh, Khá cạnh tranh và Ít cạnh tranh tương đương với điểm số các mức sau: (ý kiến chuyên gia), trong đó: Ít cạnh trạnh: B nằm trong khoảng từ: (∑ tối thiểu) - 40% (∑ tối đa); Khá cạnh tranh:
B nằm trong khoảng từ: 41% (∑ tối đa) - 60% (∑ tối đa); Cạnh tranh: B nằm trong khoảng từ: 61% (∑ tối đa) - 80% (∑ tối đa); Rất cạnh tranh: B nằm trong khoảng từ: 81% (∑ tối đa) - 100% (∑ tối đa)
- Dựa trên tài nguyên du lịch vốn có của Hải Dương, luận án đã sử dụng phương pháp nghiên cứu thực địa, tiến hành khảo sát 06 sản phẩm du lịch đặc thù - yếu tố nền tảng trong phát triển du lịch nhằm đánh giá chính xác NLCT điểm đến Hải Dương
- Phương pháp SWOT được sử dụng để phân tích điểm mạnh, điểm yếu cũng như cơ hội và thách thức trong việc thực hiện các giải pháp nâng cao NLCT điểm đến du lịch Hải Dương, như sau:
Trang 20- Phương pháp xử lý số liệu được dùng để tính toán xử lý các số liệu thu được qua điều tra bằng phiếu hỏi thông qua chương trình phần mềm SPSS phiên bản 20.0
4.3 Khung phân tích của luận án
Trên cơ sở kế thừa, lựa chọn các tiêu chí đánh giá phù hợp về quy mô, không gian và thời gian, Khung phân tích của luận án dựa trên nền tảng cơ sở là các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch được xác định trong nghiên cứu Các vấn đề trọng tâm tập trung nghiên cứu của luận án bao gồm: (i) Hệ thống hoá
cơ sở lý luận và thực tiễn về NLCT điểm đến du lịch; (ii) Xây dựng các tiêu chí đánh giá NLCT điểm đến du lịch; (iii) Đánh giá, phân tích thực trạng cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến NLCT điểm đến du lịch tỉnh Hải Dương giai đoạn 2016-2020; (iv) Phân tích bối cảnh quốc tế và trong nước, quan điểm, định hướng, đề xuất giải pháp nâng cao NLCT điểm đến du lịch tỉnh Hải Dương trong bối cảnh mới
Khung phân tích luận án
Sơ đồ 1.1: Khung phân tích của luận án
Nguồn: Đề xuất của tác giả
Tài
nguyên
du lịch
Chính sách phát triển
du lịch
Sản phẩm, thị trường
và thương hiệu du lịch
Kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch
Nguồn nhân lực
và thị trường du lịch
Môi trường
Giải pháp và kiến nghị
Thực trạng NLCT điểm đến du lịch Hải Dương
Trang 215 Những đóng góp mới về khoa học của luận án
- Trên cơ sở hệ thống hoá cơ sở lý luận về NLCT điểm đến du lịch, kế thừa các nghiên cứu đã có cũng như tiếp cận từ ngành kinh tế học, bổ sung phát triển, tham vấn các chuyên gia, và tình hình thực tế của Hải Dương luận án đã xác định được 6 tiêu chí đánh giá NLCT điểm đến du lịch gồm: i) Tài nguyên du lịch; ii) Chính sách phát triển du lịch; iii) Sản phẩm, thị trường và thương hiệu du lịch; iv) Kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch; v) Nguồn nhân lực và thị trường lao động du lịch; vi) Môi trường du lịch
- Nghiên cứu kinh nghiệm nâng cao NLCT điểm đến của Thái Lan, Myanmar, Trung Quốc, Ninh Bình, Quảng Ninh, rút ra bài học thành công và chưa thành công
có thể tham khảo cho điểm đến du lịch của các địa phương nói chung, Hải Dương nói riêng trong bối cảnh mới
- Luận án tập trung đánh giá thực trạng NLCT điểm đến du lịch Hải Dương, với hệ thống số liệu, tư liệu minh chứng phong phú, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến NLCT điểm đến Hải Dương trong giai đoạn nghiên cứu 2016-2020, đánh giá chung về thành công, hạn chế và nguyên nhân Mặt khác, từ phân tích bối cảnh mới trên bình diện quốc tế và trong nước tác động đến NLCT điểm đến du lịch Hải Dương, luận án đã nêu một số quan điểm, định hướng và đề xuất 8 giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao NLCT điểm đến du lịch tỉnh Hải Dương trong bối cảnh mới
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Về lý luận: Hệ thống hoá cơ sở lý luận về NLCT điểm đến du lịch và xác
định các yếu tố ảnh hưởng đến NLCT điểm đến du lịch Đồng thời, luận án đã xây dựng được 06 tiêu chí đánh giá NLCT điểm đến du lịch trong bối cảnh mới
- Về thực tiễn: Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh
điểm đến du lịch, chỉ ra thành tựu, hạn chế và nguyên nhân, từ đó, đề xuất giải pháp cũng như một số kiến nghị nhằm hiện thực hoá các giải pháp nâng cao NLCT điểm đến du lịch Hải Dương trong bối cảnh mới
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể áp dụng đối với điểm đến du lịch của Hải Dương cũng như các địa phương có điểm tương đồng Tuy nhiên, cần xem xét
Trang 22các điều kiện và đặc điểm của mỗi điểm đến cụ thể để điều chỉnh các tiêu chí đánh giá NLCT điểm đến du lịch cho phù hợp Đồng thời, kết quả này có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý, các doanh nghiệp du lịch, các cơ sở đào tạo du lịch cũng như những người quan tâm
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình nghiên cứu của NCS, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, kết cấu của luận án gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Chương 3: Thực trạng năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Hải Dương
Chương 4: Quan điểm, giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Hải Dương trong bối cảnh mới
Trang 23CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN CHỦ ĐỀ CỦA LUẬN ÁN
Đến nay, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến năng lực cạnh tranh hoạt động du lịch nói chung, năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch nói riêng Đây là đề tài thu hút được nhiều sự quan tâm của không chỉ các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý, mà còn của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực du lịch từ các góc độ tiếp cận khác nhau Có thể khái quát hoá một số công trình liên quan đến đề tài làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo, cụ thể như sau:
1.1 Những nghiên cứu quốc tế chủ yếu về năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch
1.1.1 Các nghiên cứu năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch dựa trên mô hình Ritchie và Crouch
Tiếp cận từ mô hình Ritchie và Crouch để đánh giá năng lực cạnh tranh (NLCT) trong lĩnh vực du lịch, đã có một số nghiên cứu quốc tế thời gian qua
được tíến hành, ví dụ như, công trình Destination Competitiveness: Determinants
and Indicators (2003) của tác giả Dwyer và Kim đã xây dựng thành công mô hình
tổng hợp nhiều yếu tố để đánh giá NLCT dựa trên mô hình Ritchie và Crouch (phiên bản năm 1999) Nghiên cứu của Dwyer và Kim vẫn giữ được cấu trúc của
mô hình Crouch và Ritchie nhưng đi sâu vào việc phân tích tác động qua lại lẫn nhau giữa các nhân tố ảnh hưởng đến NLCT và nhấn mạnh vai trò quan trọng của nhân tố bên cầu Mô hình này dựa trên 5 yếu tố chính để đánh giá NLCT du lịch,
bao gồm: Các điều kiện hoàn cảnh, cầu, quản lý, tài nguyên du lịch và mối tương
quan giữa các yếu tố [92] Không chỉ thế, nghiên cứu này đã phân tích chi tiết bốn
bộ phận cấu thành NLCT trong mô hình của Crouch và Ritchie dựa trên một loạt các tiêu chí đánh giá Cụ thể là ở mô hình của Crouch và Ritchie, các tài nguyên
du lịch đều cùng được xếp vào 1 nhóm thì ở mô hình Dwyer và Kim các tài
Trang 24nguyên này được xếp loại thành nhiều nhóm khác nhau như tài nguyên văn hóa, tự nhiên,… Từ đó, hệ thống các tiêu chí đánh giá NLCT trở nên đa dạng hơn, đồng thời cho phép so sánh NLCT du lịch giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ Tuy nhiên, nhược điểm của mô hình này là hệ thống đánh giá tích hợp nhiều yếu tố cần điều chỉnh linh hoạt hơn nhằm áp dụng trên tất cả các đối tượng chứ không chỉ một vài đối tượng riêng lẻ
Cuốn sách “The competitive destination: A Susutainable Tourism
Perspective” Nxb CABI, năm 2003, là công trình nghiên cứu về mô hình lý thuyết
về NLCT điểm đến du lịch của Richie và Crouch (2003) được phát triển từ phiên bản năm 1999 Trong công trình này, các tác giả xây dựng tiêu chí đánh giá NLCT
du lịch thông qua việc tính toán giá trị các yếu tố ảnh hưởng cũng như mối quan
hệ giữa chúng nhằm tìm ra điểm mạnh của mỗi điểm đến, khu du lịch,… để dựa vào đó tập trung phát triển du lịch bền vững, đem lại hiệu quả cao Trong công trình nghiên cứu này, tác giả chia NLCT thành bốn bộ phận cấu thành như sau: i) Quản lý môi trường; ii) Năng lực quản lý; iii) Tài nguyên du lịch, và iv) Thị
trường Trong đó, ba bộ phận: i) Quản lý môi trường, ii) Năng lực quản lý, và iii)
Tài nguyên du lịch đóng vai trò quyết định trong việc đưa các sản phẩm du lịch ra
thị trường [130] Còn bộ phận Thị trường có chức năng đảm nhận thu thập thông
tin về thị trường nhằm phát huy thế mạnh của các sản phẩm du lịch Các bộ phận này đều chịu tác động của môi trường vĩ mô và vi mô Mặc dù tác giả đã xây dựng
mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh khá toàn diện và đầy đủ nhưng vẫn thiếu sự liên kết và tương tác giữa các yếu tố trong mô hình Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng mô hình này nghiêng về các yếu tố của bên cung hơn là bên cầu tạo
ra sự mất cân bằng khi sử dụng mô hình để đánh giá NLCT điểm đến du lịch
Mô hình của Hudson và cộng sự (2004) trong công trình nghiên cứu
“Measuring Destination Competitiveness: An Empirical Study of Canadian Sky
Resorts” được xây dựng dựa trên lý thuyết của Crouch và Ritchie (phiên bản
1999) để đánh giá năng lực cạnh tranh của các điểm trượt tuyết tại Canada Các
Trang 25tác giả đã sử dụng bảng hỏi và tiến hành phỏng vấn du khách của các điểm trượt tuyết này, từ đó tính toán giá trị của từng yếu tố trong năng lực cạnh tranh
Nhà nghiên cứu Crouch với nghiên cứu “Destination Competitiveness: An
Analysis of Determinant Attributes”, Tạp chí Journal of Travel Research, số 50/2010, đã xây dựng mô hình dựa trên việc tổng hợp số liệu để tìm ra 10 tiêu chí
đánh giá năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch bao gồm: (i) văn hóa; (ii) các hoạt động du lịch; (iii) hình ảnh; (iv) vị trí địa lý; (v) khí hậu; (vi) thượng tầng kiến trúc; (vii) giải trí; (viii) cơ sở hạ tầng; (ix) khả năng tiếp cận; và (x) thương hiệu [89]
Hai nhà khoa học Cucculelli M và Goffi G (2016) với công trình “Does sustainability enhance tourism destination competitiveness? Evidence from Italian
Destinations of Excellence” Journal of Cleaner Production, số 11, đã mở rộng mô
hình của Ritchie và Crouch (2000) về khả năng cạnh tranh điểm đến bằng cách giới thiệu một bộ chỉ số bền vững và kiểm tra vai trò của chúng trong việc giải thích khả năng cạnh tranh điểm đến du lịch Các tác giả đã tiến hành thử nghiệm mô hình này trên một bộ dữ liệu về các điểm đến du lịch nổi bật của Ý, đồng thời sử dụng phân tích hồi quy để kiểm tra tính hợp lệ của mô hình Kết quả nghiên cứu cho thấy các yêu tố liên quan trực tiếp đến tính bền vững có tác động tích cực đến tất cả các chỉ
số năng lực cạnh tranh được sử dụng cũng như vai trò của tính bền vững là yếu tố quyết định quan trọng đối với khả năng cạnh tranh của điểm đến du lịch
Công trình nghiên cứu “A model of destination competitiveness/sustainblility:
Brazilian perspective”, Revista De Administracao Publica, số 5/2010, sử dụng mô
hình Ritchie và Crouch để phân tích bản chất cạnh tranh giữa các điểm đến du lịch, đồng thời xác định vai trò quan trọng của chính sách trong việc đánh giá tính cạnh tranh/bền vững của một điểm du lịch, cụ thể ở đây là quốc gia Brazil Công trình này cung cấp một bản đánh giá chi tiết và giải thích cho người đọc hiểu được bản chất phức tạp của tính cạnh tranh/bền vững của điểm đến du lịch
Công trình “Conceptualization of Smart Tourism Destination
Competitiveness” Tạp chí Quốc tế Asia Pacific Journal of Information Systems, số
4/2016, với nội dung phát triển mô hình khái niệm về khả năng cạnh tranh điểm đến
Trang 26du lịch thông minh nhằm cung cấp ý nghĩa về mặt hiện thực hóa điểm đến du lịch thông minh và phát triển NLCT điểm đến du lịch thông minh Một mô hình khái niệm đƣợc đề xuất dựa trên cơ sở mô hình NLCT đích đƣợc phát triển bởi Crouch
và Ritchie (1999) bao gồm: các khái niệm truyền thống về lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh, bảy nguồn lực và yếu tố thu hút cốt l i và năm yếu tố quản lý điểm đến Trong đó, công nghệ thông minh đƣợc coi nhƣ một nguồn lực và sức hấp dẫn cốt lõi mới trong mô hình Đây có thể coi là nghiên cứu đầu tiên nêu đƣợc khái niệm toàn diện về khả năng cạnh tranh điểm đến du lịch thông minh, đồng thời mang ý nghĩa thực tiễn bởi nghiên cứu này tập trung vào mối quan hệ giữa công nghệ thông minh
và các yếu tố khác
Công trình “A review of Crouch and Ritchie‟s, Health‟s and Dwyer and
Kim‟s Models of Tourism Competitiveness”, Tạp chí Tourism Analysis, số 22/2017
của tác giả Ernest Robert đã xây dựng mô hình nghiên cứu và các khung giới hạn dựa vào các mô hình của Crouch và Ritchie; Health Dwyer và Kim để giải thích khả năng cạnh tranh du lịch của các điểm đến du lịch trên thế giới Công trình này cũng
mô tả chi tiết và toàn diện tính hợp lệ và khả năng áp dụng của những mô hình trên đối với các địa điểm du lịch cụ thể
Công trình nghiên cứu “Tourism Destination Competitiveness:
Comparative and Competitive Advantage” (2018) của hai nhà khoa học
Azzopardi, E và Nash, R đã xây dựng các mô hình biến đơn và đƣa ra khung giới hạn nhằm đánh giá khả năng cạnh tranh du lịch của một số quốc gia trên thế giới Các khung giới hạn đƣợc sử dụng để đánh giá sự phát triển của các mô hình du lịch toàn diện (TDC) thông qua các danh mục chính, các chủ đề khái niệm và nâng cao các chỉ số [84] Đồng thời các tác giả cũng sử dụng mô hình của Crouch và Ritchie và Dwyer và Kim để mô tả về tính toàn diện của mô hình biến đơn cũng nhƣ chứng minh tính ứng dụng trong từng điểm đến cụ thể
Kovacevic N, Kovacevic L, Stankov U, Dragicevic V, Miletic A có bài viết “Applying destination competitiveness model to strategic tourism development
Trang 27of small destinations: The case of South Banath district”, Journal of Destination
Marketing and Management, số 8/2018, nhóm tác giả đã tiến hành phân tích khả
năng áp dụng mô hình cạnh tranh của Ritchie và Crouch để đánh giá các lợi thế và bất lợi về du lịch của một khu vực tương đối nhỏ, du lịch chưa phát triển như trường hợp quận Nam Banat ở Serbia Đồng thời, nghiên cứu so sánh, đánh giá sự ảnh hưởng của khu vực tư nhân và khu vực nhà nước trong việc đưa ra các chính sách,
kế hoạch phát triển du lịch của điểm đến Kết quả cho thấy địa phương này không phải là một điểm đến du lịch có tính cạnh tranh cao ngay cả ở cấp độ khu vực Tuy nhiên, do tiềm năng du lịch của địa phương khá phong phú nên có thể giúp ngành
du lịch tại đây phát triển cũng như nâng cao khả năng cạnh tranh điểm đến
1.1.2 Các nghiên cứu năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch dựa trên mô hình Dwyer và Kim
Đến nay, ngoài mô hình Crouch và Ritchie một số công trình nghiên cứu điểm đến du lịch dựa trên mô hình Dwyer và Kim (2003) Chẳng hạn, các tác giả Tanja, Vladimir, Nemja và Tamara (2011) đã triển khai nghiên cứu mô hình tích hợp đa yếu tố nhằm đánh giá NLCT điểm đến du lịch của đất nước Serbia Kết quả của nghiên cứu này là Serbia có lợi thế về các loại hình du lịch tự nhiên, văn hóa nhưng lại gặp hạn chế về khả năng quản lý Cũng dựa trên mô hình Dwyer và Kim (2003) nhà nghiên cứu Armenski và cộng sự sử dụng trong nghiên cứu “Tourism
destination competitiveness - between two flags”, Tourism Review nhằm xây dựng
các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh du lịch của 2 quốc gia Seriba và Slovenia Theo đó, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng cả 2 quốc gia này đều có cùng lợi thế về loại hình du lịch tự nhiên, văn hóa nhưng yếu về khả năng quản lý
Công trình “Drivers of Destination competitiveness in Tourism: A global
Investigation”, Journal of Travel Research, số 12/2015 của tác giả Cvelbar, Dwyer
và Koman đã đề xuất thước đo về năng suất, tỉ lệ đóng góp GDP của du lịch nhằm kiểm tra khả năng cạnh tranh của điểm đến bằng cách phân tích các yếu tố cạnh tranh dựa trên tốc độ phát triển ngành du lịch của một nền kinh tế cụ thể Kết quả
Trang 28nghiên cứu chỉ ra rằng các yếu tố đặc thù của du lịch như cơ sở hạ tầng du lịch và quản lý điểm đến là những yếu tố cạnh tranh chính của các nước đang phát triển Ngoài ra, yếu tố điều kiện kinh tế, môi trường vĩ mô và môi trường kinh doanh cũng giữ vai trò quan trọng Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đưa ra cách tiếp cận mới trong việc xây dựng và vận hành mô hình cạnh tranh du lịch được dựa trên mô hình Dwyer và Kim
Milicevic, Mihalic và Sever với công trình “An investigation of the relationship between destination branding and destination competitiveness”,
Journal of Travel & Tourism Marketing, số 2/2017 đề cập đến mối quan hệ giữa
thương hiệu điểm đến du lịch và năng lực cạnh tranh điểm đến Bằng cách sử dụng nhiều mô hình, trong đó có mô hình Dwyer và Kim (2003), bài viết đã đề xuất một
bộ công cụ nghiên cứu dùng để đo lường sự hài lòng du khách nhằm xây dựng mối quan hệ giữa thương hiệu và năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch [114] Điều này cho thấy việc xây dựng thương hiệu điểm đến có ảnh hưởng cùng chiều tới NLCT điểm đến
“Destination competitiveness: A phenomenographic study”, Tạp chí Tourism
Management, số 64/2018 của nhóm tác giả Novais, Ruhanen, Arcodia Công trình
này đã sử dụng mô hình Dwyer và Kim như một cách tiếp cận để nghiên cứu khả năng cạnh tranh của điểm đến du lịch Cụ thể, bài viết cho thấy ba quan niệm khác biệt về năng lực cạnh tranh điểm đến có liên quan theo thứ bậc: (i) nhận thức về điểm đến, (ii) hiệu suất và (iii) năng lực cạnh tranh [118], đồng thời nhấn mạnh rằng mối quan hệ giữa tính cạnh tranh, sức hấp dẫn và tính chất năng động của đối thủ cạnh tranh là các yếu tố có tác động lớn đến năng lực cạnh tranh điểm đến
Mô hình Dywer và Kim được các các giả đề cập trong công trình “Buiding
composite indicators in tourism studies: Measurements and Applicantions in
tourism destination competitiveness”, Tạp chí Tourism Management, số 59/2017
Nghiên cứu sinh Saidi Wasi Jackson với đề tài luận án “Analysis and Application of Tourism competitive models to tourism destinations” (năm 2018) tại Đại học
Trang 29UNICAF Điểm chung của các công trình này là đánh giá các lý thuyết và mô hình
về NLCT du lịch, đặc biệt là lý thuyết của Dwyer và Kim (2003) nhằm làm rõ khái niệm và ứng dụng tính cạnh tranh trong hoạt động du lịch cũng như xây dựng mô hình để đánh giá tính hiệu quả của các hoạt động du lịch của điểm đến
Công trình “An Analysis of destination attributes to enhance tourism
competitiveness in Bangladesh”, African Journal of Hospitality, Tourism and
Leisure, số 8/2019 của Hossain và Islam Sử dụng mô hình Dywer và Kim các tác
giả đã đo lường khả năng cạnh tranh điểm đến du lịch của Bangladesh bằng cách xác định các yếu tố ảnh hưởng đến các điểm đến du lịch khác nhau Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố về khí hậu, khách sạn, vị trí địa lý và ẩm thực của Bangladesh có lợi thế hơn so với Ấn Độ, Malaysia, Nepal và Thái Lan, đồng thời chỉ ra một số hạn chế trong quá trình xây dựng mô hình cạnh tranh điểm đến du lịch Kết quả này có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà hoạch định chính sách Bangladesh trong việc đưa ra định hướng phát triển và xác định ưu tiên để phân bổ các nguồn lực trong du lịch
1.1.3 Nghiên cứu năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch dựa trên các mô hình khác
Công trình của học giả Poon (1993) [122] có nêu một số quy tắc đo lường khả năng cạnh tranh của điểm đến bao gồm: tính dẫn đầu, sự phân phối, môi trường,… Tuy nhiên, tác giả Bordas (1994) [86] lại cho rằng để đánh giá khả năng cạnh tranh của điểm đến chỉ phụ thuộc vào 3 yếu tố như: (i) khả năng chuyên môn; (ii) chi phí - giá thành và (iii) sự khác biệt Ngoài ra, 5 yếu tố quyết định tính cạnh tranh gồm: (i) quản lý; (ii) tổ chức; (iii) thông tin; (iv) tính hấp dẫn và (v) hiệu quả được đề xuất trong công trình nghiên cứu của hai học giả Chon và Mayer (1995) [87] Năm 1997, học giả Pearce đã tiếp cận năng lực cạnh tranh điểm đến của du lịch bằng cách sử dụng phương pháp Competitive Destination Analysis (CDA) Phương pháp này được dùng để đánh giá so sánh các yếu tố ảnh hưởng đến NLCT điểm đến trong một khuôn khổ cụ thể Đồng thời, đánh giá tổng quan các điểm đến nhằm chỉ ra những điểm mạnh, yếu của từng điểm đến du lịch Theo Dwyer và Kim (2003) [92], có 3 nhóm yếu tố có ảnh hưởng tới NLCT điểm đến du lịch bao gồm:
Trang 30(i) khả năng về chiến lược và quản trị; (ii) tài nguyên sẵn có; và (iii) lợi thế cạnh tranh về giá
Một trong những cách tiếp cận về NLCT điểm đến du lịch là cạnh tranh về giá cả Đến nay, đã có một số nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận này, có thể kể đến công trình nghiên cứu tiêu biểu của Dwyer, Forsyth và Rao (2002) [91] tiến hành đánh giá thực trạng cạnh tranh giá cả của một số điểm đến ở Úc thông qua việc so sánh các dịch vụ tại điểm đến và theo dõi sự biến động chỉ số của sự cạnh tranh giá quốc tế Đồng thời nghiên cứu này cũng xác định được có hai loại giá cả: (i) chi phí
đi lại, và (ii) chi phí mặt bằng
Bên cạnh cách tiếp cận về giá thì cách tiếp cận về môi trường kinh doanh cũng được nhiều nhà nghiên cứu lựa chọn sử dụng Công trình nghiên cứu
“Identifying competitive strategies for successful tourism destination development”
của Evans và cộng sự (1995) [95] tập trung vào khía cạnh tổ chức quản lý điểm đến
- DMOs (Destination Management Organizations) nhằm phát hiện thế mạnh của điểm đến để từ đó xây dựng chiến lược phát triển Một mô hình tích hợp đã được xây dựng trong nghiên cứu của Dwyer và Kim (2003) [92] bằng cách kết hợp các yếu tố của năng lực cạnh tranh điểm đến trong mô hình của Ritchie & Crouch với các yếu tố của năng lực cạnh tranh quốc gia và doanh nghiệp trong mô hình M Porter Thông qua đó, mô hình này đã đưa ra những yếu tố then chốt của NLCT bao gồm quản lý điểm đến, yếu tố hỗ trợ, tài nguyên thừa kế, tài nguyên tái tạo và điều kiện thực tế
Công trình nghiên cứu “Determinants of Market Competitiveness in an Environmentally Sustainable Tourism Industry”, Journal of Travel Research, số
38/2000 của Hassan đi sâu phân tích bốn yếu tố quyết định NLCT trên thị trường bao gồm: xu hướng cầu, cấu trúc của ngành du lịch, lợi thế so sánh và cam kết môi trường Trong đó, ngoài 2 yếu tố đầu, nghiên cứu nhấn mạnh vai trò của cầu và yếu tố môi trường [98] Tác giả cho rằng khi trình độ nhận thức của con người được cải thiện và nâng cao thì mọi người thường có xu hướng đi du lịch ở những nơi thân thiện với thiên nhiên, có hoạt động phát triển du lịch bền vững, bảo vệ
Trang 31môi trường cũng như bảo tồn các giá trị tự nhiên Tuy nhiên, hạn chế của nghiên cứu này chưa làm r các biến số đo lường bền vững của yếu tố thị trường và môi trường
Một hướng tiếp cận khác trong việc đánh giá NLCT điểm đến du lịch được thể hiện trong tác phẩm “Integrated Quality Management for Tourist Destinations:
A European Perspective on Achieving Competitiveness” của Go và Govers (2000)
Bài viết thiết lập mô hình đánh giá NLCT dựa trên 7 tiêu chí: chất lượng dịch vụ, tiện ích, đi lại, hình ảnh điểm đến, khả năng thanh toán, khí hậu môi trường và khả năng thu hút Tuy nhiên, điểm hạn chế của mô hình này là chỉ áp dụng được cho một loại hình du lịch nhất định [96]
Công trình “Destination Attractiveness and Destination Competitiveness: A Model of Destination evaluation” (2003) [138] của tác giả Vengesayi sử dụng cách tiếp cận so sánh mối tương quan giữa những điểm cần có của điểm đến với nhu cầu thiết yếu của du khách đang tìm kiếm tại điểm đến Theo đó, đề xuất mô hình Tourist Destination Competitiveness and Attractiveness (TDCA) nhằm đánh giá năng lực cạnh tranh dựa trên 4 yếu tố: (i) môi trường; (ii) tài nguyên; (iii) truyền thông, quảng bá; (iv) các dịch vụ hỗ trợ
Công trình nghiên cứu “Tourism Destination Competitiveness: a
Quantitative Approach”, Tạp chí Current Issues in Tourism, số 6/ 2004 của
Enright và Newton Các tác giả đã xây dựng mô hình NLCT điểm đến toàn diện hơn thông qua việc kết hợp nhân tố thu hút của điểm đến du lịch với những nhân
tố có nét tương đồng của ngành du lịch Vì vậy, mô hình này đã thể hiện rõ nét vai trò quan trọng của mối quan hệ giữa các nhân tố bên ngoài và bên trong của điểm đến du lịch trong việc đánh giá khả năng cạnh tranh du lịch
Học giả Enright và Newton (2004) [93] cho rằng bằng cách mở rộng phạm vi đánh giá tính cạnh tranh của điểm đến nhằm mục đích bao hàm các thuộc tính chung về môi trường kinh doanh Cụ thể là một điểm đến được xem là có tính cạnh tranh nếu điểm đến đấy có khả năng thu hút và đáp ứng nhu cầu của khách du lịch
Trang 32Sugiyarto và Gooroochurn (2005) với công trình nghiên cứu Competitiveness
Indicators in the Travel and Tourism Industry [97] đã sử dụng mô hình và dữ liệu của WTTC để thực hiện đánh giá NLCT điểm đến Các tác giả đã kết hợp các nhân
tố chính (phát triển xã hội; tác động kinh tế - xã hội; cơ sở hạ tầng; nguồn nhân lực; công nghệ; môi trường; giá cả và sự cởi mở) với tiêu chí của WTTC nhằm đánh giá NLCT một cách chính xác và hiệu quả
Đồng tác giả Jones và Haven Tang với nghiên cứu “Tourism SMEs, Service
Quality and Destination Competitiveness” (2005), nội dung tập trung đánh giá
NLCT điểm đến du lịch thông qua doanh thu và chất lượng của hoạt động du lịch
Mô hình của Enright và Newton trong công trình “Determinants of Tourism
Destination Competitiveness in Asia Pacific: Comprehensiveness and University”,
Journal of Travel Research, số 43/2005 đã chứng minh được lý thuyết về năng lực
cạnh tranh dựa vào việc khảo sát khu vực châu Á - Thái Bình Dương Cụ thể là tác giả tập trung phân tích các yếu tố tác động đến kinh doanh du lịch và lợi thế du lịch của khu vực này Kết quả phân tích cho thấy cả nhân tố liên quan đến kinh doanh và lợi thế du lịch đều tác động đến khả năng cạnh tranh điểm đến du lịch Ngoài ra, mô hình này nhấn mạnh sự đa dạng hóa trong sản phẩm du lịch cũng như phân khúc thị trường mục tiêu đều là những nhân tố quan trọng hàng đầu Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) (2007) đã xây dựng mô hình đánh giá chỉ
số NLCT của các quốc gia và vùng lãnh thổ dựa vào 3 nhóm nhân tố chính cũng là những chỉ số dùng để so sánh NLCT du lịch của các quốc gia khác nhau, bao gồm: i) Quy chế (quản lý môi trường; chính sách; ưu đãi; giá cả vệ sinh, an toàn); ii) Môi trường kinh doanh (cơ sở hạ tầng thông tin liên lạc, cơ sở hạ tầng du lịch, cơ
sở hạ tầng mặt đất, cơ sở hạ tầng hàng không); iii) Nguồn lực tự nhiên, con người (nhận thức du lịch; nguồn nhân lực; nguồn tự nhiên văn hóa) [141]
Năm 2007, sau ba năm sử dụng 8 chỉ số đánh giá NLCT điểm đến du lịch của Hội đồng du lịch và lữ hành thế giới (WTTC) của 212 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới năm 2004 [142] đã bộc lộ những hạn chế nhất định Do đó, WTTC
và WEF đã xây dựng lại các chỉ số đánh giá NLCT điểm đến mới, đồng thời, WEF
Trang 33công bố công trình nghiên cứu NLCT về lữ hành và du lịch của 124 quốc gia với 13
bộ chỉ số chính, và trên 70 chỉ số cụ thể để đánh giá NLCT điểm đến, theo đó các báo cáo này được công bố hàng năm Báo cáo xếp hạng của WEF về NLCT điểm đến của các quốc gia và vùng lãnh thổ theo các nhóm tiêu chí cho từng chỉ số đo lường thông qua các số liệu do các tổ chức quốc tế và do các chuyên gia của WEF tại từng quốc gia và vùng lãnh thổ cung cấp Các bộ chỉ số này bao gồm: (i) Luật pháp, chính sách về du lịch gồm 5 chỉ số: (Quy định luật pháp và chính sách; Quy định về môi trường; An toàn và an ninh; Y tế và vệ sinh; Ưu tiên phát triển du lịch); (ii) Kết cấu hạ tầng và môi trường kinh doanh du lịch gồm 5 chỉ số: (kết cấu hạ tầng giao thông đường không; kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ; kết cấu hạ tầng du lịch; kết cấu hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông; NLCT về giá); (iii) Nguồn lực tự nhiên, văn hóa và nhân lực gồm 3 chỉ số: (nguồn nhân lực, chỉ số nhận thức quốc gia về du lịch, nguồn lực tự nhiên và văn hóa)
Bộ chỉ số đánh giá NLCT du lịch của Uỷ ban du lịch thuộc Tổ chức Hợp tác
và Phát triển kinh tế (OECD) (tháng 4 năm 2013), trên cơ sở tham vấn 30 chuyên gia thành viên của 30 quốc gia [119] Mục tiêu của OECD là xác định nhóm các chỉ
số hữu ích và có ý nghĩa giúp cho các Chính phủ đánh giá và đo lường NLCT du lịch của quốc gia và vùng lãnh thổ đó theo thời gian và hướng dẫn họ lựa chọn các chính sách phù hợp Khung đo NLCT du lịch gồm 3 nhóm chỉ số: (i) nhóm chỉ số cốt lõi, (ii) nhóm chỉ số bổ sung và (iii) nhóm chỉ số phát triển trong tương lai Các nhóm chỉ số này được chia làm 4 lĩnh vực: (i) đo lường hiệu quả và các tác động của du lịch; (ii) đánh giá khả năng của một điểm đến trong việc cung cấp các dịch
vụ du lịch mang tính cạnh tranh và đảm bảo chất lượng; (iii) đánh giá sức hấp dẫn của một điểm đến du lịch; (iv) thể hiện các cơ hội kinh tế và sự phối hợp của các chính sách [120] Tuy nhiên, bộ tiêu chí này thiếu một số yếu tố chính để có thể sử dụng đo lường, theo dõi và đánh giá NLCT điểm đến Mặt khác, do có đến 79 chỉ số nên khó có thể vận dụng tất cả các chỉ số riêng cho từng điểm đến du lịch cụ thể
Theo Jennifer Blanke và Thea Chiesa (2014) [85], Bộ chỉ số NLCT du lịch
và lữ hành TTCI (The Travel and Tourism Competitiveness Index) nhằm mục đích
Trang 34đo lường các yếu tố chính để phát triển ngành du lịch và lữ hành ở các quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau Chỉ số được phát triển với sự hợp tác chặt chẽ với một số đối tác như Hiệp hội vận tải Hàng không quốc tế (IATA), Liên minh quốc tế Bảo tồn tài nguyên thiên nhiên (IUCN), Hội đồng du lịch và lữ hành (WTTC),… TTCI
được tích hợp thành 3 nhóm chính: Nhóm A) Khuôn khổ pháp lý du lịch và lữ hành bao gồm các yếu tố chính sách liên quan dưới sự giám sát của Chính phủ; Nhóm B)
Môi trường kinh doanh và cơ sở hạ tầng du lịch và lữ hành bao gồm các yếu tố cứng thuộc môi trường kinh doanh và cơ sở hạ tầng của mỗi quốc gia và vùng lãnh thổ;
Nhóm C) Nguồn tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên văn hoá và nhân lực bao gồm
các yếu tố mềm thuộc con người, tài nguyên tự nhiên và tài nguyên văn hoá của mỗi quốc gia [139] Đây là bộ tiêu chí được đánh giá là dễ vận dụng vào thực tế nhưng cũng có ý kiến cho rằng bộ tiêu chí này còn thiếu nhiều biến và một số biến trùng với bộ tiêu chí đánh giá NLCT toàn cầu GCI
Công trình “Development of Tourism Destinations: An Integrated Multilevel
Perspective”, Tạp chí Annals of Tourism Research, số 38/2011 của nhóm tác giả
Haugland, Ness, Gronseth và Aarstad đã thể hiện được quan điểm về vai trò của công tác điều phối, kết hợp các đơn vị du lịch lữ hành Công trình này đã cho người đọc thấy được sự thiếu sót trong việc đánh giá tổng thể chất lượng của một vùng du lịch đơn lẻ, cần phải có sự kết hợp của nhiều đơn vị du lịch lữ hành thì mới có thể tiến hành đánh giá tổng thể Nhóm tác giả này cho rằng muốn đánh giá được chất lượng thì cần phải có đủ 3 yếu tố chính: (i) lợi thế du lịch của vùng, (ii)
sự kết hợp trong nội bộ vùng và (iii) sự điều phối liên vùng Ngoài ra, Haugland
và cộng sự cũng chứng minh rằng việc thiết lập sự liên kết giữa các doanh nghiệp
du lịch lữ hành có tác dụng nâng cao chất lượng dịch vụ cũng như khả năng cạnh tranh của vùng du lịch
Cracolici và Rietveld với công trình “The attractiveness and competitiveness
by analysing destination efficiency: A study of Southern Italian regions”, Tourism
Management, số 30/2008, với nội dung nghiên cứu thực nghiệm năng lực cạnh
tranh du lịch cấp địa phương ở Italia Trên cơ sở lý luận về NLCT, tác giả sử dụng
Trang 35cách tiếp cận mới về hoạt động du lịch các điểm đến du lịch của quốc gia này Theo
đó, các tác giả cho rằng một điểm đến du lịch nên tối ưu hóa kết quả kinh doanh bằng cách kết hợp một cách hiệu quả các nguồn lực đầu vào Trong đó kết quả kinh doanh là giá trị gia tăng tạo ra, số lao động tuyển dụng hoặc chỉ số hài lòng của khách,… Nghiên cứu này đã sử dụng số liệu đầu vào cũng như kết quả kinh doanh của 103 điểm du lịch ở Italia để xác định các tham số trong hàm sản xuất dịch vụ du lịch của quốc gia này Hàm sản xuất này thể hiện khả năng hoạt động du lịch có hiệu quả hay không cũng như cho biết kết quả thực hiện tại cao hơn hay thấp hơn so với năng lực Kết quả hoạt động du lịch được đánh giá qua 3 tiêu chí: (i) Đặc trưng
về địa chất, văn hóa, xã hội của điểm đến; (ii) Quản lý của chính quyền, và (iii) Thay đổi của yếu tố cầu [88]
Công trình “Destination competitiveness: An Emerging Economy” (2019) của
Reisinger Y và Michael N đã xác định được các yếu tố chính ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh điểm đến trong một nền kinh tế mới nổi thuộc khu vực Vịnh Ả Rập dưới góc độ của khách du lịch Các tác giả tiến hành khảo sát một số du khách quốc
tế và rút ra kết luận rằng cơ sở hạ tầng điểm đến và dịch cụ hỗ trợ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc xác định khả năng cạnh tranh điểm đến du lịch Ngoài
ra, công trình này cũng đóng góp quan trọng vào các nghiên cứu liên quan về khả năng cạnh tranh điểm đến của nền kinh tế mới nổi
1.2 Những nghiên cứu chủ yếu ở trong nước về năng lực cạnh tranh điểm đến
du lịch
1.2.1 Các nghiên cứu năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch dựa trên mô hình Dwyer và Kim
Ở Việt Nam, một số tác giả cũng sử dụng mô hình Dwyer và Kim để tiến hành
phân tích, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển du lịch nước ta trên các khía cạnh khác nhau của hoạt động du lịch, nhất là điểm đến du lịch, ví dụ như:
Sử dụng mô hình Dwyer và Kim (2003) Nguyễn Anh Tuấn trong Luận án tiến sỹ
“Nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Việt Nam”, trường Đại học Kinh
Trang 36tế quốc dân, năm 2010 đã khái quát một số vấn đề lý luận cơ bản về cạnh tranh điểm đến như cạnh tranh, năng lực cạnh tranh, điểm đến và NLCT điểm đến Ngoài
ra, tác giả sử dụng phương pháp điều tra Survey Monkey để phân tích, đánh giá thực trạng NLCT điểm đến của du lịch nước ta Qua đó, nêu r thành tựu, thách thức cũng như cơ hội đối với ngành du lịch của nước ta trong quá trình phát triển
Tác giả Nguyễn Thị Thu Vân với công trình “Năng lực cạnh tranh điểm đến
du lịch Đà Nẵng”, Tạp chí Nghiên cứu khoa học, số 8/2012, trường Đại học Đông
Á, TP Đà Nẵng đã khái quát được khái niệm về NLCT du lịch và chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của thành phố biển Đà Nẵng Trong công trình này, tác giả sử dụng mô hình tích hợp Dwyer và Kim để tiến hành phân tích, đánh giá 7 nhóm nhân tố chính (nguồn lực thừa kế, nguồn lực tự nhiên, nguồn lực hỗ trợ, nguồn lực tạo ra, điều kiện hoàn cảnh, điều kiện về cầu, quản trị điểm đến [74]) tác động đến NLCT điểm đến du lịch của thành phố biển này Kết quả phân tích thống kê cho thấy NLCT du lịch điểm đến của Đà Nẵng ở mức trung bình khá, không có nhân tố nào xuất sắc cũng như không có nhân tố tiêu cực
1.2.2 Các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh trong hoạt động du lịch nói chung, điểm đến du lịch nói riêng dựa trên mô hình Michael Porter
Đến nay, một số công trình của các tác giả trong nước đã sử dụng mô hình
M Porter vào nghiên cứu NLCT trong hoạt động du lịch nói chung, điểm đến du lịch Việt Nam nói riêng, có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như:
Nguyễn Quang Vinh với luận án tiến sỹ “Khả năng cạnh tranh của các
doanh nghiệp lữ hành quốc tế Việt Nam sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới”, (2011), trường Đại học Kinh tế quốc dân đã nêu lên được một số khái
niệm liên quan đến khả năng cạnh tranh bao gồm: (i) năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp du lịch lữ hành quốc tế; (ii) chỉ số đo lường khả năng cạnh tranh của các doanh nghiêp du lịch lữ hành quốc tế, và (iii) các nhân tố tác động đến cạnh tranh Bằng phương pháp ma trận tác giả đã kết hợp với các công cụ toán học để tiến hành thiết lập mô hình định lượng nhằm xác định mức độ ảnh hưởng đối với
Trang 37doanh nghiệp của các nhóm nhân tố Bên cạnh đó, một hệ thống các nhân tố cấu thành gồm 6 nhân tố, 17 chỉ số [75] được xây dựng dựa trên mô hình M Porter với mục đích phản ánh khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp lữ hành quốc tế thông qua các yếu tố như khả năng liên kết, hợp tác và quản lý khủng hoảng theo đặc trưng của doanh nghiệp
Đề tài “Đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành du lịch thành phố Cần Thơ”
Tạp chí Phát triển và Hội nhập, số 24/2015 của Đào Duy Hân sử dụng lý thuyết áp
lực cạnh tranh của Michael Porter để phân tích đánh giá thực trạng NLCT của ngành du lịch Cần Thơ Đồng thời, tác giả còn sử dụng ma trận hình ảnh cạnh tranh
để tiến hành so sánh, xếp loại các đối thủ cạnh tranh (An Giang, Bến Tre, Tiền Giang) của du lịch Thành phố này Thông qua đó, đề xuất 5 giải pháp nâng cao NLCT: (i) Đẩy mạnh tuyên truyền, quảng bá du lịch; (ii) Xây dựng kế hoạch phát triển nguồn nhân lực sao cho phù hợp với từng thời kỳ; (iii) Tiếp tục xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù; (iv) Đầu tư vốn, nâng cấp cơ sở hạ tầng, và (v) Phát triển du lịch bền vững [25]
Trần Thị Thuỳ Trang với luận án tiến sỹ: “Năng lực cạnh tranh du lịch của
thành phố Hồ Chí Minh”, (2015), Học viện Khoa học xã hội Trong nghiên cứu này,
tác giả đã sử dụng cơ sở lý thuyết về du lịch điểm đến mô phỏng theo mô hình của Michael Porter nhằm đánh giá NLCT điểm đến thông qua 4 yếu tố: các ngành công nghiệp hỗ trợ có liên quan; các điều kiện về thị trường du lịch; chiến lược, cơ cấu và đối thủ cạnh tranh điểm đến; các yếu tố đầu vào và mức độ hấp dẫn du lịch Thông qua đó, tác giả đề xuất 3 nhóm giải pháp bao gồm nhóm giải pháp về phát triển thị trường khách du lịch quốc tế; khách du lịch nội địa; sản phẩm du lịch nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế
Vũ Văn Hùng (2016), trên cơ sở các bộ tiêu chí đánh giá NLCT ngành dịch
vụ của M Porter, của Crouch - Ritchie, của Dwyer - Kim và của WEF, tác giả đã hình thành bộ tiêu chí đánh giá phù hợp với du lịch biển đảo tỉnh Khánh Hòa Bộ tiêu chí gồm 5 nhóm nhân tố chính và 44 chỉ tiêu đánh giá: (i) Các yếu tố đầu vào hay còn gọi là các điều kiện về cung ứng dịch vụ, bao gồm: hệ thống cơ sở lưu trú;
Trang 38hệ thống nhà hàng, khu ẩm thực; hệ thống giao thông công cộng; cơ sở hạ tầng vui chơi, giải trí; trung tâm mua sắm, hàng lưu niệm; (ii) Các điều kiện về cầu, bao gồm: thị trường khách du lịch; SPDL biển, đảo; (iii) Các dịch vụ hỗ trợ và có liên quan, gồm: khả năng cung ứng và chất lượng các dịch vụ hỗ trợ; sự sẵn có của các ngành phụ trợ và có liên quan; (iv) Chiến lược cạnh tranh của ngành; (v) Môi trường du lịch và vai trò của chính quyền địa phương [27]
1.2.3 Các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh trong hoạt động du lịch nói chung, điểm đến du lịch nói riêng dựa trên các phương pháp khác
Từ cách tiếp cận và sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác nhau, nghiên cứu về hoạt động du lịch nước ta nói chung, NLCT điểm đến du lịch nói riêng là đề tài nghiên cứu hấp dẫn, thu hút được khá nhiều nhà nghiên cứu trong nước quan tâm Nhưng có thể thấy, nghiên cứu về lý luận và thực tiễn có liên quan đến NLCT điểm đến du lịch ở trong nước chưa nhiều, có thể kể ra một số công trình như sau: Công trình nghiên cứu “Khả năng cạnh tranh và hướng phát triển du lịch Việt
Nam thời kỳ hậu Tổ chức Thương mại thế giới”, Tạp chí Du lịch Việt Nam, số
8/2007 của tác giả Ngô Đức Anh đã đi sâu phân tích, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của ngành Du lịch Việt Nam và định hướng phát triển du lịch của Việt Nam sau khi gia nhập tổ chức WTO
Đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu thực trạng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh
tranh trong lĩnh vực lữ hành quốc tế của Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế” của Nguyễn Anh Tuấn và cộng sự (2007), Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, đã
phân tích, đánh giá thực trạng NLCT trong lĩnh vực lữ hành quốc tế thông qua các tiêu chí về nguồn nhân lực, sản phẩm và dịch vụ, trình độ quản lý, công nghệ,… trong bối cảnh hội nhập quốc tế Thông qua đó, nhóm tác giả đề xuất ba nhóm giải pháp chính nhằm nâng cao NLCT trong bối cảnh hội nhập: (i) nhóm giải pháp vĩ mô; (ii) nhóm giải pháp của doanh nghiệp lữ hành; (iii) nhóm giải pháp của Hiệp hội du lịch
Luận án tiến sỹ kinh tế “Nâng cao năng lực cạnh tranh của các khách sạn
Việt Nam trong thời gian tới” (2010) của Hà Thanh Hải với nội dung nghiên cứu về
Trang 39NLCT của các doanh nghiệp kinh doanh khách sạn Tác giả đã hệ thống hoá một số phương pháp đánh giá năng lực cạnh tranh của khách sạn như phương pháp thu thập
ý kiến đánh giá của chuyên gia, phương pháp điều tra khách hàng và phương pháp đánh giá ma trận Thompson - Stricland Công trình “Nghiên cứu tính cạnh tranh
trong du lịch của thành phố Huế” Tạp chí Kinh tế du lịch, số 60/2010 của Thái
Thanh Hà và Đặng Ngọc Hiệp đã chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng đến tính cạnh tranh trong du lịch của thành phố Huế - vốn được coi là điểm đến du lịch nổi tiếng ở miền Trung Tác giả sử dụng phương pháp phân tích nhân tố đối với 36 nội hàm về tính cạnh tranh trong du lịch và phương pháp kỹ thuật phân tích số liệu đa biến hồi quy theo bước có trọng số
Tác giả Hà Thị Thanh Thuỷ với đề tài “Phân tích năng lực cạnh tranh cấp
quốc gia của du lịch biển Việt Nam: so sánh với Indonesia và Thái Lan”, Tạp chí
Nghiên cứu Kinh tế, số 6/2015 Theo tác giả, báo cáo năm 2013 của Hội đồng Du
lịch và Lữ hành thế giới (WTTC) cho rằng NLCT của du lịch biển Việt Nam xếp thứ 80/140, đứng sau Thái Lan 37 bậc và Indonesia 10 bậc [57] Cụ thể là năng lực cạnh tranh cấp quốc gia ở các bộ tiêu chí môi trường kinh doanh và cơ sở hạ tầng; khuôn khổ pháp lý; con người và tài nguyên thiên nhiên của Thái Lan đều xếp hạng cao hơn so với Việt Nam Còn với Indonesia thì Việt Nam chỉ hơn ở bộ tiêu chí khuôn khổ pháp lý, còn 2 bộ tiêu chí còn lại xếp dưới quốc gia này Trên cơ sở đánh giá khái quát thực trạng và so sánh với các quốc gia trong khu vực, tác giả đề xuất giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cấp quốc gia của du lịch biển Việt Nam trong giai đoạn mới, tập trung giải quyết 3 vấn đề, đó là: i) chính sách, ii) cơ sở hạ tầng và iii) nguồn nhân lực
Nguyễn Việt Cường với công trình “Phân tích các yếu tố tác động đến lựa chọn một điểm đến của du khách nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của điểm đến
Quảng Ninh”, Tạp chí Quản lý kinh tế, số 56/2013 đã tiến hành nghiên cứu các
nhân tố tác động đến lựa chọn điểm đến du lịch của du khách nhằm nâng cao NLCT điểm đến Quảng Ninh Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng ngoài các nhân tố chính như
Trang 40lịch sử văn hóa, nguồn lực tự nhiên thì các nhân tố phụ là thời tiết, địa lý, khoảng cách có tác động lớn tới quyết định lựa chọn điểm đến của khách du lịch
Nguyễn Nam Thắng (2015), “Nghiên cứu mô hình năng lực cạnh tranh cấp
tỉnh trong lĩnh vực du lịch”, Luận án tiến sĩ, trường Đại học Bách khoa Hà Nội, tiến
hành hệ thống hoá khái niệm và một số mô hình NLCT trong lĩnh vực du lịch trên thế giới và ở Việt Nam, thông qua đó, mở rộng các bằng chứng lý thuyết và thực nghiệm mới về mối quan hệ cấu trúc giữa các yếu tố có thuộc tính cạnh tranh làm
cơ sở thiết lập bộ tiêu chí đánh giá NLCT cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch ban đầu bao gồm 4 nhóm yếu tố chính và 32 yếu tố thành phần Theo đó, xác định một số nguồn lực cốt l i đóng vai trò trung tâm để thiết lập bộ tiêu chí xây dựng mô hình đánh giá NLCT cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch ở nước ta, gồm 4 nhóm yếu tố chính
và 20 yếu tố thành phần Trên cơ sở đó, nghiên cứu đã triển khai kiểm định thực tế khách quan mô hình này tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, với xếp hạng mức độ cạnh tranh phù hợp cả về lý luận và thực tiễn đối với 4 nhóm yếu tố chính và 16 yếu tố thành phần Đây là cơ sở cho các nghiên cứu về NLCT của điểm đến du lịch tham khảo [55]
Thái Thị Kim Oanh (2015) với luận án tiến sỹ “Đánh giá năng lực cạnh
tranh du lịch biển, đảo của tỉnh Nghệ An và khuyến khích chính sách”, Đại học
Kinh tế quốc dân đã phân tích, đánh giá thực trạng NLCT du lịch biển, đảo tỉnh Nghệ An thông qua một số tiêu chí như: kết quả hoạt động, sản phẩm du lịch, hình ảnh du lịch, đầu tư phát triển du lịch biển, đảo, cơ sở hạ tầng và quản lý nhà nước
Từ đó, đề xuất 4 nhóm giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh du lịch Nghệ An là:
- Hoàn thiện cơ chế chính sách quản lý du lịch bao gồm thu hút nhiều tổ chức có uy tín và tiềm lực mạnh vào đầu tư xây dựng, khai thác, vận hành các cơ sở kinh doanh,…
- Phát triển du lịch thông qua việc tạo các sản phẩm du lịch như du lịch trải nghiệm kết hợp với du lịch biển đảo, du lịch di sản văn hoá
- Chính sách về nghiên cứu cầu thị trường và xúc tiến du lịch
- Liên kết phát triển du lịch với trọng tâm là liên kết phát triển sản phẩm du lịch