CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Sơ lược lịch sử phát triển ngành điều dưỡng
Chăm sóc và nuôi dưỡng bắt đầu từ những bà mẹ, người đầu tiên bảo vệ con cái từ khi mới sinh Vào thế kỷ 60 tại Hy Lạp, bà Phobe đã chăm sóc bệnh nhân tại gia và được coi là nữ điều dưỡng đầu tiên Florence Nightingale, một phụ nữ người Anh sống giữa thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19, được tôn vinh là người sáng lập ngành điều dưỡng, đã giảm tỷ lệ tử vong do nhiễm trùng từ 42% xuống 2% nhờ lý thuyết khoa học vệ sinh Bà cũng thành lập trường đào tạo điều dưỡng đầu tiên trên thế giới, và ngày 12-5 hàng năm được chọn làm Ngày Điều Dưỡng Quốc Tế để tưởng nhớ bà Ngành điều dưỡng hiện nay đã trở thành một nghề riêng biệt với hệ thống tổ chức và đào tạo chuyên nghiệp từ trung cấp đến sau đại học Tại Việt Nam, ngành điều dưỡng đã có những thay đổi đáng kể từ năm 1990 với sự ra đời của Hội Điều Dưỡng Việt Nam, nâng cao chất lượng đào tạo và thực hành chăm sóc người bệnh, đồng thời nâng cao vị thế xã hội của điều dưỡng viên.
1.2 Định nghĩa về điều dưỡng
Ngày nay, điều dưỡng đã phát triển thành một lĩnh vực khoa học vững chắc với nhiều học thuyết và lý luận làm nền tảng cho thực hành nghề nghiệp Nhiều nghiên cứu khoa học đã được công bố trên các tạp chí uy tín, góp phần làm phong phú thêm định nghĩa về điều dưỡng Theo Nightingale (1860), điều dưỡng được xem là nghệ thuật sử dụng môi trường của người bệnh để hỗ trợ quá trình phục hồi của họ.
Theo Hiệp hội Điều dưỡng Hoa Kỳ (2003), điều dưỡng không chỉ bảo vệ và nâng cao sức khỏe mà còn tối ưu hóa khả năng của con người Điều này bao gồm việc dự phòng bệnh tật và thương tích, xoa dịu nỗi đau thông qua chẩn đoán và điều trị, cũng như tăng cường chăm sóc cho cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội.
Tại Việt Nam, theo từ điển tiếng Việt, nhà xuất bản Khoa học xã hội
Theo định nghĩa năm 1999, y tá được xem là người có trình độ trung cấp trở xuống, thực hiện việc chăm sóc bệnh nhân theo chỉ định của bác sĩ Tuy nhiên, định nghĩa này không phản ánh đầy đủ vị trí và vai trò của điều dưỡng viên trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe hiện nay Theo Quyết định số 41/2005/QĐ-BNV ngày 22 tháng 4 năm 2005 của Bộ Nội Vụ, điều dưỡng được xác định là viên chức chuyên môn kỹ thuật của ngành y tế, có nhiệm vụ tổ chức và thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng cơ bản cũng như chuyên khoa tại các cơ sở y tế.
1.3 Nguyên tắc chăm sóc người bệnh trong bệnh viện
Nguyên tắc chăm sóc người bệnh trong bệnh viện theo quy định của Bộ Y tế được quy định trong điều 3 của thông tư 07/2011/TT-BYT, bao gồm ba nguyên tắc cơ bản.
- Người bệnh là trung tâm của công tác chăm sóc nên phải được chăm sóc toàn diện, liên tục, bảo đảm hài lòng, chất lượng và an toàn
Chăm sóc và theo dõi bệnh nhân là nhiệm vụ quan trọng của bệnh viện, trong đó điều dưỡng viên và hộ sinh viên thực hiện các hoạt động này và chịu trách nhiệm hoàn toàn.
- Can thiệp ĐD phải dựa trên cơ sở các yêu cầu chuyên môn và sự đánh giá nhu cầu của mỗi NB để chăm sóc phục vụ
1.4 Vai trò và chức năng của điều dưỡng Điều dưỡng là một trong những lực lượng chính cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe (CSSK) cho NB, giữ các vai trò quan trọng như là: người chăm sóc, người truyền đạt thông tin, người tư vấn, người biện hộ cho NB
Theo Tổ chức Y tế thế giới, ĐD có 2 chức năng:
Chức năng chủ động trong chăm sóc điều dưỡng bao gồm việc thực hiện các hoạt động thiết yếu nhằm đáp ứng nhu cầu cơ bản của người bệnh Những nhu cầu này bao gồm hô hấp, ăn uống, bài tiết, vận động, duy trì thân nhiệt, vệ sinh cá nhân, thay quần áo, ngủ và nghỉ, an toàn, giao tiếp, tín ngưỡng, lao động và học tập, cùng với việc hỗ trợ tinh thần cho bệnh nhân.
Chức năng phối hợp của điều dưỡng không chỉ bao gồm việc thực hiện y lệnh của bác sĩ và báo cáo tình trạng bệnh nhân, mà còn thể hiện vai trò cộng tác với bác sĩ thay vì chỉ là trợ giúp Điều này đòi hỏi điều dưỡng phải hiểu rõ trách nhiệm của mình trong việc làm việc cùng với các đồng nghiệp như điều dưỡng, hộ sinh và kỹ thuật viên để hoàn thành nhiệm vụ hiệu quả.
1.5 Nghĩa vụ nghề nghiệp của người điều dưỡng Điều dưỡng đang được công nhận là một nghề riêng biệt, có quy định tiêu chuẩn nghiệp vụ của từng bậc ĐD theo quyết định số 41/2005/QĐ- BNV ngày 22 tháng 4 năm 2005 của Bộ Nội Vụ Trách nhiệm về đạo đức nghề nghiệp bao gồm trách nhiệm với cả NB, nghề nghiệp và với đồng nghiệp Trách nhiệm đạo đức nghề nghiệp của người ĐD với NB phải dựa trên các nguyên tắc cơ bản sau đây [11]:
Không bao giờ được từ chối giúp đỡ người bệnh, bởi vì ý thức trách nhiệm trước cuộc sống của bệnh nhân đòi hỏi nhân viên y tế phải có sự quan tâm đặc biệt và sẵn sàng hy sinh bản thân để hỗ trợ họ Trong mọi tình huống, cần nhớ rằng bệnh nhân đang gặp khó khăn và cần sự giúp đỡ từ cán bộ y tế Việc từ chối giúp đỡ người bệnh không chỉ vi phạm nghĩa vụ mà còn bị lên án về mặt đạo đức và có thể bị xử phạt hành chính khi cần thiết.
Để giúp đỡ người bệnh loại trừ đau đớn về thể chất, người điều dưỡng cần thể hiện sự thông cảm và quan tâm đặc biệt, coi nỗi đau của bệnh nhân như nỗi đau của chính mình Họ nên tìm mọi cách để cứu giúp và thực hiện các kỹ thuật chăm sóc, điều trị một cách nhẹ nhàng nhằm hạn chế tối đa sự đau đớn cho bệnh nhân.
Người điều dưỡng luôn phải đấu tranh cho sự sống của bệnh nhân, không được bỏ mặc họ trong bất kỳ hoàn cảnh nào Họ cần dành sự quan tâm tối đa cho bệnh nhân và không bao giờ rời xa vị trí của mình, để bệnh nhân không phải đối mặt với bệnh tật một mình.
Hỗ trợ về tinh thần cho người bệnh: Trong khi nằm viện, tinh thần của
Bệnh nhân (NB) thường chịu ảnh hưởng từ bệnh tật, sự cách ly với người thân, môi trường bệnh viện và nhiều yếu tố khác, dẫn đến tình trạng tinh thần và thể chất khác biệt so với người khỏe mạnh Do đó, khi tiếp xúc với bệnh nhân, điều dưỡng (ĐD) cần xây dựng lòng tin để giúp bệnh nhân yên tâm trong quá trình điều trị.
Tôn trọng nhân cách của người bệnh là cốt lõi của y đức, thể hiện qua nguyên tắc "hãy đối xử với người bệnh như bạn muốn được đối xử." Mọi phong tục, tập quán và quyền tự do tín ngưỡng của từng cá nhân bệnh nhân cần được tôn trọng đầy đủ.
CƠ SỞ THỰC TIỄN
2.1 Một số nghiên cứu về công tác chăm sóc người bệnh của điều dưỡng
2.1.1 Một số nghiên cứu trên thế giới về công tác CSNB của điều dưỡng Ở các nước trên thế giới, việc đánh giá hoạt động chăm sóc của ĐD được thực hiện hàng năm nhằm đảm bảo và nâng cao chất lượng chăm sóc
Nghiên cứu của Robert L Kane và cộng sự năm 2007 cho thấy mối liên hệ giữa số lượng điều dưỡng và chất lượng chăm sóc bệnh nhân tại Hoa Kỳ và Canada Cụ thể, các bệnh viện có đội ngũ điều dưỡng đông đảo hơn thường có tỷ lệ bệnh nhân tử vong thấp hơn.
Việc tăng cường số lượng điều dưỡng chăm sóc tại các đơn vị chuyên sâu, như phòng chăm sóc đặc biệt hoặc đối với bệnh nhân sau phẫu thuật, sẽ giúp giảm nguy cơ biến chứng và tử vong cho người bệnh, đặc biệt khi chỉ số BV thấp hơn.
Tư vấn giáo dục sức khỏe (GDSK) cho người bệnh là một phần quan trọng trong công tác chăm sóc người bệnh (CSNB) của điều dưỡng (ĐD) Nghiên cứu của Aghakhani và các cộng sự (2012) cho thấy 73,6% ĐD chưa nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục người bệnh, trong khi cơ sở vật chất và thiếu thời gian là những rào cản chính trong công tác này Bên cạnh đó, nghiên cứu của Lain Ghiwet và Kalayou Kidanu (2014) tại bệnh viện Ayder, Ethiopia, chỉ ra rằng 43,7% người bệnh mong muốn ĐD có kiến thức và năng lực chăm sóc, và 45,3% người bệnh kỳ vọng ĐD phải vui vẻ, tử tế, thân thiện và nhạy bén trong việc hỗ trợ họ.
Hội đồng Điều dưỡng tại Thái Lan đã thiết lập các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng công tác chăm sóc sức khỏe, bao gồm ý kiến tích cực từ bệnh nhân và người nhà về thái độ và hành vi của điều dưỡng Điều dưỡng cần thu thập thông tin y tế, hỗ trợ bệnh nhân, giảm đau và cải thiện triệu chứng không bình thường Không có phản hồi tiêu cực về tinh thần và hành vi của điều dưỡng, với tỷ lệ bệnh nhân hài lòng đạt từ 80% trở lên, theo nghiên cứu mô tả cắt ngang của tác giả Nguyễn Bích Lưu.
Nghiên cứu năm 2001 tại Khoa Ngoại, bệnh viện Banpong, tỉnh Ratchaburi, Thái Lan, đã khảo sát 175 bệnh nhân xuất viện để đánh giá chất lượng dịch vụ chăm sóc y tế thông qua mức độ hài lòng của họ Kết quả cho thấy 100% bệnh nhân hài lòng với dịch vụ chăm sóc, trong đó 59,4% đánh giá cao các hoạt động chăm sóc và 51% rất hài lòng với những hoạt động này Nghiên cứu cũng chỉ ra mối liên quan giữa nguồn lực điều dưỡng và trình độ chuyên môn của điều dưỡng viên với chất lượng dịch vụ chăm sóc.
2.1.2 Một số nghiên cứu về công tác CSNB của điều dưỡng tại Việt Nam
Nghiên cứu điều dưỡng là một lĩnh vực quan trọng trong nghiên cứu y học, nhằm mục đích nâng cao kiến thức nghề nghiệp và cải tiến thực hành điều dưỡng dựa trên các bằng chứng đáng tin cậy Nhiều cơ sở y tế đã thực hiện các đề tài nghiên cứu về chăm sóc sức khỏe, góp phần quan trọng vào sự phát triển ngành điều dưỡng tại Việt Nam.
Nghiên cứu năm 2010 tại Trung tâm Ung bướu Bệnh viện Trung ương Huế của tác giả Châu Thị Hoa và Nguyễn Thị Diệu Trang chỉ ra rằng, 90,7% người bệnh được điều dưỡng quan tâm chăm sóc tinh thần, 89,3% được hướng dẫn chế độ ăn uống rõ ràng, nhưng chỉ 12% nhận được hỗ trợ trong việc ăn uống Chăm sóc vệ sinh cá nhân chủ yếu do người nhà thực hiện (68%), trong khi tỷ lệ điều dưỡng trực tiếp hỗ trợ người bệnh uống thuốc chỉ đạt 53,3% Hướng dẫn cụ thể cho người bệnh khi uống thuốc đạt 78,7%, nhưng giao tiếp của điều dưỡng trước, trong và sau thủ thuật chỉ đạt 14,7% Tỷ lệ người bệnh được giáo dục sức khỏe và phòng bệnh chỉ đạt 76%.
Người bệnh đóng vai trò trung tâm trong công tác chăm sóc, vì vậy việc đánh giá chất lượng chăm sóc nursing (CSNB) qua ý kiến của họ là rất quan trọng Nghiên cứu của Nguyễn Tuấn Hưng (2011) tại Bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí cho thấy 78,8% người bệnh không cảm thấy phiền hà khi thực hiện các thủ tục hành chính Tuy nhiên, chỉ có 15,2% người bệnh thường xuyên nhận được sự chăm sóc từ điều dưỡng viên về việc trao đổi thông tin liên quan đến bệnh tật và sức khỏe, 9,1% được tư vấn về giữ gìn sức khỏe, và chỉ 43,9% nhận được hỗ trợ trong việc thay đồ Tỷ lệ hỗ trợ thay đổi tư thế là 13,6%, trong khi sự hỗ trợ cho vệ sinh răng miệng chỉ đạt 1,5%, vệ sinh thân thể là 3%, và không có sự hỗ trợ cho đại tiểu tiện.
Năm 2012, Dương Thị Bình Minh và cộng sự đã nghiên cứu công tác chăm sóc người bệnh tại BV Hữu Nghị, với 216 bệnh nhân, 84 điều dưỡng và 19 cán bộ y tế tham gia Kết quả cho thấy, điều dưỡng thực hiện tốt 4/5 nội dung chăm sóc người bệnh, với tỷ lệ đánh giá trên 90% cho các hoạt động như tiếp đón, chăm sóc tâm lý, theo dõi và thực hiện y lệnh bác sĩ Tuy nhiên, công tác tư vấn sức khỏe chỉ đạt 66,2%, và 46,2% người nhà bệnh nhân vẫn thực hiện vệ sinh cá nhân cho bệnh nhân Thiếu nhân lực và quá tải công việc của điều dưỡng đã ảnh hưởng đến việc thực hiện đầy đủ các hoạt động chăm sóc.
Một nghiên cứu cắt ngang năm 2013 do Trần Thị Thảo và cộng sự thực hiện tại BV Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí cho thấy 94,9% bệnh nhân được nhân viên y tế hướng dẫn về tự chăm sóc Tuy nhiên, tỷ lệ hướng dẫn về luyện tập phục hồi chức năng, phòng bệnh và chế độ ăn uống còn thấp, chỉ đạt 14,4%, 13,4% và 12,5% tương ứng Đánh giá tổng quát về nội dung giáo dục sức khỏe cho bệnh nhân cho thấy 25,9% không đạt yêu cầu, trong khi chỉ có 74,1% đạt yêu cầu.
Tư vấn và hướng dẫn giáo dục sức khỏe cho người bệnh là nhiệm vụ quan trọng trong công tác chăm sóc sức khỏe, cần thực hiện ngay từ khi người bệnh nhập viện, trong thời gian điều trị và trước khi ra viện Điều này giúp người bệnh và gia đình hiểu rõ quy định của bệnh viện, tình trạng sức khỏe để hợp tác trong điều trị và cải thiện sức khỏe Nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Nga tại Bệnh viện Phổi Trung ương năm 2015 cho thấy công tác tư vấn chỉ đạt 50,2%, trong khi tỷ lệ điều dưỡng hỗ trợ vệ sinh răng miệng cho người bệnh nặng chỉ đạt 55,6% và vệ sinh sau đại tiểu tiện là 50,6% Nguyên nhân bao gồm nguồn nhân lực điều dưỡng mỏng, chất lượng điều dưỡng chưa đáp ứng yêu cầu, quá tải người bệnh và công tác kiểm tra giám sát chưa hiệu quả.
Nghiên cứu của Quách Chí Đông (2018) tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình cho thấy, hoạt động chăm sóc người bệnh của điều dưỡng được đánh giá cao với tỷ lệ trên 80%, nhưng công tác tư vấn và hướng dẫn GDSK chỉ đạt 68,5% Đáng chú ý, 23,1% người bệnh phải ăn qua sonde do người nhà thực hiện, trong khi tỷ lệ điều dưỡng hỗ trợ vệ sinh răng miệng và đi đại tiện, tiểu tiện cho người bệnh nặng chỉ đạt 59,4% Thiếu nhân lực, trình độ và quá tải công việc là những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc người bệnh.
2.2 Điều dưỡng với công tác chăm sóc toàn diện tại Việt Nam
Sức khỏe được coi là tài sản quý giá nhất của mỗi cá nhân và gia đình, đặc biệt là khi con người già đi và nhận thức rõ hơn về giá trị của sức khỏe Đầu tư cho sức khỏe không chỉ là đầu tư cho sự phát triển của giống nòi và xã hội, mà còn nâng cao chất lượng cuộc sống cho từng người và gia đình Với tuổi thọ người Việt Nam ngày càng tăng, nhu cầu chăm sóc sức khỏe cũng gia tăng, đặt ra thách thức lớn hơn cho đội ngũ cán bộ y tế.
Người điều dưỡng và nghề điều dưỡng đóng vai trò quan trọng trong chăm sóc sức khoẻ, đặc biệt tại các vùng khó khăn và hẻo lánh Họ không chỉ là người đầu tiên đón em bé chào đời mà còn là người chăm sóc, an ủi bệnh nhân trong những giờ phút khó khăn nhất Tổ chức Y tế Thế giới đã công nhận rằng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ do người điều dưỡng và hộ sinh cung cấp là trụ cột của hệ thống y tế.
LIÊN HỆ THỰC TẾ
Công tác chăm sóc toàn diện người bệnh của điều dưỡng tại khoa Hồi sức tích cực, Bệnh viện đa khoa Tỉnh Thanh Hóa
Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa, một bệnh viện hạng I tuyến tỉnh với quy mô 1200 giường bệnh và đầy đủ các chuyên khoa, bao gồm Khoa Hồi sức tích cực được thành lập vào ngày 02/09/1976 Khoa này được tách ra từ Khoa Cấp cứu và được giao chỉ tiêu 30 giường bệnh vào năm 2021 Đây là một trong những khoa lâm sàng trọng yếu, có chức năng điều trị và chăm sóc tích cực cho những bệnh nhân nặng đang có nguy cơ đe dọa chức năng sống.
Bệnh viện tiếp nhận tất cả bệnh nhân nặng cần cấp cứu, điều trị và chăm sóc đặc biệt 24/24 giờ Các bệnh nhân này được chuyển đến từ các khoa lâm sàng trong bệnh viện cũng như từ các bệnh viện tuyến huyện trong khu vực và một số huyện lân cận.
Tiếp tục phát triển các kỹ thuật mũi nhọn trong y học, bao gồm siêu lọc máu và thẩm tách huyết tương thường quy, can thiệp mạch vành và mạch ngoại vi, cũng như thở máy trong điều trị ARDS Đặc biệt, kỹ thuật lọc máu hấp phụ được áp dụng trong điều trị ngộ độc Paraquat Ngoài ra, các kỹ thuật phức tạp như hạ thân nhiệt và ECMO (Tim phổi nhân tạo) đã được triển khai trong hồi sức cho bệnh nhân ngừng tuần hoàn và các trường hợp tai biến mạch máu não nguy kịch.
Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Thanh Hóa, được biết đến là “Điểm đến của niềm tin và chất lượng”, luôn nỗ lực nâng cao chất lượng dịch vụ, đặc biệt là tại Khoa hồi sức tích cực Khoa đã áp dụng mô hình chăm sóc toàn diện theo ca kíp, nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu khám và điều trị của bệnh nhân Hiện tại, Khoa hồi sức tích cực có 35 nhân viên, bao gồm 11 bác sĩ, 23 điều dưỡng và 1 kế toán Gần đây, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long đã đến thăm và làm việc tại khoa, thể hiện sự quan tâm đối với sự phát triển của đơn vị.
HSTC - BVĐK Tỉnh Thanh Hóa năm 2021
Khoa Hồi sức tích cực tại Bệnh viện đa khoa Tỉnh Thanh Hóa được trang bị nhiều thiết bị y tế hiện đại, phục vụ hiệu quả cho công tác cấp cứu và điều trị hồi sức Một số thiết bị tiêu biểu bao gồm các máy móc chuyên dụng hỗ trợ bệnh nhân trong tình trạng nguy kịch.
02 Máy lọc máu, 01 máy ECMO,01 Máy chụp X-Quang di động, 23 Máy thở,
01 máy siêu âm tại giường, 08 Monitor đa thông số, 19 bơm tiêm điện, 01 máy sốc điện, 01 máy điện tim… Ảnh 3: Máy lọc máu Ảnh 4: Hệ thống máy thở
Khảo sát thực trạng chăm sóc người bệnh tại Khoa Hồi sức tích cực
Theo Điều 2 của Thông tư 07/2011/TT-BYT, chăm sóc người bệnh trong bệnh viện bao gồm việc hỗ trợ và đáp ứng các nhu cầu cơ bản như duy trì hô hấp, tuần hoàn, thân nhiệt, ăn uống, bài tiết, tư thế, vận động, vệ sinh cá nhân, ngủ, nghỉ, cũng như chăm sóc tâm lý và hỗ trợ điều trị, đồng thời giảm thiểu nguy cơ từ môi trường bệnh viện Thông tư cũng quy định nhiệm vụ chuyên môn của điều dưỡng trong việc chăm sóc người bệnh với 12 nội dung cụ thể.
- Tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khỏe
- Chăm sóc về tinh thần
- Chăm sóc vệ sinh cá nhân (VSCN)
- Chăm sóc phục hồi chức năng (PHCN)
- Chăm sóc người bệnh có chỉ định phẫu thuật, thủ thuật
- Dùng thuốc và theo dõi dùng thuốc cho người bệnh
- Chăm sóc NB giai đoạn hấp hối và NB tử vong
- Thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng
- Theo dõi, đánh giá người bệnh
- Bảo đảm an toàn và phòng ngừa sai sót chuyên môn kỹ thuật trong chăm sóc người bệnh
- Ghi chép hồ sơ bệnh án
Bài viết sử dụng bộ câu hỏi phỏng vấn người bệnh được tham khảo từ nghiên cứu của tác giả Quách Chí Đông, nhằm đánh giá các hoạt động chăm sóc người bệnh của điều dưỡng Các câu hỏi đã được điều chỉnh để phù hợp với địa điểm nghiên cứu cụ thể.
Bộ câu hỏi phỏng vấn gồm có 2 phần:
Phần I: Thông tin chung của người bệnh
Phần II: Các nội dung chăm sóc: Tiếp đón người bệnh vào khoa điều trị; công tác tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khỏe; chăm sóc, hỗ trợ về tâm lý tinh thần cho người bệnh; hỗ trợ người bệnh vệ sinh hàng ngày; chăm sóc dinh dưỡng, hỗ trợ người bệnh ăn uống; chăm sóc phục hồi chức năng cho người bệnh; theo dõi, đánh giá người bệnh; hỗ trợ điều trị và phối hợp, thực hiện y lệnh của bác sĩ; cho người bệnh; Bảo đảm an toàn cho người bệnh và phòng ngừa sai sót chuyên môn kỹ thuật
- Khảo sát ý kiến NB về hoạt động CSNB của ĐD với 03 mức độ đánh giá, được xếp theo thứ tự 1, 2, 3:
1 Thực hiện tốt/đầy đủ
2 Thực hiện nhưng chưa tốt/chưa đầy đủ
3 Không thực hiện Mức độ hoàn thành được phân thành 02 nhóm: “Đạt’ và “Không đạt” được tính như sau:
- Mục A: Tiếp đón người bệnh gồm 03 câu hỏi, được tính “Đạt” khi cả
03 câu (A1 - A3) đều được người bệnh đánh giá đạt mức độ 1 Chỉ một câu mức độ 2 hoặc 3 thì tính “Không đạt”
Mục B của bài viết tập trung vào việc tư vấn và hướng dẫn GDSK cho người bệnh Để được coi là "Đạt", người bệnh cần đánh giá cả 5 câu hỏi từ B1 đến B5 đạt mức độ 1 Nếu chỉ có một câu được đánh giá đạt mức độ 2 hoặc 3, kết quả sẽ được tính là "Không đạt".
Mục C tập trung vào việc chăm sóc và hỗ trợ tâm lý, tinh thần cho người bệnh, bao gồm 04 câu hỏi Để được tính là "Đạt", cả 04 câu (C1 - C4) phải được người bệnh đánh giá đạt mức độ 1 Nếu có bất kỳ câu nào đạt mức độ 2 hoặc 3, kết quả sẽ được xem là "Không đạt".
Mục D đề cập đến việc chăm sóc và hỗ trợ người bệnh trong việc vệ sinh cá nhân, bao gồm 04 câu hỏi Trong đó, có 02 câu hỏi chuyển tiếp và 02 câu hỏi có thể không phù hợp với một số người Do đó, kết quả chăm sóc vệ sinh cá nhân sẽ được mô tả riêng theo từng câu hỏi, không tổng hợp chung để đánh giá là “Đạt” hay “Không đạt”.
Mục E tập trung vào việc chăm sóc dinh dưỡng cho người bệnh, bao gồm 05 câu hỏi Trong số đó, có 02 câu hỏi chuyển và 02 câu có thể không phù hợp với một số người Do đó, cần mô tả kết quả chăm sóc dinh dưỡng riêng theo từng câu, thay vì tổng hợp chung để đánh giá “Đạt” hay “Không đạt”.
Mục F: Chăm sóc phục hồi chức năng (PHCN) cho người bệnh (NB) bao gồm ba câu hỏi, trong đó có một câu hỏi chuyển và một câu có thể không phù hợp với một số người Do đó, cần mô tả kết quả chăm sóc PHCN riêng biệt theo từng câu hỏi mà không tổng hợp chung để đưa ra đánh giá.
Mục G: Để theo dõi và đánh giá nhu cầu, cần trả lời ba câu hỏi Đánh giá được coi là "Đạt" khi cả ba câu (G1, G2, G3) đều đạt mức độ 1 Nếu có bất kỳ câu nào đạt mức độ 2 hoặc 3, kết quả sẽ được tính là "Không đạt".
- Mục H: Hồ trợ điều trị và phối hợp thực hiện y lệnh của bác sĩ, gồm
07 câu hỏi, được tính “Đạt” khi cả 07 câu (Hl - H7) đều được NB đánh giá đạt mức độ 1 Chỉ một câu mức độ 2 hoặc 3 thì tính “Không đạt”
Mục I tập trung vào việc bảo đảm an toàn và phòng ngừa sai sót chuyên môn kỹ thuật cho người bệnh Trong phần này, có 04 câu hỏi được đưa ra, bao gồm 1 câu hỏi chuyển và 2 câu có thể không phù hợp với một số người Do đó, điểm sẽ được tính riêng cho từng câu hỏi, không tổng hợp chung để đánh giá kết quả là "Đạt" hay "Không đạt".
Kết quả khảo sát
1.3.1 Thông tin chung của người bệnh tham gia nghiên cứu
Bảng 1.3.1: Một số thông tin nhân khẩu học của người bệnh (n $5)
Trung bình (X SD): 59,56 ± 16,13 100 40.8 Giới tính
Trung học cơ sở (Cấp 2) 122 49.8
Phổ thông trung học (Cấp 3) 57 23.3
Kết quả nghiên cứu cho thấy, hơn một nửa đối tượng nghiên cứu là người cao tuổi, với tỷ lệ 59,2% và tuổi trung bình là 59,56 ± 16,13 tuổi Trong đó, nam giới chiếm 65,7% và nữ giới chiếm 34,3% Gần một nửa số bệnh nhân tham gia nghiên cứu có trình độ học vấn trung học cơ sở (49,7%), trong khi nông dân là nhóm chiếm tỷ lệ cao nhất với 43,2% Đáng chú ý, hơn 76,7% số bệnh nhân sống ở khu vực ngoại thành.
Bảng 1.3.2: Phân bố người bệnh tham gia nghiên cứu theo số lần nằm viện và hình thức thanh toán viện phí (n = 245)
Số lần nằm viện 1 - 2 lần 82 33.5
Hình thức thanh toán viện phí
Có bảo hiểm y tế 238 97.1 Không có bảo hiểm y tế 07 2.9
Kết quả nghiên cứu cho thấy hơn 1/3 bệnh nhân tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa tái nhập viện từ 3 lần trở lên, trong khi hầu hết bệnh nhân đều có thẻ bảo hiểm y tế trong quá trình điều trị.
1.3.2 Thực trạng công tác chăm sóc người bệnh của ĐD qua đánh giá của NB
1.3.2.1 Công tác tiếp đón người bệnh
Bảng 1.3.2.1: Công tác tiếp đón người bệnh (n = 245)
A1 Thực hiện đón tiếp với thái độ ân cần, xử trí nhanh chóng, xếp giường ngay khi
NB vào khoa điều trị
Thực hiện nhưng chưa đầy đủ 07 2.9
Khi bệnh nhân nhập khoa, cần thực hiện đầy đủ các thủ tục hành chính liên quan đến viện phí và bảo hiểm Đồng thời, trang bị đầy đủ đồ vải như quần áo, chăn, ga, gối và màn để đảm bảo sự thoải mái cho bệnh nhân.
Thực hiện hướng dẫn đầy đủ 235 95.9
Thực hiện nhưng chưa đầy đủ 10 4.1
A3 Phổ biến cho NB về Thực hiện đầy đủ 209 85.3 quyền lợi và nghĩa vụ, nội quy, quy định khác khi nằm điều trị tại khoa
Thực hiện nhưng chưa đầy đủ 36 14.7
Trong quá trình tiếp đón người bệnh, điều dưỡng đã thể hiện sự ân cần và nhanh chóng, với 97,1% người bệnh hài lòng về việc xếp giường ngay khi vào khoa điều trị Hơn nữa, 95,9% người bệnh đánh giá điều dưỡng đã hướng dẫn đầy đủ về các thủ tục hành chính như viện phí và bảo hiểm, cũng như cung cấp đầy đủ đồ vải như quần áo, chăn, ga, gối, màn Đặc biệt, 85,3% người bệnh cho rằng điều dưỡng đã thực hiện tốt việc phổ biến quyền lợi, nghĩa vụ và nội quy khi nằm viện.
Biểu đồ 1.3.2.1: Đánh giá chung công tác tiếp đón người bệnh
Kết quả khảo sát về công tác tiếp đón bệnh nhân cho thấy 85,3% bệnh nhân đánh giá công tác này của điều dưỡng đạt yêu cầu Tuy nhiên, 14,7% trường hợp không đạt yêu cầu, chủ yếu do thiếu thông tin đầy đủ về quyền lợi và nghĩa vụ của bệnh nhân trong quá trình điều trị tại khoa.
1.3.2.2 Công tác tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khỏe cho người bệnh Bảng 1.3.2.2: Công tác tư vấn, hướng dẫn GDSK cho NB (n $5 )
Tỷ lệ (%) B1 ĐD thực hiện hướng dẫn NB cách tự theo dõi, chăm sóc trong quá trình điều trị
Thực hiện hướng dẫn đầy đủ 232 94.7 Thực hiện nhưng chưa đầy đủ 13 5.3
NB về chế độ ăn uống trong điều trị, sau khi ra viện
Thực hiện hướng dẫn đầy đủ 237 96.7 Thực hiện nhưng chưa đầy đủ 08 3.3
B3 ĐD thực hiện hướng dẫn cho NB về chế độ sinh hoạt trong khi nằm điều trị và sau khi ra viện
Thực hiện hướng dẫn đầy đủ 211 86.1 Thực hiện nhưng chưa đầy đủ 34 13.9
B4 ĐD thực hiện hướng dẫn NB cách tự phòng bệnh trong khi điều trị và sau khi ra viện về sinh hoạt tại gia đình
Thực hiện hướng dẫn đầy đủ 197 80.4 Thực hiện nhưng chưa đầy đủ 48 19.6
B5 ĐD hướng dẫn NB các phương pháp luyện tập nâng cao sức khỏe tại gia đình sau khi ra viện
Thực hiện nhưng chưa chu đáo 96 39.2 Không thực hiện
Trong công tác tư vấn GDSK cho người bệnh, điều dưỡng đã thực hiện đầy đủ hướng dẫn cách tự theo dõi và chăm sóc trong quá trình điều trị với tỷ lệ cao nhất là 94,7% Tuy nhiên, nội dung mà người bệnh đánh giá đạt yêu cầu thấp nhất là việc điều dưỡng hướng dẫn các phương pháp luyện tập nâng cao sức khỏe tại gia đình sau khi ra viện, chỉ đạt tỷ lệ 60,8%.
Theo Biểu đồ 1.3.2.2, công tác tư vấn và hướng dẫn giáo dục sức khỏe (GDSK) cho người bệnh (NB) chỉ nhận được mức đánh giá khiêm tốn, với 60.8% NB cho rằng công tác này đạt yêu cầu.
1.3.2.3 Công tác hỗ trợ về tâm lý, tinh thần cho người bệnh
Bảng 1.3.2.3: Công tác chăm sóc hỗ trợ về tâm lý, tinh thần cho NB (n = 245)
Nội dung Số lượng Tỷ lệ
C1 Quan tâm, chia sẻ, hỏi thăm sức khỏe của người bệnh trong quá trình chăm sóc và điều trị
Thực hiện nhưng chưa tốt (có hỏi thăm nhưng thái độ không niềm nở, thông cảm)
Nội dung Số lượng Tỷ lệ
C2 Động viên người bệnh yên tâm điều trị trong quá trình chăm sóc, làm thủ thuật
Thực hiện nhưng chưa tốt (lúc có, lúc không > 1 lần/ngày)
C3 Thực hiện giải đáp kịp thời những băn khoăn, thắc mắc của người bệnh trong quá trinh điều trị và chăm sóc
Thực hiện nhưng chưa tốt (có giải đáp nhưng không kịp thời)
C4 Thái độ, hành vi, lời nói trong giao tiếp và cư xử với người bệnh
Luôn tôn trọng, thái độ ân cần, thông cảm 233 95.1
Thực hiện nhưng chưa tốt ( lúc có, lúc không) 12 4.9
Công tác chăm sóc và hỗ trợ tâm lý cho người bệnh của điều dưỡng được đánh giá rất cao, với 97,6% người bệnh cho biết điều dưỡng luôn quan tâm, chia sẻ và hỏi thăm sức khỏe, đồng thời động viên họ yên tâm điều trị Ngoài ra, tỷ lệ người bệnh cảm thấy điều dưỡng thực hiện tốt việc động viên trong quá trình chăm sóc và thủ thuật, cùng với thái độ ân cần và tôn trọng, đạt 95,1%.
Biểu đồ 1.3.2.3: Đánh giá chung công tác chăm sóc về tâm lý, tinh thần cho
Đánh giá chung về công tác chăm sóc hỗ trợ tâm lý và tinh thần cho bệnh nhân cho thấy tỷ lệ hài lòng đạt 92,7%, trong khi 7,3% bệnh nhân không cảm thấy thỏa mãn, chủ yếu do việc giải đáp các thắc mắc và băn khoăn của họ trong quá trình điều trị chưa được thực hiện kịp thời Công tác chăm sóc, theo dõi và đánh giá người bệnh cần được cải thiện để nâng cao chất lượng dịch vụ.
Bảng 1.3.2.4: Công tác chăm sóc theo dõi, đánh giá người bệnh (n = 245)
Tỷ lệ (%) G1 Điều dưỡng thực hiện đo mạch, nhiệt độ, huyết áp, hàng ngày cho NB trong thời gian nằm viện
99.2 Thực hiện nhưng không đầy đủ 02 0.8
G2 Điều dưỡng thực hiện Thực hiện tốt 244 99.6 theo dõi diễn biến, hỏi thăm về tình hình bệnh tật của NB hàng ngày trong thời gian nằm viện
Thực hiện chưa đầy đủ ( ngày có, ngày không) 01 0.4
G3 Điều dưỡng có đến ngay và xử trí kịp thời khi
NB có dấu hiệu bất thường
Theo bảng 1.3.2.4, người bệnh đánh giá cao sự chăm sóc của điều dưỡng, với 99,2% cho rằng điều dưỡng thực hiện tốt việc đo mạch, nhiệt độ và huyết áp hàng ngày Hơn nữa, 99,6% điều dưỡng thường xuyên hỏi thăm tình trạng bệnh tật của người bệnh Đặc biệt, 99,6% người bệnh cho rằng điều dưỡng đã đến ngay và xử trí kịp thời khi có dấu hiệu bất thường, chỉ có 0,4% phản ánh rằng điều dưỡng chưa đến kịp thời trong những trường hợp này.
Biểu đồ 1.3.2.4: Đánh giá chung công tác theo dõi, đánh giá NB
Tỷ lệ bệnh nhân đánh giá cao công tác theo dõi và đánh giá của điều dưỡng đạt 99,2%, trong khi chỉ 0,8% cho rằng chưa đạt yêu cầu Nguyên nhân chính là do điều dưỡng chưa theo dõi thường xuyên và hỏi thăm tình trạng bệnh của bệnh nhân hàng ngày trong thời gian nằm viện.
1.3.2.5 Công tác hỗ trợ điều trị và phối hợp thực hiện y lệnh của bác sĩ Bảng 1.3.2.5: Hỗ trợ điều trị và phối hợp thực hiện y lệnh của bác sĩ (n $5)
H1 ĐD thực hiện thông báo, giải thích công việc sắp làm trước khi thực hiện y lệnh của bác sĩ
98.0 Thực hiện nhưng chưa đầy đủ 05 2.0
H2 ĐD thực hiện kiểm tra tên, tuổi của NB, giải thích đầy đủ trước mỗi lần thực hiện y lệnh thuốc cho NB
Thực hiện đầy đủ 244 99.6 Thực hiện chưa đầy đủ 01 0.4
H3 ĐD thông báo rõ tên thuốc, số lượng thuốc, và công khai thuốc được sử dụng trong ngày cho NB
Có, thực hiện đầy đủ 225 91.8 Thực hiện nhưng chưa đầy đủ 20 8.2
H4 Điều dưỡng thực hiện phát thuốc cho NB uống tại giường, trước sự chứng kiến của ĐD
Có, thực hiện tốt, đầy đủ 192 78.4
Thực hiện nhưng chưa đầy đủ 53 21.6
H5 ĐD động viên, giải thích rõ Có, thực hiện đầy đủ 199 81,2
Tỷ lệ (%) ràng trước mỗi lần thực hiện thủ thuật tiêm, truyền, thay băng…cho
Thực hiện nhưng chưa đầy đủ 46 18,8
H6 ĐD hướng dẫn NB những việc cần chuẩn bị trước mỗi lần làm xét nghiệm, chụp chiếu
Có, thực hiện hướng dẫn đầy đủ 187 76,3
Thực hiện nhưng chưa đầy đủ 58 23,7
H7 ĐD có hướng dẫn hoặc đưa ông (bà) đến nơi làm xét nghiệm, chụp chiếu không
Có, thực hiện tốt 245 100.0 Thực hiện nhưng chưa chu đáo 00 0.0
Bảng 1.3.2.5 trình bày số liệu về công tác hỗ trợ điều trị và phối hợp thực hiện y lệnh của bác sĩ, cho thấy hầu hết các nội dung được người bệnh đánh giá thực hiện tốt với tỷ lệ trên 90% Tuy nhiên, theo kết quả biểu đồ 3.5, đánh giá chung về công tác này chỉ đạt 81,2%, cho thấy 18,8% chưa đạt yêu cầu Nguyên nhân chủ yếu là do điều dưỡng chưa thực hiện đầy đủ việc chứng kiến bệnh nhân uống thuốc tại giường và chưa cung cấp đầy đủ hướng dẫn cho bệnh nhân về những việc cần chuẩn bị trước khi làm xét nghiệm hoặc chụp chiếu.
1.3.2.6 Công tác chăm sóc Hỗ trợ người bệnh vệ sinh cá nhân hàng ngày
Bảng 1.3.2.6: Công tác chăm sóc hỗ trợ NB vệ sinh cá nhân hàng ngày
Tỷ lệ (%) D1 NB gặp khó khăn khi vệ sinh cá nhân trong thời gian nằm viện
D2 ĐD thực hiện giúp đỡ, hỗ trợ NB làm vệ sinh cá nhân khi gặp khó khăn
Có giúp đỡ nhưng chưa thường xuyên 06 2,4
D3 Trong thời gian nằm viện,
NB thấy NB nặng cùng khoa tự vệ sinh răng miệng, vệ sinh thân thể và không tự đi đại tiểu tiện được
Người chăm sóc trực tiếp hỗ trợ bệnh nhân nặng trong việc vệ sinh răng miệng và thân thể, đồng thời giúp bệnh nhân thực hiện các nhu cầu đại tiện và tiểu tiện Điều dưỡng viên là 230, chiếm 93.9%.
Người chăm sóc người bệnh 15 6.1
Trong số 233 bệnh nhân gặp khó khăn trong việc vệ sinh cá nhân, 95,1% đánh giá điều dưỡng thực hiện tốt việc hỗ trợ họ Chỉ 2,4% cho biết có sự giúp đỡ nhưng chưa thường xuyên, trong khi 3,3% cho rằng không nhận được sự hỗ trợ Kết quả cho thấy điều dưỡng là lực lượng chính trong việc giúp đỡ bệnh nhân nặng trong các hoạt động vệ sinh răng miệng, thân thể, cũng như hỗ trợ đi đại tiện và tiểu tiện, chiếm tới 93,9%.
1.3.2.7 Công tác chăm sóc dinh dưỡng cho người bệnh
Bảng 1.3.2.7: Công tác chăm sóc dinh dưỡng cho người bệnh (n = 245)
E1 Thực hiện giải thích, hướng dẫn cho
NB chế độ ăn theo bệnh tật
Thực hiện hướng dẫn hàng ngày 244
99.6 Hướng dẫn không thường xuyên (ngày có, ngày không)
E2 NB gặp khó khăn trong việc thực hiện ăn uống trong thời gian nằm viện
E3 ĐD thực hiện giúp đỡ, hỗ trợ khi NB gặp khó khăn trong việc thực hiện ăn uống
Thực hiện nhưng chưa thường xuyên 01 0.4
E4 Trong thời gian nằm viện NB thấy người bệnh nặng cùng khoa ăn qua ống thông mũi, miệng - dạ dày
NB nặng ăn qua ống thông
Bác sĩ 00 0.0 Điều dưỡng viên 243 99.2
Trong công tác chăm sóc dinh dưỡng cho người bệnh, mặc dù chỉ 0,4% điều dưỡng hướng dẫn chế độ ăn theo bệnh tật không thường xuyên, nhưng 99,6% vẫn có hướng dẫn cho người bệnh Trong số 234 người bệnh gặp khó khăn trong việc thực hiện ăn uống, chỉ 4,5% không nhận được sự giúp đỡ Đối với những người bệnh nặng phải ăn qua sonde, 99,2% đánh giá rằng điều dưỡng trực tiếp thực hiện việc cho ăn qua sonde, trong khi chỉ có 0,8% trường hợp cho rằng người nhà hỗ trợ việc này.
1.3.2.8 Công tác chăm sóc Phục hồi chức năng cho người bệnh
Bảng 1.3.2.8: Công tác chăm sóc phục hồi chức năng cho người bệnh
F1 ĐD thực hiện hướng dẫn, hỗ trợ NB luyện tập, phục hồi chức năng sớm để phòng biến chứng
95.5 Thực hiện chưa tốt (thực hiện khi người bệnh hỏi) 11 4.5
F2 Trong thời gian nằm viện NB gặp khó khăn trong việc vận động/xoay xở
F3 ĐD thực hiện hướng dẫn, hỗ trợ NB xoay trở hoặc vận động phòng ngừa loét do tỳ đè
Thực hiện chưa tốt (thực hiện khi người bệnh hỏi) 52 21,2