Trên thực tế, cần thiết xây dựng cách tiếp cận, phân loại các yếu tố liên quan đến ngã và đánh giá nguy cơ ngã một cách đơn giản thông qua những thang điểm, bộ câu hỏi có sẵn, đó là phươ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
NAM ĐỊNH 2021
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
- -
ĐẶNG THỊ HƯƠNG
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành chuyên đề này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô, các anh chị, bạn bè, đồng nghiệp, những người thân trong gia đình và các cơ quan có liên quan
Tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau đại học, Khoa Điêu dưỡng – Hộ sinh, các Thầy cô giảng dạy của Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã tận tình hướng dẫn chỉ bảo tôi trong những năm học qua
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn ThS Phạm Văn Tùng, đã tận tình hướng dẫn, động viên, quan tâm và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học, thực hiện và hoàn thành chuyên
đề tốt nghiệp này
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc Bệnh viện E, cho tôi cơ hội được đi học chuyên sâu về lĩnh vực điều dưỡng, tạo điều kiện, giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình học tập, công tác và nghiên cứu
Tôi xin bày tỏ sự biết ơn đến những người thân yêu trong gia đình, các bạn bè đồng nghiệp gần xa, đặc biệt là các anh chị em cùng khóa đã động viên, giúp đỡ tôi về tinh thần và vật chất để tôi hoàn thành chuyên đề này
Nam Định, ngày 06 tháng 10 năm 2021
Người làm báo cáo
Đặng Thị Hương
Trang 4LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là báo cáo chuyên đề của riêng tôi Nội dung trong bài báo cáo này hoàn toàn trung thực, khách quan và chưa được áp dụng Báo cáo này do bản thân tôi thực hiện dưới sự giúp đỡ của giảng viên hướng dẫn Nếu có điều gì sai trái tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Nam Định, ngày 06 tháng 10 năm 2021
Học viên
Đặng Thị Hương
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC i
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC BẢNG iv
DANH MỤC BIỂU ĐỒ v
DANH MỤC HÌNH ẢNH v
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 4
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
1 1 Cơ sở lý luận 4
1.1.2 Cơ sở thực tiễn về ngã ở người cao tuổi 17
2 CHƯƠNG 2 19
MÔ TẢ THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ 19
2.1 Giới thiệu về Bệnh viện E và khoa Phục hồi chức năng 19
2.2 Thực trạng công tác dự phòng té ngã cho người cao tuổi tại khoa Phục hồi chức năng Bệnh viện E năm 2021 20
3 CHƯƠNG 3: BÀN LUẬN 28
3.1 Thực trạng công tác dự phòng té ngã cho người cao tuổi tại khoa Phục hồi chức năng Bệnh viện E năm 2021 28
3.2 Thuận lợi, khó khăn 30
4 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 33
5 TÀI LIỆU THAM KHẢO
6 PHỤ LỤC
7 BẢNG HỎI 6
Trang 6DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
ADL Activities of Daily Living
(Hoạt động sinh hoạt hằng ngày) BMFRAT Bobath memorial hospital fall risk assessment scale
(Thang điểm đánh giá nguy cơ ngã của Bệnh viện Bobath memorial)
IADL Istrumental Activities of Daily Living
(Hoạt động sinh hoạt hằng ngày bằng phương tiện) JHFRAT Johns Hopkins fall risk assessment tool
(Công cụ đánh giá nguy cơ ngã Johns Hopkins ) MFS Morse fall scale
(Thang điểm Morse)
TBMN Tai biến mạch não
WHO World Health Organization
(Tổ chức y tế thế giới)
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Một số yếu tố nội tại liên quan đến ngã [30] 8Bảng 1.2 Các yếu tố liên quan đến ngã [20] 9Bảng 1.3 Các công cụ khám đánh giá ngã [20], [31] 10Bảng 1.4 Đánh giá một số yếu tố liên quan đến ngã ở NCT [20], [31], [34] 11Bảng 1.5 Một số công cụ đánh giá nguy cơ ngã của NCT [20], [31], [34] 12Bảng 1.6 Công cụ đánh giá nguy cơ ngã Johns Hopkins [31], [11] 13Bảng 1.7 Các can thiệp dự phòng ngã và biến chứng ngã ở NCT [29], [37] 14Bảng 2.1 Tuổi và giới của đối tượng nghiên cứu liên quan đến ngã (n=100) 21Bảng 2.2 Tỷ lệ ngã và vị trí ngã (n=100) 21Bảng 2.3 Tần số về hoạt động thể chất và hoạt động sinh hoạt hằng ngày 22Bảng 2.4: Tần số về dụng cụ trợ giúp di chuyển và dinh dưỡng (n=100) 22Bảng 2.5: Tần số về sử dụng thuốc, trầm cảm và sa sút trí tuệ (n=100) 22
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Mối liên quan giữa tuổi với nguy cơ ngã 23
Biểu đồ 2.2: Mối liên quan giới với nguy cơ ngã (n=100) 23
Biểu đồ 2.3: Mối liên quan hoạt động thể chất với nguy cơ ngã (n=100) 24
Biểu đồ 2.4: Mối liên quan giữa dụng cụ trợ giúp di chuyển với nguy cơ ngã (n=100) 24
Biểu đồ 2.5: Mối liên quan giữa sử dụng thuốc với nguy cơ ngã (n=100) 25
Biểu đồ 2.6: Mối liên quan giữa hoạt động sinh hoạt hằng ngày với nguy cơ ngã (n=100) 25
Biểu đồ 2.7: Mối liên quan giữa trầm cảm với nguy cơ ngã (n=100) 26
Biểu đồ 2.8: Mối liên quan giữa sa sút trí tuệ với nguy cơ ngã (n=100) 26
Biểu đồ 2.9: Mối liên quan giữa dinh dưỡng nguy cơ với ngã (n=100) 27
DANH MỤC HÌNH ẢNH Hình 1.1 Một số hoạt động của khoa Phục hồi chức năng – Bệnh viện E 20
Trang 9tử vong ở những người trên 65 tuổi sống trong cộng đồng tại Mỹ, khoảng 30% đến 40 % ngã ít nhất 1 lần trong một năm và người 80 tuổi trở lên chiếm đến 50%[41] Ngã có tỷ lệ rất cao ở nhóm người rất già và nhóm người có hạn chế vận động Hàng năm có khoảng 1/3 số người trong nhóm sống cùng gia đình bị ngã [26] Khoảng một nửa số lần ngã dẫn đến những thương tật, trong số đó có 10% là nghiêm trọng cần chăm sóc y tế, và tỷ lệ này tăng theo tuổi thọ [42] Té ngã liên quan chặt chẽ đến hội chứng dễ bị tổn thương và các bệnh tiềm ẩn nên rất khó để ước tính chi phí thực tế do ngã Các nghiên cứu chỉ ra rằng, nhóm bệnh nhân bị ngã cần được chăm sóc tại nhà tăng gấp 7 lần, chi phí nhập viện tăng gấp 3 lần, chi phí cấp cứu tăng gấp 4 lần so với nhóm không bị ngã Trung tâm phòng chống ngã quốc gia của Mỹ cho biết chi phí hàng năm cho ngã lên tới 20 tỷ đô la, dự kiến sẽ tiêu tốn khoảng 32,4 tỷ đô la vào năm 2020 [12] Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về nguy cơ ngã, những can thiệp được đặt ra nhằm giảm thiểu rủi ro Tuy nhiên tại Việt Nam có rất ít công trình nghiên cứu nào mang tính hệ thống và đầy đủ về vấn đề này Trên thực tế, cần thiết xây dựng cách tiếp cận, phân loại các yếu tố liên quan đến ngã và đánh giá nguy cơ ngã một cách đơn giản thông qua những thang điểm, bộ câu hỏi có sẵn, đó là phương tiện dễ sử dụng, phù hợp cho cả y tế cơ sở khi khám sàng lọc, từ đó đặt mục tiêu cụ thể trong việc điều trị, dự phòng nguy cơ ngã cho
Trang 10bệnh nhân, đặc biệt về mặt phục hồi chức năng, giúp người cao tuổi sống độc lập tại cộng đồng
Tại Khoa Phục hồi chức năng Bệnh viện E, việc quản lý ngã cho người cao tuổi được lồng ghép trong hoạt động điều trị và chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân Việc phát hiện sớm nguy cơ ngã để từ đó xây dựng các biện pháp phòng tránh nhằm giảm tỷ lệ biến chứng do ngã là một vấn đề hết sức quan trọng, vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu “Thực trạng công tác dự phòng té ngã cho người cao tuổi điều trị tại Khoa Phục hồi chức năng Bệnh viện E năm 2021”
Trang 11MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Đánh giá thực trạng công tác dự phòng té ngã cho người cao tuổi điều trị tại Khoa Phục hồi chức năng, Bệnh viện E năm 2021
2 Đề xuất các biện pháp củng cố và duy trì hoạt động dự phòng té ngã cho người cao tuổi tại Khoa Phục hồi chức năng, Bệnh viện E
Trang 12CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1 1 Cơ sở lý luận
1.1 1.Những khái niệm chung về ngã ở người cao tuổi
1.1.1 1 Định nghĩa người cao tuổi
Quan niệm về người cao tuổi (NCT) bắt đầu được đề cập từ thế kỷ XVII, theo đó tuổi 50 - 60 được coi là người già Ở Châu Âu vào những năm 1830, những người trong nhóm tuổi từ 65 trở lên được coi là người già Hầu hết các nước phát triển cũng cùng quan niệm như vậy Tại các nước đang phát triển cho rằng mốc trên chưa phù hợp Hiện tại chưa có tiêu chuẩn thống nhất cho các quốc gia [4]
Theo quy ước của Tổ chức Y tế Thế Giới (WHO), người cao tuổi là người
từ 60 tuổi trở lên Trong đó, phân loại NCT theo nhóm tuổi như sau [47]
- Sơ lão từ 60 -69 tuổi
- Trung lão từ 70 -79 tuổi
- Đại lão từ ≥ 80 trở lên
Tại Việt Nam, theo Pháp lệnh người cao tuổi (2003) quy định những người có độ tuổi từ 60 trở lên được gọi là người cao tuổi
Trang 13Một định nghĩa khác theo quan điểm của Stubbs D và cộng sự (2005): Ngã
là sự vô ý làm cho cơ thể ngã xuống đất hoặc những vị trí xung quanh thấp hơn,
là hậu quả của những va chạm bất ngờ, mất ý thức đột ngột, hoặc như một sự khởi phát của liệt trong đột quỵ hay động kinh Một số nhà nghiên cứu khác sử dụng khái niệm rộng hơn về ngã bao gồm cả những trường hợp xảy ra do chóng mặt và ngất [17]
Báo cáo về dự phòng ngã ở người cao tuổi của Tổ chức Y tế Thế Giới do Kalache A và cộng sự trình bày (2007) thì ngã được hiểu như một sự kiện vô tình làm cho cơ thể ngã xuống mặt đất, sàn nhà, hoặc vị trí thấp hơn, ngoại trừ những trường hợp cố ý để thay đổi vị trí của chủ thể trên các đồ nội thất, trên tường hoặc những đối tượng khác [15]
1.1.2 Tình hình người cao tuổi
Hiện nay, trên thế giới có khoảng 810 triệu người cao tuổi Thống kê trong vòng 30 năm tới, tỉ lệ người cao tuổi trên thế giới sẽ tăng gấp đôi, dự kiến sẽ đạt 2 tỷ người vào năm 2050 Hiện tại, có khoảng 14% dân số NCT từ 80 tuổi trở lên và con số này ước tính đạt 20% vào năm 2050 [9]
Mặc dù số lượng NCT đang tiếp tục gia tăng trên thế giới, nhưng tốc độ phát triển nhanh nhất lại diễn ra ở các nước đang phát triển Mỗi năm, trung bình trên thế giới có thêm 29 triệu người NCT, khoảng 80% là ở các nước đang phát triển Theo dự báo đến năm 2025, khoảng 82% dân số ở các nước đang phát triển sẽ sống ở thành thị và khoảng 50% là ở các nước phát triển Tỷ lệ nữ
ở NCT là 54%, và ở độ tuổi từ 80 trở lên là 63% và tỷ lệ này cao hơn ở lứa tuổi
100 Khoảng 80% nam giới và 50% nữ giới sống cùng vợ hoặc chồng [5] Năm 2004, tỷ lệ tử vong vì các bệnh không truyền nhiễm trên phạm vi toàn cầu chiếm 86% trong tổng số các ca tử vong ở NCT, trong đó có 77% ở các nước có thu nhập thấp và 91% ở các nước thu nhập cao [48]
Tại Việt Nam Tỉ lệ NCT chiếm khoảng 10% vào năm 2017 [5] Về chỉ số giới tính của NCT tại Việt Nam thì tuổi càng cao tỷ lệ giới nam càng thấp [6]
Trang 14Ngã ở người cao tuổi phụ thuộc vào nhiều yếu tố liên quan, trong đó có những yếu tố có thể can thiệp nhằm dự báo vào ngăn ngừa được
1.1.3 Một số yếu tố liên quan đến ngã
1.3.1 1 Kiểm soát thăng bằng và sự lão hóa do tuổi tác
Sự kiểm soát tư thế thăng bằng bình thường của cơ thể phụ thuộc vào sự phối hợp của các hệ thống như hệ thống cảm giác, hệ thống thị giác và hệ thống vận động [16] Cân bằng cơ thể luôn luôn được duy trì và chịu sự điều chỉnh từ trung tâm kiểm soát khối lượng cơ thể trong mối liên quan đến những thay đổi
bề mặt chân đế [28] Sự cân bằng đóng một vai trò quan trọng trong việc ổn định cơ thể ở trạng thái tĩnh và khi di chuyển S.R Lord và cộng sự (1991) cho rằng khả năng thăng bằng của người cao tuổi suy giảm do có sự thay đổi của một số yếu tố như suy giảm cảm giác ngoại biên, suy giảm cấu trúc cơ gây yếu
cơ, và phản ứng chậm chạp của cơ thể [35] Theo Manchester và cộng sự (1989), sự mất cân bằng đó liên quan đến suy giảm hệ thống thị giác và việc xử
lý những thông tin ở trung tâm cảm giác [25] Một vấn đề quan trọng khác là người cao tuổi có năng lực rất hạn chế trong việc thực hiện cùng lúc nhiều công việc song song với nhau so với người trẻ tuổi [21]
1.3.1.2 Nguyên nhân gây ngã
Ngã là kết quả của sự tương tác giữa các yếu tố sinh học, chăm sóc y tế, hành vi của chủ thể và môi trường Ngã là một trong những hội chứng lão khoa quan trọng không chỉ bởi cơ chế xuất hiện phức tạp mà còn do sự kết hợp của nhiều yếu tố bệnh tật mắc phải và sự suy giảm sinh lý của nhiều hệ thống trong
cơ thể [46] Nguyên nhân gây ngã liên quan đến các yếu tố nội tại bên trong cơ thể và yếu tố bên ngoài môi trường sống, với sự tham gia trong hoàn cảnh ngã bởi các yếu tố ngoại lai Nhiều nghiên cứu đã cho thấy một số yếu tố liên quan đến ngã ở người cao tuổi trong cộng đồng Người cao tuổi có nguy cơ ngã nhiều hơn do mắc nhiều bệnh lý mạn tính và sự suy giảm chức năng thể chất, nhận thức liên quan đến tuổi tác [14] Sự liên quan của nhiều yếu tố đến ngã như:
Trang 15đặc điểm nhân khẩu học, kinh tế xã hội, giáo dục, nguồn thu nhập, tình trạng hôn nhân, giới tính, chủng tộc được đề cập đến trong nghiên cứu của Steinman B.A và cộng sự (2009) [30] Ngoài ra, các hành vi như hút thuốc lá, các bệnh
lý liên quan như tăng huyết áp (THA), đái tháo đường, bệnh lý tim mạch, viêm khớp, ung thư được cho là có liên quan đến nguy cơ ngã [8] Việc thay đổi chế
độ dinh dưỡng có thể là những yếu tố dự đoán được nguy cơ ngã [19] Sự suy giảm trong hoạt động hằng ngày (ADL), hoạt động sinh hoạt hằng ngày bằng dụng cụ, phương tiện (IADL) hay giảm hoạt động thể chất đều liên quan đến ngã [36] Mối nguy hiểm về môi trường (nhà ở, nội thất, cầu thang…) đóng vai trò quan trọng trong hoàn cảnh xảy ra ngã vì một số yếu tố liên quan đến hạn chế chức năng thường bị chi phối nhiều bởi môi trường sống [32] Một số bệnh
cơ xương khớp như viêm khớp, thoái hóa khớp, đau lưng vùng thấp hay những bất thường ở bàn chân, sử dụng dụng cụ trợ giúp di chuyển [18]
Năm 2000, nghiên cứu của Bueno - Cavanillas và cộng sự cho kết quả ngã
có thể do cả nguyên nhân nội tại hoặc bên ngoài môi trường Đối với trường hợp ngã do nguyên nhân bên ngoài, các yếu tố liên quan chẳng hạn như điều trị bằng thuốc giãn phế quản, thuốc an thần kinh Với nguyên nhân bên trong như: Tuổi, bệnh lý đái tháo đường, sa sút trí tuệ, tiền sử ngã, rối loạn dáng đi và thăng bằng…[33]
1.3.1.3 Một số yếu tố liên quan đến ngã
Hầu hết các nghiên cứu đề cập khoảng từ 31 đến 38 yếu tố liên quan đến ngã [33], [22] Năm 1987, tác giả Mary Jo Storey Gibson cho rằng các yếu tố liên quan đến ngã bao gồm 3 nhóm: Yếu tố nội tại, yếu tố môi trường và các yếu tố ngoại lai gây ra trong tình huống ngã [27]
* Nhóm các yếu tố môi trường
Giầy dép không phù hợp
Quần áo quá dài
Nội thất
Trang 16 Ghế quá cao hoặc quá thấp
Thảm hoặc dây điện
* Nhóm các yếu tố nội tại
Bảng 1.1 Một số yếu tố nội tại liên quan đến ngã [30]
Nhân khẩu học Tuổi ≥ 80
Nữ giới Các chức năng sinh
hoạt hằng ngày
ADL, IADL, di chuyển khó khăn Giảm hoạt động thể lực/Tập thể dục Tiền sử ngã
Bệnh lý kèm theo
Viêm khớp TBMN Parkinson
Sa sút trí tuệ Đại/tiểu tiện không kiểm soát
Giảm PXGX cơ tứ đầu Cảm giác
Rối loạn cảm giác sâu Suy giảm thị giác Suy giảm thính giác Bất thường về dáng đi
Trang 17Dáng đi và thăng
bằng
Giảm tốc độ đi bộ Rối loạn thăng bằng Giảm thăng bằng một chân Khó khăn đứng lên từ ghế Nhận thức, tâm lý Suy giảm nhận thức
Số lượng sử dụng thuốc hàng ngày
* Nhóm các yếu tố ngoại lai
Một số yếu tố ngoại lai, tình huống ngã như tâm lý sợ ngã do yếu tố môi trường, các hành vi không an toàn (ví dụ: leo cầu thang vội vã)
Năm 2015, Elizabeth A Phelan và cộng sự cho rằng các yếu tố liên quan đến ngã gồm: các yếu tố nội tại (bên trong cơ thể) và các yếu tố bên ngoài môi trường (bên ngoài cơ thể) Ngã là kết quả của sự tương tác giữa các yếu tố bên trong và môi trường [20]
Bảng 1.2 Các yếu tố liên quan đến ngã [20]
Các yếu tố nội tại Các yếu tố môi trường
Rối loạn dáng đi và thăng bằng Dụng cụ trợ giúp
Trang 181.3.1.4 Những can thiệp dự phòng ngã
Một số công cụ sàng lọc ngã ở người cao tuổi
Một số công cụ dùng trong khám, chẩn đoán, đánh giá các yếu tố liên quan
và một số test kiểm tra có thể dự đoán nguy cơ ngã trong tương lai giúp các nhân viên y tế, bệnh nhân, người nhà tăng hiệu quả trong việc phòng ngừa ngã Mặc
dù vậy, các công cụ này hầu hết đều được thực hành tại các cơ sở y tế điều trị bệnh nhân nội trú hoặc nhà dưỡng lão
- Khám các triệu chứng 2 chi dưới
- Khám đánh giá sinh hoạt hằng ngày Khám các yếu tố liên
quan đến ngã
* Các yếu tố nội tại cơ thể
* Các yếu tố bên ngoài môi trường Đánh giá nguy cơ
ngã
Lựa chọn các thang điểm đánh giá nguy cơ ngã (ví dụ: TUG, 30 – Seconds Chair Stand test, 4 – Stage Balance test, MFS, BMFRAS, JHFRAT)
Trang 19Bảng 1.4 Đánh giá một số yếu tố liên quan đến ngã ở NCT [20], [31], [34]
Trở ngại trong lối đi trong nhà
Trở ngại về cầu thang
Dụng cụ trợ giúp di chuyển không phù hợp
Giày dép không phù hợp
Ánh sáng trong nhà không phù hợp
Bề mặt sàn nhà trơn trượt
Bề mặt sàn ngoài nhà nứt, không bằng phẳng
Trang 20Bảng 1.5 Một số công cụ đánh giá nguy cơ ngã của NCT [20], [31], [34]
Test thăng bằng
4 vị trí
BN không thể đứng được song song 2 chân trong 10 giây, hoặc không đứng bằng 1 chân trong 5 giây là có nguy cơ ngã
Đơn giản dễ thực hiện, đánh giá được khả năng thăng bằng tĩnh và dự đoán được nguy cơ ngã
Dễ thực hiện, đánh giá khả năng thăng bằng tĩnh và dự đoán được nguy cơ ngã
Test đứng dậy và
đi ( TUG)
Đo thời gian để BN đứng lên khỏi ghế, đi bộ 3 mét, quay người, trở lại ghế, và ngồi xuống
≥ 12 giây là có nguy cơ ngã cao
Dễ thực hiện, dễ áp dụng trong sàng lọc, dự đoán được nguy cơ ngã, không phân loại được nguy cơ Dụng cụ đánh
giá nguy cơ ngã
Johns Hopkins
Đánh giá 7 yếu tố nguy cơ ngã, tính tổng điểm các yếu tố và phân loại nguy cơ
< 6 điểm: nguy cơ thấp
6 - 13 điểm: nguy cơ trung bình
>13 điểm: nguy cơ cao
Đơn giản dễ thực hiện, Thời gian thực hiện đánh giá ngắn, phân loại được nguy cơ ngã, phù hợp áp dụng ngoài cộng đồng
Thang đánh giá
ngã Morse
Bao gồm 6 yếu tố, tính tổng điểm, phân loại được 3 mức nguy cơ ngã
0 - 24 điểm: Không có nguy cơ
25 - 50 điểm: nguy cơ thấp
≥ 51 điểm: Nguy cơ cao
Đánh giá được nhanh chóng, dế thực hiện, phân loại được nguy cơ ngã
cơ ngã
< 25 điểm: nguy cơ thấp
25 - 30 điểm: trung bình
>51 điểm: nguy cơ cao
Đánh giá và phân loại được nguy cơ, tuy nhiên thực hiện cần nhiều số liệu rất phức tạp
Trang 21* Công cụ đánh giá nguy cơ ngã Johns Hopkins (JHFRAT)
Công cụ (JHFRAT) đã được sử dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia, có nhiều nghiên cứu nhằm kiểm tra khả năng dự đoán ngã của công cụ này Kim KS và cộng sự (2011) khi tiến hành nghiên cứu so sánh 3 công cụ đánh giá, phân loại nguy cơ ngã đã chỉ ra rằng JHFRAT có độ nhạy thấp hơn (69,0%) so với MFS (78,9%) và BMFRAS (76,1%), nhưng có độ đặc hiệu tốt hơn một chút (60,0%
so với 55,8% và 58,3%) [23] Nghiên cứu gần đây của Kinkenberg và cộng sự (2017) cho thấy khả năng dự đoán nguy cơ ngã của JHFRAT có độ nhạy thấp (26,5%) nhưng độ đặc hiệu cao (89,6%) Tuy nhiên, JHFRAT vẫn được đánh giá rất cao trong khả năng phân loại nguy cơ ngã và giúp nhân viên y tế lựa chọn các biện pháp can thiệp vào những yếu tố nhằm giảm tỷ lệ ngã [31] Bảng 1.6 Công cụ đánh giá nguy cơ ngã Johns Hopkins [31], [11]
Cấp bách, thường xuyên và không kiểm soát 4
Trang 22- Nguy cơ ngã thấp: < 6 điểm
- Nguy cơ ngã trung bình: 6-13 điểm
- Nguy cơ ngã cao: > 13 điểm
Hiệu quả sử dụng của các công cụ đánh giá nguy cơ ngã trong điều trị nội trú tại các bệnh viện đã được đề cập nhiều, mặc dù vấn đề sử dụng công cụ này trong nghiên cứu ngoài cộng đồng chưa được quan tâm đúng mức
Dự phòng ngã ở người cao tuổi
Ngã là mối đe dọa lớn đối với chất lượng cuộc sống của NCT, làm giảm khả năng tự chăm sóc, hạn chế tham gia vào các hoạt động thể chất và xã hội Nỗi lo lắng sợ ngã của người cao tuổi tăng dần từ 20% lên đến 39% trong số NCT đã từng ngã [40]
Bảng 1.7 Các can thiệp dự phòng ngã và biến chứng ngã ở NCT [29], [37]
1 Điều chỉnh các yếu tố liên quan đến ngã
+ Xem lại các thuốc hoặc các biện pháp điều trị và hoặc các loại thuốc an thần hoặc tim mạch có nguy cơ gây ngã
+ Điều trị tình trạng suy dinh dưỡng, giảm thị lực liên quan đến đục thủy tinh thể, hạ huyết áp tư thế đứng, rối loạn nhịp hoặc dẫn truyền, hạ đường huyết, biến dạng bàn chân, điều trị trầm cảm
Trang 23+ Phòng chống ngã ban đầu ở người cao tuổi: tập hàng ngày về dáng đi và / hoặc các hoạt động thể lực khác
+ Trong trường hợp rối loạn dáng đi và hoặc thăng bằng, có liệu pháp điều trị phục hồi chức năng
- Điều trị thăng bằng ở trạng thái tĩnh và trạng thái động
- Cải thiện độ chắc của cơ và chi dưới
- Các kỹ thuật khác, kích thích đường cảm giác hoặc học cách đứng lên + Các biện pháp tập nên tiến hành thường xuyên, từ nhẹ đến nặng, về lâu dài cũng hướng dẫn các hoạt động trong sinh hoạt hàng ngày
+ Phòng chống gãy xương ở người già đã từng bị ngã: Uống dự phòng hàng ngày ít nhất 800 đơn vị Vitamin D nếu thiếu vitamin D Uống bổ sung hàng ngày Calci 1g-1,5g Trong trường hợp có loãng xương, khởi phát điều trị loãng xương
2 Thay đổi môi trường sống và hỗ trợ kĩ thuật
+ Sử dụng các hỗ trợ về kĩ thuật cho đi lại thuận lợi và hỗ trợ các rối loạn về thăng bằng
+ Đi giày bệt, đế rộng, chất liệu mềm, cổ giày cao, có dây buộc
+ Đánh giá môi trường sẽ xác định và loại bỏ các mối nguy tiềm ẩn, điều chỉnh lại các yếu tố dễ gây ngã tại nơi ở
3 Giáo dục sức khỏe
Giáo dục người cao tuổi và những người chăm sóc, giúp đỡ, người thân trong gia đình về các bệnh lí và yếu tố nguy cơ của bệnh nhân có thể gây ngã, từ đó
đề xuất các biện pháp hạn chế nguy cơ ngã
Trong các trường hợp bệnh nhân bị ngã, dựa vào mức độ lâm sàng để quyết định phương thức điều trị Tuy nhiên việc đánh giá ban đầu nguyên nhân, hậu quả của ngã rất cần những thầy thuốc có kinh nhiệm Việc điều trị tiếp theo cho những hậu quả của ngã (ví dụ những chấn thương gặp phải) cần hỗ trợ bởi các trung tâm y tế, viện dưỡng lão, bệnh viện chuyên khoa
Trang 24Dự phòng ngã tại nhà của người cao tuổi
Quá trình lão hóa gây giảm chức năng vận động, chức năng nhận thức
và chức năng sinh hoạt hằng ngày Dự phòng ngã tại nhà cho NCT có nguy cơ ngã giúp giảm thiểu chi phí điều trị, cải thiện nguy cơ ngã, cải thiện chức năng sinh hoạt, làm tăng chất lượng cuộc sống Vấn đề này cần sự phối hợp của nhiều chuyên gia thuộc nhiều lĩnh vực: tâm thần kinh, vật lý trị liệu – phục hồi chức năng, chăm sóc điều dưỡng, chuyên viên về môi trường…Chẳng hạn các chuyên gia vận động trị liệu sẽ đánh giá và điều trị can thiệp sự thăng bằng, sức mạnh
cơ, rối loạn về dáng đi [44] Đánh giá các yếu tố liên quan đến môi trường thường được tiến hành bởi một chuyên viên y tế đã trải qua quá trình đào tạo (ví dụ như chuyên viên hoạt động trị liệu) [34]
Can thiệp và phòng ngừa ngã cho người cao tuổi sống trong cộng đồng được thể hiện qua rất nhiều bài tập tại nhà như sau [45]
- Bài tập vận động dựa trên nhiều phương thức cơ bản
- Tập đi bộ, tập thăng bằng hoặc các bài tập chức năng theo nhóm
- Bài tập với nhiều thành phần tại nhà
- Bài tập tăng cường sức mạnh, sức đề kháng tại nhà
- Bài tập thái cực quyền
- Sự can thiệp đa yếu tố
- Các can thiệp về an toàn tại nhà
- Đánh giá thị lực và can thiệp
- Sử dụng thuốc và bổ sung dinh dưỡng (chất dinh dưỡng, vitamin D, calcitriol, liệu pháp thay thế hormone, thay đổi dùng thuốc theo toa)
- Can thiệp thay đổi hành vi
- Tăng cường kinh nghiệm
Khuyến cáo từ nghiên cứu của Sherrington và cộng sự (2011) cho thấy rằng các bài tập thăng bằng cần phù hợp theo nhiều cách như giảm dần sự hỗ trợ, tập thay đổi trung tâm trọng lực, giảm dần sự trợ giúp của chi trên, tập phải
Trang 25đủ liều lượng, thời gian, nên diễn ra liên tục, các bài tập đều nên hướng đến sự hòa nhập của NCT vào cộng đồng xã hội, nên thực hiện theo nhóm tại nhà, đi
bộ có thể được sử dụng, tuy nhiên cần cân nhắc áp dụng phù hợp với từng nhóm nguy cơ ngã [7]
1.1.2 Cơ sở thực tiễn về ngã ở người cao tuổi
1.1.2.1 Trên thế giới
Có nhiều các nghiên cứu về ngã và các yếu tố liên quan ở NCT Năm 1988, Tinetti và cộng sự tiến hành nghiên cứu 336 người có độ tuổi từ 75 trở lên sống trong cộng đồng Kết quả cho thấy rằng ngã ở những NCT trong cộng đồng là phổ biến, một số yếu tố liên quan đến ngã được xác định như: sử dụng thuốc
an thần, suy giảm nhận thức, bất thường ở chi dưới, rối loạn dáng đi và thăng bằng, nguy cơ ngã tăng lên tuyến tính theo số lượng các yếu tố nguy cơ và khoảng 44% số lần ngã là liên quan đến các mối nguy hiểm về môi trường [41] Trong những năm sau đó, rất nhiều nghiên cứu được tiến hành ở NCT trong cộng đồng Vấn đề về dinh dưỡng được đề cập đến trong nghiên cứu của tác giả Schwatrtz và cộng sự năm 2002 Các yếu tố như suy giảm trong hoạt động sinh hoạt hằng ngày (ADL), hoạt động sinh hoạt hằng ngày bằng phương tiện (IADL) được cho là làm tăng nguy cơ ngã (Lord SR và cộng sự năm 2003) Tác giả Rubenstein và cộng sự (2006) đề cập đến các bệnh mạn tính, sự suy giảm chức năng thể chất, suy giảm nhận thức ở người cao tuổi Một số các nghiên cứu quan tâm đến đặc điểm nhân khẩu học như giới tính, chủng tộc, tình trạng hôn nhân, thu nhập như nghiên cứu của Steinman và cộng sự năm 2009 Hay hành vi hút thuốc lá, uống rượu trong các nghiên Pleis JR và cộng sự Các yếu tố liên bên ngoài môi trường liên quan đến ngã được quan tâm nhiều hơn trong những năm gần đây Nghiên cứu của Zecevic AA và cộng sự (2009) đều cho rằng những nguy hiểm về môi trường cũng đóng vai trò quan trọng trong vấn đề ngã
Trang 26Năm 2017, một số nghiên cứu không những chỉ ra các yếu tố liên quan đến ngã ở NCT sống trong cộng đồng, mà còn phân tầng nguy cơ và các biện pháp can thiệp nhằm giảm thiểu ngã [38], [39], [43]
1.1.2.2 Tại Việt Nam
Có rất ít các công trình nghiên cứu về ngã ở người cao tuổi Tác giả Trần Thị Hoàng Oanh (2014) tiến hành nghiên cứu sự sợ ngã ở người cao tuổi tại Quận Hải Châu, Đà Nẵng cho thấy có nhiều yếu tố liên quan đến ngã, một trong những yếu tố liên quan mạnh mẽ nhất là sự gia tăng độ tuổi trong xu hướng già hóa dân số tại Việt Nam [1] Một nghiên khác của Phạm Tỷ Phú (2015) khi tiến hành nghiên cứu thiết kế hệ thống giám sát sự sợ ngã của người cao tuổi [2] Tác giả cho rằng tâm lý sợ ngã ảnh hưởng rất lớn đến sự di chuyển của NCT, đặc biệt là ở những người đã từng ngã trước đó Việc thiết lập hệ thống giám sát này mang lại giá trị rất lớn trong vấn đề dự phòng ngã hiện nay Nghiên cứu được công bố gần đây của Trần Thị Thảo và cộng sự (2017) tiến hành trên người bệnh cao tuổi tại Bệnh viện C Đà Nẵng thấy rằng độ tuổi trên 80 có tỷ lệ ngã đến 45,2% và một số yếu tố liên quan đến ngã như sự suy giảm trong hoạt động hằng ngày, bệnh lý THA, ĐTĐ, trầm cảm, một số hành vi như lên xuống bậc thang, với lấy vật cao trên đầu hoặc dưới sàn, đi bộ lên xuống dốc [3]