1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Thực trạng kiến thức và thực hành tuân thủ điều trị ở người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa tỉnh thanh hóa

67 50 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 3,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH LÊ THỊ LOAN THỰC TRẠNG KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ Ở NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH THANH

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

LÊ THỊ LOAN

THỰC TRẠNG KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ Ở NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA

TỈNH THANH HÓA

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

NAM ĐỊNH – 2021

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

LÊ THỊ LOAN

THỰC TRẠNG KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ Ở NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA

TỈNH THANH HÓA

Chuyên ngành: Điều dưỡng Nội người lớn

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:

THS BÙI THỊ KHÁNH THUẬN

NAM ĐỊNH - 2021

Trang 3

và động viên Tôi hoàn thành đề tài này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, phòng Đào tạo Sau Đại học, giảng viên trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã có nhiều công sức đào tạo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc và tập thể cán bộ phòng khám Xương khớp – Nội tiết Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa đã tận tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện tốt nhất có thể để tôi hoàn thành chuyên đề

Tôi xin chân thành cảm ơn các anh chị, các bạn trong lớp Chuyên khoa I Điều dưỡng khóa 8 đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành chuyên đề nghiên cứu

Sau cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân trong gia đình, những người bạn thân thiết đã cùng tôi chia sẻ những khó khăn và giành cho tôi những tình cảm, sự chăm sóc quý báu trong suốt quá trình học tập và hoàn thành đề tài này

Trân trọng cảm ơn!

Nam Định, ngày tháng năm 2021

Học viên

Lê Thị Loan

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan chuyên đề tốt nghiệp Điều dưỡng chuyên khoa 1

“Thực trạng kiến thức và thực hành tuân thủ điều trị ở người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa” là công trình nghiên cứu của riêng Tôi Kết quả khảo sát nghiên cứu của Tôi hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với bất kỳ kết quả nghiên cứu nào được công bố trước đó

Nam Định, ngày tháng năm 2021

Học viên

Lê Thị Loan

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iii

DANH MỤC CÁC BẢNG iv

DANH MỤC BIỂU ĐỒ v

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3

1.1 Cơ sở lý luận 3

1.1.1 Định nghĩa 3

1.1.2 Chẩn đoán bệnh đái tháo đường 3

1.1.3 Phân loại đái tháo đường 4

1.1.3.1 Đái tháo đường type 1 (Đái tháo đường phụ thuộc Insulin) 4

1.1.3.2 Đái tháo đường type 2 (Đái tháo đường không phụ thuộc Insulin) 4

1.1.3.3 Đái tháo đường thai kỳ 4

1.1.3.4 Đái tháo đường khác 5

1.1.4 Điều trị và các biện pháp điều trị Đái tháo đường type 2 5

1.1.4.1 Điều trị đái tháo đường type 2 5

1.1.4.2 Các biện pháp điều trị cho người bệnh đái tháo đường type 2 6

1.1.5 Tuân thủ điều trị và các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị 11

1.1.5.1 Khái niệm tuân thủ điều trị 11

1.1.5.2 Hậu quả của việc không tuân thủ điều trị 12

1.1.5.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị trên người bệnh Đái tháo đường 13

1.2 Cơ sở thực tiễn 15

1.2.1 Tình hình đái tháo đường trên thế giới 15

1.2.2 Tình hình đái tháo đường tại Việt Nam 16

1.2.3 Một số yếu tố liên quan đến bệnh đái tháo đường 17

Trang 6

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ Ở NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI

BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH THANH HÓA 20

2.1 Thông tin chung về Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa 20

2.2 Đối tượng, công cụ, phương pháp thu thập số liệu, thời gian khảo sát 21

2.3 Kết quả khảo sát 22

2.3.1 Đặc điểm chung của người bệnh 22

2.3.2 Kiến thức về tuân thủ điều trị của người bệnh 22

2.3.2.1 Kiến thức về tuân thủ dinh dưỡng 22

2.3.2.2 Kiến thức về tuân thủ hoạt động thể lực 23

2.3.2.3 Kiến thức về dùng thuốc 24

2.3.2.4 Kiến thức về tuân thủ kiểm soát đường huyết và tái khám định kỳ 24

2.3.3 Thực hành tuân thủ điều trị của người bệnh 25

2.3.3.1 Tuân thủ dinh dưỡng 25

2.3.3.2 Tuân thủ hoạt động thể lực 26

2.3.3.3 Tuân thủ dùng thuốc 26

2.3.3.4 Tuân thủ kiểm soát đường huyết tại nhà và khám định kỳ 27

2.3.4 Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của người bệnh 27

CHƯƠNG 3: BÀN LUẬN 31

1 Thực trạng kiến thức và thực hành TTĐT ở NB đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại BVĐK tỉnh Thanh Hóa 31

1.1 Thực trạng kiến thức về tuân thủ điều trị của NB 31

1.1.1 Kiến thức về tuân thủ dùng thuốc 31

1.1.2 Kiến thức về tuân thủ hoạt động thể lực 31

1.1.3 Kiến thức về kiểm tra đường máu và theo dõi sức khỏe định kỳ 32

1.1.4 Kiến thức về tuân thủ dinh dưỡng 32

1.2 Thực trạng thực hành tuân thủ điều trị của người bệnh 32

1.2.1 Tuân thủ dinh dưỡng 32

1.2.2 Tuân thủ hoạt động thể lực 33

1.2.3 Tuân thủ dùng thuốc 33

Trang 7

1.2.4 Tuân thủ kiểm soát đường huyết và khám sức khỏe định kỳ 34

1.3 Các yếu tố liên quan 34

1.4 Những thuận lợi và khó khăn 35

1.4.1 Thuận lợi 35

1.4.2 Khó khăn, tồn tại 35

1.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế 37

2 Giải pháp để khắc phục vấn đề 37

2.1 Đối với Bệnh viện 37

2.2 Đối với NVYT 38

2.3 Đối với người bệnh 39

KẾT LUẬN 40

1 Kiến thức về tuân thủ điều trị của NB 40

2 Thực trạng thực hành tuân thủ điều trị của NB 40

3 Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của NB 41

ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 42

1 Đối với Bệnh viện: 42

2 Đối với NVYT 42

3 Đối với người bệnh 43 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1 1 Các chỉ số cần kiểm soát trong điều trị ĐTĐ type 2 5

Bảng 1 2 Người bệnh bị đái tháo đường ở 10 nước điển hình 15

Bảng 2 1 Đặc điểm chung của NB (n=150) 22

Bảng 2 2 Đặc điểm về tiền sử mắc bệnh của NB (n=150) 22

Bảng 2 3 Kiến thức về tuân thủ lựa chọn thực phẩm phù hợp của NB 23

Bảng 2 4 Kiến thức của NB về tuân thủ hoạt động thể lực 23

Bảng 2 5 Kiến thức về tuân thủ dùng thuốc của NB 24

Bảng 2 6 Kiến thức về tuân thủ kiểm soát đường huyết và tái khám định kỳ của NB 24

Bảng 2 7 Tuân thủ hoạt động thể lực của NB (n=150) 26

Bảng 2 8 Tuân thủ dùng thuốc của NB (n=150) 26

Bảng 2 9 Tuân thủ kiểm soát đường huyết và khám định kỳ của NB 27

Bảng 2 10 Mối liên quan giữa tuân thủ dinh dưỡng với một số yếu tố 27

Bảng 2 11 Mối liên quan giữa tuân thủ hoạt động thể lực với một số yếu tố28 Bảng 2 12 Mối liên quan giữa tuân thủ kiểm soát đường huyết và khám định kỳ với một số yếu tố 29

Bảng 2 13 Mối liên quan giữa thực hành tuân thủ với kiến thức 30

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ Trong số các bệnh nội tiết và rối loạn chuyển hóa thì bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) type 2 là một trong 4 bệnh lý mạn tính phổ biến nhất trên toàn cầu [1] Theo báo cáo của Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế (International Diabetes Federation), năm 2012 số người mắc bệnh là 371 triệu người, 4,8 triệu người đã chết do căn bệnh này[30] Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), gần 80% các ca tử vong do bệnh đái tháo đường xảy ra ở các nước có thu nhập thấp và trung bình [38]

Việt Nam không phải là nước có tỷ lệ người bệnh Đái tháo đường cao nhất thế giới nhưng lại là một trong những quốc gia có tốc độ phát triển nhanh nhất thế giới về căn bệnh này Năm 2001, tỷ lệ mắc bệnh Đái tháo đường của người dân Việt Nam chỉ chiếm 4% thì đến năm 2015 đã tăng lên 5,7% [2] Điều trị Đái tháo đường là một quá trình lâu dài, suốt cuộc đời, do vậy, muốn tăng hiệu quả cũng như giảm các biến chứng: thần kinh ngoại vi, loét bàn chân, mạch vành, mù lòa… do Đái tháo đường gây ra cần có sự hợp tác tuân thủ điều trị của người bệnh từ chế độ dinh dưỡng, chế độ hoạt động thể lực, chế độ dùng thuốc, chế độ kiểm soát đường huyết và khám sức khỏe định kỳ theo hướng dẫn của nhân viên y tế [4] Người bệnh đái tháo đường kiểm soát tốt glucose máu có thể phòng được các biến chứng giúp NB vẫn làm việc bình thường, kéo dài tuổi thọ và nâng cao chất lượng cuộc sống, giảm nhẹ gánh nặng bệnh tật và chi phí điều trị với bản thân người bệnh, gia đình và xã hội [4]

Tuy nhiên, trên thực tế việc tuân thủ chế độ điều trị của người bệnh đã và đang là một vấn đề mà cả người bệnh và những nhà quản lý y tế cần phải quan tâm Nếu người bệnh đái tháo đường không kiểm soát được glucose máu tốt trong giới hạn cho phép sẽ dẫn đến các biến chứng nặng nề như mắt, thận, tim, tổn thương mạch máu, bệnh lý bàn chân… và các ảnh hưởng kèm theo là: Gia tăng chi phí y tế, stress về tài chính, giảm chất lượng cuộc sống, tàn tật và có thể tử vong [3] Vì vậy, việc truyền thông, tư vấn, cung cấp những kiến thức về

Trang 12

bệnh cho người bệnh sẽ có hiệu quả cao, thiết thực trong việc kiểm soát đường huyết ổn định

Phòng khám Xương khớp - Nội tiết tại khoa Khám bệnh Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa được triển khai từ năm 2009 Hiện nay, đang quản lý hơn 500 bệnh án ngoại trú đối với người bệnh đái tháo đường Trong đó người bệnh Đái tháo đường type 2 là chủ yếu Bệnh viện hiện không có phòng tư vấn dinh dưỡng

và truyền thông giáo dục sức khỏe Trong khi đó các nghiên cứu đã triển khai về tuân thủ điều trị Đái tháo đường trước kia ở đây mới chỉ đề cập đến tuân thủ về thuốc, ít có nghiên cứu toàn diện về chế độ ăn, hoạt động thể lực, kiểm soát đường huyết tại nhà & khám định kỳ Nghiên cứu tuân thủ điều trị có ý nghĩa đối với y tế công cộng góp phần vào công tác: dự phòng các tai biến do Đái tháo đường trong cộng đồng - tác động vào phía người dân (dự phòng cấp 2) và quản

lý công tác điều trị nội trú, ngoại trú bệnh Đái tháo đường trong các cơ sở y tế nhằm nâng cao hiệu quả khám chữa bệnh - tác động vào phía người quản lý và thầy thuốc Để tìm hiểu về thực trạng tuân thủ điều trị và những yếu tố ảnh hưởng tới sự tuân thủ điều trị của người bệnh Đái tháo đường type 2 đang được quản lý điều trị ngoại trú tại Phòng khám Xương khớp - Nội tiết Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Thanh Hóa, tôi tiến hành nghiên cứu về: “Thực trạng kiến thức và thực hành tuân thủ điều trị ở người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa”

Mục tiêu:

1 Mô tả thực trạng kiến thức và thực hành tuân thủ điều trị của người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa năm 2021

2 Xác định một số yếu tố liên quan và đề xuất giải pháp tăng cường tuân thủ điều trị cho người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện

đa khoa tỉnh Thanh Hóa

Trang 13

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Định nghĩa

ĐTĐ đã được người Ai cập nói đến từ 1500 năm trước công nguyên như một bệnh tiểu nhiều, bệnh được Celsus (30 năm trước đến 50 năm sau công nguyên ) chẩn đoán, nhưng mãi 2 thế kỷ sau chữ “đái tháo”(diabetes) mới được một thầy thuốc Hy lạp đặt với tên bệnh cảnh đầy đủ Từ thế kỷ III đến IV sau Công nguyên bệnh cũng được ghi nhận ở Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn độ với đái ngọt Năm 1674, Willis đặt tên đái nhiều chất ngọt như mật (diabetes mellitus), một thế kỷ sau Dolson chứng minh vị ngọt đó từ đường mà ra Đầu thế kỷ XIX Brockman ghi nhận về đảo tụy nhưng mang tên Langerhans, liền sau đó Mering

và Minkowski (các nhà khoa học Đức) gây bệnh ĐTĐ thực nghiệm ở chó; sau

đó phẫu thuật cắt tụy Đó là một giai đoạn lịch sử kéo dài được gọi là thời kỳ tiền Insulin, thời kỳ thách đố trong lịch sử y học về nguyên nhân bệnh sinh của ĐTĐ [5],[10]

Theo WHO thì: “Đái tháo đường là một hội chứng có đặc tính biểu hiện bằng tăng Glucose máu do hậu quả của việc thiếu/hoặc mất hoàn toàn Insulin hoặc do có liên quan đến sự suy yếu trong bài tiết hoặc hoạt động của Insulin”[2],[4]

Theo Hội ĐTĐ Hoa kỳ năm 2008: “Đái tháo đường là một nhóm các bệnh

lý chuyển hóa đặc trưng bởi tăng Glucose máu do khiếm khuyết tiết Insulin, khiếm khuyết hoạt động Insulin hoặc cả hai Tăng glucose máu trong ĐTĐ sẽ gây tổn thương, rối loạn chức năng hay suy nhiều cơ quan đặc biệt là mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu” [5],[9]

1.1.2 Chẩn đoán bệnh đái tháo đường

Năm 2015, theo khuyến cáo của Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA: The American Diabetes Association) và được sự đồng thuận của WHO, ĐTĐ được chẩn đoán khi có ít nhất một trong bốn tiêu chuẩn sau[2],[5],[17]

* Tiêu chuẩn 1:Glycated hemoglobin(HbA1c)>6,5%

Trang 14

Xét nghiệm nên được thực hiện tại phòng xét nghiệm sử dụng phương pháp chuẩn

* Tiêu chuẩn 2: Đường huyết đói>126mg/dl (≈7.0mmol/l) trong 2 buổi sáng khác nhau

Đường huyết đói được định nghĩa là đường huyết khi đo ở thời điểm nhịn đói ít nhất 8 giờ

* Tiêu chuẩn 3: Đường huyết 2 giờ >200mg/dl (≈11.1mmol/l) khi làm test dung nạp glucose

Test dung nạp glucose nên thực hiện theo mô tả của WHO, sử dụng dung dịch 75g glucose hòa tan trong 250 ml nước uống nhanh trong 5 phút

* Tiêu chuẩn 4: Người bệnh có triệu chứng cổ điển của tăng đường huyết như: Đái nhiều, khát nhiều, ăn nhiều, sút cân hay tăng đường huyết trầm trọng kèm theo xét nghiệm đường huyết ngẫu nhiên 200mg/dl (≈11,1mmol/l)

1.1.3 Phân loại đái tháo đường

Theo Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA), ĐTĐ được chia làm 4 loại: ĐTĐ type 1, ĐTĐ type 2, ĐTĐ thai kỳ và các type đặc biệt khác

1.1.3.1 Đái tháo đường type 1 (Đái tháo đường phụ thuộc Insulin)

Phần lớn xảy ra ở trẻ em, người trẻ tuổi và thường có yếu tố tự miễn Ở Việt Nam chưa có số liệu điều tra quốc gia, nhưng theo thống kê từ các Bệnh viện thì tỷ lệ mắc ĐTĐ type 1 vào khoảng 7 - 8% tổng số người bệnh ĐTĐ 1.1.3.2 Đái tháo đường type 2 (Đái tháo đường không phụ thuộc Insulin)

ĐTĐ type 2 thường xảy ra ở người lớn Đặc trưng của ĐTĐ type 2 là kháng Insulin đi kèm với thiếu hụt tiết Insulin tương đối (hơn là thiếu tuyệt đối)

Ở giai đoạn đầu, những người bệnh ĐTĐ type 2 không cần Insulin cho điều trị nhưng sau nhiều năm mắc bệnh, nhìn chung Insulin máu giảm dần và người bệnh dần dần lệ thuộc vào Insulin để cân bằng đường máu

1.1.3.3 Đái tháo đường thai kỳ

ĐTĐ thai kỳ thường gặp ở phụ nữ có thai (chiếm 1 - 2% người mang thai), do đường huyết tăng hoặc giảm dung nạp glucose, thường gặp khi có thai

Trang 15

lần đầu và mất đi sau đẻ Bệnh có khả năng tăng nguy cơ phát triển sau này thành ĐTĐ thực sự

1.1.3.4 Đái tháo đường khác

Nguyên nhân do khiếm khuyết chức năng tế bào gây ra bởi gen, giảm hoạt tính của Insulin do khiếm khuyết gen, bệnh lý của tụy ngoại tiết, do các bệnh nội tiết khác dẫn đến bệnh ĐTĐ

1.1.4 Điều trị và các biện pháp điều trị Đái tháo đường type 2

1.1.4.1 Điều trị đái tháo đường type 2

 Mục tiêu điều trị ĐTĐ:

- Kiểm soát lượng glucose máu đến mức gần giới hạn bình thường

- Ngăn ngừa các biến chứng

- Góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống

 Để đạt mục tiêu này cần dựa vào 4 loại hình quản lý đái tháo đường:

- Quản lý dinh dưỡng bằng chế độ ăn hợp lý

- Tăng cường hoạt động thể lực thích hợp

- Điều trị bằng thuốc khi cần thiết theo chỉ dẫn của bác sỹ

- Người bệnh tự theo dõi đường huyết và đi khám định kỳ

 Mục tiêu điều trị bệnh đái tháo đường type 2:

Mục tiêu điều trị là NB cần kiểm soát tối thiểu các chỉ số (Bảng 1.2) ở mức chấp nhận được trong điều trị bệnh ĐTĐ type 2

Bảng 1 1 Các chỉ số cần kiểm soát trong điều trị ĐTĐ type 2

Glucose máu

4,4 - 6,1 4,4 - 7,8

6,2 - 7,0 7,8 ≤ 10,0

Trang 16

LDL-c mmol/l < 2,5** 2,5 - 3,4 ≥ 3,4

* Người có biến chứng thận, có microalbumin niệu: HA ≤ 125/75 mmHg

** Người có tổn thương tim mạch: LDL-c nên dưới 1,7 mmol/l (dưới 70mg/dl) 1.1.4.2 Các biện pháp điều trị cho người bệnh đái tháo đường type 2

 Điều trị bằng chế độ dinh dưỡng

- Một chế độ dinh dưỡng thích hợp phải đáp ứng được các yêu cầu:

+ Đủ năng lượng cho hoạt động bình thường và phải đáp ứng phù hợp với những hoạt động khác như hoạt động thể lực hoặc những thay đổi điều kiện sống như: Tuổi, công việc làm, thể trạng mập hay gầy [15]

+ Tỷ lệ cân đối giữa các thành phần đạm, mỡ, đường

+ Đủ vi chất

+ Chia nhỏ bữa ăn cho phù hợp và tránh tăng đột ngột glucose máu

+ Phối hợp với thuốc điều trị

- Lựa chọn chế độ dinh dưỡng:

 Cách chọn thực phẩm giàu glucid có lợi cho sức khỏe:

Nguyên tắc: Nên chọn các thực phẩm gần thiên nhiên để giữ đủ các chất dinh dưỡng và chất xơ như: ngũ cốc xát, gạo giã dối…và các thực phẩm có nhiều chất xơ, đường huyết thấp như khoai củ, hầu hết các loại rau trừ bí đỏ, đậu hạt (đậu xanh, đậu đen, đậu Hà Lan) Ngoài ra, Người bệnh nên hạn chế các thực phẩm có chỉ số đường huyết cao, hấp thu nhanh và chỉ dùng trong các trường hợp đặc biệt (hạ đường máu) như: Mật, mứt, quả khô, kẹo, nước đường

 Cách lựa chọn thực phẩm cung cấp chất đạm có lợi cho sức khỏe: Nguyên tắc: Nên chọn các thực phẩm giàu đạm có nguồn gốc thực vật để cung cấp các acid béo không no cần thiết như: đậu tương, các chế phẩm từ đậu tương (đậu phụ, sữa đậu nành), các thực phẩm giàu đạm nguồn gốc động vật ít chất béo và/hoặc nhiều acid béo chưa no như thịt nạc (thịt gia cầm nên bỏ da),

cá (nên ăn cá ít nhất 3 lần trong tuần)

 Cách lựa chọn chất béo có lợi cho sức khỏe:

Trang 17

Nguyên tắc: Nên chọn thực phẩm có ít chất béo hòa tan và ít chất béo đồng phân như: Cá và thịt nạc, vừng, lạc Ngoài ra cũng nên chọn các thực phẩm có hàm lượng mỡ thấp, hoặc sử dụng dầu, bơ thực vật như dầu cá, dầu đậu nành, vừng, dầu lạc

 Cách lựa chọn thực phẩm giàu chất xơ có lợi cho sức khỏe:

Nguyên tắc: Chọn các thực phẩm có nhiều chất xơ như các loại rau, mỗi ngày nên ăn từ 4 đến 5 đơn vị rau (từ 400g đến 500g), gạo lứt, gạo giã dối, bánh

mỳ đen Ngoài ra cũng nên chọn thực phẩm giàu vitamin, khoáng chất và chất chống oxy hóa cho cơ thể như các loại hoa quả có chỉ số đường huyết thấp: xoài, chuối, táo, nho, mận, mỗi ngày nên ăn từ 2 đến 3 quả chín (từ 200g đến 300g)

 Thức ăn nên dùng:

Là những thực phẩm làm tăng đường huyết từ từ Bạn có thể dùng thường xuyên nhưng với số lượng vừa phải, phù hợp với từng người Bao gồm: Gạo, tấm xay, ngũ cốc, bánh mì, mì sợ, thịt không mỡ hay thật ít mỡ, cá nạc (cá béo

bỏ da); thịt gà, thịt vịt bỏ da; lòng trắng trứng; sữa loại không có chất béo; các loại rau (ăn nhiều trong bữa ăn ); trái cây (ăn sau bữa ăn): Hạn chế dùng 2 - 3 lần/ngày, vì chúng có thể làm tăng triglycerid máu

 Thức ăn cần tránh:

+ Các loại thực phẩm có đường: Làm đường huyết tăng cao, đường dư sẽ tích lũy tạo thành chất béo Bao gồm: Đường, mật, kẹo, mứt, các loại bánh ngọt, kem, chè ngọt, siro, nước trái cây có đường, nước ngọt có gas, bơ, mỡ, váng sữa

+ Các loại rượu: Không uống các loại rượu ngọt, không uống rượu lúc đói

vì sẽ gây hạ đường huyết Với người bệnh kiểm soát đường huyết tốt, bạn có thể uống chút rượu (1 ly nhỏ) vào lúc ăn

- Nên ăn các thực phẩm được nấu tại nhà Hạn chế tối đa việc ăn bên ngoài, trừ khi bất khả kháng Các loại thức ăn được chế biến bằng phương pháp luộc, hấp, nấu canh thì chứa ít chất độc hơn các loại chế biến ở nhiệt độ cao như xào, chiên, đặc biệt là chiên giòn

- Một số loại thực phẩm đóng gói sẵn được quảng cáo “dành cho người bệnh đái tháo đường” Phải thật cẩn thận xem kỹ thành phần và bảng năng lượng

Trang 18

được in trên nhãn Không nên tin cậy tuyệt đối vào các loại thực phẩm được quảng cáo này, hơn nữa giá thành thường cao

- Chú ý không nên tùy tiện bỏ bữa ăn rồi sau đó ăn bù Bỏ bữa ăn rất nguy hiểm; đặc biệt, đối với các người bệnh có tiêm Insulin

Trái cây:

- Đường trong trái cây là loại đường fructose Đường frutose làm tăng đường huyết chậm hơn đường sacarose (đường mía); do đó,người bệnh đái tháo đường có thể dùng được

- Nên ăn những loại trái cây có màu đậm Trái cây có màu đậm thường có nhiều loại vitamin và chất khoáng cần thiết cho tim mạch và sức khỏe nói chung

- Bản thân chất đường, dù là đường trong trái cây hay đường mía đều làm tăng mức đường huyết và tăng nồng độ các loại mỡ không tốt cho tim mạch (tăng triglyceride và giảm HDL - cholesterol); vì vậy, nên dùng với lượng vừa phải

- Khi đã ăn trái cây thì nên bớt lượng chất bột trong bữa ăn hàng ngày với liều lượng tương đương

- Tuyệt đối không được ăn trái cây để thay các loại thực phẩm khác

Sữa và các loại sản phẩm từ sữa:

- Người bệnh đái tháo đường vẫn có thể uống được sữa và dùng các thực phẩm chế biến từ sữa Tuy nhiên, nên dùng những loại sữa không đường, hay các loại sữa được chế biến; đặc biệt, cho người bệnh đái tháo đường

- Ăn một hũ sữa chua không đường trước bữa ăn có thể làm giảm sự hấp thu chất bột đường và ít làm tăng đường huyết sau ăn

- Người bệnh đái tháo đường có thể dùng các loại sữa không đường, ít (hay không béo), hay sữa đậu nành Cũng có thể dùng các loại sữa được chế biến dành riêng cho người đái tháo đường

- Nên bỏ hẳn thói quen uống sữa trước khi đi ngủ Có thể uống sữa được vào buổi sáng (điểm tâm) hay buổi trưa

Trang 19

- Vào những ngày mệt mỏi hay bị bệnh, có thể dùng những loại sữa đóng hộp sẵn thay thế bữa ăn (với năng lượng tương đương) Ngoài ra có thể ăn cháo,

mì, hay bánh mì rẻ tiền và dễ kiếm hơn

 Chế độ hoạt động thể lực

Nguyên tắc của hoạt động thể lực

- Phải coi hoạt động thể lực là một biện pháp điều trị, phải thực hiện nghiêm túc theo trình tự được hướng dẫn

- Hoạt động thể lực phải phù hợp với lứa tuổi, tình trạng sức khỏe của cá nhân

- Hoạt động thể lực với cường độ trung bình, tối thiểu 30 phút mỗi ngày bằng cách đi bộ nhanh, đạp xe đạp hoặc các bài tập thể dục tương tự, phù hợp với tình trạng sức khỏe, thể lực và lối sống của người bệnh Quan trọng là phải

có giai đoạn khởi động và thư giãn bằng các bài tập cường độ thấp Khi phối hợp với các bài tập cường độ lớn hơn (ít nhất từ 2-3 lần/tuần), ví dụ: chơi tennis, bơi lội, sẽ mang lại hiệu quả tốt trong việc kiểm soát đường huyết [6]

Mục đích hoạt động thể lực ở người ĐTĐ type 2

Tác dụng điều chỉnh glucose máu thông qua việc làm giảm tình trạng kháng Insulin nhờ: giảm cân nặng, nhất là những đối tượng thừa cân, béo phì và giảm kháng Insulin Vì vậy, để đạt được mục đích này WHO khuyến cáo người bệnh ĐTĐ nên luyện tập 30 phút mỗi ngày và 150 phút một tuần

 Thuốc điều trị Đái tháo đường type 2

Nguyên tắc:

- Dùng thuốc phải kết hợp với chế độ ăn và hoạt động thể lực

- Phải phối hợp điều trị hạ glucose máu, điều chỉnh các rối loạn lipid, duy trì chỉ số huyết áp hợp lý, chống các rối loạn đông máu

- Khi cần thiết thì phải dùng Insulin

Mục đích:

Điều trị bằng thuốc trong ĐTĐ type 2 nhằm giảm cân nặng (với người béo) hoặc không tăng cân (với người không béo) và duy trì được lượng glucose

Trang 20

máu khi đói, glucose máu sau ăn gần ở mức độ sinh lý, đạt được mức HbA1c lý tưởng sẽ giảm được các biến chứng, cũng như giảm được tỷ lệ tử vong do ĐTĐ

 Lịch theo dõi và các chỉ tiêu cần đánh giá của người bệnh đái tháo đường type 2

Theo dõi thường quy:

- Theo dõi định kỳ về sinh hóa để điều chỉnh các chỉ số glucose, lipid, đông máu cho người bệnh ĐTĐ

+ Glucose máu lúc đói: theo dõi thường xuyên tại nhà

+ Creatinin, urê máu: thời gian đầu kiểm tra 1 tháng/lần, sau đó có thể 3 tháng/lần

+ Các thăm dò chức năng gan nên được tiến hành trước, trong và sau một thời gian sử dụng một loại thuốc mới

+ HbA1C: là chỉ số đánh giá kết quả quản lý lượng glucose máu trung thành nhất Buộc phải làm 3 tháng/lần, nếu không có điều kiện thì 6 tháng/1 lần Những cơ sở chưa làm được xét nghiệm HbA1C có thể thay bằng theo dõi lượng glucose máu Trong trường hợp này, glucose máu lúc đói phải luôn ≤ 6mmol/l

+ Micro albumin niệu: phải được thăm dò ngay khi mới phát hiện ĐTĐ Sau đó hàng năm phải được kiểm tra tùy theo chỉ định của thầy thuốc

+ Độ ngưng tập tiểu cầu: được theo dõi khi có chỉ định dùng các thuốc như aspirin và các thuốc chống đông máu khác, thường 3 tháng/1 lần

+ Các chỉ số về lipid máu: Từ 3 đến 6 tháng/1 lần Trường hợp đặc biệt chỉ định theo tình trạng của người bệnh và nhu cầu điều trị

- Đánh giá hệ thống hormon đối lập: Thường 1 năm/1 lần

Những thăm khám định kỳ khác:

+ Khám bàn chân: Khám lần đầu, sau đó từ 3 đến 6 tháng/1 lần

+ Khám đáy mắt: Khám lâm sàng 6 tháng/1 lần với người phát hiện bệnh < 5 năm, 3 tháng/1 lần với người phát hiện bệnh ≥5 năm Chụp đáy mắt từ

6 đến 12 tháng/1 lần tùy theo mức độ tổn thương lâm sàng

+ Thăm dò đánh giá chức năng hệ tim mạch: Phải thường xuyên theo dõi

số đo HA Điện tim thường làm 3 tháng/1 lần

Trang 21

+ Chụp X quang tim phổi: Thường làm 6 tháng/1 lần

+ Khám sàng lọc lao

+ Kiểm tra, đánh giá tài liệu, theo dõi chế độ ăn uống, chế độ tập luyện,

đo chỉ số cơ thể (BMI) thường làm 6 tháng/1 lần

Những chỉ định theo dõi đột xuất:

Chỉ định tùy thuộc vào thời điểm xuất hiện các triệu chứng và dấu hiệu tổn thương của những biến chứng cấp và mạn tính

1.1.5 Tuân thủ điều trị và các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị

1.1.5.1 Khái niệm tuân thủ điều trị

Theo Tổ chức Y tế Thế giới tuân thủ điều trị là trong phạm vi hành vi của một người như dùng thuốc, thay đổi chế độ ăn và/hoặc thay đổi lối sống đúng với những khuyến cáo phù hợp của CBYT Với định nghĩa trước đây là “tuân thủ cần sự đồng tình của NB với những khuyến cáo mà CBYT đưa ra” thì định nghĩa này yêu cầu NB nên là các đối tác tích cực với CBYT trong việc chăm sóc sức khỏe Duy trì tốt mối quan hệ giữa CBYT và NB là yêu cầu tất yếu trong công tác khám chữa bệnh Tuân thủ điều trị của người bệnh ĐTĐ là sự kết hợp

đủ 4 biện pháp: chế độ dinh dưỡng hợp lý; hoạt động thể lực thường xuyên; chế

độ dùng thuốc đúng; chế độ kiểm soát đường huyết tại nhà và khám sức khỏe định kỳ thường xuyên [39]

- Các thực phẩm cần tránh không nên ăn: Cần tránh các thực phẩm có chỉ

số đường huyết cao trên 55% và hấp thu Chỉ sử dụng trong các trường hợp đặc biệt khi có triệu chứng hạ glucose máu

Trang 22

- Những thực phẩm ăn thường xuyên là những thực phẩm có tần suất ăn

từ 3 lần trở lên trong 1 tuần

- Những thực phẩm ăn không thường xuyên là những thực phẩm có tần suất ăn dưới 3 lần trong 1 tuần

 Chế độ hoạt động thể lực thường xuyên:

Hoạt động thể lực được định nghĩa là bất kỳ chuyển động cơ thể nào được tạo ra bởi cơ xương cần chi tiêu năng lượng

Việc áp dụng và duy trì hoạt động thể lực là trọng tâm quan trọng để quản

lý đường huyết và sức khỏe tổng thể ở những người mắc bệnh đái tháo đường

Hoạt động thể lực với cường độ trung bình, tối thiểu 30 phút mỗi ngày bằng cách đi bộ nhanh, đạp xe đạp hoặc các bài tập thể dục tương tự, phù hợp với tình trạng sức khỏe, thể lực và lối sống của người bệnh WHO khuyến cáo người bệnh ĐTĐ nên luyện tập 30 phút mỗi ngày và 150 phút một tuần

Những trường hợp quên dùng thuốc uống/tiêm thì nên xin ý kiến bác sỹ

và nếu quên thì không nên uống bù/tiêm bù vào lần uống/tiêm sau

 Chế độ kiểm soát đường huyết tại nhà và khám định kỳ:

- Người bệnh được coi là tuân thủ kiểm soát đường huyết tại nhà khi người bệnh đo được đường huyết từ 2 lần/tuần trở lên

- Người bệnh chẩn đoán ĐTĐ tupe 2 được coi là tuân thủ khi đi khám sức khỏe định kỳ 1 tháng/1 lần [4]

1.1.5.2 Hậu quả của việc không tuân thủ điều trị

Trang 23

Theo khuyến cáo của WHO, Hiệp hội Đái tháo đường Quốc tế cũng như kết quả từ các nghiên cứu cho thấy, không tuân thủ điều trị có thể gây ra các hậu quả sau:

 Không kiểm soát được đường huyết

 Không ngăn ngừa được các biến chứng cấp tính:

 Hạ glucose máu

 Nhiễm toan ceton và hôn mê nhiễm toan ceton do ĐTĐ

 Hôn mê tăng glucose máu không nhiễm toan ceton (hôn mê tăng áp lực thẩm thấu)

 Hôn mê nhiễm toan lactic

 Các bệnh nhiễm trùng cấp tính

 Không ngăn ngừa được các biến chứng mạn tính

 Biến chứng tim mạch: Bệnh mạch máu, bệnh tim, đột quỵ

 Biến chứng tại mắt: Xuất huyết, xuất tiết võng mạc, giảm thị lực, mù lòa

 Biến chứng tại thận: Tổn thương thận, suy thận

 Biến chứng bàn chân: Loét bàn chân, cắt cụt chi dưới, hoại thư

 Biến chứng thần kinh

 Rối loạn chức năng cường dương ở nam

 Suy giảm chức năng sinh dục nữ

1.1.5.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị trên người bệnh Đái tháo đường

Điều trị ĐTĐ đòi hỏi người bệnh phải tuân thủ chặt chẽ sử dụng thuốc, chế

độ dinh dưỡng hợp lý, hoạt động thể lực thường xuyên Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng nếu người bệnh không tuân thủ điều trị thường dẫn đến thất bại trong điều trị Dưới đây là một số lý do khiến người bệnh không tuân thủ [21], [22]:

- Do thuốc điều trị: Người bệnh phải uống quá nhiều thuốc trong một ngày, đặc biệt với những người bệnh được điều trị bằng thuốc uống kết hợp với thuốc tiêm và phải dùng ít nhất 2 loại thuốc trở lên thì với số lượng thuốc và thời gian dùng thuốc kéo dài suốt đời, kèm theo tâm lý sợ đau khi tiêm là những rào

Trang 24

cản lớn tác động đến sự tuân thủ Một nguyên nhân khác nữa phải kể tới là do tác dụng phụ gây hạ đường huyết khi dùng insulin không đúng cách

- Những hạn chế về chế độ ăn liên quan đến sử dụng thuốc: Thời điểm

sử dụng nhiều loại thuốc điều trị có liên quan mật thiết tới bữa ăn: Có thuốc phải uống sau bữa ăn, có thuốc phải uống xa bữa ăn, có thuốc tiêm phải tiêm vào đúng giờ qui định…

- Do thiếu hỗ trợ (gia đình, bạn bè): Sự hỗ trợ của người thân trong gia đình và bạn bè của người bệnh là yếu tố quan trọng đảm bảo việc tuân thủ của

họ Những người thân và bạn bè sẽ chia sẻ, an ủi, động viên, nhắc nhở, giúp đỡ người bệnh uống đủ số lượng thuốc, đủ liều, đúng giờ và đo đường huyết thường xuyên cũng như giúp người bệnh thực hiện chế độ dinh dưỡng hợp lý, hoạt động thể lực đúng cách Trên thực tế, nhiều người bệnh không thể tự mình đo đường huyết hoặc không tự giác nhớ được cách sử dụng thuốc theo đúng chỉ định của thầy thuốc…, đặc biệt khi người bệnh là người cao tuổi Vì vậy, sự hỗ trợ của gia đình, bạn bè là hết sức cần thiết đối với người bệnh ĐTĐ

- Do gánh nặng về tài chính: Quá trình mắc bệnh kéo dài, phải chi trả chi phí điều trị, trong khi người bệnh không có khả năng tạo ra thu nhập (ở những người cao tuổi) sẽ là gánh nặng tài chính không chỉ cho người bệnh mà còn cho

cả những người khác trong gia đình

Một trong những yếu tố tác động lớn đến vấn đề tuân thủ điều trị là do chất lượng cung cấp dịch vụ y tế, cụ thể là [21], [22], [38]:

+ Do mối quan hệ giữa bác sỹ và người bệnh: Khi bác sỹ giao tiếp tốt với người bệnh, chỉ rõ lợi ích của các biện pháp điều trị, nhắc lại nhiều lần, thật rõ ràng cho người bệnh và báo trước các tác dụng phụ có thể có hoặc khích lệ người bệnh thì việc tuân thủ điều trị của người bệnh tốt hơn nhiều

+ Do hệ thống chăm sóc y tế: Hệ thống chăm sóc y tế có thuận tiện cho người bệnh không? Giờ giấc cung cấp thuốc và các dịch vụ y tế có thuận tiện cho người bệnh không?

Tất cả những lý do trên đều ảnh hưởng đến sự tuân thủ điều trị của người bệnh Khi người bệnh không được giúp đỡ để vượt qua những rào cản trên thì họ

Trang 25

thường không tuân thủ điều trị dẫn tới một loạt những hậu quả nặng nề làm tăng

tỷ lệ người bệnh phải nhập viện và tỷ lệ tử vong

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Tình hình đái tháo đường trên thế giới

ĐTĐ là bệnh chuyển hóa thường gặp nhất và đã có từ lâu, nhưng đặc biệt phát triển trong những năm gần đây Bệnh tăng nhanh theo tốc độ phát triển của nền kinh tế xã hội Các công trình nghiên cứu về tính chất dịch tễ bệnh ĐTĐ cho thấy: Tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ tăng lên hàng năm, cứ 15 năm thì tỷ lệ tăng lên gấp đôi, tuổi càng tăng thì tỷ lệ mắc bệnh càng cao, từ 65 tuổi trở lên tỷ lệ này lên tới 16% ĐTĐ được xếp vào một trong ba bệnh thường gây tàn phế và tử vong cao nhất (xơ vữa động mạch, ung thư, ĐTĐ) Năm 1985, trên thế giới có 30 triệu người mắc ĐTĐ và con số này tăng lên khoảng 110 triệu người chỉ sau một năm (trong đó 98,9 triệu người mắc ĐTĐ type 2)

Theo Viện nghiên cứu Đái tháo đường quốc tế, năm 2000 có khoảng 151 triệu người và năm 2010 tăng lên 221 triệu người, trong đó 215,6 triệu người ĐTĐ type 2 Dự báo năm 2025 sẽ có 300 triệu đến 330 triệu người ĐTĐ Tỷ lệ mắc bệnh thay đổi theo từng nước có nền công nghiệp phát triển hay đang phát triển, thay đổi theo từng dân tộc, từng vùng địa lí khác nhau Theo số liệu công bố tại Hội nghị ĐTĐ tháng 12 năm 1997 tại Singapore cho thấy người bệnh bị ĐTĐ ở

10 nước điển hình [3]:

Bảng 1 2 Người bệnh bị đái tháo đường ở 10 nước điển hình

Tên nước Số BN ĐTĐ 1995 (triệu) Số BN ĐTĐ 2025 (triệu)

Trang 26

Pakistan 4.3 14.5

1.2.2 Tình hình đái tháo đường tại Việt Nam

Tại Việt Nam, theo tổng kết các nghiên cứu, năm 1990 bệnh ĐTĐ ở các khu vực Hà Nội (1.2%), Huế (0.95%), thành phố Hồ Chí Minh (2.52%) Theo điều tra năm 2001 tỷ lệ ĐTĐ type 2 ở các thành phố lớn: Hà Nội, Hải Phòng, TP

Hồ Chí Minh là 4.9%, tỷ lệ rối loạn dung nạp Glucose là 5.9% Tỷ lệ người có yếu tố nguy cơ phát triển ĐTĐ chiếm 38.5% (lứa tuổi 30 - 60 tuổi) Điều tra quốc gia năm 2002 cho thấy, người mắc bệnh ĐTĐ ở lứa tuổi 30 - 64 trong toàn quốc là 2.7% (ở khu vực đô thị và các khu công nghiệp tỷ lệ cao tới 4.4%) Đặc biệt, tỷ lệ bệnh trong nhóm người có yếu tố nguy cơ là rất cao (10.3%) Việt nam cũng như các nước đang phát triển khác, do trình độ hiểu biết còn hạn chế, người bệnh của chúng ta thường phát hiện bệnh ở giai đoạn muộn và thường đến bệnh viện với những biến chứng nặng nề Theo thống kê của Hiệp hội Đái tháo đường quốc tế, năm 2012, Việt Nam có 3,2 triệu người mắc bệnh ĐTĐ chiếm (5.4%) dân số trưởng thành, điều đáng lo ngại nhất đó là có tới 64.6% số người mắc bệnh ĐTĐ không được chẩn đoán và điều trị[1] Ở các quốc gia phát triển

tỷ lệ này vào khoảng 50%[4] Với tỷ lệ NB tăng từ 8% đến 10%/năm, Việt Nam trở thành nước có tỷ lệ gia tăng bệnh ĐTĐ nhanh nhất thế giới

Nghiên cứu của tác giả Bùi Khánh Thuận cho thấy kiến thức của người bệnh về chế độ ăn chưa cao có 53% người bệnh có kiến thức về chế độ ăn đúng

> 50%, còn 47% người bệnh có kiến thức chưa đúng[11]

Theo Tác giả Hà Thị Huyền tỷ lệ người bệnh tham gia nghiên cứu có kiến thức đạt về chế độ ăn bệnh lý là 59.4%[8].Tác giả Trần Hoa Vân đã tiến hành nghiên cứu trên 100 người bệnh ĐTĐ type 2 tại phòng khám Nội tiết bệnh viện

đa khoa Trung tâm Tiền Giang đã chỉ ra có 61.2% người bệnh chưa đúng về thực hành chế độ ăn bệnh lý[12]

Nghiên cứu của Đỗ Quang Tuyển và cộng sự năm 2012 cho thấy tỷ lệ người bệnh thực hiện chế độ ăn có kiến thức chưa đúng về các loại thực phẩm cần tránh như dưa hấu và quả dứa chỉ đạt lần lượt là 17.6% và 21.5% Trong khi

Trang 27

đó, có tới 63% người bệnh không có kiến thức là hạn chế ăn các chất tinh bột như cơm và miến dong[14]

1.2.3 Một số yếu tố liên quan đến bệnh đái tháo đường

 Tuổi:

Qua nhiều nghiên cứu thấy tuổi có sự liên quan đến sự xuất hiện bệnh đái tháo đường type 2 Tuổi càng cao, tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường càng cao

Ở châu Á, đái tháo đường type 2 có tỷ lệ cao ở những người trên 30 tuổi

Ở châu Âu, thuờng xảy ra sau tuổi 50 chiếm 85 - 90% các truờng hợp đái tháo đường Từ 65 tuổi trở lên, tỷ lệ bệnh đái tháo đường lên tới 16%.[7]

Sự gia tăng đái tháo đường type 2 theo tuổi có nhiều yếu tố tham gia, các thay đổi chuyển hóa hydrate liên quan đến tuổi, điều này giải thích tại sao nhiều nguời mang gen di truyền đái tháo đường mà lại không bị đái tháo đường từ lúc còn trẻ đến khi về già mới bị bệnh.[9]

Tuy nhiên, với tốc độ phát triển cuộc sống hiện nay, ngày càng có nhiều nguời trẻ tuổi mắc đái tháo đường type 2 Quan sát sự xuất hiện bệnh đái tháo đường type 2 trong gia đình có yếu tố di truyền rõ ràng, nguời ta thấy rằng ở thế

hệ thứ nhất mắc bệnh ở dộ tuổi 60 - 70, ở thế hệ thứ 2 tuổi xuất hiện bệnh giảm xuống còn 40 - 50 tuổi và ngày nay người được chẩn đoán đái tháo đường type 2 duới 20 tuổi không còn là hiếm.[10]

 Giới tính:

Tỷ lệ mắc đái tháo đường ở hai giới nam và nữ thay đổi tuỳ thuộc vào các vùng dân cư khác nhau Ảnh hưởng của giới tính đối với bệnh đái tháo đường không theo quy luật, nó tuỳ thuộc vào chủng tộc, độ tuổi, điều kiện sống, mức

độ béo phì

Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của Trần Văn Hải, Đàm Văn Cương , tỷ lệ mắc đái tháo đường ở nam là 3.5%; ở nữ là 5.3% [7] Nghiên cứu về tình hình đái tháo đường và yếu tố nguy cơ được tiến hành trên cả nuớc năm 2002 - 2003 cho thấy không có sự khác biệt về tỷ lệ mắc bệnh theo giới

 Ðịa lí:

Trang 28

Các nghiên cứu tỷ lệ mắc đái tháo đường đều cho thấy lối sống công nghiệp hiện đại ảnh huởng rất lớn đến khả năng mắc bệnh đái tháo đường Tỷ lệ mắc đái tháo đường tăng gấp 2 - 3 lần ở những người nội thành so với những người sống ở ngoại thành theo các công bố nghiên cứu dịch tễ ở Tunisia, Úc Một số nghiên cứu của Việt Nam cho kết quả tương tự Nghiên cứu của Nguyễn Huy Cường tại Hà Nội cho thấy tỷ lệ mắc đái tháo đường ở nội thành là 1.4%, ngoại thành là 0.6%[6] Nghiên cứu của Trần Hữu Dàng tại Quy Nhơn cho thấy

tỷ lệ mắc bệnh ở nội thành là 9.5% cao hơn so với ngoại thành là 2.1% có ý nghĩa thống kê với p <0.01 Yếu tố địa lý ảnh huởng đến tỷ lệ mắc đái tháo đường thực chất là sự thay đổi lối sống: Ít vận động, ăn uống nhiều dẫn đến béo phì gây ra[5]

 Béo phì:

Theo các chuyên gia của WHO, béo phì là yếu tố nguy cơ mạnh mẽ nhất tác động lên khả năng mắc đái tháo đường type 2 Có nhiều phương pháp chẩn đoán và phân loại béo phì; trong đó, chẩn đoán béo phì bằng chỉ số khối cơ thể

và chỉ số bụng, mông được áp dụng khá rộng rãi Cho tới nay, tiêu chuẩn chẩn đoán béo phì đã được WHO thống nhất Tuy nhiên, tiêu chuẩn này là khác nhau cho các vùng địa lý, châu lục khác nhau

Trong bệnh béo phì, tích lũy mỡ xảy ra trong một thời gian dài; do đó, sự suy giảm khả năng tự bảo vệ chống lại quá trình nhiễm mỡ có thể xảy ra ở một

số thời điểm và triglycerid dần được tích luỹ lại Ở nguời béo phì, đái tháo đường lâm sàng thường xuất hiện sau khi 50 - 70% tiểu đảo Langerhans bị tổn thương

Béo bụng còn được gọi là béo dạng nam, là một thuật ngữ chỉ những người mà phân bố mỡ ở bụng, nội tạng và phần trên cơ thể chiếm tỷ trọng đáng

kể Béo bụng, ngay cả với những nguời cân nặng không thực sự xếp vào loại béo phì hoặc chỉ béo vừa phải là một yếu tố nguy cơ độc lập gây ra rối loạn mỡ máu, tăng huyết áp và rối loạn chuyển hóa đường

 Thuốc lá và bia ruợu:

Trang 29

Thuốc lá và bia ruợu là những chất gây hại cho cơ thể, làm nặng thêm các rối loạn chuyển hoá

Một số nghiên cứu ở châu Âu cho thấy tỷ lệ hút thuốc lá ở người bệnh đái tháo đường khá cao, có nhiều vùng trên 50% Trường đại học Lausanne (Anh)

đã tiến hành 25 cuộc nghiên cứu trên 1,2 triệu người bệnh và nhận thấy những nguời hút thuốc có 44% nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường type 2 [1]

Những người hút thuốc có xu hướng hình thành những thói quen không

có lợi khác, chẳng hạn như không tập thể dục thể thao hoặc ăn những thực phẩm không có lợi cho sức khỏe

Rượu có tác động rất xấu đến sức khỏe con nguời, gây ảnh hưởng đến toàn bộ các cơ quan trong cơ thể Những người bệnh đái tháo đường nếu uống nhiều rượu thì hậu quả thường nặng hơn so với người bình thường Theo nghiên cứu của Trần Văn Hải, Đàm Văn Cương (2011) người bệnh nam đái tháo đường

có tỷ lệ uống bia rượu 22.3% và hút thuốc lá 16.8% [7]

Trang 30

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ Ở NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH THANH HÓA 2.1 Thông tin chung về Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa

Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa được thành lập từ năm 1899 Qua hơn

120 năm phát triển, đi qua ba thế kỷ, Bệnh viện đã đóng góp nhiều giá trị cho sự phát triển của tỉnh nhà và ngành Y tế đất nước

Bệnh viện cũng là một Trung tâm y tế chuyên sâu và hiện đại nhất tỉnh, có nguồn nhân lực chất lượng cao Bệnh viện đã khẳng định được sự phát triển bứt phá, bền vững trong sự nghiệp đổi mới, với cơ sở hạ tầng khang trang, nhiều trang thiết bị y tế hiện đại và một khối lượng lớn các dịch vụ kỹ thuật y tế có chất lượng cao; nhiều thế hệ thầy thuốc, cán bộ khoa học ở các chuyên khoa được đào tạo cơ bản, có chuyên môn giỏi, có uy tín, trưởng thành qua thời gian

và kinh nghiệm thực tiễn, không ngừng học tập, nghiên cứu khoa học, đạt được trình độ học vấn cao, giành được các danh hiệu cao quý Thầy thuốc Nhân dân, Thầy thuốc ưu tú Bệnh viện với quy mô 1.200 giường bệnh, hơn 1.250 cán bộ, viên chức, người lao động Với hơn 500 cán bộ, viên chức có trình độ đại học trở lên; trong đó 35 tiến sĩ, BSCKII, 114 BSCKI, thạc sĩ y học, thạc sĩ dược, 93 bác sĩ đa khoa, 50 dược sĩ; hơn 10 thạc sĩ, chuyên khoa I điều dưỡng; 150 đại học điều dưỡng, kỹ thuật viên trong số 715 điều dưỡng, kỹ thuật viên và 179 nhân viên các chuyên ngành khác

Bệnh viện đã tập trung mọi nguồn lực thực hiện tốt công tác khám chữa bệnh Trong 6 tháng đầu năm 2021, Bệnh viện đã khám cho 99.127 lượt bệnh nhân ngoại trú (tăng 18% so với cùng kỳ năm 2020), Bệnh nhân nội trú 37.946 người (tăng 10%)

Phòng khám Xương khớp, Nội tiết - Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hoá được triển khai từ năm 2009; hiện tại, đang quản lý hơn 500 hồ sơ bệnh án ĐTĐ, trong đó người bệnh ĐTĐ type 2 là chủ yếu Người bệnh ĐTĐ điều trị ngoại trú được thăm khám được làm các xét nghiệm định kỳ, được cấp thuốc và được tư vấn sử dụng thuốc một cách chi tiết đầy đủ Tuy nhiên, Bệnh viện chưa

Trang 31

có phòng tư vấn dinh dưỡng và truyền thông giáo dục sức khỏe riêng cho những người bệnh đái tháo đường Chính vì vậy, việc giám sát về chế độ TTĐT đặc biệt là TTĐT bằng chế độ dinh dưỡng của người bệnh đái tháo đường tại cộng đồng cũng như công tác tư vấn về chế độ ăn uống, hoạt động thể lực hay cách phát hiện, dự phòng biến chứng là một vấn đề khó khăn đối với NVYT, và cũng

là một thiệt thòi cho người bệnh

Qua đánh giá nhanh người bệnh mắc ĐTĐ type 2 điều trị nội trú tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hoá cho thấy đa phần người bệnh không thực hiện chế

độ ăn, tập luyện, theo dõi đường huyết được đầy đủ theo tư vấn của thầy thuốc Nhận thấy thực trạng đó, ảnh hưởng đến chất lượng điều trị cho người bệnh không được cao: Tỷ lệ NB phải nhập viện điều trị nội trú ngày một tăng bởi không khống chế được đường huyết ở mức độ cho phép lúc thì cao nhưng cũng có lúc thì hạ đường huyết, xuất hiện nhiều các biến chứng về mạch máu và tim mạch như: Tăng huyết áp, bệnh lý mạch vành, rối loạn lipid máu, tai biến mạch máu não và các biến chứng khác về mắt, nhiễm trùng, tổn thương khớp… Các biến chứng ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống của người bệnh, là nguyên nhân chính khiến người bệnh phải nhập viện điều trị nội trú, làm tăng chi phí điều trị Xuất phát từ tình hình đó, Tôi tiến hành khảo sát “Thực trạng kiến thức và thực hành tuân thủ điều trị ở người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa”

2.2 Đối tượng, công cụ, phương pháp thu thập số liệu, thời gian khảo sát

- Đối tượng: NB được chẩn đoán là ĐTĐ type 2 được cấp thuốc điều trị ngoại trú từ lần thứ ba tại Phòng khám Xương khớp – Nội tiết BVĐK tỉnh Thanh Hoá Loại trừ NB không đồng ý tham gia, không tỉnh táo,…

- Tổng số đối tượng tham gia khảo sát là: 150 người bệnh

- Phương pháp thu thập số liệu: Bộ câu hỏi soạn sẵn

- Hình thức khảo sát: Phát phiếu tự điền

- Thời gian khảo sát từ 13/5/2021 đến 13/6/2021

Trang 32

2.3 Kết quả khảo sát

2.3.1 Đặc điểm chung của người bệnh

Bảng 2 1 Đặc điểm chung của NB (n=150)

tỷ lệ lần lượt là 3.33% và 1.33%

Bảng 2 2 Đặc điểm về tiền sử mắc bệnh của NB (n=150)

Nhận xét: Kết quả Bảng 2.2 cho thấy, NB mắc bệnh ≥ 5 năm chiếm tỷ lệ 54% cao hơn so với NB mắc bệnh đã phát hiện < 5 năm (46%)

2.3.2 Kiến thức về tuân thủ điều trị của người bệnh

2.3.2.1 Kiến thức về tuân thủ dinh dưỡng

Trang 33

Bảng 2 3 Kiến thức về tuân thủ lựa chọn thực phẩm phù hợp của NB Kiến thức tuân thủ lựa chọn thực phẩm SL Tỷ lệ (%)

1 Các thực phẩm nên ăn

Các loại đậu (đậu phụ, đậu xanh, đậu đen ) 127 84.67

Các loại trái cây (xoài, chuối, táo, nho, mận) 108 72

Ăn các món nội tạng (lòng, gan, óc, đồ hộp ) 105 70

tỷ lệ khá lớn NB không có kiến thức về lựa chọn thực phẩm như dưa hấu (14%), dứa (18.67%), Khoai tây, khoai lang nướng và chiên (24.67%)

2.3.2.2 Kiến thức về tuân thủ hoạt động thể lực

Bảng 2 4 Kiến thức của NB về tuân thủ hoạt động thể lực

Kiến thức về tuân thủ hoạt động thể lực SL Tỷ lệ %

Tập luyện theo chỉ dẫn của bác sỹ (tối thiểu 30 phút/ngày) 72 48

Tránh lối sống tĩnh tại (xem tivi, ngồi máy vi tính, ngồi một

Ngày đăng: 01/04/2022, 14:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Tạ Văn Bình (2007), Những nguyên lý nền tảng bệnh đái tháo đường tăng glucose máu, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nguyên lý nền tảng bệnh đái tháo đường tăng glucose máu
Tác giả: Tạ Văn Bình
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2007
5. Bộ Y tế (2011), Quyết định số 3280/QĐ-BYT ngày 09/09/2011 về việc ban hành tài liệu chuyên môn hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh đái tháo đường typ 2, Bộ Y tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 3280/QĐ-BYT ngày 09/09/2011 về việc ban hành tài liệu chuyên môn hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh đái tháo đường typ 2
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Bộ Y tế
Năm: 2011
6. Nguyễn Mạnh Dũng (2007), "Đánh giá nhận thức của người bệnh đái tháo đường về chế độ ăn uống và tập luyện thể lực", Tạp chí Y học thực hành, Số 731, tr 191 - 195 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá nhận thức của người bệnh đái tháo đường về chế độ ăn uống và tập luyện thể lực
Tác giả: Nguyễn Mạnh Dũng
Nhà XB: Tạp chí Y học thực hành
Năm: 2007
7. Lê Thị Hương Giang (2013), Đánh giá tuân thủ điều trị đái tháo đường typ 2 và một số yếu tố liên quan của người bệnh ngoại trú tại Bệnh viện 198, năm 2013, Luận văn Thạc sĩ Quản lý bệnh viện, trường Đại học Y tế Công cộng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tuân thủ điều trị đái tháo đường typ 2 và một số yếu tố liên quan của người bệnh ngoại trú tại Bệnh viện 198, năm 2013
Tác giả: Lê Thị Hương Giang
Nhà XB: Luận văn Thạc sĩ Quản lý bệnh viện
Năm: 2013
8. Phạm Thị Thu Hương và Nguyễn Thị Lâm (2008), Hướng dẫn chế độ ăn cho người bệnh đái tháo đường theo đơn vị chuyển đổi thực phẩm, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn chế độ ăn cho người bệnh đái tháo đường theo đơn vị chuyển đổi thực phẩm
Tác giả: Phạm Thị Thu Hương, Nguyễn Thị Lâm
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2008
9. Phạm Văn Khôi (2011), Thực trạng tư vấn dinh dưỡng, nuôi dưỡng và tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân đái tháo đường tại Bệnh viện Bạch Mai, Luận văn tốt nghiệp bác sỹ đa khoa, trường Đại học Y Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng tư vấn dinh dưỡng, nuôi dưỡng và tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân đái tháo đường tại Bệnh viện Bạch Mai
Tác giả: Phạm Văn Khôi
Nhà XB: trường Đại học Y Hà Nội
Năm: 2011
10. Nguyễn Trung Kiên và Lưu Thị Hồng Vân (2010), "Nghiên cứu kiến thức, thực hành về bệnh đái tháo đường của bệnh nhân đái tháo đường typ 2 tại Bệnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu kiến thức, thực hành về bệnh đái tháo đường của bệnh nhân đái tháo đường typ 2 tại Bệnh
Tác giả: Nguyễn Trung Kiên, Lưu Thị Hồng Vân
Năm: 2010
11. Trần Chiêu Phong và Lê Hoàng Ninh (2005), "Kiến thức, thái độ, thực hành về dự phòng biến chứng đái tháo đường của bệnh nhân đái tháo đường tại Trung tâm Y tế quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh", Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh. Số 1 (10), tr 33 - 36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức, thái độ, thực hành về dự phòng biến chứng đái tháo đường của bệnh nhân đái tháo đường tại Trung tâm Y tế quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Trần Chiêu Phong, Lê Hoàng Ninh
Nhà XB: Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2005
12. Nguyễn Vinh Quang và Phạm Thúy Hường (2010), "Mô tả kiến thức, thái độ thực hành về bệnh đái tháo đường của người dân tại Hải Hậu, Nam Định năm 2010", Tạp chí Y học Việt Nam. Số 383(1), tr. 31 - 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô tả kiến thức, thái độ thực hành về bệnh đái tháo đường của người dân tại Hải Hậu, Nam Định năm 2010
Tác giả: Nguyễn Vinh Quang, Phạm Thúy Hường
Nhà XB: Tạp chí Y học Việt Nam
Năm: 2010
13. Nguyễn Minh Sang, Nguyễn Khoa Diệu Vân và Nguyễn Quang Bảy (2007), "Thực trạng kiểm soát đường huyết của các bệnh nhân đái tháo đường typ 2 nhập viện điều trị tại khoa Nội tiết Bệnh viện Bạch Mai", Tạp chí Nghiên cứu Y học, Số 53(5), tr 17 - 23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng kiểm soát đường huyết của các bệnh nhân đái tháo đường typ 2 nhập viện điều trị tại khoa Nội tiết Bệnh viện Bạch Mai
Tác giả: Nguyễn Minh Sang, Nguyễn Khoa Diệu Vân, Nguyễn Quang Bảy
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu Y học
Năm: 2007
14. Nguyễn Minh Thu, Nguyễn Kim Lương và Nguyễn Khang Sơn (2012), "Đặc điểm lâm sàng ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 cao tuổi điều trị tại Bệnh viện đa khoa Trung ương Thái Nguyên", Tạp chí Y học thực hành Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm lâm sàng ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 cao tuổi điều trị tại Bệnh viện đa khoa Trung ương Thái Nguyên
Tác giả: Nguyễn Minh Thu, Nguyễn Kim Lương và Nguyễn Khang Sơn
Năm: 2012
15. Bùi Khánh Thuận (2009), Kiến thức, thái độ, hành vi về chế độ ăn và luyện tập ở người bệnh đái tháo đường typ 2 tại Bệnh viên Nhân Dân 115, Luận văn thạc sỹ Y học, trường Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức, thái độ, hành vi về chế độ ăn và luyện tập ở người bệnh đái tháo đường typ 2 tại Bệnh viên Nhân Dân 115
Tác giả: Bùi Khánh Thuận
Nhà XB: trường Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2009
16. Đỗ Quang Tuyển (2012), Mô tả kiến thức, thực hành và các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 đang điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương, Luận văn Thạc sỹ Y tế công cộng, trường Đại học Y tế Công cộng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô tả kiến thức, thực hành và các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 đang điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương
Tác giả: Đỗ Quang Tuyển
Nhà XB: trường Đại học Y tế Công cộng
Năm: 2012
17. WHO (2003), Tuyên bố Tây Thái Bình Dương về bệnh đái tháo đường-Kế hoạch hành động giai đoạn 2000-2025, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyên bố Tây Thái Bình Dương về bệnh đái tháo đường-Kế hoạch hành động giai đoạn 2000-2025
Tác giả: WHO
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2003
18. Alan M (2006), "Improving Patient Adherence", Clinical diabetes Vol. 24 (2), pg. 71 - 76 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Improving Patient Adherence
Tác giả: Alan M
Nhà XB: Clinical diabetes
Năm: 2006
19. American Diabetes Association (2011), "Diagnosis and Classification of Diabetes mellitus", Diabetes care. 34 (1), pg. S62 - S69 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diagnosis and Classification of Diabetes mellitus
Tác giả: American Diabetes Association
Nhà XB: Diabetes care
Năm: 2011
20. Ciechanowski PS &amp; et al. (2001), "The patient-provider relationship: attachment theory and adherence to treatment in diabetes", The American Journal of Psycochiatry, Vol. 158(1), pg. 29 - 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The patient-provider relationship: attachment theory and adherence to treatment in diabetes
Tác giả: Ciechanowski PS, et al
Nhà XB: The American Journal of Psychiatry
Năm: 2001
21. Chua SS and Chan SP (2011), "Medication adherence and achievement of glycaemic targets in ambulatory typ 2 diabetic patient", Journal of Applied Pharmaceutical Science, Vol. 1 (4), pg. 55 - 59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Medication adherence and achievement of glycaemic targets in ambulatory typ 2 diabetic patient
Tác giả: Chua SS, Chan SP
Nhà XB: Journal of Applied Pharmaceutical Science
Năm: 2011
22. Hanko B &amp; et al. (2007), "Self-reported medication and lifestyle adherence in Hungarian Patients with Typ 2 diabetes". Vol. 29 (2), pg. 58 -66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Self-reported medication and lifestyle adherence in Hungarian Patients with Typ 2 diabetes
Tác giả: Hanko B, et al
Năm: 2007
23. Juma Al-Kaabi &amp; et al. (2009), "Physical Activity and Reported Barriers to Activity Among Typ 2 Diabetic Patients in the United Arab Emirates", The Review of Diabetes Studies. 6 (4), pg. 271 - 278 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Physical Activity and Reported Barriers to Activity Among Typ 2 Diabetic Patients in the United Arab Emirates
Tác giả: Juma Al-Kaabi, et al
Nhà XB: The Review of Diabetes Studies
Năm: 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w