Tiêu chuẩn lạm dụng rượu theo DSM-IV1994 Theo hội tâm thần học Hoa Kỳ trong tài liệu hướng dẫn chẩn đoán, thống kê DSM-IV1994 tiêu chuẩn lạn dụng rượu ghi nhận như sau: - Hình thức sử
Trang 2BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
PHẠM THỊ MAI CHINH
CÔNG TÁC CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH CAI RƯỢU TẠI KHOA LOẠN THẦN BÁN CẤP BỆNH VIỆN TÂM THẦN
PHÚ THỌ NĂM 2021
Chuyên ngành: Điều dưỡng tâm thần
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN Tiến sỹ: Nguyễn Thị Minh Chính
NAM ĐỊNH – 2021
Trang 3LỜI CẢM ƠN Trong quá trình học tập và hoàn thành khoá luận, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, đồng nghiệp, gia đình và bạn bè
Tôi xin chân thành cảm ơn: Ban giám hiệu, Phòng Quản lý Đào tạo sau Đại học, Khoa Y học lâm sàng Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định cùng các thầy cô giáo đã nhiệt tình giảng dạy, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Cô giáo: Nguyễn Thị Minh Chính là người đã trực tiếp hướng dẫn, khích lệ giúp đỡ tôi thực hiện chuyên đề này Cô còn là người truyền đạt cho tôi nhiều kinh nghiệm quý báu và kỹ năng cần thiết phục vụ cho công việc cũng như trong cuộc sống
Tôi cũng xin cảm ơn tới Ban giám đốc Bệnh viện Tâm Thần Phú Thọ đã giúp
đỡ tôi trong quá trình thu thập thông tin
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới gia đình và bạn bè của tôi những người đã luôn động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và làm khoá luận
Ngày 27 tháng 8 năm 2021 NGƯỜI LÀM BÁO CÁO
Phạm Thị Mai Chinh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là báo cáo của riêng tôi Những thông tin trong khoá luận
là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Ngày 27 tháng 8 năm 2021 NGƯỜI LÀM BÁO CÁO
Phạm Thị Mai Chinh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG Error! Bookmark not defined ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1
1.1 Cơ sở lý luận 1
1.2 Cơ sở thực tiễn 20
CHƯƠNG II: MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT 24
2.1 Thông tin chung về bệnh viện Tâm thần Phú Thọ 24
Chương 3: BÀN LUẬN 28
3.1 Các ưu và nhược điểm 28
3.2 Nguyên nhân của các việc đã làm được và chưa làm được 29
KẾT LUẬN 32
ĐỀ XUẤT 33
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DSM-IV Tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng cai rượu
Trang 7đổ vỡ hạnh phúc gia đình
Số người sử dụng rượu trên thế giới có xu hướng ngày càng tăng, tuổi bắt đầu uống ngày trẻ, bệnh lý do rượu ngày càng trầm trọng Theo ước tính của tổ chức y tế thế giới WHO có khoảng 2 tỷ người sử dụng rượu Trong đó có khoảng 140 triệu người nghiện rượu Nhiều bệnh viện tâm thần ở các nước phát triển đã phải dành 30% giường nội trú cho các bệnh lý do rượu
Ở nước ta qua một số điều tra năm 1988 tỷ lệ nghiện rượu ở một phường tại Hà Nội là 1,15% dân số, năm 1988 tại một xã ở Hà Tây là 4,66% dân số
Theo thống kê của Bệnh viện tâm thần Phú Thọ trong 3 tháng đầu năm 2021 số người phải nhập viện điều trị liên quan đến rượu lên đến 10-12% tổng số người bệnh điều trị nội trú của bệnh viện
Đi kèm với số người bệnh phải nằm điều trị ngày càng tăng thì công tác chăm sóc cho người bệnh cũng phải được quan tâm đúng mực để tăng cường hiệu quả của điều trị Để đảm bảo cho việc chăm sóc người bệnh cai rượu được tốt hơn và nhằm hạn chế tỷ lệ tử vong góp phần làm giảm bớt gánh nặng cho nền kinh tế xã hội Do vậy tôi tiến hành nghiên cứu chuyên đề: “Thực trạng chăm sóc bệnh nhân cai rượu tại Khoa Loạn thần Bán Cấp - Bệnh viện Tâm thần Phú Thọ” với 2 mục tiêu
Mục tiêu 1: Nhận xét thực trạng chăm sóc người bệnh cai rượu tại Bệnh viện Tâm thần Phú Thọ
Mục tiêu 2: Đề xuất các biện pháp cải thiện chăm sóc cho người bệnh cai rượu tại Bệnh viện Tâm thần Phú Thọ
Trang 8CHƯƠNG I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Đặc điểm chung về lạm dụng rượu và nghiện rượu
Uống rượu là một tập quán của con người trong giao tiếp cộng đồng đã xuất hiện và tồn tại từ rất lâu trên thế giới có tính xã hội rộng rãi được ghi nhận sâu sắc trong nhiều nền văn hoá của nhiều nền dân tộc Tuy nhiên rượu là chất tác động tâm thần, uống rượu ở mức độ vừa phải đem lại cho người uống cảm giác sảng khoái, vui
vẻ, hoạt bát trong giao tiếp Nhưng uống rượu ở những liều lượng lớn người uống dễ lâm vào trạng thái say rượu không còn làm chủ được bản thân, thậm chí có thể hôn
mê, ngộ độc cấp do rượu gây hại cho sức khoẻ bản thân và được coi là lạm dụng rượu Lạm dụng rượu là một khái niệm đôi khi khó xác định ranh giới giữa việc sử dụng rượu thông thường và sử dụng gây hại dẫn đến phụ thuộc rượu, nghiện rượu
1.1.2 Tiêu chuẩn lạm dụng rượu theo DSM-IV(1994)
Theo hội tâm thần học Hoa Kỳ trong tài liệu hướng dẫn chẩn đoán, thống kê DSM-IV(1994) tiêu chuẩn lạn dụng rượu ghi nhận như sau:
- Hình thức sử dụng rượu không tương thích gây ra một sự biến đổi về chức năng, hoặc một sự chịu đựng có ý nghĩa lâm sàng, đặc trưng bằng sự có mặt của ít nhất một trong những biểu hiện sau trong vòng một năm
+ Sử dụng nhắc lại rượu dẫn đến làm mất khả năng thực hiện những nhiệm vụ trọng yếu trong công việc, ở nhà hoặc ở trường
+ Sử dụng nhắc lại rượu trong những tình huống gây hại về thể chất
+ Lập lại những vấn đề về tư pháp liên quan đến việc sử dụng rượu
VD: Bị bắt giữ về những hành vi không bình thường do uống rượu
+ Sử dụng rượu mặc dù biết có những vấn đề dai dẳng hoặc tái diễn giữa các cá nhân hoặc xã hội xảy ra hoặc kịch phát lên do những tác động của rượu
+ Không có biểu hiện của sự phụ thuộc rượu
1.1.3 Nghiện rượu
Trang 9Năm 1894 Huss M( Thuỵ Sĩ)- Người đầu tiên sử dụng thuật ngữ “ Nghiện rượu” để chi những người uống rượu thường xuyên và thái quá có những vấn đề về sức khoẻ cơ thể và tâm thần Cho đến nay người ta đã xác định nghiện rượu là một loại bệnh lý do rượu, có các tác nhân thúc đẩy và nguyên nhân khác nhau Tuy nhiên, định nghĩa thế nào là nghiện rượu thì vẫn đang là một vấn đề còn khó xác định Đã có những định nghĩa khác nhau đề cập đến nhiều khía cạnh của nghiện rượu
+ Năm 1951 Pougyet định nghĩa: Gọi là nghiện rượu khi một cá nhân đã sử dụng rượu mà bị mất tự do vì rượu
+ Năm 1994, Hardy O và Keureis O định nghĩa nghiện rượu như sau
- Về mặt số lượng: Nghiện rượu là sử dụng hàng ngày vượt quá 1ml cho 1 kg cân nặng hoặc ¾ lít rượu vang 10% cồn cho một người đàn ông nặng 70kg
- Về mặt xã hội: Nghiện rượu là tất cả những hình thái uống rượu vượt quá việc
sử dụng thông thường và truyền thống
1.1.4 Tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện rượu
* Tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện rượu theo ICD-10(1992) được xác định như sau:
+ Thèm muốn mạnh liệt hoặc cảm thấy bắt buộc phải sử dụng rượu
+ Khó khăn trong việc kiểm tra tập tính sử dụng rượu về mặt thời gian bắt đầu, kết thúc hoặc mức sử dụng
+ Xuất hiện hội chứng cai rượu khi việc sử dụng rượu bị ngừng lại hoặc bị giảm bớt
+ Cho những bằng chứng vè sự dung nạp như tăng liều
+ Dần dần xao nhẵng những thú vui hoặc những thích thú trước đây
+ Tiếp tục sử dụng mặc dù có những hậu quả tác hại
Chỉ được chẩn đoán nghiện rượu khi có từ 3 điểm trở lên đã được trải nghiệm hoặc biểu hiện trong vòng 1 năm trở lại đây
1.1.5 Mức độ phổ biến của lạm dụng rượu và nghiện rượu
Người ta nhận thấy việc tiêu thu rượu, bia có chiều hướng tăng lên trong những thập kỷ qua Theo Godard J có sự tương đồng trong tiêu dùng rượu ở những quốc gia khác nhau, thể hiện bằng việc sử dụng bia tăng lên ở các nước La Tinh, tăng sử dụng
Trang 10rượu vang ở các nước Anglo Xacxông và rượu mạnh được dùng ở nhiều nơi Chính vì thế mà tỷ lệ người nghiện rượu có xu hướng tăng ở các nước
Tài liệu nghiên cứu của tổ chức y tế thế giới ở 15 nước công nghiệp phát triển cho thấy năm 1929 chỉ có 0,03% dân số nghiện rượu, năm 1940 tăng lên 0,33% và năm 1975 tăng lên 1,23% dân số Tỷ lệ nghiện rượu trong dân chúng ở các nước phương Tây tăng lên so với nước chiến tranh khoảng 2-3 lần
Ở nước ta cac bài báo cáo tại “ Hội nghị sơ kết nghiên cứu dịch tễ, lâm sàng lạm dụng rượu” Năm 1994 cho thấy: Tỷ lệ lạm dụng rượu ở khu vực thành phố chiếm 5-10,4% dân số, khu vực nông thôn 0,57-1,2% Tỷ lệ nghiện rượu ở thành phố 1,16- 3,61% dân số, miền núi 2,34%; nông thôn 0,14-0,42% Năm 2005 theo Lâm Xuân Điền tỷ lệ nghiện rượu riêng ở thành phố Hồ Chí Minh là 3% và chung cho cả nước 0,31-3% dân số, ngày nay con số này có thể tăng lên rất cao
1.1.6 Hậu quả của lạm dụng rượu và nghiện rượu
Nghiện rượu và lạm dụng rượu không những để lại hậu quả nghiên trọng cho chính bản thân người sư dụng rượu mà còn để lại những hậu quả xấu về mặt kinh tế và
an ninh toàn xã hội
1.1.6.1 Hậu quả đối với cá nhân
Rượu sau khi vào cơ thể sẽ được phân bố đến các cơ quan nội tạng, việc Nghiện rượu và lạm dụng rượu lâu ngày sẽ từng bước ảnh hưởng đến chức năng các cơ quan nội tạng, lâu dần sẽ gây rối loạn chức năng cơ quan nội tạng làm phát sinh các rối loạn, các bệnh lý khác nhau
Năm 1996 Lâm Xuân Điền và cộng sự điều tra tại 5 bệnh viện đa khoa Thành Phố Hồ Chí Minh cho thấy 17,1% số người có sử dụng rượu Trong đó các bệnh về tiêu hoá 20,9%; các bệnh về xương khớp cơ 19,2%; các bệnh về hô hấp 11,6%; các bệnh nhiễm khuẩn 8,1%; tim mạch 7,0%
1.1.6.2 Hậu quả về kinh tế- xã hội
Theo Ades J 1990 tại Pháp Nghiện rượu và lạm dụng rượu là nguyên nhân cảu 60% số tử vong tai nạn giao thông 10-20% số tử vong do tai nạn lao động 25% số tử vong do tự sát Ở Bắc Mỹ và Châu Âu tỷ lệ chét tăng 1,6-4,7 lần ở những người lạm
Trang 11dụng rượu Chính vì vậy từ lây tổ chức y tế thế giới đã xếp các bệnh lý do rượu đứng hàng thứ 3 sau các bệnh tim mạch và ung thư về nguyên nhân gây tử vong
Ở Việt Nam tổng hợp báo cáo trong “ Hội nghị sơ kết nghiên cứu dịch tế, lâm sàng lạm dụng rượu” cho thấy trong số những người lạm dụng rượu nghiện rượu có tới 31% mất việc làm, gia đình bị tan vỡ chiếm từ 8-18% gây tai nạn cho người khác từ 5- 20% bị thương vì uống rượu gây tai nạn cho mình từ 5-34% phạm pháp bị bắt giữ từ 5-25% Số người lạm dụng rượu và nghiện rượu bị sa sút về kinh tế chiếm từ 45-69% 1.1.7 Dịch tễ của nghiện rượu
Nghiện rượu hay gặp ở lứa tuổi từ 30 tuổi trở lên Tuy nhiên nghiện rượu tăng lên nhanh chóng theo lứa tuổi khoảng 70% dân số nghiện rượu gặp ở người dưới 40 tuổi, 90% người nghiện rượu dưới 50 tuổi và 94% người nghiện rượu ở dưới 60 tuổi Theo nghiên cứu của tác giả Việt Nam như Nguyễn Viết Thiêm, Trần Viết Nghị, Quách Văn Ngư thì có 27-50% số người nghiện rượu nằm trong độ tuổi 30-40 nghĩa là độ tuổi lao động quan trọng Một số tác giả đã tính ra tuổi trung bình của người nghiện rượu ở Việt Nam là 42 tuổi
Tỷ lệ nam/ nữ nghiện rượu nói chung dao động từ 4/1 đến 8/1 Trong các nghiên cứu lâm sàng ngày nay hầu hết người bệnh là nam giới
Theo tác giả Starova L.V tỷ lệ nghiện rượu ở nữ chỉ là 10% tổng số người bệnh nghiện rượu
Ở Việt Nam các nghiên cứu về nghiện rượu đều cho thấy hầu hết người bệnh là nam giới, số người bệnh là rất nhỏ nữ hầu như không có, có lẽ điều này là do phong tục tập quán ở nước ta khác các nước Phương Tây Phụ nữ Việt Nam rất ít uống rượu nên hầu như không có người bệnh nữ bị nghiện rượu
Nghề nghiệp là môi trường có ảnh hưởng lớn đến lạm dụng rượu, từ đó phát sinh ra nghiện rượu Có 3 loại nghề nghiệp liên quan đặc biệt đến nghiện rượu là nông dân với môi trường nông thôn, tầng lớp công nhân lao động chân tay nặng nhọc, những nghề phải tiếp xúc với công chúng nhiều như bồi bàn, nhân viên chuyển hàng
và giới kinh doanh
Nghiên cứu của tác giả Lý Trần Tình cho thấy công nhân chiếm tỷ lệ 34,4%, nông dân chiếm 32,3%; viên chức 6,3% và 21,7% làm nghề tự do
Trang 12Các nghiên cứu trong và ngoài nước đều cho thấy có một tỷ lệ đáng kể người bệnh có trình độ học vấn thấp Theo Soayka M( 1990) cho thấy 64,2% có học vấn phổ thông trung học và 13,2% có học vấn tiểu học
Tác giả Trần Viết Nghị ( 1996) cho thấy có tới 80,6% số người nghiện rượu chưa tốt nghiệp phổ thông trung học
Các nghiên cứu về lượng rượu uống hàng ngày của người bệnh nghiện rượu còn khác nhau, tuỳ thuộc vào từng vùng miền và tập quán của nhân dân địa phương Nói chung lượng rượu uống trong ngày phải vượt qua 300ml rượu 40 độ thì người bệnh mới có thể trở thành nghiện rượu sau 10 năm uống liên tục Đây chỉ là giới hạn dưới của nghiện rượu Người bệnh nghiện rượu thực tế uống rải rác trong ngày tổng lượng rượu uống có thể lên tới 1000ml rượu 40 độ
Đa số các tác giả đều cho rằng thời gian uống rượu phải trên 10 năm trở lên thành nghiện rượu Chỉ một số rất ít các người bệnh rượu trên 5 năm đã trở thành nghiện rượu Nói chung, tỷ lệ người nghiện rượu có thời gian uống dưới 5 năm chỉ chiếm khoảng 10% số trường hợp, tỷ lệ cao nhất gặp trong nhóm uống rượu từ 10-15 năm chiếm 60% các người bệnh ở các nhóm thời gian uống rượu 10-20 năm chiếm 30%
Những người con của các bệnh nhân nghiện rượu có tỷ lệ nghiện rượu cao gấp 4-5 lần những người con của những người bệnh con không nghiện rượu Các nghiên cứu sau đó đã cho thấy nghiện rượu là một bệnh di truyền Nghiện rượu ở những người con một phần do ảnh hưởng trực tiếp từ lồi sống, sinh hoạt của bố mẹ, phần khác do ảnh hưởng của tính di truyền đã được chứng minh qua nghiên cứu những cặp sinh đôi cùng trứng và khác trứng Khoảng 60% trường hợp người bệnh nghiện rượu có bố mẹ anh em là người nghiện rượu
1.1.8 Biểu hiện lâm sàng của nghiện rượu
Giai đoạn 1( Giai đoạn giống suy nhược thần kinh)
Đây là giai đoạn khởi đầu của nghiện rượu Thật ra lúc này người bệnh chưa trở thành nghiện rượu và khi bỏ rượu họ không có hội chứng cai rượu Tuy nhiên đây
là bước đầu tiên quan trọng mà người nghiện rượu nào cũng phải trải qua Người bệnh thích uống rượu và lượng rượu cũng tăng dần Nếu không uống rượu thì người bệnh cảm thấy thèm và nhớ rượu Vì thế người bệnh tận dụng mọi cơ hội để uống rượu
Trang 13Đôi khi có thể ghi nhận các cơn say rượu bệnh lý của người bệnh Đó là tình trạng rối loạn ý thức trầm trọng, xuất hiện đột ngột sau khi uống một lượng rượu nhỏ Trong cơn say bệnh lý, người bệnh có thể có các rắc rối loạn hành vi rất trầm trọng như đánh người, đập phá, Cơn say rượu bệnh lý thường kết thúc đột ngột bằng một giấc ngủ Khi thức dậy người bệnh không nhớ những gì đã xảy ra trong cơn Cơn say rượu bệnh lý tuy hiếm những rất đặc trưng cho giai đoạn I của nghiện rượu
Cơn say bệnh lý có thể tái phát ngày càng trầm trọng và mật độ cơn ngày càng nhiều nếu người bệnh vẫn tiếp tục uống rượu
Các người bệnh này dần dần thay đổi tính tình Họ dần trở lên độc ác, hay nổi cáu vô cớ, hay quấy nhiễu và đa nghi Những nạn nhân của họ thường là vợ con và các thành viên khác trong gia đình Người bệnh hay quên mất ngủ, trí nhớ và chú ý rất kém, hay mệt mỏi khả năng lao động giảm sút nghiêm trọng Vì vậy giai đoạn này còn gọi là giai đoạn giống suy nhược thần kinh
Trong giai đoạn này, nếu người bệnh cai rượu thì các triệu chứng trên dần biến mất Nếu người bệnh tiếp tục uống rượu thì bệnh nhân sẽ chuyển sang giai đoạn II của nghiện rượu
Giai đoạn II (Giai đoạn có hội chứng cai)
Trong giai đoạn này người bệnh đã thực sự trở thành nghiện rượu Người bệnh luôn trong tình trạng thèm rượu bắt buộc, không thể kiềm chế Vì thế họ có thể uống rượu bất cứ lúc nào Nếu bị cấm uống họ sẽ tìm mọi cách để uống rượu
Bình thường cứ sau một khoảng thời gian nhất định họ lại phải uống rượu để giảm cơn thèm rượu Quãng thời gian này càng ngày càng ngắn lại, vì thế không có gì phải ngạc nhiên nếu người bệnh luôn triền miên trong trạng thái say rượu
Nếu không được uống rượu người bệnh sẽ có hội chứng cai rượu Hội chứng cai rượu xuất hiện khi nồng độ cồn trong máu người bệnh giảm xuống Vì thế hội chứng cai hay xuất hiện vào buổi sáng, sau một đêm không được uống rượu Để ngăn chặn hội chứng cai rượu bệnh nhân phải uống ngay sau khi ngủ dậy Do vậy hành vi uống rượu vào buổi sáng bị coi là nghiện rượu ở hầu hết các nền văn hoá trên thế giới Trong giai đoạn này biểu hiện của trạng thái phụ thuộc thực tế chiếm ưu thế Tình trạng say rượu bệnh lý ngày càng gia tăng, không tự kiềm chế được và có tính
Trang 14chất cưỡng bức (thèm bắt buộc) Người bệnh có đủ nghị lực để đấu tranh chống lại cơn thèm rượu Các triệu chứng ở giai đoạn I không những không biến mất mà còn phát triển tăng lên Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn này là hội chứng cai xảy ra khi người bệnh không uống rượu vài giờ hoặc vài ngày Hội chứng cai biểu hiện bằng các triệu chứng rối loạn tâm thần cũng như các triệu chứng rối loạn thần kinh và các rối loạn cơ thể Các triệu chứng này chỉ giảm hoặc mất đi khi người bệnh uống trở lại Các triệu chứng rối loạn tâm thần ở đây rất rõ ràng Trên nền khí sắc giảm xuất hiện trạng thái buồn rầu, dễ bực tức, giận dữ, độc ác, đa nghi Người bệnh cảm thấy sợ hãi vô duyên
vô cớ và các ý tưởng buộc tội mình có thể có ảo thị giác và ảo thính giác thật, giấc ngủ không sâu, nhiều ác mộng, làm cho người bệnh có cảm giác không thoải mái sau khi ngủ dậy
Hội chứng cai còn biểu hiện ở rối loạn thần kinh và thần kinh thực vật: nhịp tim nhanh, tăng huyết áp, run đầu chi, khô miệng, chóng mặt, chán ăn, buồn nôn, ỉa chảy, tăng tiết mồ hôi, có thể run nhẹ các cơ mặt
Biểu hiện rối loạn tâm thần trong giai đoạn này thường là tiến triển cấp tính và kéo dài, triệu chứng đa dạng và ngày càng đậm nét hơn Giai đoạn phụ thuộc thực thể này có thể kéo dài 3-5 năm
Hội chứng cai rất hay gặp ở người nghiện rượu, nặng nề nhất la sảng rượu: + Giai đoạn khởi phát
Sảng rượu có khởi phát đột ngột, cấp tính trong khoảng thời gian từ một đến vài ngày sau khi ngừng uống rượu Biểu hiện ban đầu của sảng rượu là bệnh nhân mất ngủ, chếnh choáng, run lẩy bẩy, rối loạn thần kinh thực vật (đỏ da, mạch nhanh, ra nhiều mồ hôi, đánh trống ngực, lo lắng, sợ hãi) Quãng thời gian từ lúc ngừng rượu cho đến khi có sảng rượu là khác nhau, thường từ 1-2 ngày, nhưng có trường hợp phải sau 3-4 ngày Sảng rượu luôn được bắt đầu bởi cơn co giật kiểu động kinh, vì vậy, nếu bệnh nhân cai rượu có cơn co giật kiểu động kinh thì cần phải đề phòng sảng rượu
+ Giai đoạn toàn phát
Giai đoạn toàn phát của sảng rượu thường xuất hiện sau cai rượu 3-5 ngày và có triệu chứng rất đa dạng và phong phú Sảng rượu bao gồm 3 triệu chứng chính sau:
– Mất ngủ hoàn toàn: Bệnh nhân mất ngủ trầm trọng, họ không ngủ được một tí
gì trongvòng 24 giờ qua
Trang 15– Rối loạn ý thức: Bệnh nhân bị rối loạn định hướng không gian (không biết đây là đâu), thời gian (không biết bây giờ là sáng hay chiều) Rối loạn định hướng bản thân (không biết mình là ai) ít gặp
– Hoang tưởng và ảo giác rất rầm rộ: Bệnh nhân có các ảo thanh thật, ảo thị và hoang tưởng bị hại biểu hiện rất mạnh mẽ Các hoang tưởng và ảo giác này có bất kỳ lúc nào trong ngày và chi phối hành vi của bệnh nhân Vì vậy họ hay vùng chạy đột ngột, tấn công các kẻ thù vô hình… kết quả là có thể gây ra các tai nạn (ngã, chạm vào
ổ điện, chém vào chân mình) có thể gây ra tử vong.Các triệu chứng của sảng rượu thường tăng lên về chiều tối và giảm đi vào buổi sáng
+ Tiêu chuẩn chẩn đoán sảng rượu theo DSM 5[1]
A Rối loạn ý thức cùng với giảm sự tập trung chú ý Sự chú ý luôn xê dịch
B Rối loạn nhận thức: Giảm trí nhớ, rối loạn định hướng, rối loạn ngôn ngữ hoặc rối loạn khả năng quan sát
C Các rối loạn này xuất hiện cấp tính (trong vài giờ đến vài ngày) và tiến triển
có khuynh hướng dao động trong ngày
D Có bằng chứng về một hội chứng cai rượu
Giai đoạn III (Giai đoạn bệnh não thực tổn thương do rượu)
Giai đoạn này có đặc điểm là biến đổi từ từ làm cho các triệu chứng ở giai đoạn
II nặng lên và xuất hiện thêm các triệu chứng mới Thèm rượu có khuynh hướng giảm
đi bớt lè nhè và bớt quấy rối hơn trước, thèm bắt buộc đối với rượu xây ra do các yếu
tố loạn tâm thần nội sinh Khả năng dung nạp rượu kém, trạng thái say xảy ra với liều lượng nhỏ hơn giai đoạn I và giai đoạn II
- Hội chứng ở giai đoạn này diễn ra dài hơn, biểu hiện rối loạn thần kinh vận mạch, rối loạn cơ thể và rối loạn kinh cũng nặng nề hơn giai đoạn I và giai đoạn II Biểu hiện trạng thái ở người bệnh với mạch chậm và xẹp mạch
Rượu đối với não:
Rượu không phải là một chất kích thích mà là một chất làm suy giảm cả hai quá trình hưng phấn và ức chế của hệ thần kinh trung ương Nhưng rượu làm mất ức chế mạnh hơn gây nên quá trình hưng phấn giả và vì vậy người uống rượu cảm thấy hưng phấn, đỡ lo âu, sợ hãi, hoạt động nhiều, nói nhiều, khả năng tự kiềm chế bản thân suy giảm nên lời nói thiếu tế nhị, suồng sã, sàm sỡ, cử chỉ hoạt động thiếu chính xác
Trang 16Khi nồng độ rượu trong máu là 0,3% thì vận động và tư duy, tri giác đều bị rối loạn Khi nồng độ rượu lên tới 0,4% - 0,5% thì cả hai quá trình hưng phấn và ức chế đều bị suy giảm, người uống rượu bị bất tỉnh, hôn mê và khi nồng độ rượu lên đến 0,6% - 0,7% thì người uống rượu có thể tử vong
Rượu ảnh hưởng đến các cơ quan khác:
- Tác dụng lên tuyến yên, gây nên rối loạn sự tăng trưởng, rối loạn kinh nguyệt, rối loạn chuyển hóa nước và muối khoáng
- Gây viêm dạ dày, viêm tụy cấp
- Tác hại đối với gan: gây xơ gan, thoái hóa mỡ gan
- Các bệnh mạch máu, tim mạch, tăng lắng đọng choleterol ở mạch máu và ở tim gây xơ mỡ động mạch
1.1.9 Tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện rượu
Tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện rượu (ICD-10):
Chỉ chẩn đoán nghiện rượu khi có từ 3 triệu chứng trở lên và được trải nghiệm hay biểu lộ vào một lúc nào đó trong vòng 1 năm trở lại đây:
(1) Thèm muốn mãnh liệt Cảm thấy bắt buộc phải uống rượu
(2) Giảm hoặc ngừng uống rượu là một việc làm rất khó khăn (Không tự làm chủ được mình)
(3) Khi ngưng sử dụng có hội chứng cai xuất hiện
(4) Phải tăng liều dần mới đạt được khoái cảm
(5) Bỏ bê công việc hàng ngày và dùng nhiều thời gian để tìm kiếm và sử dụng rượu
(6) Tiếp tục sử dụng rượu dù đã có những hậu quả về mặt cơ thể
Tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng cai rượu theo DSM IV (1994):
Ngừng hoặc giảm uống rượu khi đang uống liều cao và kéo dài
Có ít nhất là 2 dấu hiệu dưới đây xảy ra sau tiêu chuẩn A vài giờ đến vài ngày: + Tăng hoạt động tự động nhịp tim (nhịp tim > 100 lần/phút, mồ hôi ra rất nhiều)
+ Run tay
+ Mất ngủ
+ Buồn nôn hoặc nôn
Trang 17+ Ảo thị, ảo thanh và ảo khứu hoặc hoang tưởng
+ Kích động tâm thần vận động
+ Có trạng thái lo âu
+ Có cơn co giật kiểu động kinh cơn lớn
1.1.10 Hội chứng cai rượu
Hội chứng cai rượu vẫn là một chẩn đoán lâm sàng nên cần loại trừ các nguyên nhân khác đặc biệt khi có thay đổi ý thức và sốt Các tình trạng như nhiễm trùng thần kinh trung ương (viêm màng não), chấn thương (xuất huyết nội sọ), rối loạn chuyển hóa, quá liều ma túy, suy gan và xuất huyết tiêu hóa có thể giống hoặc cùng tồn tại với cai rượu Có thể thực hiện chọc dò tủy sống và chụp cắt lớp vi tính sọ não để loại trừ các chẩn đoán khác Chẩn đoán sớm hội chứng cai rượu có thể dẫn đến việc sử dụng thuốc an thần không phù hợp và trì hoãn các chẩn đoán khác
Người bệnh trong tình trạng mệt mỏi, uể oải, nhưng người bệnh không có hiện tượng ngáp và chảy nước dãi như trong cai nghiện ma tuý Họ chán ăn và ăn được rất
ít mà uống rượu là chủ yếu, nhiều người không chịu ăn uống gì Người bệnh hay buồn nôn và nôn, nhưng khi được uống rượu thì tình trạng này hết ngay lập tức Chúng ta có thể lợi dụng hiện tượng này để bù nước và điện giải cho người bệnh bằng cách cho người bệnh uống nước pha với một chút rượu
Triệu chứng mất ngủ gặp ở hầu hết các người bệnh có hội chứng cai rượu Mất ngủ xuất hiện ngay tối đầu tiên sau khi cai rượu Người bệnh khó vào giấc ngủ không sâu hay tỉnh giấc sớm và đầy ác mộng Đặc biệt khi ngủ dậy người bệnh không cảm thấy thoải mái mà còn thấy rất mệt Mất ngủ sẽ nặng dần vào các ngày tiếp theo va đạt đỉnh là ở ngày thứ 3 và ngày thứ 5
Người bệnh có biểu hiện rối loạn thần kinh thực vật nặng nề mạch nhanh, ra mồ hôi, huyết áp cao Mạch của người bệnh thường lên trên 100 lần/ phút Kèm theo mạch nanh người bệnh có huyết áp cao Bên cạnh đó người bệnh ra mồ hôi rất nhiều quần áo
họ thường ướt đẫm mồ hôi vì vậy chúng ra rất dễ nhận ra Thân nhiệt của người bệnh tăng do run cơ, người bênh có thể sốt cao sẽ làm tình trạng rối loạn nước giải nặng hơn Người bệnh có thể tử vong do rồi điện giải nặng hơn Người bệnh có thể tử vong
do rối loạn điện giải trầm trọng
Trang 18Đa số người bệnh có kích động tâm thần, vận động: họ la hét, chửi bới lung tung đánh đập vợ con, đập phá đồ đạc
Hoang tưởng và ảo giác do cai rượu: Thường xuất hiện ở ngày thứ 3 đến ngày thứ 5 sau khi ngừng uống rượu Khi hoang tưởng và áo giác kết hợp trên cùng một người bệnh, người ta gọi là hội chứng Paranoid do cai rượu
Khoảng 85% người bệnh có hội chứng cai rượu sẽ có ảo giác Ảo giác hay gặp nhất trong cai rượu là ảo thanh thật
Hoang tưởng cũng là triệu chứng hay gặp khoảng 65% người bệnh cai rượu sẽ
có hoang tưởng Hoang tưởng ở người bệnh cai rượu thường gặp là hoang tưởng ghen tuông Một số người bệnh có hoang tưởng bị hại cho rằng ma quỷ hại mình
Triệu chứng trầm trọng nhất trong hội chứng cai rượu đó là chính là cơn co giật kiểu động kinh
Cơn co giật kiểu động kinh được coi là triệu chứng nặng vì nó xuất hiện khi hội chứng cai rượu đạt đỉnh về mức độ trầm trọng hơn nữa nó là dấu hiệu cho thấy người bệnh sắp vào giai đoạn sảng rượu
Sảng rượu là một cấp cứu tâm thần tối khẩn cấp, nếu không được điều trị kịp thời đúng quy cách thì tỷ lệ tử vong cao Sảng rượu xuất hiện trên nền hội chứng cai rượu mức độ nặng Khi người bệnh sảng rượu thì việc điều trị sẽ trở lên khó khăn tiên lượng sẽ rất nặng
Tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng cai rượu theo DSM-IV
Chẩn đoán hội chứng cai rượu theo Tiêu chí chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần (DSM-5):
A Ngừng hoặc giảm đáng kể lượng rượu uống khi đang sử dụng rượu liều cao
Trang 19Kích động tâm thần vận động
Ảo thị giác, ảo thanh, hoặc hoang tưởng
Cơn co giật kiểu động kinh
C Các triệu chứng ở tiêu chuẩn B gây suy giảm rõ rệt các chức năng xã hội, nghề nghiệp hoặc các lĩnh vực quan trọng khác
D Các triệu chứng này không do một bệnh thực tổn và một bệnh rối loạn tâm thần khác gây ra
1.1.11 Tác hại của rượu
Ảnh hưởng tới não bộ:
Khi một lượng cồn lớn vào trong cơ thể chúng gây rối loạn bộ não của cơ thể, khiến bộ não của chúng ta không còn kiểm soát, điều chỉnh được các hoạt động của các trung tâm dưới vỏ Từ đó gây ra các hành động tiêu cực của người uống như đi đứng loạng choạng, phản ứng chậm, mất kiểm soát, suy giảm trí nhớ và tinh thần không ổn định
Ảnh hưởng đến tim mạch:
Rượu bia làm cho cơ tim bị thoái hóa, bộ máy tim mạch bị tổn thương, có thể gây ra suy tim Dùng rượu mạnh trong thời gian dài có thể gây giãn cơ tim, phì đại tâm thất và xơ hóa
Rượu bia cũng làm tăng khả năng cao huyết áp Tăng huyết áp là yếu tố nguy
cơ lớn của đột quỵ và nhồi máu cơ tim
Uống rượu cũng ảnh hưởng đến giấc ngủ, do vậy càng làm tăng huyết áp Những người uống nhiều rượu bia cũng thường có lối sống không lành mạnh, nên càng dễ mắc bệnh tim mạch
Tác hại với gan
Khi rượu vào cơ thể nó được hấp thụ nhanh với 20% hấp thu tại dạ dày và 80% tại ruột non, sau 30-60 phút toàn bộ rượu được hấp thu hết Sau đó, rượu được chuyển
Trang 20hóa chủ yếu vào tại gan (90%) Trong quá trình này, gan phải hứng chịu một đợt tấn công của rất nhiều độc tố
Khi đó, chức năng ngăn các chất độc khác nhau do máu mang từ ruột hoặc ở ngoài đến gan bị suy giảm, dẫn đến việc gan bị nhiễm mỡ, xơ gan, và nghiêm trọng hơn, nó có thể gây ra ung thư gan
Làm tổn thương tuyến tụy, gây tiểu đường, ung thư
Thông thường, tụy là nơi sản xuất insulin, giúp điều hòa nồng độ đường trong máu và một loạt các hooc-môn khác giúp ruột tiêu hóa thức ăn
Khi uống nhiều rượu, quá trình sản sinh các hooc-môn này sẽ bị gián đoạn hoặc làm chậm Cùng với đó, các độc chất tích tụ vào tụy có thể gây viêm tụy, dần già dẫn đến những tổn thương nghiêm trọng hơn
Một ngày nào đó, khi tuyến tụy bị mất chức năng, không thể tạo ra insulin, bạn
sẽ bị mắc tiểu đường type 2 Rượu cũng làm tăng nguy cơ ung thư tuyến tụy
Tăng nguy cơ mắc bệnh Gout
Gout là hiện tượng thừa axit uric khiến chúng tích tụ ở các cơ: ngón chân cái, mắt cá chân, đầu gối khiến cho việc đi lại hết sức khó khăn Lạm dụng rượu bia quá mức dần dần làm hỏng các bộ phận trên cơ thể bạn và đặc biệt là gan và thận khiến cơ thể không có khả năng loại bỏ độc tố và các chất độc hại khiến bạn có nguy cơ mắc bệnh Gout cao hơn.
Loãng xương, tiêu cơ bắp
Tiêu thụ nhiều rượu có thể làm giảm lượng canxi trong cơ thể Cùng với cách
nó ảnh hưởng đến các hooc-môn tăng tưởng, rượu sẽ ngăn chặn quá trình hình thành tế bào xương mới Khi đó, bạn sẽ dễ bị loãng xương
Chất cồn hạn chế máu đến cơ bắp, theo thời gian sẽ khiến bạn bị tiêu giảm cơ bắp và yếu hơn
Ảnh hưởng đến khả năng tình dục và sức khỏe sinh sản
Đối với nam giới, nồng độ cồn trong máu từ 8 -10 g/100cc đủ làm giãn nở mạch máu, gây cản trở quá trình quan hệ, đặc biệt rượu bia còn làm ảnh hưởng chất lượng tinh trùng, khi kết hợp với trứng để thụ thai dễ dẫn đến suy yếu thế hệ
Trang 21Đối với nữ giới nghiện rượu sẽ làm suy yếu vùng hạ đồi – tuyến yên, buồng trứng dẫn đến trứng không rụng nữa, dẫn đến rối loạn kinh nguyệt, ảnh hưởng đến khả năng sinh sản, gây nguy cơ sinh non…
Ảnh hưởng đến hệ thống miễn dịch của cơ thể
Rượu bia có thể “giết chết” tế bào bạch cầu mà cơ thể tạo ra để chống lại bệnh tật, phá hủy hệ thống miễn dịch của cơ thể
Những người uống rượu thường xuyên trong thời gian dài cũng vì thế mà hay bị viêm phổi hoặc lao
Rượu bia có tác hại rất lớn đối với cơ thể, là một trong mười nguyên nhân gây
tử vong hàng đầu trên thế giới Người dân cần phải nâng cao ý thức về việc sử dụng rượu bia ở mức độ hợp lý, tránh gây ảnh hưởng đến các cơ quan trong cơ thể, đặc biệt rượu bia sẽ tác hại lớn đối với gan, lá gan sẽ không còn hoạt động bình thường được nữa, và một ngày có thể bị suy dẫn đến tử vong nếu không được ghép gan mới
1.1.12 Loạn thần do rượu
Ảo giác do rượu
Ảo giác: thường là những ảo giác thật, có thể có nhiều ảo giác trên một bệnh nhân, có thể có ảo thanh, ảo thị, ảo giác xúc giác, ảo khứu,…
- Ảo thanh hay gặp nhất ở bệnh nhân, ảo thanh phần lớn được phát triển trên nền tảng những rối loạn khác kèm theo, đôi khi ảo thanh xuất hiện vào ngày cuối cùng của cơn uống rượu Ảo thanh thường xuất hiện vào chiều tối và lúc thiêm thiếp ngủ
Có thể là ảo thanh thô sơ hay ảo thanh lời nói
- Giọng nói có thể nói chuyện với bệnh nhân hay nói chuyện với nhau Cường
độ ảo thanh có thể là tiếng kêu hay tiếng thì thầm, giọng nói biến đổi nhưng thường có những chủ đề liên quan với nhau Ảo thanh nặng lên về chiều tối Thoái triển đột ngột sau một giấc ngủ sâu hay giảm dần về cường độ và tần số, khi ảo thanh hết hẳn thì bệnh nhân phê phán được trạng thái loạn thần đã qua
- Ảo thị cũng thường gặp sau ảo thanh, nội dung ảo thị thường phù hợp với nội dung ảo thanh và hoang tưởng Khi ảo giác có sảng thì bệnh nhân thấy những côn trùng, động vật với kích thước thu nhỏ Khi ảo giác kèm theo ý thức u ám bệnh nhân thấy những cảnh giống mộng nhưng chủ đề thường không hoàn chỉnh và mất tính thứ
tự