Dù nhiều người ý thức được tầm quan trọng của sữa mẹ nhưng tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng đầu hiện nay khá thấp ở nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam.. Các chín
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: PGS.TS LÊ THANH TÙNG
NAM ĐỊNH – 2021
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành chuyên đề này, ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi còn được sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của các thầy cô, các anh chị, các bạn đồng nghiệp, Nhà trường, bệnh viện, đơn vị công tác và những người thân trong gia đình
Tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu, Phòng đào tạo Sau đại học,
bộ môn Điều dưỡng Sản phu khoa, các thầy cô giảng dạy của Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã tận tình hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình học tập
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và sự biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn: PGS.TS Lê Thanh Tùng, đã tận tình hướng dẫn, động viên, quan tâm và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học, thực hiện và hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này
Tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới Ban giám đốc Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương, Tập thể y bác sỹ, điều dưỡng cán bộ khoa Hồi sức cấp cứu đã cho tôi cơ hội được đi học chuyên sâu về lĩnh vực điều dưỡng, tạo mọi điều kiện, giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình học tập, công tác và nghiên cứu
Tôi xin bày tỏ sự biết ơn đến những người thân yêu trong gia đình, các đồng nghiệp, bạn bè gần xa, đặc biệt là các anh chị em cùng khóa đã động viên, giúp đỡ tôi
về tinh thần và vật chất để tôi hoàn thành chuyên đề này
Cuối cùng tôi cũng xin kính chúc chủ tịch hội đồng cùng các thầy, cô trong hội đồng thật nhiều sức khỏe, hạnh phúc, thành công trong sự nghiệp trồng người
Nam Định, ngày tháng năm 2021
Học viên
Nguyễn Thị Trang
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi là Nguyễn Thị Trang, học viên chuyên khoa I khóa 8, chuyên ngành Sản Phụ Khoa, Trường Đại học Điều Dưỡng Nam Định xin cam đoan:
1 Đây là báo cáo chuyên đề do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Lê Thanh Tùng
2 Nội dung trong bài báo cáo này hoàn toàn trung thực, khách quan
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về những cam kết này
Nam Định, ngày tháng năm 2021
Học viên
Nguyễn Thị Trang
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3
1.1 Đại cương về sữa mẹ 3
1.1.1 Một số khái niệm về nuôi con bằng sữa mẹ 3
1.1.2 Thành phần cơ bản của sữa mẹ 3
1.2 Tầm quan trọng của sữa mẹ 4
1.2.1 Sữa mẹ giúp trẻ phát triển trí não hoàn hảo 4
1.2.2 Sữa mẹ có tác dụng chống dị ứng 4
1.2.3 NCBSM là điều kiện để gắn bó tình cảm mẹ con 5
1.2.4 Bảo vệ sức khỏe bà mẹ 5
1.2.5 Cho bú sữa mẹ thuận lợi và kinh tế 5
1.3 Lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu 5
1.3.1 Nhu cầu dinh dưỡng của trẻ dưới 6 tháng tuổi 5
1.3.2 Tầm quan trọng của nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu 6
1.3.3 Lợi ích của bú sớm sau sinh 6
1.4 Một số nghiên cứu trong và ngoài nước về thực trang nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu 7
1.5 Những yếu tố liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ sau sinh 9
1.5.1 Yếu tố về dân tộc, nghề nghiệp, trình độ học vấn của bà mẹ 9
1.5.2 Tình trạng kinh tế, văn hóa, xã hội 11
1.5.3 Độ tuổi của bà mẹ 11
1.5.4 Phương pháp đẻ và các chính sách về thai sản 11
1.6 Tình hình ăn bổ sung trên thế giới và ở Việt Nam 13
1.7 Những hoạt động thúc đẩy nuôi con bằng sữa mẹ 14 1.8 Hoạt động tư vấn nuôi con bằng sữa mẹ tại bệnh viện Phụ sản Trung ương 14
Trang 6CHƯƠNG 2ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.1 Đối tượng nghiên cứu 16
2.2.Thời gian nghiên cứu: 16
2.3 Phương pháp nghiên cứu 16
2.3.3 Biến số và chỉ số nghiên cứu 17
2.3.4 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu 17
2.4 Xử lý và phân tích số liệu 18
2.5 Sai số và cách khắc phục 188
CHƯƠNG 3KẾT QUẢ 1919
3.1 Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ của sản phụ đẻ thường tại khoa Hồi sức cấp cứu, Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2021 19
3.1.1 Đặc điểm của bà mẹ 19
3.2 Kết quả quan sát thực hành nuôi con bằng sữa mẹ 22
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 255
4.1 Bàn luận Error! Bookmark not defined 4.3 Khuyến nghị 29
TÀI LIỆU THAM KHẢO 32
PHỤ LỤC 34
Trang 7NCBSM Nuôi con bằng sữa mẹ
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Bảng đánh giá kiến thức bà mẹ cho con bú 18
Bảng 2.2 Bảng đánh giá thực hành 18
Bảng 3.1 Đặc điểm chung của bà mẹ 19
Bảng 3.2 Địa điểm sản phụ tham gia tư vấn 20
Bảng 3.3 Thời điểm sản phụ tham gia tư vấn 200
Bảng 3.4 Thời điểm phỏng vấn sản phụ sau sinh 200
Bảng 3.5: Kiến thức của bà mẹ về nuôi con bằng sữa mẹ 201
Bảng 3.6 Kiến thức về thời gian nên cho trẻ bú 211
Bảng 3.7: Bảng tổng hợp kiến thức của bà mẹ sau đẻ 211
Bảng 3.8: Kết quả thực hành trong thời gian cho trẻ bú 222
Bảng 3.9: Thực hành cho trẻ bú của bà mẹ 233
Bảng 3.10: Bảng tổng hợp kết quả thực hành cho bú của bà mẹ 244
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ sơ sinh đang là một vấn đề đang nhận được quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước nghèo, đang phát triển Trong những năm qua, tỉ lệ tử vong trẻ em nói chung đã giảm mạnh nhưng tỉ lệ tử vong sơ sinh vẫn không giảm đáng kể Ước tính hàng năm trên thế giới có khoảng
4 triệu trẻ sơ sinh tử vong [1]
Bú mẹ là cách tốt nhất và an toàn nhất để nuôi dưỡng trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ Sữa mẹ là thực phẩm tốt nhất cho trẻ nhỏ đặc biệt trong 6 tháng đầu, bảo vệ hệ miễn dịch cho trẻ, cung cấp cho trẻ nhỏ một sự khởi đầu tốt nhất trong cuộc sống [1], [2]
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) đã khuyến cáo nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ ít nhất trong 6 tháng đầu Dù nhiều người ý thức được tầm quan trọng của sữa mẹ nhưng tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) hoàn toàn trong 6 tháng đầu hiện nay khá thấp ở nhiều quốc gia trong đó
có Việt Nam Một số kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ nuôi con bằng sữa mẹ trên toàn thế giới không quá 35% [1] Tại Việt Nam, tỷ lệ này được ước tính là 19.6% theo báo cáo năm 2011 của Viện Dinh dưỡng Một trong những rào cản quan trọng chính là ảnh hưởng của những chuẩn mực xã hội như: cho trẻ ăn dặm sớm, uống thêm các loại dung dịch khác ngoài sữa mẹ như sữa bột, nước, nước trái cây [1] NCBSM hoàn toàn không đơn giản là hành vi sức khỏe mà còn chịu nhiều tác động của văn hóa, xã hội
UNICEF ước tính hàng năm cho trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu sau sinh có thể phòng tránh được tử vong cho 1,3 triệu trẻ em dưới năm tuổi Các hoạt động thúc đẩy nuôi con bằng sữa mẹ đã được bắt đầu ở Việt Nam từ đầu những năm 80 của thế kỷ trước và đã đạt được một số kết quả tích cực, cho đến nay vẫn còn nhiều thách thức cần vượt qua để việc nuôi con bằng sữa mẹ trở thành một thực hành như mong muốn ở Việt Nam [2] Các chính sách về nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu và việc cho con bú ngay trong giờ đầu tiên sau sinh cũng
đã được thông qua và tuyên truyền vận động, tuy nhiên những nghiên cứu gần đây cho thấy chỉ có 19,6% trẻ sơ sinh được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu và chỉ có một phần tư các em được bú mẹ ngay trong giờ đầu sau sinh [3] Nuôi con bằng bình (bằng các sản phẩm thay thế sữa mẹ) vẫn là một thực hành rất phổ
Trang 10biến và có xu hướng ngày càng tăng Cho trẻ ăn, uống quá sớm ngay trong 6 tháng đầu vẫn là một thách thức lớn đối với công tác chăm sóc sức khỏe cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ [4]
Bệnh viện Phụ sản Trung ương là bệnh viện đầu ngành về Sản Phụ khoa ở khu vực miền Bắc cũng như trong cả nước Số lượng sản phụ đẻ tại bệnh viện ngày càng tang và công tác tư vấn nuôi con bằng sữa mẹ càng phải được quan tâm Để có câu trả lời và cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề trên, là cơ sở cho xây dựng kế hoạch
và xây dựng các giải pháp tăng cường công tác nuôi con bằng sữa mẹ tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương, chúng tôi quyết định tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng công tác nuôi con bằng sữa mẹ của sản phụ sau đẻ thường tại khoa Hồi sức cấp cứu, Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2021”
Với 2 mục tiêu sau:
1 Mô tả thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ cho của các sản phụ đẻ thường tại khoa Hồi sức cấp cứu, bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2021
2 Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng nuôi con bằng sữa mẹ cho các sản phụ
Trang 11CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Đại cương về sữa mẹ
1.1.1 Một số khái niệm về nuôi con bằng sữa mẹ
- NCBSM: là đứa trẻ được nuôi dưỡng trực tiếp bằng bú mẹ hoặc gián tiếp do sữa mẹ vắt ra
- Sữa non: Vài ngày đầu tiên sau đẻ, vú mẹ tiết ra sữa non Sữa non có màu vàng và sánh hơn sữa về sau Trong sữa non có rất nhiều chất đạm, Vitamin A và nhiều kháng thể hơn giúp cho trẻ chống lại hầu hết các vi khuẩn và siêu vi khuẩn Sữa non chỉ tiết ra một lượng nhỏ [5]
- Bú sớm: là trẻ được bú mẹ trong vòng 1 giờ đầu sau khi sinh
- Bú mẹ hoàn toàn (BMHT): là trẻ chỉ bú sữa từ vú mẹ hoặc vú nuôi hoặc từ
vú mẹ vắt ra Ngoài ra không ăn bất kỳ một loại thức ăn dạng lỏng hay rắn khác trừ các dạng giọt, siro có chứa các vitamin, chất khoáng bổ sung, hoặc thuốc [5]
- Bú mẹ là chủ yếu: là cách nuôi dưỡng trong đó nguồn dinh dưỡng chính là sữa mẹ Tuy nhiên, trẻ có thể nhận được thêm nước uống đơn thuần hoặc một số thức ăn, đồ uống dạng lỏng như nước hoa quả, ORS, nước đường hoặc các loại thức
ăn lỏng cổ truyền với số lượng ít
- Ăn bổ sung: đứa trẻ vừa được bú sữa mẹ vừa được ăn thức ăn ở dạng đặc hoặc nửa đặc [5]
- Cai sữa: là ngừng không cho trẻ bú sữa mẹ, đây chính là sự chuyển giao vai trò cung cấp năng lượng và chất dinh dưỡng từ sữa mẹ (ở giai đoạn đầu) tới vai trò của các thực phẩm trong bữa ăn gia đình để kết thúc thời kỳ bú mẹ
- Cân nặng sơ sinh thấp: Trẻ sơ sinh nhẹ cân khi có cân nặng tại lúc sinh dưới 2500 gram [6]
1.1.2 Thành phần cơ bản của sữa mẹ
Sữa mẹ là thức ăn hoàn chỉnh nhất thích hợp nhất với trẻ vì có đủ năng lượng,
đủ chất dinh dưỡng cần thiết (đạm, đường, mỡ, Vitamin, muối khoáng) với tỷ lệ thích hợp cho sự hấp thu và phát triển của trẻ, tránh suy dinh dưỡng hoặc tăng cân quá mức [7]
- Protein: hàm lượng protein trong sữa mẹ tuy ít hơn sữa công thức nhưng có
đủ các acid amin cần thiết và dễ tiêu hóa đối với trẻ nhỏ Protein của sữa mẹ gồm
Trang 12casein, albumin, lactabumin, β-Lactoglobulin, globulin miễn dịch (kháng thể) và các glycoprotein khác Đặc biệt, casein là một chất đạm quan trọng có tác dụng ngăn chặn bệnh tiêu chảy, nhiễm trùng hô hấp, viêm tai và dị ứng.[2], [5]
- Lipid: sữa mẹ có các acid béo cần thiết như acid linoleic, là một acid cần thiết cho sự phát triển hệ thần kinh của trẻ nhỏ, mắt và sự bền vững của mạch máu của trẻ Lipid của sữa mẹ dễ tiêu hóa hơn vì có men lipase [2]
- Lactose: trong sữa mẹ có nhiều hơn trong sữa công thức, cung cấp thêm nguồn năng lượng Một số lactose trong sữa mẹ vào ruột chuyển thành acid lactic giúp cho sự hấp thu calci và muối khoáng
- Vitamin: sữa mẹ có nhiều Vitamin A hơn sữa công thức, vì vậy trẻ bú sữa
mẹ sẽ đề phòng được bệnh khô mắt do thiếu Vitamin A Các Vitamin khác trong sữa mẹ cũng đủ cung cấp cho trẻ trong 6 tháng đầu nếu bà mẹ được ăn uống và nghỉ ngơi đầy đủ [2]
- Muối khoáng: nguồn calci và sắt trong sữa mẹ tuy ít hơn sữa công thức nhưng tỷ lệ hấp thu cao, do đó thỏa mãn nhu cầu hấp thu của trẻ nên trẻ được bú mẹ
ít bị còi xương và thiếu máu do thiếu sắt [5]
Bú sữa mẹ, trẻ sẽ lớn nhanh, phòng được suy dinh dưỡng, giúp trẻ thông minh, không bị thiếu Vitamin, thiếu máu do thiếu sắt, không bị thiếu calci, phosphor [2]
1.2 Tầm quan trọng của sữa mẹ
1.2.1 Sữa mẹ giúp trẻ phát triển trí não hoàn hảo
Sữa mẹ không chỉ giúp trẻ phát triển tốt về thể chất (chiều cao, cân nặng…)
mà cả về trí não Trẻ bú mẹ sẽ được cung cấp Taurine là thành phần quan trọng trong các mô tế bào nói chung và tế bào não nói riêng Đồng thời, các acid béo thiết yếu như omega 3 và omega 6 là tiền tố DHA và AA sẽ tham gia vào quá trình hình thành màng tế bào não và võng mạc giúp trẻ thông minh và có thị lực tốt Ngoài
ra, trẻ còn có thể hấp thu tốt sắt và vitamin C [2,7] Sữa mẹ rất có ích với trẻ nhẹ cân, thiếu tháng và có thể làm giảm nguy cơ nhiễm trùng khởi phát muộn [6] 1.2.2 Sữa mẹ có tác dụng chống dị ứng
Trẻ bú sữa mẹ ít bị dị ứng eczema hơn một số trẻ ăn sữa công thức vì IgA tiết cùng với các đại thực bào có tác dụng chống dị ứng Ở nhiều nước Châu Âu người
ta phát hiện một số trường hợp trẻ em bị dị ứng sữa công thức có thể đe dọa đến tính
Trang 13mạng trẻ nhưng chưa hề gặp ở trẻ bú sữa mẹ vì sữa mẹ có một số chất chống dị ứng [2]
1.2.3 NCBSM là điều kiện để gắn bó tình cảm mẹ con
Sữa mẹ giúp mẹ con gần gũi nhau hơn, là yếu tố tâm lý quan trọng cho sự phát triển hài hòa của trẻ Mặt khác, chỉ có người mẹ, qua sự quan sát tinh tế của mình sẽ phát hiện sớm nhất, đúng nhất những thay đổi bình thường hoặc bệnh lý của con [8]
1.2.4 Bảo vệ sức khỏe bà mẹ
Cho con bú sớm sau đẻ sẽ giúp tử cung mẹ co hồi sớm, cầm máu cho bà mẹ
đề phòng thiếu máu sau đẻ và nhanh hết sản dịch Cho con bú đúng, bú đủ làm kinh nguyệt chậm trở lại và vì thế giảm bớt khả năng thụ thai
Cho con bú mẹ sẽ giảm được nguy cơ bị ung thư vú, ung thư tử cung [2], [8] Nhờ cho con bú vóc dáng người mẹ sẽ nhanh hồi phục
1.2.5 Cho bú sữa mẹ thuận lợi và kinh tế
- Thuận lợi vì không cần dụng cụ, không cần đun nấu, pha chế, không mất thời gian chuẩn bị, không phụ thuộc giờ giấc, bất kỳ lúc nào cũng có thể cho trẻ ăn ngay
- Kinh tế vì không phải mua
- Khi người mẹ ăn uống đầy đủ, tinh thần thoải mái sẽ đủ sữa cho con
bú [2], [5]
1.3 Lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu
1.3.1 Nhu cầu dinh dưỡng của trẻ dưới 6 tháng tuổi
Nhu cầu năng l ư ợ ng của trẻ đủ tháng, cân nặng lúc sinh bình thường nhìn chung được đáp ứng hoàn toàn bởi sữa mẹ trong 6 tháng đầu nếu bà mẹ có được tình trạng dinh dưỡng tốt
Việc sản xuất sữa của người mẹ được điều chỉnh phù hợp theo nhu cầu của trẻ, bà mẹ sinh đôi sinh ba vẫn đủ sữa, khi nhu cầu của trẻ tăng thì viêc sản xuất sữa cũng tăng theo trong vòng vài ngày, thâm chí trong vòng vài giờ Mức tiêu thụ sữa mẹ của trẻ bú mẹ hoàn toàn tăng vào khoảng giữa tháng 3 đến tháng thứ 6, nếu trẻ ăn bổ sung sớm thì lượng này lại giam đi Việc tiết sữa là linh hoạt
vì vây bà mẹ tăng sản xuất sữa thông qua việc vắt sữa thường xuyên, và có khả năng cho bú lại sau khi đã dừng [9]
Trang 141.3.2 Tầm quan trọng của nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu
Những năm gần đây, tình trạng sức khỏe và dinh dưỡng của trẻ em trên toàn thế giới đã được quan tâm và cải thiện đáng kể Vấn đề dinh dưỡng được quan tâm hàng đầu đó chính là chương trình nuôi con bằng sữa mẹ Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc đã coi việc NCBSM là một trong bốn biện pháp quan trọng nhất để bảo vệ sức khỏe trẻ em, nó đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng của trẻ trong 6 tháng đầu đời [2], [4] Tổ chức Y tế Thế giới cũng khẳng định: Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu có thể cải thiện sự tang trưởng và phát triển, kết quả học tâp và thâm chí cả khả năng thu nhập của trẻ trong tương lai Đồng thời WHO cũng chỉ ra rằng việc NCBSMHT trong 6 tháng đâu đời là cách tôt nhất phòng tránh tử vong cho trẻ em, ước tính có thể giam hơn một triệu ca tử vong ở trẻ trên toàn thế giới mỗi năm [9] Vì vây, WHO khuyến cáo rằng các bà mẹ hãy cho con bú nhiều lần, bất kể khi nào trẻ đói, kể cả ban đêm, trẻ càng bú nhiều mẹ càng tiết nhiều sữa Đặc biệt trong 6 tháng đầu trẻ chỉ cần bú sữa mẹ hoàn toàn mà không cần ăn thêm bất cứ loại thức ăn nào khác kể cả nước [2], [7]
1.3.3 Lợi ích của bú sớm sau sinh
Khuyến nghị của TCYTTG về nuôi dưỡng trẻ nhỏ:
- Bắt đầu cho trẻ bú trong vòng 1 giờ đầu sau đẻ
+ Thời gian bắt đầu cho trẻ bú
Mẹ nên bắt đầu cho con bú trong vòng một giờ đầu sau đẻ, bú càng sớm càng tốt và không cần cho trẻ mới đẻ ăn bất kỳ thức ăn gì trước khi bú mẹ lần đầu Một đứa trẻ đói thường bú nhiều hơn là những đữa trẻ đã no, nếu cho trẻ ăn những thức ăn khác trước khi bú, nó có thể làm cản trở sự tiết sữa và không đủ sữa nuôi con Bú sớm giúp trẻ tận dụng được sữa non, là loại sữa tốt, hoàn hảo về dinh dưỡng và các chất sinh học thích ứng với cơ thể non nớt vừa ra đời của trẻ Đồng thời, qua động tác bú của trẻ sẽ kích thích sữa mẹ tiết sớm hơn và nhiều hơn qua cung phản xạ Prolactin, giúp co hồi tử cung tốt ngay sau đẻ, hạn chế mất máu [5] + Số lần cho bú
Trẻ càng bú nhiều thì sữa mẹ càng được bài tiết nhiều, số lần cho bú tùy theo nhu cầu của trẻ, hãy cho trẻ bú bất kỳ lúc nào trẻ muốn, ban đêm vẫn có thể cho trẻ bú nếu trẻ khóc đòi ăn [10]
+ Thời gian cai sữa
Trang 15Trẻ được bú mẹ càng lâu càng tốt Cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu Không nên cai sữa trước 12 tháng, mà nên cho trẻ bú kéo dài từ 18 đến 23 tháng Khi trẻ bị bệnh, nhất là khi trẻ bị tiêu chảy cần cho trẻ bú nhiều hơn bình thường, không nên cai sữa vì trẻ dễ bị SDD [10]
1.4 Một số nghiên cứu trong và ngoài nước về thực trang nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu
Từ lâu NCBSM đã được sự quan tâm ở nhiều nước trên thế giới Năm 1979 trong một nghiên cứu của Annie Cherian về thái độ thực hành cho trẻ ăn ở Zaria, Nigeria cho thấy hầu như tất cả các đứa trẻ đều được bú ngay sau sinh, 31% các bà mẹ tin tưởng vào sữa của mình, tuy nhiên có một tỷ lệ nhỏ các bà mẹ cho con bú muộn hơn
vì họ cho rằng sữa non là không tốt cho sức khỏe sơ sinh [2]
Theo báo cáo của WHO (1993): tỷ lệ trẻ được bú mẹ hoàn toàn trong 4 tháng đầu là 13% ở Srilanca, bú mẹ hoàn toàn ở thành thị thấp hơn ở nông thôn (7%
và 14%) Ở Châu Âu đã có xu hướng tăng cường NCBSM Tỷ lệ các bà mẹ NCBSM ở các nước Bungari, Đức, Hungari và Thụy Sỹ dao động quanh 90% NCBSM ở các nước Tây Âu thấp hơn, ví dụ: 67% ở Anh, 50% ở Pháp, 35% ở Ireland [7]
Gần đây vấn đề NCBSM vẫn được nhiều nước quan tâm nghiên cứu Kết quả nghiên cứu năm 2006 ở Australia cho thấy tỉ lệ bắt đầu NCBSM là
93%, nhưng khi được 6 tháng tuổi thì chưa được một nửa số trẻ được nuôi bằng sữa mẹ (45,9%) và chỉ có 12% được bú mẹ là chủ yếu [8] Ở một bệnh viện của Mỹ, các nghiên cứu được tiến hành trong ba năm liên tiếp từ1999 đến 2001 cho thấy tỷ lệ cho con bú sữa mẹ sớm vẫn duy trì được ở mức cao: 87% (1999), 82% (2000), 87% (2001) Tỷ lệ bú mẹ hoàn toàn có sự khác nhau: 34% (1999), 26% (2000), 25% (2001) [1]
Trong một nghiên cứu dọc tại Anh cũng chỉ rõ NCBSM giảm dần trong 3 tháng đầu, sang tháng thứ 4 và 5 thì giảm đột ngột: 1 tháng (54,8%), 2 tháng (43,7%), 3 tháng (31%), 4 tháng (9,6%), 5 tháng (1,6%) [6]
Ở Trung Quốc, tỷ lệ NCBSM giảm xuống trong những năm 70, xuống đến mức thấp nhất trong những năm 80 và sau đó bắt đầu tăng trở lại trong những năm
90 Các chỉ số về NCBSM ở khu vực thành thị luôn thấp hơn so với khu vực nông thôn [53] Một nghiên cứu gần đây tại tỉnh Thượng Hải – Trung Quốc cũng cho thấy
Trang 16tỷ lệ bú mẹ hoàn toàn có sự khác nhau giữa các vùng thành phố, ngoại ô và nông thôn Đặc biệt tỷ lệ trẻ được bú mẹ hoàn toàn ở vùng ngoại ô và nông thôn cao gần gấp 2 lần so với ở thành phố (63,4% và 61% so với 38%) Tỷ lệ NCBSM
ở cả 3 vùng trên tương ứng là 96,5%, 96,8% và 97,4% [2] Một nghiên cứu khác
đã so sánh NCBSM giữa những năm 1994-1996 và 2003-2004 ở một vùng thuộc Tây Bắc của Trung Quốc cho thấy trong tháng đầu tỷlệNCBSM năm 2003-2004 giảm hơn so với năm 1994-1995 Tỷ lệ NCBSM hoàn toàn ban đầu cao, nhưng sau
3 tháng thì tỉ lệ này giảm hơn rõ rệt Mục tiêu quốc gia của Trung Quốc về NCBSM đều không đạt được trong cả hai giai đoạn nghiên cứu [2]
Một trong những chỉ số đánh giá chất lượng nuôi dưỡng trẻ nhỏ bằng sữa mẹ
là thực hành cho trẻ bú sữa mẹ sớm ngay trong vòng 1 giờ đầu sau khi sinh Theo báo cáo của WHO (2016): tỷ lệ trẻ được bú mẹ ngay trong 1 giờ đầu là 17,7% ở Peru, 60,9 % ở Nhật Tỷ lệ các bà mẹ cho trẻ bú mẹ sớm trong 1 giờ đầu ở các nước Nepal, SriLanka và Cuba dao động quanh 90% [81] Kết quả nghiên cứu năm
2006 ở Australia cho thấy tỉ lệ bắt đầu NCBSM là 97,7%, nhưng khi được 6 tháng tuổi thì chưa được một nửa số trẻ được nuôi bằng sữa mẹ (35,6%) và có 57% được
bú mẹ là chủ yếu [7]
Ở Việt Nam từ đầu năm 1980, nghiên cứu về tập quán và thực hành nuôi con của các bà mẹ đã được triển khai bởi nhiều tác giả và ở nhiều vùng trên cả nước Đào Ngọc Diễn, Nguyễn Trọng An và cộng sự năm 1983 đã nghiên cứu trên 500 trẻ dưới 5 tuổi tại vùng nông thôn và nội thành Hà Nội, kết quả cho thấy hầu hết trẻ được bú mẹsau 2-3 ngày Tỷ lệ trẻ được bú mẹ lần đầu trong vòng 24 giờ chỉ đạt 15,8% ở nội thành và 35,5% ở nông thôn ở cả 2 nhóm đủ sữa và thiếu sữa mẹ
Từ 68 – 97% trẻ được ăn thêm trong vòng 4 tháng đầu Thời gian cai sữa trung bình là 12 tháng, trong đó 13,4% trẻ được cai sữa trước 12 tháng
Cũng theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đình Quang về thực hành nuôi con của bà mẹ nội thành và ngoại thành Hà Nội (1996) cho thấy tỷ lệ trẻ được bú mẹ sớm trong vòng 30 phút đầu sau sinh là 30%, tỷ lệ trẻ bú muộn trong vòng 24 giờlà 20,1% Tỷ lệ trẻ được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu là 20% [28] Thời gian cho con bú trung bình là 14 tháng Tỷ lệ trẻ 12 tháng tiếp tục được bú mẹ là 60% Những nghiên cứu tương tự như trên còn được triển khai ở nhiều vùng sâu, vùng xa và vùng dân tộc thiểu số như: nghiên cứu của Phạm Văn Phú, Nguyễn Xuân Ninh và cộng
Trang 17sự ở 2 huyện Núi Thành và Thăng Bình tỉnh Quảng Nam cho thấy chỉ có 2/816 trẻ được nuôi bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 4-6 tháng đầu Tỷ lệ bà mẹ cho ăn, uống trước khi bú lần đầu cao (42,8%)
Nguyễn Việt Dũng đã nghiên cứu trên 359 trẻ dưới 2 tuổi tại Hà Nội, kết quả cho thấy có 2/3 số bà mẹ cho con bú trong vòng 1 giờ đầu sau khi sinh, từ
1 giờ đến 24 giờ là 28,7%, sau 24 giờ chiếm 4,5%
Cũng theo kết quả nghiên cứu của Mai Thị Tâm về thực hành nuôi con bằng sữa mẹ cho thấy tỷ lệ trẻ được bú mẹ sớm trong vòng 30 phút đầu sau sinh là 87,2,
tỷ lệ trẻ bú trong vòng 6 giờ là 72,6% Tỷ lệ trẻ được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu là 32% Thời gian cho con bú trung bình là 14 tháng Tỷ lệ trẻ 12 tháng tiếp tục được bú mẹ là 60% Nghiên cứu của Nguyễn Lân và Trịnh Bảo Ngọc đánh giá trên 322 trẻ tại huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên lại cho biết chỉ có 44,4% trẻ được bú ngay trong vòng 1 giờ đầu sau sinh, 15,2% bà mẹ cho con bú sau 24 giờ và hơn 50% con trẻ ăn/ uống những thức ăn khác trước khi cho trẻ bú lần đầu
Từ các nghiên cứu trên có thể thấy rằng việc NCBSM đã được quan tâm,
tỷ lệ trẻ được bú sớm, bú mẹ hoàn toàn …có tăng lên dần theo thời gian nhưng vẫn còn thấp so với khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới, đặc biệt là các vùng sâu xa, khó khăn
1.5 Những yếu tố liên quan đến nuôi con bằng sữa mẹ sau sinh
Nhiều nghiên cứu cho thấy việc NCBSM thành công hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố liên quan tới người mẹ, đứa trẻ và môi trường xung quanh có thuận lợi hay không Quá trình NCBSM liên quan chặt chẽ với tuổi của bà mẹ, trình độ học vấn của bà mẹ, sự khác biệt của hệ thống chăm sóc sau đẻ như tăng cường gần gũi trẻ trong 24 giờ và cho trẻ bú sớm Những yếu tố ảnh hưởng tiêu cực đến NCBSM gồm: việc làm quen với các sản phẩm sữa bột, việc người mẹ quay trở lại làm việc sớm
1.5.1 Yếu tố về dân tộc, nghề nghiệp, trình độ học vấn của bà mẹ
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu tìm hiểu các yếu tố liên quan đến thưc NCBSM trong 6 tháng đầu và chủng tộc được cho là có liên quan đến bú sớm sau sinh và NCBSM, nghiên cứu trên những n g ư ờ i phụ nữ di cư ở Tây Ban Nha cho thấy tỷ lệ trẻ bú mẹ trong những giờ đầu tiên là khá cao Những phụ nữ mới nhâp cư thường có xu hướng cho trẻ bú ngay trong những giờ đầu và thời gian cho
Trang 18bú kéo dài hơn những phụ nữ nhập cư đã lâu, một số bằng chứng cho thấy phụ
nữ Mỹ da đen, phụ nữ gốc Tây Ban Nha cho con bú sớm sau sinh cao gấp 3,2 lần so với phụ nữ Mỹ da trắng Nghiên cứu của McLachlan, H L trên 300 bà mẹ đến từ Thổ Nhĩ Kỳ, Úc và Việt Nam sinh con tại Úc cũng chỉ ra rằng có sự khác biệt về thưc hành NCBSM của cac bà mẹ giữa các quốc gia khác nhau, có tới 98%
bà mẹ Thổ Nhĩ Kỳ cho con bú sớm sau sinh, của Úc là 84% và Việt Nam 75%, nghiên cứu cũng cho thấy có đến 40% các bà mẹ Việt Nam cho con sử dụng sữa công thức ở trong bệnh viên sau khi sinh, trong khi tỷ lệ này ở các bà
Ngoài ra, nhiều nghiên cứu cũng đồng quan điểm cho rằng việc cho con
bú sớm phụ thuôc vào tình trạng sức khỏe của mẹ và của trẻ mới sinh, tuổi của
mẹ, thời gian chuyển dạ hay tư vấn của nhân viên y tế Bà mẹ ít tiết sữa hoặc có cam giác đau và khó chịu cũng là nguyên nhân cua việc không cho trẻ bú sớm Các yếu tố về nhân khẩu học, văn hóa cũng được xác định là có liên quan đến thưc hành cho trẻ bú sớm và NCBSMHT trong 6 tháng đầu của các bà mẹ và
đã được chỉ ra trong một số nghiên cứu tại Việt Nam Theo kết quả điều tra của nghiên cứu dọc tại Quảng Xương, Thanh Hóa cho thấy tỷ lệ các bà mẹ cho con bú sớm sau sinh và bú mẹ hoàn toàn trong tuân đầu tiên khá cao với 98,3% và 83,6%,
Trang 19tuy nhiên việc các bà mẹ cho con ăn bổ sung sớm vẫn còn rất phổ biến
1.5.2 Tình trạng kinh tế, văn hóa, xã hội
Một nghiên cứu được tiến hành để xác định yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ NCBSM ở Mỹ cho thấy tỷ lệ NCBSM cao hơn ở các bà mẹ mù chữ và các bà mẹ có mức kinh tế xã hội thấp Trẻ em ở các gia đình nghèo nhất được bắt đầu bú mẹ sau đẻ sớm hơn trẻ em ở các gia đình giàu nhất (89% và 7%), ngoài ra còn cho thấy tỷ lệ NCBSM đến 3 – 6 tháng ở các gia đình nghèo thấp hơn nhưng tỷ lệ trẻ được bú mẹ 12 tháng lại cao nhất ở trẻ em gia đình nghèo Các bà mẹ có địa vị, kinh
tế xã hội cao hơn và với trình độ học vấn tốt hơn cho rằng trẻ cần được ăn sam sớm trước 4 tháng và cảm thấy việc NCBSM là cần thiết cho trẻ dưới 2 tuổi [48] Nhiều nghiên cứu đã thừa nhận tình trạng kinh tế xã hội của gia đình ảnh hưởng đến thời gian NCBSM Các yếu tố liên quan đến việc cho trẻ bú sữa mẹ lại cho thấy những
bà mẹ tiếp tục cho con bú hoàn toàn ngoài 3 tháng tuổi là nhóm có trình độ học vấn cao [6]
1.5.3 Độ tuổi của bà mẹ
Một nghiên cứu ở Australia cho thấy những trẻ sơ sinh có mẹ dưới 30 tuổi ít
có xu hướng được nuôi bằng sữa mẹ ở các mức độ [5], một nghiên cứu khác ở Chile cũng chỉ ra rằng các bà mẹ không cho con bú hoàn toàn chủ yếu là các bà mẹ còn thanh thiếu niên
1.5.4 Phương pháp đẻ và các chính sách về thai sản
Phương phap đẻ (sinh thường, đẻ mổ), nơi đẻ và các yếu tố sức khỏe cũng có ảnh hưởng nhất định đến thưc hành NCBSM của các bà mẹ Nghiên cứu năm 2009 tại Bình Dương cũng cho kết quả rằng phương pháp đẻ, niềm tin có đủ sữa mẹ, quyết định chọn loai sữa nuôi con trước khi sinh, tác động của mẹ chồng, có kiến thức về dinh dưỡng cho trẻ dưới 6 tháng tuổi anh hưởng đến thưc hành cho trẻ bú sớm và NCBSM sau này Số liệu nghiên cứu của A&T cho thấy rằng cắt tầng sinh môn và sinh mổ đều ảnh hưởng tới việc cho trẻ bú sớm sau sinh, có 67,6% sản phụ sinh thường cho trẻ bú sớm trong vòng 1 giờ sau khi sinh,
tỷ lệ này ở sản phụ bị cắt tầng sinh môn và sinh mổ tương ứng là 54% và 11,3% Cac bà mẹ sinh mổ có ít khả năng tránh cho trẻ ăn thức ăn lỏng như sữa hơn và có nhiều khả năng nhất cho trẻ ăn sữa bột cho trẻ sơ sinh trong 3 ngày đầu tiên [1] Cũng theo nghiên cứu của A&T, các bà mẹ sinh con tại bệnh viện ít có khả năng
Trang 20cho con bú mẹ sớm ngay sau khi sinh Chỉ 45,3% những người sinh con ở bệnh viện bắt đầu cho con bú trong 1 giờ đâu tiên, so với tỷ lệ 72% ở các bà mẹ sinh con tại trạm y tế xã và nhà hộ sinh [2] Bên cạnh đó , NCBSM còn bị ảnh hưởng bởi các yêu tố văn hóa xã hội như sự quan tâm, tham gia của người cha, bà nội, bà ngoại của trẻ, thói quen cho trẻ ăn bổ sung sớm ảnh hưởng đên hành vi NCBSMHT trong 6 thang đầu Tổ chức dinh dưỡng Nhi khoa Châu Âu đã khuyến cáo rằng việc đưa các thực phẩm bổ sung cho trẻ không nên trước 17 tuần Trên thực tế việc cho
ăn bổ sung thường được thực hiện sớm hơn khuyến cáo Chính việc tiêu thụ các thực phẩm chuyên biệt có thể dẫn tới sự thay đổi cơ chế tác động chuyển hóa gây nên việc thừa cân, béo phì sau này của trẻ [6], [7]
Sự ảnh hưởng của chính sách thai sản:
Một yêu tố liên quan khác có tác động khá nhiều đến thưc hành NCBSM đó là điều kiện làm viêc cũng như chế độ nghỉ thai sản cua bà mẹ Viêc
bà mẹ phai đi làm sớm được cho là môt rào cản lớn đôi với NCBSMHT, hầu hêt các bà mẹ đều phải tham gia công việc bên ngoài nhà trước tháng thứ 4 Theo kết quả của môt nghiên cứu định tính được tiến hành trên toàn quốc về đánh giá tac động của cac chính sách đên việc nuôi con bằng sữa mẹ, nhiều ý kiến của các nhà lãnh đạo và hoạch định chính sách cho rằng NCBSMHT trong 6 tháng đầu là rất khó
Nghiên cứu của n hành tại Scotland từ năm 2004 - 2005 cho thấy có mối liên quan giữa nghề nghiêp và thời gian nghỉ đẻ của bà mẹ tới viêc NCBSM trong 6 tháng đầu, những bà mẹ làm việc toàn thời gian có nguy cơ cho con dừng bú cao gấp 1,6 lần so với những bà mẹ không phải làm viêc; người mẹ có thời gian nghỉ đẻ dài sẽ NCBSM trong thời gian dài hơn [7]
Một số nghiên cứu cho thấy môi liên quan giữa viêc kéo dài thời gian nghỉ thai sản với sự gia tăng tỷ lệ NCBSM, kết quả nghiên cứu đã phân tích một cách chi tiết anh hưởng cua 3 yêu tô: thời gian nghỉ thai sản, độ dài nghỉ thai sản có lương và thời điểm đi làm trở lại đến việc cho con bú sớm và thời gian cho con bú Các nghiên cứu cũng cho thấy số phụ nữ đi làm lại trong thời gian từ 3 đên
6 tháng sau sinh có khả năng ngừng cho con bú trước khi trẻ được 6 thang cao gấp 3 lần so với những bà mẹ không phải đi làm sớm trở lại Chế độ nghỉ thai sản có tác động rất nhiều đến thưc hành nuôi con bằng sữa mẹ, nhiều bằng chứng
Trang 21từ các quốc gia khác cho thấy chính sách nghỉ thai sản dài, có hưởng lương sẽ thúc đẩy việc nuôi con bằng sữa mẹ Một nghiên cứu gần đây ở Đài Loan cho thấy người mẹ đi làm lai sớm, đặc biệt trước khi trẻ được 6 tháng, là rào cản đối với việc cho con bú sớm và tiêp tục cho bú [3]
1.6 Tình hình ăn bổ sung trên thế giới và ở Việt Nam
Thời gian bắt đầu cho trẻ ăn bổ sung thường rất sớm Trong số 23 nước ở Châu Phi, ăn bổ sung thường bắt đầu trong vòng 2-4 tháng tuổi [1] Ở Lagos (Nigeria) 87% phụ nữ ở thành thị bắt đầu cho con ăn bổ sung vào cuối tháng thứ nhất [8] Ở phần lớn các vùng nông thôn Thái Lan, trẻ thường được ăn bột quấy, cháo hoặc chuối rất sớm, sau khi sinh vài ngày Nhưng các thức ăn giàu chất dinh dưỡng như thịt, cá, dầu, mỡ cần cho sự phát triển của trẻ lại thường cho ăn muộn Khi trẻ bị ốm, chúng
có thể chỉ được ăn cơm với muối bởi vì các bà mẹ đều tin rằng thịt, trứng và các thức ăn khác làm tăng nhiệt độ cơ thể [7]
Tại Việt Nam, khi nghiên cứu về thực hành ăn bổ sung cho trẻ, Nguyễn Lân cho thấy lý do chủ yếu khiến các bà mẹ phải cho con ăn bổ sung thêm
là mẹ bận đi làm xa (54,9%), mẹ không đủ sữa cho con bú (16,9%), còn lại là các
lí do khác (trẻ cứng cáp hơn, sợ không đủ chất cho trẻ Tỷ lệ các bà mẹ cho con
ăn bổ sung sớm rất cao: có tới 4,5% số trẻ ăn bổ sung trong tháng đầu, 13,5% ăn trong thời gian 1-2 tháng tuổi, trong 4 tháng đầu có tới 88,9% số trẻ đã ăn bổ sung Chỉ có 2/322 bà mẹ (0,7%) cho con ăn bổ sung trong thời gian từ 5-6 tháng tuổi Theo nghiên cứu của Từ Ngữ và cộng sự về thực hành cho ăn bổ sung ở trẻ tại Phú Thọ thì đến tháng thứ 4, đã có 73,3% trẻ được cho ăn bổ sung, và đến 6 tháng tuổi thì hầu hết trẻ đã ăn bổ sung (98,7%) Trên thực tế, đa số các bà mẹ đều cho rằng thời điểm cho ăn bổ sung như vậy theo họ là sớm (73,3%), chỉ có 24,3% cho
là đúng thời gian và 2% cho là muộn Phân tích kỹ hơn thì những bà mẹ cho rằng trẻ
đã ăn bổ sung sớm thì thời điểm trung bình là 3,25 tháng; đúng thời gian khi độ tuổi trung bình là 5,05 tháng và muộn là 6 tháng; tính chung thì trung bình, trẻ bắt đầu
ăn bổ sung khi được 3,75 tháng tuổi (±1,4) và các bà mẹ có nhận biết tương đối đúng về thời điểm ăn bổ sung, chỉ là họ không thực hiện được Sở dĩ các bà mẹ quyết định thời điểm cho ăn bổ sung của trẻ như vậy là do một số lý do sau: mẹ phải
đi làm (63,1%), trẻ khóc/đói/mẹ không đủ sữa (63,8%), đúng thời điểm (19,5%)
và một số ít là theo lời khuyên của họ hàng/hàng xóm (2,6%) Trong số 95 bà mẹ
Trang 22phải đi làm sớm nên phải cho trẻ ăn bổ sung sớm thì có 29% phải cho trẻ ăn từ tháng thứ 2 và 78% phải cho trẻ ăn trước 4 tháng Thực tế ở nông thôn bà mẹ phải trở lại công việc đồng áng sớm sau khi sinh là một trở ngại chính khiến trẻ không được bú mẹ hoàn toàn trong 4 (6) tháng đầu Việc cho bú bị gián đoạn do công việc của mẹ làm cho trẻ bị cắt nguồn cung thực phẩm, khiến trẻ đói và khóc, đồng thời việc sản xuất sữa của mẹ theo cơ chế sinh lý cũng bị giảm sút Tất cả những yếu tố đó khiến người mẹ phải quyết định cho trẻ ăn bổ sung dù biết
đó chưa phải thời điểm đúng [5]
1.7 Những hoạt động thúc đẩy nuôi con bằng sữa mẹ
Cộng đồng quốc tế từ lâu đã rất quan tâm đến vấn đề nuôi con bằng sữa mẹ, luật quốc tế về sản xuất và kinh doanh các sản phẩm thay thế sữa mẹ được ban hành vào năm 1991; tuyên bố về bảo vệ, tăng cường và khuyến khích nuôi con bằng sữa
mẹ, sáng kiến bệnh viện thân thiện với trẻ em năm 1991 đến tuyên bố của hội nghị quốc tế về dinh dưỡng năm 1992
Bệnh viện thân thiện với trẻ em được phát động từ năm 1993 với mục tiêu là xây dựng mô hình này trên toàn quốc Bệnh viện muốn đạt được danh hiệu bệnh viện thân thiện với trẻ em thì phải thực hiện được đủ 10 điều kiện theo tiêu chuẩn toàn cầu để nuôi con bằng sữa mẹ thành công Đến nay đã có 53 bệnh viện của tuyến trung ương và bệnh viện tỉnh được công nhận là BV thân thiện với trẻ em Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tổ chức hội nghị hang năm để khuyến cáo về những ý nghĩa quan trọng của việc nuôi con bằng sữa mẹ Hội tổ chức nhiều hoạt động hỗ trợ cho các bà mẹ có điều kiện nuôi con bằng sữa mẹ như:
- Giáo dục cho các bà mẹ về quyền lợi và lợi ích nuôi con bằng sữa mẹ
- Hướng dẫn các kiến thức và thực hành về nuôi con bằng sữa mẹ để bảo vệ nguồn sữa mẹ và thắt chặt tình mẫu tử
- Đào tạo đội ngũ tuyên truyền viên, tư vấn viên về nuôi con bằng sữa mẹ
- Tổ chức các hoạt động thông tin giáo dục truyền thông
- Hỗ trợ các hoạt động về phát triền kinh tế gia đình: vay vốn, tạo việc làm
- Lồng ghép nội dung nuôi con bằng sữa mẹ vào các chương trình truyền thông sức khoẻ tại cộng đồng
1.8 Hoạt động tư vấn nuôi con bằng sữa mẹ tại bệnh viện Phụ sản Trung ương BVPSTW là bệnh viện tuyến cao nhất về chuyên ngành Sản phụ khoa tại Việt
Trang 23Nam Trong những năm qua, tập thế cán bộ của bệnh viện đã nỗ lực phấn đấu, vượt qua rất nhiều khó khan để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, các chỉ tiêu khám chữa bệnh, phẫu thuật đều đạt và vượt mức chỉ tiêu được giao
Năm 2000, BVPSTW đã được công nhận là bệnh viện thân thiện với trẻ em khi đạt đầy đủ 10 điều kiện theo tiêu chuẩn toàn cầu
Hàng tuần, bệnh viện đều tổ chức các lớp Tiền sản để tập huấn về cách chăm sóc thai nghén và chăm sóc trẻ sơ sinh trong đó có nội dung thực hành nuôi con bằng sữa mẹ Các nhóm hỗ trợ nuôi con bằng sữa mẹ được thành lập gồm 5-6 thành viên của bệnh viện đến từng giường bệnh giúp đỡ các sản phụ mới sinh cách cho con bú Thường xuyên đi đầu trong việc áp dụng các phương pháp mới trong chăm sóc là phương pháp da kề da ngay sau đẻ thường để bà mẹ cho trẻ bú sớm nhất có thể
Trang 24CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Bà mẹ sinh thường tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương và nằm theo dõi tại khoa Hồi sức cấp cứu trong tháng 6 năm 2021 có độ tuổi từ 18 tuổi trở lên
Hiện tại, khoa Hồi sức cấp cứu của bệnh viện Phụ sản Trung ương ngoài mục đích điều trị và theo dõi bệnh nhân nặng thì còn chăm sóc, điều trị những sản phụ sản đẻ thường tại bệnh viện
- Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng tham gia nghiên cứu
+ Bà mẹ sinh thường tại bệnh viện Phụ sản trung ương
+ Đồng ý tham gia nghiên cứu
+ Trẻ sơ sinh có cân nặng từ 2500g trở lên
+ Tham gia chính trong việc chăm sóc trẻ
- Tiêu chuẩn loại trừ: Những bà mẹ không có khả năng hoặc hạn chế trong giao tiếp, bà mẹ tự nguyện không tham gia trong quá trình nghiên cứu
2.2 Thời gian nghiên cứu:
Từ ngày 1 tháng 6 năm 2016 đến ngày 30 tháng 6 năm 2021
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu mô tả
2.3.2 Cỡ mẫu, địa điểm nghiên cứu và cách chọn mẫu
Chọn mẫu thuận tiện trong tháng 6 năm 2021 đến khi đủ 100 sản phụ nằm ở khoa nuôi con bằng sữa mẹ
Địa điểm nghiên cứu:
Bệnh viện có quy mô 1000 giường bệnh nội trú; 08 phòng chức năng; 14 khoa lâm sàng; 09 khoa cận lâm sàng; 07 trung tâm Bệnh viện Phụ - Sản Trung ương hiện nay không chỉ là cơ sở đầu ngành của chuyên ngành phụ sản, sinh đẻ kế hoạch
và sơ sinh mà còn là cơ sở đào tạo đại học, sau đại học; nghiên cứu khoa học, chỉ đạo tuyến và chuyển giao công nghệ về chuyên ngành phụ sản, sơ sinh trong phạm vi cả nước Bệnh viện có bề dày truyền thống lịch sử, có đội ngũ giáo sư, bác sĩ được đào tạo cơ bản ở trong nước và được học tập nâng cao tay nghề ở các nước tiên tiến có ngành sản phụ khoa và chăm sóc sức khỏe sinh sản phát triển (Châu Âu, Mỹ, Nhật,
Trang 25Úc ) có tay nghề cao, được rèn luyện trong thực tế, tâm huyết với nghề nghiệp Hệ thống trang thiết bị phục vụ khám bệnh, chữa bệnh của bệnh viện được đầu tư theo hướng hiện đại, chuyên sâu Các khoa, phòng, trung tâm của bệnh viện được trang bị đầy đủ các hệ thống máy xét nghiệm sinh hoá; huyết học; miễn dịch trong đó có nhiều hệ thống xét nghiệm mới được các quốc gia có nền y học tiên tiến trên thế giới đưa vào sử dụng như hệ thống Autodelfia (xét nghiệm sàng lọc trước sinh và sơ sinh);
hệ thống Tendem Mass (sàng lọc các bệnh rối loạn chuyển hoá); hệ thống Sequensing (xét nghiệm QF-PCR) đã giúp thầy thuốc của bệnh viện chẩn đoán, xử trí chính xác các trường hợp bệnh
2.3.3 Biến số và chỉ số nghiên cứu
- Số lần sinh
- Nghề nghiệp
- Địa chỉ
- Địa điểm khám thai
- Tham gia tư vấn nuôi con bằng sữa mẹ
- Có tham khảo tài liệu
- Được tư vấn nuôi con bằng sữa mẹ
- Tư vấn khám thai sau sinh
- Hình thức tư vấn trực tiếp/gián tiếp
- Nhớ các nội dung đã được tư vấn
2.3.4 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu
- Các bước thu thập số liệu
+ Lập danh sách các bà mẹ
+ Sử dụng bộ câu hỏi được thiết kế sẵn phỏng vấn trực tiếp các bà mẹ để thu thập các thông tin về việc cho trẻ bú sữa mẹ
Cách thức thu thập số liệu