TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH PHAN THỊ HẰNG THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾNCÔNG TÁC GIÁO DỤC SỨC KHỎE CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI KHOA NỘI TỔNG HỢP BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN MÊ LI
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
PHAN THỊ HẰNG
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
ĐẾNCÔNG TÁC GIÁO DỤC SỨC KHỎE CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI KHOA NỘI TỔNG HỢP BỆNH VIỆN ĐA KHOA
HUYỆN MÊ LINH NĂM 2021
CHUYÊN ĐỀ BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
NAM ĐỊNH, NĂM 2021
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
PHAN THỊ HẰNG
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
ĐẾNCÔNG TÁC GIÁO DỤC SỨC KHỎE CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI KHOA NỘI TỔNG HỢP BỆNH VIỆN ĐA KHOA
HUYỆN MÊ LINH NĂM 2021
Chuyên ngành: Điều dưỡng Nội người lớn
CHUYÊN ĐỀ BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN Ths VŨ THỊ MINH PHƯỢNG
NAM ĐỊNH, NĂM 2021
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Ban Giám hiệu Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định, các thầy cô giáo trong toàn trường đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập tại trường
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới giảng viên: Ths
Vũ Thị Minh Phượng - Là người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện chuyên đề tốt nghiệp này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, Phòng Điều dưỡng và điều dưỡng Bệnh viện đa khoa Huyện Mê Linh đã quan tâm giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện chuyên đề
Cuối cùng, tôi xin được gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã luôn giúp
đỡ tôi trong quá trình thực hiện chuyên đề
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện chuyên đề một cách hoàn chỉnh nhất Song không thể tránh khỏi những thiếu sót mà bản thân chưa thấy được Tôi rất mong được sự đóng góp của quý thầy cô và các bạn trong lớp, đồng nghiệp để chuyên đề được hoàn chỉnh hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 09 năm 2021
Học viên
Phan Thị Hằng
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là báo cáo chuyên đề của riêng tôi Nội dung trong bài báo cáo này hoàn toàn trung thực, khách quan và chưa được công bố trong bất cứ một công trình nào khác Báo cáo này do bản thân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của giáo viên hướng dẫn Nếu có điều gì sai trái tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Người làm báo cáo
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIÊT TẮT iii
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ v
ĐẶT VẤN ĐỀ 5
MỤC TIÊU 7
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 8
1.1 Cơ sở lý luận 8
1.2 Cơ sở thực tiễn 14
Chương 2: MÔ TẢ THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ Error! Bookmark not defined 2.1 Thông tin chung về Bệnh viện đa khoa huyện Mê Linh 17
2.2 Thực trạng công tác GDSK của Điều dưỡng tại Bệnh viện đa khoa huyện Mê Linh 17
2.3 Thuận lợi, khó khăn tồn tại và nguyên nhân 25
chương 3: BÀN LUẬN ……… 28
3.1.Thực trạng công tác giáo dục sức khỏe người bệnh của điều dưỡng tại khoa Nội tổng hợp ……….……… 28
3.1.Thực trạng công tác GDSK của điều dưỡng tại khoa Nội tổng hợp Bệnh viện 3.đa khoa huyện Mê Linh: Error! Bookmark not defined 2 Một số giải pháp nâng cao công tác GDSK của Điều dưỡng tại Bệnh viện đa khoa huyện Mê Linh: 34
KẾT LUẬN ……… 36
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 377 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phụ lục
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIÊT TẮT
GDSK : Giáo dục sức khỏe
NB : Người bệnh
ĐD : Điều dưỡng
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Thông tin chung về điều dưỡng tham gia khảo sát 18
Bảng 2.2: Kiến thức của Điều dưỡng về các nội dung trong công tác GDSK cho người bệnh 21
Bảng 2.3: Xếp loại chung kiến thức GDSK của điều dưỡng 22
Bảng 2.4: Ý kiến đánh giá của Người bệnh về các nội dung GDSK của Điều dưỡng 28
Bảng 2.5: Phân loại phương tiện GDSK cho Người bệnh của Điều dưỡng 29
Bảng 2.6: Số lượng phương tiện được Điều dưỡng sử dụng khi GDSK cho người bệnh 30
Bảng 2.7: Địa điểm Người bệnh được GDSK 31
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Đặc điểm về tuổi của Điều dưỡng 15
Biểu đồ 2.2: Đặc điểm về giới tính của Điều dưỡng 15
Biểu đồ 2.3: Đặc điểm về thâm niên công tác của Điều dưỡng 16
Biểu đồ 2.4: Đặc điểm về trình độ học vấn của Điều dưỡng 16
Biểu đồ 2.5: Đặc điểm về tuổi của Người bệnh 19
Biểu đồ 2.6: Đặc điểm về giới tính của Người bệnh 19
Biểu đồ 2.7: Đặc điểm về mô hình bệnh tật của Người bệnh 20
Biểu đồ 2.8: Thời điểm Người bệnh được GDSK 23
Biểu đồ 2.9: Phương pháp GDSK cho Người bệnh 25
Biểu đồ 2.10: Thời gian mỗi lần GDSK cho Người bệnh 26
s
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Giáo dục sức khỏe (GDSK) là quá trình tác động nhằm thay đổi kiến thức, thái độ và thực hành của con người nhằm mục đích mang lại tình trạng sức khỏe tốt nhất có thể cho con người GDSK cung cấp các kiến thức mới làm cho đối tượng được giáo dục hiểu biết rõ hơn các vấn đề sức khỏe bệnh tật, từ đó họ có thể nhận ra các vấn đề sức khỏe bệnh tật liên quan đến bản thân dẫn đến thay đối tích cực giải quết các vấn đề bệnh tật sức khỏe [1],[7],[8]
Một trong những chức năng, nhiệm vụ chính của người Điều dưỡng (ĐD) đã được thể hiện rất rõ trong Nghị định số 188/2007/NĐ-CP ngày 27/12/2007 về quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Điều dưỡng là công tác tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khỏe cho người bệnh [9] ĐD là lực lượng đông đảo nhất trong bệnh viện là người đầu tiên và thường xuyên nhất tiếp xúc vứi NB trong quá trình chăm sóc điều trị của NB tại bệnh viện Do vây, công tác GDSK có vai trò to lớn trong việc góp phần bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho con người Nếu giáo dục sức khỏe đạt hiệu quả, nó sẽ giúp làm giảm tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ tàn phế và tỷ lệ tử vong, nhất
là ở các nước đang phát triển
Hiện nay, công tác giáo dục sức khỏe của Điều dưỡng cho NB đang là vấn
đề được quan tâm hơn bao giờ hết Do đó đánh giá thực trạng giáo dục sức khỏe cho người bệnh, đề xuất giải pháp nâng cao công tác giáo dục sức khỏe cho người bệnh
là thực sự cần thiết Công tác giáo dục sức khỏe của điều dưỡng cho người bệnh có vai trò rất quan trọng, để làm tốt rất cần đến kiến thức và kỹ năng giáo dục sức khỏe của điều dưỡng Mặt khác điều dưỡng chiếm số đông trong nhân lực của bệnh viện
và có nhiều thời gian chăm sóc, tiếp xúc người bệnh trong quá trình nằm viện Nếu làm tốt sẽ đạt mục tiêu điều trị: Cải thiện về triệu chứng và giảm các yếu tố nguy cơ nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống người bệnh Số lần nhập viện đợt cấp giảm, tiết kiệm chi phí cho điều trị Thay đổi hành vi từ có hại sang có lợi, có kỹ năng yên tâm sống chung với bệnh Nếu làm không tốt, người bệnh không nhận thức đầy đủ
về bệnh, không tuân thủ điều trị, không thay đổi hành vi, kết quả điều trị không tốt, không cải thiện chất lượng cuộc sống, số lần nhập viện đợt cấp tăng, chi phí điều trị tăng, bệnh sẽ nặng lên suy hô hấp có thể tử vong
Trang 12
Công tác giáo dục sức khỏe của bệnh viện đã được sự quan tâm của Đảng ủy, Ban giám đốc bệnh viện Khoa Nội tổng hợp Bệnh viện đa khoa huyện Mê Linh là một khoa với nhiều đối tượng người bệnh mức các bệnh mạn tính khác nhau vì vậy công tác giáo dục sức khỏe cho người bệnh lại càng quan trọng và cần thiết góp phần cải thiện và nâng cao chất lượng điều trị và chăm sóc cho NB Tuy nhiên qua kết quả đánh giá công tác điều dưỡng năm 2020 của khoa Nội tổng hợp cho thấy công tác giáo dục sức khỏe còn nhiều hạn chế Để biết tại sao công tác giáo dục sức khỏe cho người bệnh của điều dưỡng còn hạn chế và đề xuất giải pháp giúp điều dưỡng thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục sức khỏe cho người bệnh để người bệnh thay đổi hành vi có lợi cho sức khỏe Chính vì thế tôi thực hiện chuyên đề “Thực trạng công tác giáo dục sức khỏe của Điều dưỡng tại khoa Nội tổng hợp, bệnh viện
đa khoa huyện Mê Linh năm 2021”
Trang 14vi sức khỏe (từ có hại thành có lợi) cho cá nhân và cộng đồng[2],[8],[12]
Mục đích chủ yếu của GDSK là giúp cho đối tượng tự nguyện tự giác thay đổi hành vi sức khỏe của chính mình
Hành vi sức khỏe là hành vi con người có liên quan tới việc tạo ra sức khỏe tốt, bảo
vệ và phục hồi sức khỏe
1.1.1.2 Tầm quan trọng của giáo dục sức khỏe:
GDSK là một bộ phận công tác y tế quan trọng nhằm làm thay đổi hành vi sức khỏe Nó có vai trò to lớn trong việc góp phần bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho con người Nếu GDSK đạt hiệu quả, nó sẽ giúp làm giảm tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ tàn phế và tỷ lệ tử vong, nhất là ở các nước đang phát triển
GDSK không thay thế được các công tác chăm sóc sức khỏe khác, nhưng GDSK rất cần thiết để thúc đẩy những người sử dụng các dịch vụ y tế, cũng như thúc đẩy phát triển các dịch vụ này
Trong thực tế đã thấy rõ, nếu không làm tốt GDSK thì nhiều chương trình y
tế sẽ đạt kết quả thấp và không bền vững, thậm chí có nguy cơ thất bại
So với các giải pháp dịch vụ y tế khác, GDSK là một công tác khó làm và khó đánh giá kết quả, nhưng nếu làm tốt sẽ mang lại hiệu quả cao nhất với chi phí ít nhất, nhất là ở tuyến y tế cơ sở
Vì thế GDSK là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời của hệ thống y tế, là một chức năng nghề nghiệp bắt buộc của mọi cán bộ y tế và của mọi
cơ quan y tế từ trung ương đến cơ sở Nó là một chỉ tiêu hoạt động quan trọng của một cơ sở y tế
Trang 151.1.1.3 Các phương pháp giáo dục sức khỏe:
1.1.1.3.1 Phương pháp giáo dục sức khỏe trực tiếp
Phương pháp GDSK trực tiếp là phương pháp người GDSK trực tiếp tiếp xúc với đối tượng GDSK Đây là phương pháp tốt nhất, tiết kiệm nhất nhưng đạt hiệu quả cao nhất đối với cá nhân, tập thể, cộng đồng Người GDSK có thể nhanh chóng nhận được các thông tin phản hồi từ đối tượng giáo dục nên tính điều chỉnh cao và có hiệu quả tốt trong việc giúp đỡ đối tượng thay đổi hành vi
Phương pháp này đòi hỏi nhân viên GDSK phải được huấn luyện tốt về các kỹ năng GDSK nhất là kỹ năng giao tiếp, tư vấn
Cách thức:
+) Tư vấn trong GDSK:
Là một hình thức thường được sử dụng trong GDSK, đặc biệt đối với cá nhân và gia đình Trong tư vấn, người tư vấn cung cấp thông tin cho đối tượng, động viên đối tượng suy nghĩ về vấn đề và chọn các hành động riêng để giải quyết vấn đề Tư vấn còn hỗ trợ tâm lý cho đối tượng khi họ hoang mang, lo sợ
về vấn đề sức khỏe nghiêm trọng khi họ chưa hiểu rõ chúng
+) Nói chuyện phổ biến kiến thức y học thường thức:
Tổ chức các cuộc nói chuyện sức khỏe giúp mọi người trực tiếp được nghe những thông tin mới nhất về các vấn đề sức khỏe liên quan tới cá nhân, gia đình
và cộng đồng nhằm giúp các đối tượng suy nghĩ và hướng tới việc thay đổi hành
vi Tuy nhiên phương pháp này cần kết hợp các phương pháp và sự hỗ trợ khác
Khi tổ chức một buổi nói chuyện cần làm các việc sau:
-Xác định đối tượng tham dự, ngày giờ, địa điểm và thông báo trước để họchuẩn bị tới dự (chọn thời gian và địa điểm thích hợp)
-Xác định nội dung cốt lõi cần trình bày
-Xác định thứ tự trình bày
- Chuẩn bị các phương tiện hỗ trợ thích hợp với chủ đề và thực tế tại địa phương
-Phải tôn trọng đối tượng
-Xây dựng mối quan hệ với đối tượng trước khi nói chuyện
-Nên sử dụng ngôn ngữ địa phương rõ ràng, mạch lạc
Trang 16-Cần kết hợp với tranh ảnh, mô hình và ví dụ minh họa
-Cần bao quát, quan sát đối tượng để điều chỉnh, giải đáp thắc mắc đầy đủ khi đối tượng yêu cầu
-Kết thúc buổi nói chuyện cần tóm tắt những vấn đề mấu chốt nhất cho đối tượng dễ nhớ
+) Tổ chức thảo luận nhóm:
Rất có hiệu quả trong chăm sóc sức khỏe ban đầu cũng như trong GDSK Thảo luận nhóm trong GDSK là ứng dụng nguyên lý "sự tham gia của cộng đồng" trong chăm sóc sức khỏe ban đầu Một nhóm thảo luận tốt nhất là từ 6 - 10 người để tạo cơ hội cho tất cả các thành viên có thể trình bày và thảo luận làm sáng tỏ những vấn đề chưa hiểu biết và nêu ra các biện pháp giải quyết các vướng mắc của họ hay của cộng đồng trong đó có họ sinh sống
Các điểm cần thực hiện khi tổ chức thảo luận nhóm:
- Xác định chủ đề, nội dung trọng tâm
- Xác định mục tiêu của thảo luận nhóm
- Xác định đối tượng mời vào thảo luận nhóm
- Cần chuẩn bị trước câu hỏi trọng tâm cho chủ đề thảo luận dựa trên những thông tin phù hợp với tình hình thực tế
- Trong một số trường hợp, tư vấn cần đáp ứng nhu cầu bí mật cho các đối tượng bị các bệnh xã hội có định kiến như bệnh lây qua đường tình dục
+) Đối thoại trực tiếp giữa người làm GDSK với từng cá nhân trong lúc tiến hành các dịch vụ y tế
1.1.1.3.2 Phương pháp giáo dục sức khỏe gián tiếp
GDSK gián tiếp là phương pháp giáo dục mà người giáo dục không trực tiếp tiếp xúc với các đối tượng giáo dục, các nội dung giáo dục cần được chuyển tải qua các phương tiện thông tin đại chúng
Phương pháp này có tác dụng tốt khi chúng ta cung cấp, truyền bá các kiến thức thông thường về bảo vệ và tăng cường sức khỏe cho quảng đại quần chúng nhân dân một cách có hệ thống Đó là phương pháp hiện nay vẫn được sử dụng khá rộng rãi trên thế giới cũng như ở nước ta
Trang 17Phương pháp này kém hiệu quả và tốn kém, đòi hỏi kỹ thuật cao để vận hành sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng
Các phương tiện đại chúng thường được sử dụng trong phương pháp GDSK gián tiếp là:
- Đài phát thanh, vô tuyến truyền hình, video
- Tạp trí, sách báo, tranh ảnh, tranh lật, tờ rơi
- Pano, áp phích
- Sách chuyên đề, sách hỏi đáp về sức khỏe bệnh tật
1.1.1.4 Phương tiện giáo dục sức khỏe
Phương tiện GDSK là công cụ mà người GDSK sử dụng để thực hiện một phương pháp GDSK và qua đó truyền đạt nội dung GDSK cho đối tượng GDSK Phân loại các phương tiện GDSK bao gồm:
- Phương tiện bằng lời nói: Lời nói là công cụ sử dụng rộng rãi và rất hiệu quả trong GDSK nhất là lời nói trực tiếp với đối tượng Sử dụng lời nói có thể truyền tải các nội dung GDSK một cách linh hoạt phù hợp với đối tượng Lời nói rất tiện lợi và mang lại hiệu quả cao, có thể sử dụng ở mọi nơi, mọi chỗ, với mọi người, với 1 gia đình,1 nhóm nhỏ, 1 cộng đồng Lời nói có thể dùng trực tiếp hay gián tiếp, lời nói còn được dùng để hỗ trợ, phối hợp với các phương tiện GDSK khác như tranh ảnh, pano, áp phích, mô hình Người nói nếu không nắm chắc được nội dung truyền đạt có thể dẫn đến việc cung cấp thông tin không chính xác và gây hiểu lầm cho đối tượng
- Phương tiện bằng chữ viết
- Phương tiện tác động qua thị giác (phương tiện GDSK trực quan) tranh, ảnh, pano
- Phương tiện nghe, nhìn: ti vi, loa phát thanh
1.1.1.5 Lựa chọn nội dung giáo dục sức khỏe
Nội dung GDSK là những thông tin chính cần trao đổi với đối tượng GDSK trong một thời gian nhất định
- Ví dụ: Nội dung GDSK về phòng chống một bệnh nào đó thường theo trình tự sau:
+ Ảnh hưởng xấu do bệnh gây ra
Trang 18
+ Tầm quan trọng của việc phòng chống bệnh đó
+ Nguyên nhân của bệnh, đường lây truyền
+ Cách phát hiện và xử trí thông thường tại nhà và các phương pháp phòng bệnh thông thường khác
- Loại hình GDSK: phân phát các tài liệu in ấn, tổ chức các buổi trình bày
có minh họa bằng hình ảnh và tài liệu phát tay, thảo luận trong nhóm nhỏ giúp hiểu rõ nội dung thông tin, trao đổi kinh nghiệm
- Các nội dung GDSK: Sinh bệnh học bệnh, kỹ năng sử dụng thuốc, hướng dẫn về dinh dưỡng, nhận biết và xử trí các dấu hiệu cảnh báo dấu hiệu năng, cách
vệ sinh
- Kỹ thuật sử dụng thuốc:
+ Có vai trò quan trọng trong tuân thủ điều trị
+ Ưu khuyết điểm của từng dạng thuốc
+ Hướng dẫn chi tiết, có hình ảnh minh họa, có thực hành
- Các dấu hiệu cảnh báo tiến triển nặng:
+ Giúp người bệnh nhận biết sớm nhất khi có các triệu chứng khởi đầu + Có thái độ và cách xử trí thích hợp
+ Giảm bớt di chứng, tỷ lệ tử vong
+ Giảm bớt số lần nhập viện, thời gian nằm viện và chi phí y tế
+ Giúp người bệnh lựa chọn môi trường
+ Sống chung với di chứng bệnh với chất lượng cuộc sống tốt
+ Hướng dẫn chi tiết và chu đáo những vấn đề trong đời sống hàng ngày, bao gồm cả đời sống tinh thần
- Biết cách phòng bệnh
+ Thực hiện tiêm phòng
+ Lựa chọn thực phẩm
+ Nguyên nhân của bệnh, đường lây truyền
+ Cách phát hiện và xử trí thông thường tại nhà và các phương pháp phòng bệnh thông thường khác
1.1.2 Vai trò của giáo dục sức khỏe trong công tác điều dưỡng
Chức năng nhiệm vụ chính của công tác điều dưỡng là chăm sóc người bệnh
Để nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh và tăng cường sự hài lòng người bệnh
Trang 19thì điều dưỡng phải thực hiện tốt 12 nhiệm vụ của điều dưỡng trong Thông tư 07/2011 của Bộ Y tế hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện Trong đó nhiệm vụ thứ nhất là tư vấn GDSK, có vai trò to lớn trong việc góp phần bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho con người Nếu GDSK đạt hiệu quả nó
sẽ giúp làm giảm tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ tàn phế và tỷ lệ tử vong
Căn cứ Nghị định số 188/2007/NĐ-CP ngày 27/12/2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Điều dưỡng Bộ Y tế hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện, người điều dưỡng có 12 nhiệm vụ trong công tác chăm sóc người bệnh như sau:
- Tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khỏe
- Chăm sóc tinh thần
- Chăm sóc vệ sinh cá nhân
- Chăm sóc dinh dưỡng
- Chăm sóc phục hồi chức năng
- Chăm sóc người bệnh có chỉ định phẫu thuật, thủ thuật
- Dùng thuốc và theo dõi dùng thuốc cho người bệnh
- Chăm sóc người bệnh giai đoạn hấp hối và người bệnh tử vong - Thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng
- Theo dõi, đánh giá người bệnh
- Bảo đảm an toàn và phòng ngừa sai sót chuyên môn kỹ thuật trong chăm sóc người bệnh
- Ghi chép hồ sơ bệnh án
-Tăng cường hiệu quả các dịch vụ Y tế
Điều dưỡng chiếm số đông trong nhân lực của bệnh viện và có nhiều thời gian tiếp xúc với người bệnh từ khi mới vào viện đến khi ra viện Do đó vai trò của GDSK trong công tác điều dưỡng là rất quan trọng, nếu điều dưỡng làm tốt giúp người bệnh thay đổi hành vi từ có hại sang có lợi, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc, điều trị và tăng cường sự hài lòng người bệnh
GDSK nhằm giúp người bệnh hiểu rõ về bản chất của bệnh, các yếu tố nguy
cơ cho sự tiến triển của căn bệnh, vai trò của người bệnh trong việc đạt đến kết quả điều trị tối ưu GDSK giúp cải thiện tỉ lệ người bệnh tuân thủ điều trị: dùng thuốc đều đặn, luyện tập vận động đều đặn, duy trì tình trạng dinh dưỡng ổn định
Trang 20Ngoài ra GDSK là một bộ phận công tác y tế quan trọng nhằm làm thay đổi hành vi sức khỏe, góp phần tạo ra, bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho con người Nếu giáo dục sức khỏe đạt kết quả tốt nó sẽ giúp làm giảm tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ tàn phế và tỷ
lệ tử vong nhất là ở các nước đang phát triển
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Thực trạng công tác giáo dục sức khỏe của điều dưỡng trên thế giới
Tư vấn giáo dục sức khỏe cho người bệnh là một trong những nội dung quan trọng trong công tác chăm sóc người bệnh của điều dưỡng Theo Aghakhani và cộng sự năm 2012, nghiên cứu về thái độ của các điều dưỡng đối với các rào cản giáo dục sức khỏe cho người bệnh trong các bệnh viện của Đại học y khoa Urmia Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 240 điều dưỡng cho thấy hầu hết các điều dưỡng (73,6%) không ý thức về tầm quan trọng của giáo dục người bệnh và cho rằng giáo dục sức khỏe cho NB không phải là nhiệm vụ của họ, cơ sở vật chất trong bệnh viện không đủ và thiếu thời gian là nguyên nhân quan trọng nhất gây ra sự hạn chế trong công tác GDSK của điều dưỡng [15]
Muntin và cộng sự nghiên cứu năm 2006 về nhận thức về chất lượng chăm sóc tại phòng cấp cứu cho thấy hơn 20% người bệnh cho rằng đã không nhận được các thông tin hữu ích từ điều dưỡng về cách tự chăm sóc bản thân [14]
Các nghiên cứu về hoạt động GDSK cho người bệnh có nhiều thay đổi từ thập niên 60 cho đến nay có nhiều phát triển hơn ở các lĩnh vực chăm sóc sức khỏe Cho đến nay có rất nhiều các nghiên cứu về công tác giáo dục sức khỏe đã cho nhiều kết quả quan trọng và ý nghĩa để phát triển công tác ngày ngày càng chất lượng
Modupe Olusola Oyetunde và cộng sự (2015) tại bệnh viện trường đại học Ibadan ở Nigeria cho thấy kinh nghiệm làm việc của điều dưỡng không quyết định liệu họ có thực hành giáo dục sức khỏe cho bệnh nhân hay không Hầu hết những người trả lời (70% -90%) trong nghiên cứu này đều khẳng định rằng kinh nghiệm của các điều dưỡng, rào cản văn hoá, văn hoá nơi làm việc, thiếu thời gian, công việc quá tải, thiếu nhân lực và sự phức tạp của tình trạng bệnh của ngườibệnh
là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc thực hành giáo dục sức khỏe cho bệnh nhân [16]
Trang 21Yael Livne và cộng sự đã thực hiện một nghiên cứu vào năm 2017 tại Bnai Zion Medical Center, Haifa, Israel với 328 điều dưỡng tại 26 đơn vị trong bệnh viện cho thấy điều dưỡng ưu tiên hoạt động GDSK cho bệnh nhân trong hoạt động chăm sóc hàng ngày tương đối cao điểm trung bình 3,86 trên thang 1-5 (SD = 0,75) Và điều dưỡng nhận thức được vai trò của GDSK, điểm trung bình là 4,6 (SD = 0,51) Rào cản lớn nhất đối với giáo dục bệnh nhân là tình trạng làm việc quá tải (điểm trung bình = 3.04, SD = 1.13), và lý do đó điều dưỡng đã không tham gia vào việc giáo dục bệnh nhân Bên cạnh đó điều dưỡng viên thiếu kiến thức (ĐTB=1,59), giao tiếp khó khăn (ĐTB=1,57), thiếu các chính sách (ĐTB=1.96) cũng là các rào cản trong hoạt động GDSK cho bệnh nhân [13]
1.2.2 Thực trạng công tác giáo dục sức khỏe của điều dưỡng tại Việt Nam
Vào những năm 1990, ở Việt Nam nghiên cứu điều dưỡng còn xa lạ với người điều dưỡng do nhiều yếu tố như tự ti nghề nghiệp, chưa được trang bị kiến thức kĩ năng để thực hiện nghiên cứu nói chung và các hoạt động nghiên cứu về công tác chuyên môn, công tác giáo dục sức khỏe nói riêng Từ những năm 2000 đến nay, được sư quan tâm của các cấp lãnh đạo từ Bộ Y tế đến các tổ chức cơ sở và đặc biệt là nhờ sự quan tâm của Hội điều dưỡng Việt Nam, công tác nghiên cứu khoa học của điều dưỡng trên các lĩnh vực từ quản lý đến nghiên cứu chuyên môn trong đó có công tác giáo dục sức khỏe đã phát triển lớn mạnh Nhiều cơ sở y tế đã triển khai các đề tài nghiên cứu về chăm sóc người bệnh đã góp phần quan
trọng và sự nghiệp xây dựng và phát triển nghành điều dưỡng Việt Nam Nghiên cứu điều dưỡng là một bộ phận của nghiên cứu y học, mục đích nghiên cứu điều dưỡng nhằm sàng lọc, phát triển và mở rộng kiến thức nghề nghiệp và dựa vào các bằng chứng tin cậy để cải tiến thực hành điều dưỡng
Tư vấn, GDSK cho người bệnh là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, hàng đầu của điều dưỡng cho nhân dân nói chung và người bệnh nói riêng trong giai đoạn mới hiện nay Theo một nghiên cứu mô tả cắt ngang về thực trạng công tác tư vấn GDSK và chăm sóc Điều dưỡng cho NB của các thành viên đội chăm sóc tại Bệnh viện Việt Nam- Thụy Điển Uông Bí, năm 2013 của tác giả Trần Thị Thảo và cộng sự cho kết quả: 94,9% NB được nhân viên y tế hướng dẫn cách tự chăm sóc Việc hướng dẫn luyện tập phục hồi chức năng, cách phòng bệnh và chế độ ăn uống
có tỷ lệ không thực hiện khá cao (tương đương 14,4%; 13,4% và 12,5%) Kết quả
Trang 22đánh giá chung về nội dung GDSK cho NB tỷ lệ không đạt yêu cầu khá cao (25,9%)
và đạt yêu cầu chỉ có 74,1%[10]
Kết quả nghiên cứu của Bùi Thị Bích Ngà (2011), đánh giá về thực trạng công tác chăm sóc của điều dưỡng tại bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương với
266 người bệnh Tỷ lệ người bệnh được giáo dục sức khỏe chỉ đạt 49,6% [5]
Tại bệnh viện Hữu Nghị, Dương Thị Bình Minh (2012) đã nghiên cứu với 216 phiếu khảo sát người bệnh nội trú tại thời điểm xuất viện Kết quả cho thấy công tác
tư vấn, hướng dẫn GDSK có tỷ lệ đạt yêu cầu thấp hơn hẳn so với các tiêu chí được xếp loại để đánh giá công tác ĐD chỉ là 66,2% Nhiều người bệnh đánh giá điều dưỡng không thực hiện hoặc thực hiện chưa tốt việc: hướng dẫn người bệnh chế độ ăn uống (13%), hướng dẫn, hỗ trợ người bệnh tập luyện phục hồi chức năng (18,5%) và hướng dẫn NB cách tự phòng bệnh trong khi ra viện (22%) [6]
Nghiên cứu năm 2015 của tác giả Nguyễn Thị Bích Nga và cộng sự trên 207 người bệnh tại 10 khoa lâm sàng bệnh viện Phổi trung ương năm 2015 đã đánh giá chung hoạt động hướng dẫn, tư vấn, giáo dục sức khỏe chỉ đạt (50,2%) Trong
đó tỷ lệ người bệnh được hướng dẫn, tư vấn, GDSk trước phẫu thuật đạt kết quả cao nhất là (100%) và thấp nhất là hướng dẫn luyện tập phục hồi chức năng là (59,9%) Chất lượng điều dưỡng còn hạn chế và thiếu tài liệu hướng dẫn GDSK ảnh hưởng đến hoạt động tư vấn, hướng dẫn, GDSK [9]
Trang 23
Chương 2
MÔ TẢ THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ 2.1 Thông tin chung về Bệnh viện đa khoa huyện Mê Linh
Bệnh viện đa khoa huyện Mê Linh là bệnh viện đa khoa hạng II trực thuộc
Sở Y tế Hà Nội, có nhiệm vụ khám chữa bệnh cho nhân dân trên địa bàn huyện Mê Linh và các vùng lân cận Bệnh viện được thành lập ngày 17/04/2008 Trải qua quá trình 13 năm xây dựng và phát triển đến hiện tại bệnh viện có 17 khoa, phòng, 280 giường kế hoạch , 360 giường thực kê với tổng số cán bộ trong Bệnh viện là
287 người
Cùng với sự phát triển chung của bệnh viện, khoa Nội tổng hợp qua nhiều năm hoạt động đã có nhiều thay đổi, phát triển tích cực về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ góp phần không nhỏ vào sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân Với vai trò là khoa có nhiệm vụ khám, kê đơn ngoại trú cho người bệnh mắc các bệnh tim mạch mạn tính như Tăng huyết áp, Suy tim… và điều trị nội trú, chăm sóc sức khỏe cho người bệnh Nội khoa Tổng số cán bộ viên chức của khoa Nội tổng hợp gồm 22 viên chức, trong đó gồm 7 bác sỹ, 15 điều dưỡng Khoa được giao
70 giường bệnh theo kế hoạch, thực kê là 98 giường bệnh chia thành 2 khu riêng biệt: khu Nội 1: Hô hấp – Tiết niệu – Da liễu, khu Nội 2: Tim mạch – Tiêu hóa – Lão khoa – Thần kinh Hàng tháng có khoảng 350-400 bệnh nhân điều trị tại khoa Khoa Nội tổng hợp trong nhiều năm liền luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao
2.2 Thực trạng công tác GDSK của Điều dưỡng tại Bệnh viện đa khoa
huyện Mê Linh
2.2.1 Đặc điểm chung của điều dưỡng tham gia công tác chăm sóc giáo dục
sức khỏe người bệnh
Để đảm bảo tính khách quan chúng tôi tiến hành khảo sát toàn bộ các Điều dưỡng đang làm tại khoa Nội tổng hợp bệnh viện đa khoa huyện Mê Linh, là những điều dưỡng mà theo chức năng nhiệm vụ phải thực hiện giáo dục sức khỏe cho người bệnh
Phiếu khảo sát được xây dựng dựa trên hướng dẫn của Bộ Y tế về đánh giá chất lượng bệnh viện và được sử dụng để khảo sát tất cả các điều dưỡng đang làm việc tại khoa Nội tổng hợp – BVĐK Huyện Mê Linh (Phụ lục 1)
Trang 24Tại thời điểm khảo sát có 15 Điều dưỡng tham gia trả lời phiếu khảo sát và kết quả được thể hiện như sau:
2.2.1.1 Thông tin chung về Điều dưỡng tham gia khảo sát
Bảng 2.1: Thông tin chung về điều dưỡng tham gia khảo sát
2.2.1.2 Đặc điểm về tuổi của Điều dưỡng
Trang 25Nhận xét: Điều dưỡng chủ yếu là điều dưỡng trẻ, tỷ lệ điều dưỡng nằm trong
độ tuổi từ 30-40 tuổi là cao nhất chiếm 73.3% Ở độ tuổi này thường thì các điều dưỡng sẽ có tuổi nghề từ khoảng 10-15 năm công tác nên kinh nghiệm chăm sóc và
tư vấn giáo dục sức khỏe cho người bệnh sẽ tương đối tốt
2.2.1.3 Đặc điểm về giới tính của Điều dưỡng
Nhận xét: Nhìn vào biểu đồ chúng ta thấy: Số lượng điều dưỡng Nữ chiếm
tỷ lệ rất cao 93.3%, điều dưỡng Nam chiếm tỷ lệ thấp 6.7% Nhân lực điều dưỡng
Nữ chiếm đa số, điều này phù hợp với tính chất công việc của điều dưỡng: đòi hỏi sự tỉ mỉ, cẩn thận, chu đáo, sát sao, kiên nhẫn trong công tác chăm sóc người bệnh
2.2.1.4 Đặc điểm về thâm niên công tác của Điều dưỡng
26.7%
73.3%
Biểu đồ 2.1 Đặc điểm về tuổi của Điều dưỡng
< 30 tuổi30-40 tuổi
6.7%
93.3%
Biểu đồ 2.2 Đặc điểm về giới tính của Điều dưỡng
NamNữ
Trang 26Nhận xét: Điều dưỡng có thâm niên < 5 năm chiếm tỷ lệ cao 46.7%, từ 5-10 năm chiếm tỷ lệ 33.3%, từ trên 10 năm chiếm 20%; điều này cho thấy nhân lực điều dưỡng trẻ nhiều, thời gian công tác chưa lâu, kinh nghiệm còn ít nên trong công tác GDSK sẽ có nhiều hạn chế Đặc biệt, bệnh viện đa khoa huyện Mê Linh có đội ngũ nhân lực điều dưỡng trẻ cũng là do bệnh viện mới thành lập và đi vào hoạt động năm 2008
2.2.1.5 Đặc điểm về trình độ học vấn của Điều dưỡng
Nhận xét: Tỷ lệ điều dưỡng Trung học thấp nhất chiếm 6.7%, điều dưỡng cao đẳng nhiều nhất 66.7% và điều dưỡng đại học 26.6% Điều này phù hợp với tình hình bệnh viện trong những năm gần đây: Đảng ủy, Ban giám đốc bệnh viện quan tâm cho các đối tượng điều dưỡng đi đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn
để đáp ứng yêu cầu phát triển của bệnh viện và đạt chuẩn hóa trình độ Cao đẳng đối với Điều dưỡng
< 5 năm 5-10 năm > 10 năm
Biểu đồ 2.3 Đặc điểm về thâm niên công tác của Điều dưỡng
Trang 272.2.2 Kiến thức của điều dưỡng về các nội dung trong công tác giáo dục sức khỏe
Bảng 2.2: Kiến thức của Điều dưỡng về các nội dung trong công tác GDSK
cho người bệnh
(n=15) Tỷ lệ %
Trả lời sai hoặc không trả lời 4 26.7 GDSK là một quá
Trả lời sai hoặc không trả lời 8 53.3
Trả lời sai hoặc không trả lời 13 86.7
Trang 28Kiến thức về kỹ năng GDSK: xây dựng quan hệ hỏi, nghe, quan sát, giải thích Qua khảo sát thấy điều dưỡng trả lời đúng chiếm tỷ lệ 66.7% Điều này cho thấy khi điều dưỡng nắm vững được các kỹ năng cơ bản trong truyền thông GDSK sẽ giúp trong quá trình giao tiếp đạt kết quả cao
Kiến thức về phương tiện GDSK: Có 86.7% điều dưỡng trả lời sai hay không trả lời về các phương tiện GDSK Điều dưỡng hay bị nhàm lẫn giữa các phương tiện bằng chữ viết, phương tiện bằng trực quan và phương tiện bằng nghe nhìn
Kiến thức về phương pháp GDSK: có 60% điều dưỡng trả lời đúng về các phương pháp GDSK Việc nắm được các phương pháp GDSK khác nhau sẽ giúp điều dưỡng vận dụng linh hoạt trong quá trình GDSK cho người bệnh nhằm nâng cao chất lượng công tác GDSK
2.2.3 Kiến thức chung của điều dưỡng về công tác giáo dục sức khỏe
Bảng 2.3: Xếp loại chung kiến thức GDSK của điều dưỡng
2.2.4 Đặc điểm của người bệnh tại khoa Nội tổng hợp bệnh viện đa khoa huyện Mê Linh
Chăm sóc người bệnh là lấy người bệnh làm trung tâm, để có đánh giá khách quan hơn, chúng tôi tiến hành lấy ý kiến đánh giá của toàn bộ 168 người bệnh điều trị nội trú tại khoa Nội tổng hợp từ ngày 15/8/2021 đến hết ngày 31/8/2021, kết quả được thể hiện cụ thể như sau:
Trang 292.2.4.1 Đặc điểm về tuổi của Người bệnh
Nhận xét: Tuổi của người bệnh không có sự phân hóa nhiều ở các độ tuổi khác nhau Tuy nhiên lượng bệnh nhân trên 80 tuổi chiếm tỷ lệ thấp 6.0%, điều này cũng phù hợp với đặc điểm của khoa Nội tổng hợp là điều trị bệnh nhân vừa và nhẹ Các bệnh nhân bệnh nặng, tuổi cao thường được điều trị tại khoa HSTC&CĐ của bệnh viện
2.2.4.2 Đặc điểm về giới của Người bệnh
Nhận xét: Người bệnh là nữ chiếm tỷ lệ lớn 61.9%, người bệnh nam chỉ chiếm 38.1%
Trang 302.2.4.3 Đặc điểm về mô hình bệnh tật của Người bệnh
Nhận xét: Các bệnh về đường tiên hóa, hô hấp, tim mạch, đau đầu, RLTĐ chiếm phần lớn tổng số người bệnh điều trị tại khoa tương ứng lần lượt là 22.6%, 17.9%, 14.9%, 16.7% Đáng chú ý là có 9.5% người bệnh đang điều trị tại khoa do Sốc phản vệ sau tiêm vắc xin Covid 19 Tuy nhiên các bệnh nhân này chỉ có các triệu chứng nhẹ của Sốc, nên chỉ nằm điều trị, theo dõi 1-2 ngày Lượng bệnh nhân
cơ học do sốc phản vệ này cũng ảnh hưởng phần nào đến mô hình bệnh tật của người bệnh đang điều trị tại khoa Nội tổng hợp
Bệnh đau đầu, RLTĐ
Bệnh Tim mạch
Sốc phản vệ sau tiêm vắc xin Covid 19
Bệnh Nội tiết ĐTĐ
Bệnh đường Tiết niệu
Các bệnh khác
Biểu đồ 2.7: Đặc điểm mô hình bệnh tật của Người bệnh