1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Thực trạng kiến thức, thực hành chăm sóc trẻ sốt của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại khoa khám bệnh, bệnh viện đa khoa xanh pôn năm 2021

58 145 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 791,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH KHÚC THỊ THANH MAI THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THỰC HÀNH CHĂM SÓC TRẺ SỐT CỦA BÀ MẸ CÓ CON DƯỚI 5 TUỔI TẠI KHOA KHÁM BỆNH – BỆNH VIỆN ĐA KHOA XANH

Trang 1

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

KHÚC THỊ THANH MAI

THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THỰC HÀNH CHĂM SÓC

TRẺ SỐT CỦA BÀ MẸ CÓ CON DƯỚI 5 TUỔI TẠI KHOA KHÁM BỆNH – BỆNH VIỆN ĐA KHOA

XANH PÔN NĂM 2021

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

NAM ĐỊNH - 2021

Trang 2

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

KHÚC THỊ THANH MAI

TRẺ SỐT CỦA BÀ MẸ CÓ CON DƯỚI 5 TUỔI

TẠI KHOA KHÁM BỆNH – BỆNH VIỆN ĐA KHOA

XANH PÔN NĂM 2021

Chuyên ngành: Điều dưỡng nhi khoa

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:

TS VŨ VĂN ĐẨU

NAM ĐỊNH - 2021

Trang 3

Em xin chân thành cảm ơn tới Lãnh đạo Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn, lãnh đạo khoa Khám bệnh và các đồng nghiệp đã tạo điều kiện, nhiệt tình cộng tác giúp đỡ em trong quá trình thực hành lâm sàng và triển khai chuyên đề

Sau cùng em xin bày tỏ sự biết ơn tới những người thân trong gia đình, bạn bè

đã luôn dành cho em những tình cảm quý báu, chia sẻ khó khăn, động viên em trong suốt quá trình học tập

Học viên

Khúc Thị Thanh Mai

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nêu trong chuyên đề tốt nghiệp là trung thực

và khách quan, chưa từng công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào trước đây Tất cả những sự giúp đỡ cho việc xây dựng cơ sở lý luận cho chuyên đề đều được trích dẫn đầy đủ, ghi rõ nguồn gốc rõ ràng và được phép công bố

Người cam đoan

Khúc Thị Thanh Mai

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BIỂU ĐỒ vi

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3

1.1 Cơ sở lý luận 3

1.1.1 Sinh lý bệnh 3

1.1.2 Sốt ở trẻ em 6

1.2 Cơ sở thực tiễn 9

1.2.1 Tình hình nghiên cứu về sốt ở trẻ em tại Việt Nam 9

1.2.2 Tình hình nghiên cứu về sốt ở trẻ em trên thế giới 11

Chương 2: MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT 14

2.1 Một số thông tin về bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn 14

2.2 Thực trạng kiến thức, thực hành chăm sóc trẻ sốt của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại khoa Khám bệnh, bệnh viện đa khoa Xanh Pôn năm 2021 14

2.2.1 Đặc điểm chung 14

2.2.2 Kiến thức, thực hành chăm sóc trẻ sốt của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại khoa Khám bệnh, bệnh viện đa khoa Xanh Pôn năm 2021 17

2.2.3 Mối liên quan giữa kiến thức với thực hành của bà mẹ về chăm sóc và xử trí sốt cao tại nhà 27

Chương 3: BÀN LUẬN 28

3.1 Đặc điểm nhân khẩu học - xã hội học của bà mẹ và mối liên hệ với kiến thức, thực hành chăm sóc trẻ sốt 28

3.1.1 Tuổi của bà mẹ 28

3.1.2 Trình độ học vấn 28

3.1.3 Nghề nghiệp 28

3.1.4 Kinh tế 29

3.2 Nguồn cung cấp thông tin 29

3.3 Kiến thức của bà mẹ về sốt cao 30

Trang 6

3.4 Thực hành của bà mẹ khi trẻ có sốt cao 33 3.5 Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành của bà mẹ có con bị sốt cao 36 KẾT LUẬN 37 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Đặc điểm chung của bà mẹ 15

Bảng 2.2 Kiến thức về Sốt cao của bà mẹ 17

Bảng 2.3 Kiến thức về phương pháp chườm ấm 18

Bảng 2.4 Kiến thức về sử dụng thuốc hạ sốt 19

Bảng 2.5 Kiến thức về phòng ngừa mất nước và phòng ngừa sốt cho trẻ 20

Bảng 2.6 Kiến thức về xử trí sốt cao ở nhà 21

Bảng 2.7 Hành động của bà mẹ khi chăm sóc trẻ sốt 23

Bảng 2.8 Thực hành về sử dụng thuốc 24

Bảng 2.9 Mối liên hệ giữa đặc điểm nhân khẩu – xã hội học đối với kiến thức của các bà mẹ 25

Bảng 2.10 Mối liên hệ giữa nguồn cung cấp thông tin với kiến thức chung của bà mẹ 26

Bảng 2.11 Mối liên hệ giữa đặc điểm nhân khẩu- xã hội học đối với thực hành chung của các bà mẹ 26

Bảng 2.12 Mối liên hệ giữa nguồn cung cấp thông tin với thực hành chung của bà mẹ 27

Bảng 2.13 Mối liên hệ giữa kiến thức với thực hành của bà mẹ về chăm sóc và xử trí sốt cao tại nhà 27

Trang 8

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Phân bố mức độ kiến thức chung 22Biểu đồ 2.2 Phân bố mức độ thực hành của bà mẹ khi trẻ có sốt cao 24

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sốt cao là một cấp cứu nhi khoa rất thường gặp Nếu không được xử trí kịp thời

và đúng cách có thể dẫn đến co giật đe dọa tính mạng người bệnh hoặc để lại những hậu quả rất nặng nề về sau như: Động kinh, chậm phát triển tâm thần và vận động đặc biệt là ở những trẻ có tiền sử sốt cao co giật [2]

Đối với trẻ từ 2 tháng đến 5 tuổi do chức năng của não bộ chưa hoàn chỉnh, cộng thêm yếu tố tiền sử gia đình về sốt cao co giật khi nhiệt độ trên 38,50C dễ dẫn đến co giật và thời gian từ lúc sốt cao đến co giật là rất ngắn Theo nghiên cứu của Kazeem A cho thấy tỷ lệ trẻ co giật do sốt xuất hiện sau khi sốt trong 6 giờ đầu chiếm 83% [21] Do đó việc phát hiện ra trẻ sốt và chăm sóc ban đầu cho trẻ sốt cao khi chưa có thầy thuốc là rất quan trọng

Khi trẻ bị sốt cao thì việc phát hiện ra trẻ sốt và hạ sốt đúng cách nhằm giảm nguy cơ co giật cho trẻ đóng vai trò quan trọng Thực tế cho thấy nhiều bà mẹ biết cách xử trí sốt cho con nhưng cũng có một số bà mẹ không biết cách theo dõi nhiệt

độ khi trẻ sốt, không biết đến các phương pháp hạ sốt an toàn cho con tại nhà Theo kết quả nghiên cứu của Hồ Thị Hoài Phương chỉ có 60% các bà mẹ sử dụng nhiệt kế

để phát hiện trẻ sốt, 80% bà mẹ phát hiện trẻ sốt bằng dấu hiệu trẻ nóng và quấy khóc, gần 50% bà mẹ cho con uống thuốc hạ sốt ngay khi phát hiện con sốt [14] Theo tác giả Phạm Lê An [1] biện pháp hạ sốt bằng chườm ấm có hiệu quả tức thì rõ rệt hơn uống thuốc trong 30 phút đầu, nhưng sau 30 phút thì không giảm nhiều hơn nữa điều này cũng chứng minh cho quan điểm lý thuyết rằng hạ nhiệt bằng làm mát ngoại biên Thuốc hạ nhiệt chỉ có tác dụng rõ rệt sau 30 phút Bởi vậy cần phối hợp cả hai ưu điểm hạ nhiệt nhanh của chườm ấm và kéo dài của thuốc hạ nhiệt nếu như trẻ sốt trên 38,50C [1], [25] Tuy nhiên không phải bà mẹ nào cũng biết cách chườm ấm khi con sốt, vì vẫn còn 46,5% bà mẹ đã chườm ấm nhưng thực tế sốt cao co giật vẫn xẩy ra [5] Thậm trí khi trẻ có sốt các bà mẹ có hành động sai trái như cạo gió, cắt lễ và ủ

ấm, nhưng chỉ có 25% bà mẹ biết vai trò của chườm ấm trong hạ sốt [18] Như vậy hiểu biết của bà mẹ là quá thấp Do đó việc tư vấn, tuyên truyền để nâng cao kiến thức, thực hành chăm sóc trẻ sốt cao cho bà mẹ là hết sức cần thiết

Trang 10

Hiện nay, khoa Khám bệnh của bệnh viện Xanh Pôn mỗi ngày có khoảng

20-30 trẻ em dưới 5 tuổi đến khám vì lí do sốt nhưng chưa có một đề nào nghiên cứu về kiến thức, thực hành của các bà mẹ có trẻ bị sốt cao [4] Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng kiến thức, thực hành chăm sóc trẻ sốt của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại khoa Khám bệnh, bệnh viện đa khoa Xanh Pôn năm 2021” với hai mục tiêu:

1 Mô tả thực trạng kiến thức, thực hành chăm sóc trẻ sốt của bà mẹ có con dưới

5 tuổi tại khoa Khám bệnh, bệnh viện đa khoa Xanh Pôn năm 2021

2 Đề xuất một số giải pháp nâng cao kiến thức, thực hành chăm sóc trẻ sốt của

bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại khoa Khám bệnh, bệnh viện đa khoa Xanh Pôn

Trang 11

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Sinh lý bệnh

1.1.1.1 Thân nhiệt bình thường

Định nghĩa thân nhiệt: Thân nhiệt là nhiệt độ của cơ thể, được chia làm 2 loại

là thân nhiệt trung tâm và thân nhiệt ngoại vi

Thân nhiệt trung tâm: Được đo ở những vùng nằm sâu trong cơ thể, là nhiệt

độ có ảnh hưởng trực tiếp tới tốc độ của các phản ứng sinh học xảy ra trong cơ thể,

là mục đích của hoạt động điều nhiệt, thường được giữ cố định, ít thay đổi theo nhiệt

độ môi trường

Thân nhiệt ngoại vi: Được đo ở da, thay đổi theo nhiệt độ ở môi trường xung quanh Bình thường thân nhiệt dao động trong khoảng 36,30C – 37,10C Nhiệt độ lấy được hậu môn thể hiện thân nhiệt đúng nhất, nhiệt độ ở miệng thường thấp hơn nhiệt

độ ở hậu môn khoảng 0,20C- 0,50C, dễ đo nên thường được dùng để theo dõi tình trạng bệnh, nhưng bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như uống nước nóng hay lạnh, ăn kẹo nhai, hút thuốc và có thở miệng trước khi đo Nhiệt độ ở nách thấp hơn ở trực tràng từ 0,50C đến 10C và dễ đo, thường được dùng để theo dõi thân nhiệt ở người bình thường [6]

Thân nhiệt ngoại vi đo ở da, chịu ảnh hưởng của nhiệt độ môi trường nhiều hơn,

có thể dùng để đánh giá hiệu quả của hoạt động điều nhiệt và nó cũng thay đổi theo

vị trí đo như ở trán vào khoảng 33,50C, ở lòng bàn tay 320C, ở mu bàn chân 280C [6] 1.1.1.2 Quá trình sinh nhiệt và thải nhiệt của cơ thể

a Quá trình sinh nhiệt của cơ thể: Nhiệt năng được sinh ra từ

* Chuyển hóa cơ sở: là chuyển hóa năng lượng khi cơ thể có những hoạt động sinh lý tối thiểu để duy trì sự sống như tuần hoàn, hô hấp, các phán ứng hóa học cơ bản của cơ thể như chuyển hóa gluxit, protein và lipit để cung cấp năng lượng

Trang 12

* Tác dụng động lực đặc hiệu của thức ăn: là năng lượng bắt buộc phải sử dụng trong quá trình đồng hóa thức ăn trong cơ thể được thải ra dưới dạng nhiệt đối với protein là 6%, đối với mỡ là 4%

* Sự co cơ: Khi co cơ, các chất glucose, lipid bị oxy hóa để sinh ra năng lượng 75% năng lượng dưới dạng nhiệt Đặc biệt hiện tượng run là một nguyên nhân sinh nhiệt quan trọng

* Kích tố: Cũng ảnh hưởng đến quá trình sinh nhiệt của cơ thể

- Epinephrin và Norepinephrine làm tăng tốc độ chuyển hóa năng lượng, năng lượng biến thành nhiệt năng chứ không dữ trữ dưới dạng ATP

(Adenosine triphosphate) Do đó chúng có tác dụng tạo nhiệt nhanh nhưng ngắn hạn

- Thyroxin thì có tác dụng tạo nhiệt chậm nhưng kéo dài

* Lớp mỡ nâu: nằm ở dưới và xung quanh lớp bả vai và những nơi khác của cơ thể Khi kích thích thần kinh giao cảm phân phối tới mỡ nâu, thì năng lượng sinh ra

từ sự oxy hóa trong tế bào không được dự trữ dưới dạng ATP mà tỏa thành nhiệt Do

đó mỡ nâu là một nguồn tạo nhiệt quan trọng của trẻ em [6]

b Quá trình thải nhiệt của cơ thể

Phần lớn nhiệt năng tạo ra từ những cơ quan ở sâu trong cơ thể như gan, tim, não và cơ Sau đó nhiệt năng phải được truyền từ trong cơ thể ra bề mặt của da để được thải ra ngoài cơ thể

Sự truyền nhiệt từ trong sâu qua lớp cách nhiệt dưới da (mô mỡ của mô dưới da) để ra ngoài mặt ra được thực hiện nhờ hệ thống mạch máu này, trong đó đặc biệt quan trọng là mạng tĩnh mạch ở dưới da Khi lưu lượng máu qua mạng tĩnh mạch cao, thì nhiệt được xem từ trong sâu ra da, ngược lại khi lưu lượng máu qua mạng tĩnh mạch thấp thì nhiệt được giữ sâu bên trong cơ thể Hệ thần kinh giao cảm chi phối độ

co mạch của các tiểu động mạch và hệ thống nối trực tiếp động mạch, tĩnh mạch để cung cấp máu cho mạng tĩnh mạch của da nên có nhiệm vụ quan trọng trong quá trình thải nhiệt của cơ thể Nhiệt năng từ mặt da được thải ra khỏi cơ thể bằng hai cách là

sự truyền nhiệt và bốc hơi nước [6]

Trang 13

* Thải nhiệt bằng cách truyền nhiệt: Có 3 hình thức truyền nhiệt

- Truyền nhiệt bức xạ: là sự truyền nhiệt giữa các vật không tiếp xúc với nhau Nhiệt được truyền dưới dạng tia hồng ngoại, tất cả những vật có nhiệt độ lớn hơn 00

tuyệt đối thì đều có thể bức xạ được, tuy nhiên nếu nhiệt độ của da lớn hơn nhiệt độ môi trường xung quanh, thì lượng nhiệt bức xạ từ trường và các vật khác tới cơ thể

- Truyền nhiệt trực tiếp: Là sự truyền nhiệt giữa các vật tiếp xúc với nhau, có khoảng 3% lượng nhiệt được truyền tới ghế ngồi, ngoài ra một số nhiệt lượng lớn hơn được truyền tới không khí xung quanh nếu nhiệt độ của không khí nhỏ hơn nhiệt độ của da

- Truyền nhiệt đối lưu: Sự truyền nhiệt từ cơ thể tới không khí xung quanh sẽ dừng lại, khi nhiệt độ của không khí ở gần da bằng với nhiệt độ da, trừ khi không khí được đổi mới nhờ sự chuyển động của không khí cũ ra nơi khác, như khi có luồng gió chẳng hạn Bình thường khi không khí được sưởi ấm sẽ nhẹ hơn và bay lên khỏi

da, không khí lạnh sẽ tới thay chỗ và nhiệt tiếp tục được truyền tới lớp không khí mới này Như vậy nếu môi trường xung quanh cơ thể có chuyển động đối lưu càng nhiều thì cơ thể càng thải ra nhiều nhiệt, vì vậy khi dùng quạt, hoặc có gió thì ta thấy mát hơn Một điều kiện chung để cơ thể có thể thải nhiệt bằng phương thức truyền nhiệt

là nhiệt độ của da phải cao hơn nhiệt độ của không khí và những vật xung quanh Trong trường hợp ngược lại, cơ thể không thải nhiệt được mà còn có nguy cơ bị truyền nhiệt từ môi trường vào [6]

* Thải nhiệt bằng sự bốc hơi nước qua da, qua niêm mạc đường hô hấp, và qua miệng

- Sự bốc hơi nước qua da và đường hô hấp: sự bốc hơi nước qua da và đường

hô hấp thường xuyên xảy ra, bình thường khoảng 600ml một ngày, thải ra được từ 12 – 16 kilocalo mỗi giờ, đây là lượng mất nước không nhận biết, không thay đổi theo nhiệt độ của cơ thể và nhiệt độ không khí Khi cơ thể vận động hoặc ở trong môi trường nóng thì ngoài lượng nước mất không nhận biết bốc hơi qua da và đường hô hấp, còn có sự tiết mồ hôi từ các tuyến mồ hôi ở da, và mồ hôi chỉ giúp thải nhiệt khi bốc hơi trên da Lượng mồ hôi bốc hơi trên da tùy vào độ ẩm của môi trường, do đó vào một ngày ẩm như khi trời chuyển mưa ta thấy nóng hơn [6]

- Sự tiết mồ hôi: cấu trúc tuyến mồ hôi có 2 phần, phần trong là phần cuộn có

Trang 14

nhiệm vụ tiết mồ hôi sơ khai, phần ngoài là phần ống có nhiệm vụ dẫn mồ hôi ra ngoài và tái hấp thu lại Na+,Cl- trong mồ hôi sơ khai vào máu

- Cơ chế tiết mồ hôi: hệ thần kinh giao cảm phân phối những sợi giao cảm ch3linergic tới các tế bào thượng bì của phần cuộn tuyến mồ hôi, và khi bị kích thích thì gây tiết mồ hôi sơ khai Khi cơ thể vận động, tủy thượng thận tiết ra epinephrin

và norepinephrin cũng tác động tới phần cuộn gây tiết mồ hôi Khi mồ hôi sơ khai di chuyển qua phần ống của tuyến mồ hôi thì thì Na+, Cl- sẽ được tái hấp thu Lượng

Na+, Cl- được tái hấp thu tùy thuộc vào tốc độ tiết mồ hôi Khi tốc độ tiết mồ hôi thấp, lượng mồ hôi sơ khai di chuyển qua phần ống chậm Do đó hầu như tất cả Na+, Cl-

rất thấp khoảng 5 mEq/lit Khi tốc độ tiết mồ hôi cao, lúc cơ thể vận động hoặc trong môi trường nóng thì số lượng mồ hôi sơ khai tiết ra nhiều, phần ống chỉ tái hấp thu được phân nửa số lượng Na+ và Cl- ở mồ hôi sơ khai

- Sự bốc hơi nước bằng cách thở cạn và bốc hơi qua miệng: nhiều động vật có

ít khả năng thải nhiệt từ mặt ngoài cơ thể có 2 lý do, có lông làm giảm sự thải nhiệt bằng cách truyền nhiệt, hơn nữa da của chúng không có tuyến mồ hôi được Do đó sinh vật sẽ thở nhanh và nông, lè lưỡi ra, như vậy sẽ đem nhiều không khí từ bên ngoài vào tiếp xúc với niêm mạc của đường hô hấp trên, và sự bốc hơi nước bọt ở lưỡi được dễ dàng hơn, cách này không làm thay đổi nhiều thành phần khí trong phế nang Cách thải nhiệt của cơ thể thay đổi tùy theo nhiệt độ của môi trường Khi nhiệt

độ môi trường càng cao thì sự truyền nhiệt càng kém và sự bốc hơi nước càng tăng [6]

1.1.2 Sốt ở trẻ em

1.1.2.1 Định nghĩa sốt

Sốt là tình trạng tăng nhiệt độ của cơ thể do rối loạn trung tâm điều nhiệt, tạo ra ngưỡng thân nhiệt bất thường Cần phân biệt sốt với các cảm giác tăng thân nhiệt như nhiễm nóng Sốt là triệu chứng của nhiều bệnh lý liên quan đến nhiễm khuẩn hoặc không nhiễm khuẩn

Thân nhiệt bình thường của trẻ thay đổi theo thời điểm trong ngày và được điều hòa bởi trung tâm điều nhiệt ở vùng hạ đồi Trẻ được xem là có sốt khi nhiệt độ đo ở trực tràng từ 380C trở lên hoặc đo ở nách từ 37,50C trở lên, sờ da trẻ nóng hoặc tay chân lạnh [15]

Trang 15

1.1.2.2 Đặc tính của tình trạng sốt

Bệnh nhân cảm thấy lạnh khi tình trạng thân nhiệt của cơ thể tăng nhanh và tăng cao một cách đột ngột, da lạnh là do hiện tượng co mạch, sau đó bệnh nhân run cho đến khi thân nhiệt tăng lên tới mức quy định mới Khi thân nhiệt đã tới mức này thì bệnh nhân không thấy ớn lạnh nữa

Khi tác nhân gây sốt không còn, mức quy định của vùng dưới đồi đột ngột giảm trở lại mức quy định bình thường, và thân nhiệt được điều chỉnh từ nhiệt độ cao về lại mức bình thường, bằng cơ chế chống nóng nên gây ra đổ mồ hôi nhiều, và có tình trạng dãn mạch khiến da đỏ và nóng lên [15]

Nhiệt độ đo ở nách sẽ thấp hơn nhiệt độ đo ở trực tràng 0,50C

1.1.2.4 Tác dụng của sốt đối với cơ thể

- Tác dụng có lợi

Thường sốt là một phản ứng giúp làm khả năng đáp ứng miễn dịch, tăng phản ứng miễn dịch (hoạt hóa các tế tào miễn dịch và các phản ứng miễn dịch…), tăng huy động

tế bào tủy xương nhằm ức chế sự phát triển của vi khuẩn, tiêu diệt mầm bệnh

- Tác dụng có hại: thường xảy ra khi sốt cao

+ Tăng phản ứng quá mẫn, sốc

+ Tăng quá trình thoái hóa, tiêu hủy, giảm kẽm và sắt trong máu…

+ Mất nước, rối loạn điện giải

+ Có thể gây co giật do sốt

+ Có thể gây các tổn thương thần kinh khác: mê sảng, lú lẫn…

+ Chán ăn, suy kiệt

+ Suy tim, suy hô hấp…khi sốt cao kéo dài

1.1.2.5 Các nguyên nhân gây sốt ở trẻ em

Trang 16

Có rất nhiều cách chia nguyên nhân gây sốt như các nguyên nhân gây sốt nội sinh

và ngoại sinh, nguyên nhân do nhiễm trùng, viêm, miễn dịch, ung thư, chuyển hóa, thuốc…, tuy nhiên có thể chia các nguyên nhân gây sốt ở trẻ em thành 2 nhóm sau:

- Các nguyên nhân gây sốt dưới 7 ngày

+ Nhiễm khuẩn hô hấp

+ Các bệnh truyền nhiễm: sốt xuất huyết, sởi, sốt rét

+ Nhiễm khuẩn tiết niệu

+ Nhiễm khuẩn da và mô mềm

+ Nhiễm khuẩn huyết

+ Viêm não màng não do virus

+ Viêm màng não do vi khuẩn

- Các nguyên nhân gây sốt từ 7 ngày trở lên

+ Áp xe sâu

+ Viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn

+ Thương hàn

+ Lao

+ Bệnh hệ thống như: lupus đỏ hệ thống, viêm đa khớp dạng thấp…

1.1.2.6 Phương pháp đo thân nhiệt

- Đo nhiệt độ ở trực tràng

- Đo nhiệt độ ở nách

- Đo nhiệt độ ở miệng

1.1.2.7 Xử trí sốt:

- Đặt trẻ ở tư thế thoải mái

- Cho trẻ mặc đồ thoáng mát, nhẹ nhàng, để trẻ nằm ở phòng thoáng

- Chườm ấm: chuẩn bị chậu nước ấm (nhiệt độ nước chườm thấp hơn nhiệt độ sốt của trẻ 40C) dùng khăn nhúng vào chậu nước ấm, vắt kiệt nước đặt khăn ở vị trí trán, hõm nách và bẹn của trẻ, cần thay khăn chườm thường xuyên khoảng 1-2 phút, thay nước chườm khi nước nguội

- Dùng thuốc hạ sốt cho trẻ khi nhiệt độ từ 38,50C trở lên (cặp ở nách): nên dùng Paracetamol liều lượng 10-15mg/kg/lần, có thể lặp lại sau 4- 6 giờ (tránh dùng aspirin

Trang 17

ở trẻ nhỏ vì nếu trẻ bị sốt do nhiễm siêu vi infuenza hay variclla có thể gây ra hội chứng Reye)

- Cho trẻ uống nhiều nước: khi trẻ bị mất nước qua da và qua hơi thở khi sốt Khuyến khích bà mẹ cho trẻ uống các loại thức uống không có ga và caffein, hoặc uống nước trái cây, nước súp Không nên chỉ cho trẻ uống nước lọc vì nước lọc không chứa các chất điện giải và glucose Không cho trẻ uống nước trà vì trà có tác dụng lợi niệu

- Theo dõi các dấu hiệu nặng: khi điều trị tại nhà, phải hạ được nhiệt độ xuống dưới 390C, phải đảm bảo trẻ uống đủ các loại dịch không phải là nước lọc Nếu hai điều kiện trên được thỏa mãn nhưng trẻ vẫn có vẻ không khỏe, nghĩa là trẻ có khả năng có một vấn đề bệnh lý trầm trọng

- Khi trẻ được điều trị tại nhà tùy theo nguyên nhân gây sốt, phải hẹn bà mẹ ngày tái khám Nếu trẻ có điều trị đặc hiệu (kháng sinh, kháng sốt rét) thì tái khám sau 2 ngày

để đánh giá hiệu quả điều trị Nếu không có điều trị đặc hiệu thì tái khám sau 2 ngày nếu vẫn còn sốt Điều quan trọng là phải dặn dò bà mẹ các dấu hiệu cần đưa trẻ tới cơ sở y tế ngay (như bệnh nặng hơn, không thể uống được, bỏ bú) [3] [16]

1.1.2.8 Phòng ngừa sốt

Các biện pháp phòng ngừa các bệnh gây sốt liên quan chủ yếu đến vệ sinh

cá nhân và nhà cửa Có thể tránh sự lây truyền của virút và vi khuẩn bằng cách

- Rửa tay bằng xà phòng

- Che miệng và mũi khi hắt hơi hoặc ho

- Rửa tay sạch khi cầm thức ăn

- Chủng ngừa đầy đủ cho trẻ

- Chế độ ăn đầy đủ trái cây và rau

- Ngủ đủ thời gian [3],[16]

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Tình hình nghiên cứu về sốt ở trẻ em tại Việt Nam

Hiện tại ở Việt Nam đã có khá nhiều đề tài nghiên cứu về kiến thức và thực hành bà mẹ về sốt cao, tuy nhiên có sự khác nhau về kiến thức, thực hành của các bà

mẹ ở các vùng miền có thể do tập tục văn hóa của mỗi địa phương Nghiên cứu của Huỳnh Văn Lộc cho thấy chỉ có 30,5% người chăm sóc chính chỉ biết cách xử trí

Trang 18

đúng mà không có một xử trí sai nào Tương tự có đến 28,0% người chăm sóc chính chỉ có toàn hiểu biết xử trí sai mà không có một xử trí nào đúng Điều đó nói lên tỷ

lệ người chăm sóc chính có hiểu biết đúng hoàn toàn gần bằng tỷ lệ hiểu biết sai hoàn toàn, có nghĩa là cộng đồng chưa được thông tin đầy đủ [12]

Theo nghiên cứu của Thái Thành Lâm,có trẻ sốt không dùng thuốc hạ sốt ở nhà

ở nhóm bệnh (49,60%) cao hơn trẻ sốt không có dùng thuốc hạ sốt ở nhà ở nhóm chứng (17%) Trẻ có nguy cơ co giật do sốt lần đầu không có dùng thuốc hạ sốt paracetamol ở nhà, với: OR =4, KTC 95% (2,74-8,41) và p=0,05 [11] Vì vậy khi trẻ

bị sốt cần hạ sốt tích cực bằng thuốc hạ sốt và chườm ấm để giữ nhiệt độ <390C Vì vậy cán bộ y tế cần hướng dẫn cho cha mẹ biết hạ sốt đúng cách (bằng thuốc hạ sốt

và chườm ấm) thì có thể làm giảm nguy cơ co giật do sốt ở trẻ em

Theo nghiên cứu của tác giả Phạm Lê An, phương pháp hạ nhiệt bằng chườm

ấm kết hợp với thuốc hạ nhiệt cho thấy tác dụng chắc chắn theo thời gian bắt đầu hiệu quả sau 30 phút hạ được 1,60C (71,3% số trẻ có đáp ứng), đến 1 giờ 30 có 100% trẻ

có hiệu quả hạ nhiệt, hạ được trung bình 1,390C, khuynh hướng hạ nhiệt này có ý nghĩa thống kê và có tương quan tuyến tính theo đường thẳng [1]

Theo kết quả nghiên cứu của Hồ Thị Hoài Phương chỉ có 60% các bà mẹ sử dụng nhiệt kế để phát hiện trẻ sốt, 80% bà mẹ phát hiện trẻ sốt bằng dấu hiệu trẻ nóng

và quấy khóc, gần 50% bà mẹ cho con uống thuốc hạ sốt ngay khi phát hiện con sốt, 93,5% các bà mẹ biết về biến chứng của sốt, hầu hết là biến chứng gây co giật, 100% các bà mẹ thực hiện biện pháp hạ sốt cho trẻ ngay khi trẻ sốt Trình độ học vấn càng cao thì kiến thức về sốt và thực hành chăm sóc sốt càng tốt Cần hướng dẫn bà mẹ chăm sóc trẻ sốt tại bệnh viện, nâng cao vai trò của nhân viên y tế, đặc biệt là các điều dưỡng chăm sóc tại phòng bệnh Cụ thể hướng dẫn bà mẹ biện pháp hạ sốt ban đầu cho trẻ, cách dùng thuốc hạ sốt, nuôi dưỡng khi trẻ sốt [14]

Theo kết quả nghiên cứu Đặng Thị Hồng Khánh tại khoa khám bệnh, bệnh viện nhi Trung ương năm 2017 cho thấy, trong 423 các bà mẹ được phát vấn, có 52,7% bà

mẹ đạt điểm kiến thức ≥70% tổng điểm kiến thức, 10,9% bà mẹ đạt điểm thực hành

≥70% tổng điểm thực hành Các yếu tố liên quan đến thực hành chăm sóc trẻ sốt của các bà mẹ bao gồm: tuổi (nhóm các bà mẹ tuổi dưới 30 có tỉ lệ thực hành đạt cao gấp 1,55 lần nhóm còn lại), trình độ học vấn (nhóm các bà mẹ có trình độ học vấn đại

Trang 19

học- sau đại học có thực hành chăm sóc trẻ sốt tốt hơn nhóm khác), địa dư (nhóm các bà mẹ ở thành phố có tỉ lệ thực hành đạt cao gấp 3,76 lần nhóm khác), kiến thức

về chăm sóc trẻ sốt (điểm kiến thức và điểm thực hành có mối liên quan đồng biến, khi điểm kiến thức tăng thêm 1 đơn vị thì điểm thực hành cũng tăng thêm 1,2 đơn vị); mức độ sốt của trẻ (nhóm các bà mẹ có con sốt cao trên 390C có tỉ lệ thực hành đạt cao gấp 1,57 lần so với ở nhóm còn lại) Kiến thức, thực hành chăm sóc và xử trí trẻ sốt còn nhiều hạn chế và có liên quan đến các yếu tố chủ quan của các bà mẹ Vì vậy, cán bộ y tế cần áp dụng các phương pháp tư vấn giáo dục sức khỏe khác nhau phù hợp với các nhóm đối tượng, chú trọng vào những nội dung kiến thức, thực hành chưa đạt để tư vấn, giáo dục sức khỏe về chăm sóc trẻ sốt có hiệu quả cho các bà mẹ [10]

1.2.2 Tình hình nghiên cứu về sốt ở trẻ em trên thế giới

Một nghiên cứu được tiến hành tại Kuwait khi phỏng vấn 520 bà mẹ Kết quả nghiên cứu cho thấy các bà mẹ thường không nhận thức nhiệt độ cơ thể trẻ khi bị sốt

và cách họ chăm sóc với một đứa trẻ sốt đôi khi không chính xác hoặc không phù hợp và một số lượng đáng kể trong số họ sợ hãi và lo lắng khi trẻ cái của họ sốt tăng lên Họ tin rằng sốt có thể dẫn đến biến chứng nghiêm trọng và điều này khiến họ đưa trẻ đi tới bác sĩ Chỉ khoảng một phần ba các bà mẹ chỉ ra rằng các bác sĩ và y tá là nguồn đầu tiên thông tin liên quan đến sốt, bà mẹ nhận thông tin về sốt ở trẻ em từ bác sĩ và y tá (37,1%), từ người thân và bạn bè 29,6%, từ báo 24,9% từ dược sĩ là 0,8% và người khác 7,5% [27]

Một kết quả nghiên cứu ở Thành phố Riyadh cho thấy hơn 70% các bậc cha mẹ hiểu biết thấp về sốt, sốt cao và ngưỡng nhiệt độ để hạ sốt Khoảng 25% các bậc cha

mẹ nghĩ nhiệt độ thấp hơn 38,00C được coi là sốt, 25% không biết định nghĩa của sốt, 64% cảm thấy rằng nhiệt độ dưới 40,00C có thể gây nguy hiểm cho một đứa trẻ, và 25% không thể xác định sốt cao 23% tin rằng nếu điều trị sai nhiệt độ có thể tăng lên đến 42,00C hoặc cao hơn, nhưng 37% không thể cung cấp một câu trả lời, và 62% không biết nhiệt độ tối ưu hạ sốt cho trẻ Khoảng 95% các bậc cha mẹ đã quá lo sợ khi trẻ bị sốt, bao gồm các kết luận, tổn thương não não hoặc đột quỵ, hôn mê, bệnh tật nghiêm trọng mơ hồ, mù, và thậm chí tử vong Đó là những quan niệm sai lầm của cha mẹ về sốt điều này phản ánh về việc thiếu giáo dục y tế hoạt động trong cộng đồng ở Thành phố Riyadh [23]

Trang 20

Theo kết quả ở Nigeria năm 2006 phỏng vấn 144 bà mẹ cho thấy 83,3% các bà

mẹ nhận thức sốt như là toàn bộ cơ thể trẻ nóng lên 43,8% các bà mẹ cho rằng nguyên nhân sốt là do nhiễm trùng 54,2% bà mẹ cho rằng nguyên nhân của sốt là do sốt rét

Có 66,7% các bà mẹ quản lý sốt ở nhà chủ yếu cởi bỏ quần áo trẻ, lau ấm và sử dụng paracetamol Thuốc chống sốt rét (6,0%) và kháng sinh (7,8%) nhóm thuốc rất hiếm khi sử dụng [26]

Theo tác giả Luay Al-Nouri và Khalid Basheer khi phỏng vấn 100 bà mẹ nhận thức về sốt ở trẻ em có 60% bà mẹ nghĩ rằng sốt có thể dẫn đến cái chết, những người khác nghĩ rằng sốt có thể dẫn đến tê liệt, tâm thần hoặc chậm phát triển trí não Điều này có thể giải thích sự lo lắng thái quá và sợ hãi của các bà mẹ khi trẻ bị sốt Bà mẹ cho rằng nguyên nhân của sốt là do trẻ tiếp xúc với lạnh, mọc răng, tiếp xúc với ánh sáng mặt trời và có một thức uống nóng Phần ít các bà mẹ cho rằng cởi bỏ bớt quần

áo của trẻ khi bị sốt Vòi nước và rượu đôi khi được sử dụng 94 % bà mẹ được sử dụng thuốc hạ sốt, tất cả sử dụng paracetamol và 23% phần trăm sử dụng aspirin 62% bà mẹ sử dụng kháng sinh bừa bãi Bởi vậy cải thiện sức khỏe giáo dục là cần thiết để bà mẹ giảm bớt lo sợ và lo lắng giúp bà mẹ cải thiện tốt việc quản lý sốt ở nhà[28]

Theo kết quả nghiên cứu của Nazan, tuổi trung bình của các bà mẹ trong nghiên cứu là 30,03 ± 5,25, 42,8% là học sinh tốt nghiệp THPT, 86,7% có gia đình hạt nhân, 85,0% có an sinh xã hội và 70,6% đánh giá được tình trạng thu nhập của mình Tuổi trung bình của trẻ là 3,12 ± 1,41 Các bà mẹ cho biết 88,3% trẻ em bị sốt ít nhất một lần trong năm trước Ngoài ra, 87,2% bà mẹ cho biết họ có nhiệt kế đặc biệt cho con

ở nhà, 96,7% trong số họ cho biết họ có thể đo nhiệt độ của trẻ bằng nhiệt kế và 70,7% trong số họ nói rằng "sốt là nhiệt độ cơ thể 38 ° hoặc ở trên" Có sự khác biệt đáng kể

về mặt thống kê giữa trình độ học vấn, tình trạng việc làm và kiểu gia đình của các

bà mẹ và phương pháp xác định cơn sốt Theo kết luận cho thấy rằng các bà mẹ chưa

có đủ kiến thức và thực hành liên quan đến quản lý cơn sốt và họ cần được giáo dục

và tư vấn nhiều hơn [24]

Theo kết quả nghiên cứu của Mohammed có 64% các bậc cha mẹ xác định đúng sốt và 56% xác định sốt cao Hầu hết tất cả các bậc cha mẹ (95%) đều tin rằng sốt là

có hại, và sốt co giật là biến chứng được quan tâm nhất của sốt (74%), sau đó là mất

ý thức, mất nước, tổn thương não và mất thính giác Hầu hết các bậc cha mẹ (82%)

Trang 21

sờ vào con mình để xác định cơn sốt, 68% sử dụng nhiệt kế đo miệng và 63% sử dụng nhiệt kế đo nách Đa số cha mẹ (84%) chườm mát, 75% cho con uống thuốc hạ sốt không kê đơn, 61% cho con uống nhiều nước và 64% đưa con đi khám ngay Gần một phần ba số người tham gia báo cáo gặp khó khăn trong việc lựa chọn thuốc hạ sốt hoặc đưa ra liều lượng và tần suất thích hợp Không có sự khác biệt về kiến thức hoặc thực hành liên quan đến sự khác biệt về đặc điểm nhân khẩu học của những người tham gia [22]

Tóm lại, đã có nhiều công trình nghiên cứu được tiến hành tại nhiều quốc gia khác nhau để tìm hiểu kiến thức, hiểu biết của bà mẹ về sốt cao Hầu hết các nghiên cứu đều kết luận rằng đa số các bà mẹ đều thiếu hiểu biết về sốt Sự thiếu kiến thức chung về bệnh sẽ dẫn đến sự thiếu hiểu biết thực hành chăm sóc khi trẻ có sốt cao vì trên thực tế có rất nhiều trẻ em sốt cao dẫn đến co giật Không những thế, các bà mẹ vẫn chưa nhận ra tầm quan trọng của họ về quản lý sốt ở nhà

Hầu hết các tác giả đề nghị cần tăng cường giáo dục sức khỏe để cải thiện kiến thức cho mọi người nói chung cũng như những bà mẹ có trẻ bị sốt nói riêng Tại Việt Nam sốt cao ở trẻ em là thường gặp và là một vấn đề sức khỏe quan trong

Do đó trước khi xây dựng và thực hiện các chương trình giáo dục sức khỏe cho các bà mẹ, cần phải hiểu rõ kiến thức, thực hành của họ ở mức độ nào Những hiểu biết về kiến thức, thực hành của các bà mẹ có trẻ bị sốt sẽ góp phần làm cho việc giáo dục sức khỏe đạt hiệu quả hơn

Trang 22

Chương 2

MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT

2.1 Một số thông tin về bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn

Bệnh viện được thành lập theo Quyết định số 35/QĐ-TC ngày 26/6/1970 của UBND thành phố Hà Nội Qua quá trình hình thành và phát triển, Bệnh việnĐa khoa Xanh Pôn đã được công nhận đạt Bệnh viện Đa khoa hạng I, là tuyến cuối trong lĩnh vực khám, chữa bệnh của nhân dân Thủ đô và các khu vực lân cận với 7 chuyên khoa đầu ngành: Ngoại, Nhi, Xét nghiệm, Chẩn đoán hình ảnh, Gây mê hồi sức, Điều dưỡng, Phẫu thuật tạo hình

Với thế mạnh về cơ sở vật chất và trình độ chuyên môn, Bệnh viện là cơ sở thực hành của nhiều trường Đại học Y dược và điều dưỡng như: Đại học Y Hà Nội, Đại học Dược Hà Nội, trường Đại học Răng Hàm Mặt, Học viện Y dược học cổ truyền Việt Nam, trường Cao đẳng Y tế Hà Nội, trường Đại học kỹ thuật y tế Hải Dương… Bên cạnh đó Bệnh viện còn là cơ sở đào tạo quan trọng của Sở y tế Hà Nội về chuyên môn, nghiệp vụ, chuyển giao gần 700 kỹ thuật cho các cơ sở y tế trực thuộc Sở y tế bao gồm 40 Bệnh viện, 43 trung tâm y tế, 554 trạm tế xã phường

2.2 Thực trạng kiến thức, thực hành chăm sóc trẻ sốt của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại khoa Khám bệnh, bệnh viện đa khoa Xanh Pôn năm 2021

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 08 năm 2021 đến tháng 09 năm 2021 tại khoa Khám bệnh, bệnh viện đa khoa Xanh Pôn

Nghiên cứu mô tả cắt ngang, phương pháp chọn mẫu thuận thiện, cỡ mẫu trong nghiên cứu là 100 bà mẹ có con dưới 5 tuổi đến khám

Phương pháp thu thập số liệu: Phỏng vấn trực tiếp các bà mẹ qua bộ câu hỏi soạn sẵn (phụ lục 1) Thời gian một cuộc phỏng vấn khoảng 15- 30 phút Tất cả số liệu thu thập được kiểm tra, làm sạch, nhập liệu và phân tích bằng phần mềm SPSS 16

2.2.1 Đặc điểm chung

Trang 23

Bảng 2.1 Đặc điểm chung của bà mẹ (n=100)

Trang 24

Con có tiền sử sốt cao

3 trở lên chiếm 78% Các bà mẹ có nghề nghiệp là kinh doanh chiếm tỷ lệ cao nhất

là 28% Hầu hết (92%) các bà mẹ có tình trạng kinh tế trung bình.75% các bà mẹ có con từ 1-2 con Có 5% bà mẹ có con từng co giât bị do sốt cao Hơn 70% các bà mẹ được nghe hoặc được hướng dẫn về sốt ở trẻ em thông qua các kênh chủ yếu như internet (75,3%), nhân viên y tế (41,1%)…

Trang 25

2.2.2 Kiến thức, thực hành chăm sóc trẻ sốt của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại khoa Khám bệnh, bệnh viện đa khoa Xanh Pôn năm 2021

Bảng 2.2 Kiến thức về Sốt cao của bà mẹ (n=100)

Trang 26

Bảng 2.3 Kiến thức về phương pháp chườm ấm (n=100)

Trang 27

Có 44% các bà mẹ đã biết liều lượng thuốc hạ sốt cho con uống

Trang 28

Bảng 2.5 Kiến thức về phòng ngừa mất nước và phòng ngừa sốt cho trẻ

Phòng ngừa sốt cho

trẻ

Chế độ ăn có đầy đủ trái cây

Không nên tiêm chủng cho

Nhận xét: Gần 70% các bà mẹ biết cần bổ sung nước hoa quả và nước ORS cho trẻ

bị sốt Hơn 60% các bà mẹ biết các phòng ngừa cho trẻ sốt bằng cách giữ vệ sinh sạch

và chế độ ăn có đầy đủ trái cây, rau

Trang 29

Đưa ngay trẻ đến bệnh viện

Thời điểm đưa

Ngày đăng: 01/04/2022, 14:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Lê An (1997). “ Đánh giá hiệu quả hạ nhiệt bằng phương pháp lau mát kết hợp thuốc trên trẻ em 1 tháng – 14 tuổi sốt cao vào cấp cứu tại phòng khám cấp cứu Bệnh viện Nhi Đồng II”. Hội nghị khoa học Tập 1 .Tr 53-59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả hạ nhiệt bằng phương pháp lau mát kết hợp thuốc trên trẻ em 1 tháng – 14 tuổi sốt cao vào cấp cứu tại phòng khám cấp cứu Bệnh viện Nhi Đồng II
Tác giả: Phạm Lê An
Nhà XB: Hội nghị khoa học
Năm: 1997
2. Phạm Lê An (2004). “ Hội chứng co giật trẻ em”. Nhi khoa chương trình Đại học, tập 1, Đại học Y dược TP.HCM, NXB Y học, tr. 358- 370 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội chứng co giật trẻ em
Tác giả: Phạm Lê An
Nhà XB: Đại học Y dược TP.HCM
Năm: 2004
3. Nguyễn Thị Lan Anh, Đinh Ngọc Đệ, Nguyễn Kim Hà, Phan Thị Minh Hạnh, Lâm Ngọc Thắng, Vũ Ngọc Thuận và cộng sự (2006). Điều dưỡng nhi khoa.Nhà xuất bản y học, Hà Nội, tr 181- 336 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều dưỡng nhi khoa
Tác giả: Nguyễn Thị Lan Anh, Đinh Ngọc Đệ, Nguyễn Kim Hà, Phan Thị Minh Hạnh, Lâm Ngọc Thắng, Vũ Ngọc Thuận
Nhà XB: Nhà xuất bản y học
Năm: 2006
4. Bệnh viện Xanh Pôn (2020), "Báo cáo tổng kết và kế hoach thực hiện năm 2021&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết và kế hoach thực hiện năm 2021
Tác giả: Bệnh viện Xanh Pôn
Năm: 2020
5. Nguyễn Duy Căn và Trần Thị Liên Minh (1998).“ Kiến thức thái độ và hành vi của bà mẹ đối với trẻ sốt cao co giật Tại Bệnh Viện Nhi Đồng II”. Hội nghị khoa học Tập 4. Tr 7-74 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức thái độ và hành vi của bà mẹ đối với trẻ sốt cao co giật Tại Bệnh Viện Nhi Đồng II
Tác giả: Nguyễn Duy Căn, Trần Thị Liên Minh
Nhà XB: Hội nghị khoa học
Năm: 1998
6. Nguyễn Thị Hoài Châu (2003). “ Điều hòa thân nhiệt”. Sinh lý học, tập 2, Đại học Y dược TP.HCM, NXB Y học, tr. 43- 52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều hòa thân nhiệt
Tác giả: Nguyễn Thị Hoài Châu
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2003
7. Mai Công Danh (2007). Các yếu tố nguy cơ của co giật lần đầu do sốt ở trẻ em. Luận văn thạc sĩ y khoa, Đại học Y dược TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các yếu tố nguy cơ của co giật lần đầu do sốt ở trẻ em
Tác giả: Mai Công Danh
Nhà XB: Đại học Y dược TP.HCM
Năm: 2007
8. Đoàn Thị Ngọc Diệp (2006). “Sốt ở trẻ em”. Nhi khoa trương trình Đại Học Tập 1, Đại Học Y Dược TP.HCM, NXB Y học, Tr. 377-386 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sốt ở trẻ em
Tác giả: Đoàn Thị Ngọc Diệp
Nhà XB: Đại Học Y Dược TP.HCM
Năm: 2006
9. Hoàng Trọng Kim (2004). “ Sốt ở trẻ em”. Nhi khoa chương trình Đại Học, Tập 1, Đại Học Y Dược TP.HCM, NXB Y học, Tr. 347- 351 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sốt ở trẻ em
Tác giả: Hoàng Trọng Kim
Nhà XB: Đại Học Y Dược TP.HCM
Năm: 2004
11. Thái Thành Lâm (2006). Các yếu tố nguy cơ của co giật lần đầu do sốt ở trẻ em. Luận văn thạc sĩ y khoa, Đại học Y dược TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các yếu tố nguy cơ của co giật lần đầu do sốt ở trẻ em
Tác giả: Thái Thành Lâm
Nhà XB: Đại học Y dược TP.HCM
Năm: 2006
13. Lê Thị Hồng Linh (2006). Điều dưỡng bệnh nhi sốt cao. Khoa cấp cứu Bệnh Viện Nhi Đồng 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều dưỡng bệnh nhi sốt cao
Tác giả: Lê Thị Hồng Linh
Nhà XB: Khoa cấp cứu Bệnh Viện Nhi Đồng 1
Năm: 2006
14. Hồ Thị Hoài Phương (2021). Kiến thức, thái độ, cách xử trí sốt và mối liên quan về trình độ học vấn của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại khoa Nhi bệnh viện đa khoa Quảng Trị, Tạp chí nghiên cứu và thực hành Nhi khoa, bệnh viện Nhi Trung ương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức, thái độ, cách xử trí sốt và mối liên quan về trình độ học vấn của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại khoa Nhi bệnh viện đa khoa Quảng Trị
Tác giả: Hồ Thị Hoài Phương
Nhà XB: Tạp chí nghiên cứu và thực hành Nhi khoa
Năm: 2021
15. Trường đại học Y Hà Nội (2020), Bài giảng nhi khoa tập 2, trang 398-405, nhà xuất bản Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng nhi khoa tập 2
Tác giả: Trường đại học Y Hà Nội
Nhà XB: nhà xuất bản Y học
Năm: 2020
17. Trường cao đẳng Y tế Hà Nội (2020), giáo trình chăm sóc trẻ em, trang 113- 123 Sách, tạp chí
Tiêu đề: giáo trình chăm sóc trẻ em
Tác giả: Trường cao đẳng Y tế Hà Nội
Năm: 2020
18. Võ Thị Tiến, Nguyễn Thị Hải Lý (2009). Kiến thức, thái độ, hành vi của bà mẹ về phòng chống bệnh sốt xuất huyết Dengue. Bệnh viện Đa Khoa Tiền Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức, thái độ, hành vi của bà mẹ về phòng chống bệnh sốt xuất huyết Dengue
Tác giả: Võ Thị Tiến, Nguyễn Thị Hải Lý
Nhà XB: Bệnh viện Đa Khoa Tiền Giang
Năm: 2009
19. Chu Văn Tường, Nguyễn Công Danh, Lê Lam Trà, Cao Quốc Việt (2002), Cấp cứu nhi khoa, NXB Y học Hà Nội, tr. 345- 348 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấp cứu nhi khoa
Tác giả: Chu Văn Tường, Nguyễn Công Danh, Lê Lam Trà, Cao Quốc Việt
Nhà XB: NXB Y học Hà Nội
Năm: 2002
20. Đoàn Thị Vân (2015), “Kiến thức, thái độ và thực hành chăm sóc trẻ sốt của bà mẹ có con dưới 5 tuổi đến khám và tiêm chủng tại phường Đông Ngạc năm 2014”, trường Cao đẳng Y tế Hà Nội.* TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức, thái độ và thực hành chăm sóc trẻ sốt của bà mẹ có con dưới 5 tuổi đến khám và tiêm chủng tại phường Đông Ngạc năm 2014
Tác giả: Đoàn Thị Vân
Nhà XB: trường Cao đẳng Y tế Hà Nội
Năm: 2015
21. Kazeem A (2006). Fever in children: Mothers , Perceptions and their Home Mannagement. Sep 2008; Vol 18 (No 3), Pp: 229 – 236. 22.Mohammed M Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fever in children: Mothers, Perceptions and their Home Management
Tác giả: Kazeem A
Nhà XB: Sep 2008
Năm: 2006
23. Huda KA AL (2007), “Mothers , knowledge, Fears and Self – Management of fever”, The Kuwait Medical Journal, 39(4), pp 349-354 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mothers , knowledge, Fears and Self – Management of fever
Tác giả: Huda KA AL
Nhà XB: The Kuwait Medical Journal
Năm: 2007
24. Nazan Gurarslan Bag, Gulnaz Karatay (2016). “Knowledge and Practice in Fever Management of Mothers with Children Under the Age of Five”, Journal of Education and Research in Nursing, vol 13: 258-263 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Knowledge and Practice in Fever Management of Mothers with Children Under the Age of Five
Tác giả: Nazan Gurarslan Bag, Gulnaz Karatay
Nhà XB: Journal of Education and Research in Nursing
Năm: 2016

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w