Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã hoàn chỉnh chủ trương chiến lược được đề ra từ Hội nghị tháng 11/1939, khắc phục triệt để những hạn chế của Luận cương chính trị thá
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
BÀI TIỂU LUẬN
Bộ môn: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam Lớp học phần: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (221)_44
Giảng viên: PSG.TS Nguyễn Hữu Công
Đề bài: Phân tích vai trò lãnh đạo của Đảng với thắng lợi CM T8 năm 1945 Em
hãy nêu nhận thức của bản thân về sự cần thiết phải có sự lãnh đạo của ĐCS Việt Nam với cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Nhóm số 3
Hà Nội, tháng 2 năm 2022
Trang 2Mục lục
1 Sự lãnh đạo của Đảng trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 4
1.1 Bối cảnh lịch sử 4
1.2 Sự lãnh đạo của Đảng trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 5
1.2.1 Lãnh đạo về mặt đường lối 5
1.2.2 Tổ chức thực hiện đường lối hiệu quả 6
1.2.3 Nắm bắt thời cơ xuất hiện Cách mạng và kiên quyết lãnh đạo khởi nghĩa 6 1.2.4 Kết quả thực hiện đường lối 8
2 Nhận thức bản thân 8
2.1 Bối cảnh lịch sử Việt Nam hiện nay 8
2.1.1 Thành tựu sau 35 năm đổi mới: 8
2.1.2 Những khó khăn còn tồn đọng 9
2.1.3 Những thách thức đặt ra đối với cách mạng Việt Nam hiện nay: 9
2.2 Nhận thức của bản thân về sự cần thiết phải có của sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản với Cách mạng Việt Nam hôm nay 10
2.2.1 Phê phán các quan điểm xuyên tạc 10
2.2.2 Khẳng định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là cần thiết 11
Trang 3download by : skknchat@gmail.com
Trang 42.2.3 Trách nhiệm trong việc bảo vệ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam 12
Trang 51 Sự lãnh đạo của Đảng trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945
1.1 Bối cảnh lịch sử
Tháng 9/1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ Chính phủ Daladier thi hành một loạt biện pháp đàn áp lực lượng dân chủ ở trong nước và phong trào cách mạng thuộc địa Mặt trận Nhân dân Pháp tan vỡ Ở Đông Dương, bộ máy đàn áp được tăng cường, lệnh thiết quân luật được ban bố Ngày 28-9-1939, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định cấm tuyên truyền cộng sản, đặt Đảng Cộng sản Đông Dương ra ngoài vòng pháp luật, giải tán các hội, đoàn, đóng cửa các tờ báo… Tháng 6/1940, Đức tiến công Pháp Chính phủ của Thủ tướng Pétain ký văn bản đầu hàng Đức Tướng Charles De Gaulle ra nước ngoài để xây dựng lực lượng kháng chiến chống Đức Sau khi chiếm một loạt nước châu Âu, tháng 6/1941 Đức tiến công Liên Xô
Ở Đông Dương, thực dân Pháp thi hành chính sách thời chiến, phát xít hóa bộ máy thống trị, thẳng tay đàn áp phong trào cách mạng; thực hiện chính sách “kinh tế chỉ huy” nhằm tăng cường vơ vét sức người, sức của để phục vụ cuộc chiến tranh đế quốc Tháng 9/1940, quân phiệt Nhật vào Đông Dương, làm cho nhân dân Đông Dương phải chịu cảnh “một cổ hai tròng”
Từ giữa năm 1941, tình hình trong nước và thế giới có nhiều chuyển biến Tháng 12/1941, chiến tranh Thái Bình Dương bùng nổ
Ngay khi Chiến tranh thế giới thứ hai mới bùng nổ, Đảng kịp thời rút vào hoạt động bí mật, chuyển trọng tâm công tác về nông thôn, đồng thời vẫn chú trọng các đô thị Ngày 29/9/1939, Trung ương Đảng gửi toàn Đảng một thống báo quan trọng chỉ rõ: “Hoàn cảnh Đông Dương sẽ tiến bước đến vấn đề dân tộc giải phóng”
Hội nghị Ban chấp hành Trung Ương Đảng (11/1939) tại Bà Điểm phân tích tình hình và đã đáp ứng đúng yêu cầu khách quan của lịch sử, đưa nhân dân bước vào thời kỳ trực tiếp vận động giải phóng dân tộc
Ngày 17/1/1940, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ bị địch bắt Nhiều đồng chí Trung ương cũng
sa vào tay giặc
Tuy nhiên, hơn một tháng sau khi Nhật vào Đông Dương, Hội nghị cán bộ Trung ương họp tháng 11/1940 lập lại Ban Chấp hành Trung ương và cho rằng: “Cách mạng phản đế và cách mạng thổ địa phải đồng thời tiến, không thể cái làm trước, cái làm sau” Trung ương Đảng vẫn còn trăn trở, chưa thật dứt khoát với chủ trương đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu được đề ra tại Hội nghị tháng 11/1939
Sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài, ngày 28/1/1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước và làm việc ở Cao Bằng Tháng 5/1941, Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ương Đảng Trung ương bầu đồng chí Trường Chinh làm Tổng Bí thư Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã hoàn chỉnh chủ trương chiến lược được đề ra từ Hội nghị tháng 11/1939, khắc phục triệt để những hạn chế của Luận cương chính trị tháng 10/1930, khẳng định lại đường lối cách mạng giải phóng dân tộc đúng đắn trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng và lý luận cách mạng giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc
Trang 61.2 Sự lãnh đạo của Đảng trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945
1.2.1 Lãnh đạo về mặt đường lối
Đảng đã đề ra đường lối đúng đắn:
- Lý luận về mối quan hệ giữa chiến tranh và cách mạng của CN Mác- Lê nin chỉ rõ: Chiến tranh đế quốc với nhau sẽ làm suy yếu kẻ thù của cách mạng và thúc đẩy nhân dân đứng lên đấu tranh đánh đổ bọn thống trị và áp bức ; tình thế và thời cơ cách mạng sẽ xuất hiện
- Sau khi chiến tranh thế giới thứ 2 nổ ra (1- 9- 1939), với tầm nhìn chiến lược đúng đắn, Đảng đã nhận đinh: Nếu như chiến tranh thế giới lần thứ nhất đẻ ra một Liên xô thì chiến tranh lần này đẻ ra nhiều Liên xô, ta cần tích cực chuẩn bị về mọi mặt, đón đợi thời cơ khởi nghĩa giành chính quyền
- Trên cơ sở nhận thức sáng suốt đó, Đảng đã chuyển hướng chỉ đạo chiến lược đưa nhiệm vụ chống đế quốc, giải phóng dân tộc lên hàng đầu
- Chủ trương này của Đảng được thể hiện trong những văn kiện chủ yếu sau:
Thông cáo của Đảng ngày 29-9-1939
Nghị quyết Hội nghị TW lần thứ 6 (11 - 1939)
Nghị quyết Hội nghị cán bộ Đảng (11 -1940)
Nghị quyết Trung ương lần thứ 8 (5 - 1941)
Các văn kiện này đã giải quyết đúng đắn những vấn đề cơ bản sau:
Thứ nhất, xác định đúng mâu thuẫn chủ yếu và gay gắt của xã hội Việt nam lúc này là nhân
dân ta với đế quốc Nhật – Pháp phải tập trung lực lượng đánh đổ chúng, giành chính quyền
Thứ hai, về mối quan hệ dân tộc - giai cấp
Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng liên quan đến sự thành bại của cách mạng Vấn đề này nếu được giải quyết đúng, khoa học thì sẽ tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy cách mạng tiến lên không ngừng, còn giải quyết không đúng sẽ gây tác hại lớn cho phong trào cách mạng nước nhà
Thứ ba, mối quan hệ dân tộc - dân chủ (nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến).
Vấn đề này Đảng chỉ rõ: Đây là 2 nhiệm vụ chủ yếu có quan hệ mật thiết với nhau trong cách mạng dân tộc, dân chủ Tuy nhiên trong điều kiện chiến tranh cần tập trung vào nhiệm vụ chống đế quốc giải phóng dân tộc Trong khi giải quyết mối quan hệ dân tộc – dân chủ, Đảng đã đặt nhiệm
vụ dân tộc (chống đế quốc) lên hàng đầu
Thứ tư, quan hệ dân tộc - quốc tế
Đảng chỉ rõ: Chiến tranh lần này sẽ tạo điều kiện để cách mạng nhiều nước thành công, Đảng
và nhân dân ta cần phải tranh thủ mọi sự giúp đỡ quốc tế (với Mỹ) và tích cực, chuẩn bị mọi mặt để khi tình hình quốc tế thuận lợi kịp thời khởi nghĩa giành chính quyền với tinh thần: muốn người giúp cho trước hết mình phải tự giúp mình Phân tích tình hình lúc này lãnh tụ Hồ Chí Minh dự báo năm ‘‘bốn lăm cách mạng thành công’’
Trang 7Thứ năm, chủ trương ra sức xây dựng lực lượng để chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền,
coi khởi nghĩa giành chính quyền là nhiệm vụ trung tâm
Thứ sáu, chủ trương sau khi cách mạng thành công sẽ thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa theo tinh thần tân dân chủ, một hình thức nhà nước “của chung cả toàn thể dân tộc”; ‘‘chính phủ dân chủ cộng hòa”
1.2.2 Tổ chức thực hiện đường lối hiệu quả
- Xây dựng lực lượng chính trị
Ngày 25-10-1941, Việt Minh công bố Tuyên ngôn, nêu rõ: “Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) ra đời” Chương trình Việt Minh đáp ứng nguyện vọng cứu nước của mọi giới đồng bào, nên phong trào Việt Minh phát triển rất mạnh Nhiều tờ báo được xuất bản
Năm 1943, Đảng công bố bản Đề cương văn hóa Việt Nam, xác định văn hóa cũng là một trận địa cách mạng, chủ trương xây dựng một nền văn hóa mới theo ba nguyên tắc: dân tộc, khoa học và đại chúng
Ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, đầu năm 1945 đã xảy ra nạn đói nghiêm trọng Đảng đã phát
động phong trào “phá kho thóc của Nhật, giải quyết nạn đói”.
- Xây dựng lực lượng vũ trang
Ngày 27-9-1940, khi quân Pháp ở Lạng Sơn bị Nhật tiến đánh phải rút chạy đảng bộ Bắc Sơn
đã lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa, làm chủ châu lỵ Bắc Sơn Đội du kích Bắc Sơn được thành lập Sau đó, Đội du kích được duy trì và phát triển thành Cứu quốc quân
Ở Nam kỳ, phong trào cách mạng của quần chúng lan rộng ở nhiều nơi Xứ ủy Nam kỳ đã đề
ra kế hoạch gấp rút khởi nghĩa vũ trang và 23- 11-1940 khởi nghĩa đã nổ ra quyết liệt, chính quyền cách mạng được thành lập ở một số địa phương
Ngày 13-1-1941, cuộc binh biến ở đồn Chợ Rạng (huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An) do Đội Cung chỉ huy cũng đã nổ ra và đã làm chủ đồn
- Xây dựng căn cứ địa
Ngày 22-12-1944, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân do Võ Nguyên Giáp tổ chức ra đời ở Cao Bằng Ngày 15-5-1945, hai tổ chức này hợp nhất thành Việt Nam giải phóng quân Lực lượng bán vũ trang được phát triển và bảy chiến khu được xây dựng trong cả nước
Theo chỉ đạo của Hồ Chí Minh, ngày 461945, khu giải phóng gồm hầu hết các tỉnh Cao -Bắc - Lạng - Hà - Tuyên - Thái và một số vùng lân cận chính thức được thành lập và trở thành căn
cứ địa của cả nước
1.2.3 Nắm bắt thời cơ xuất hiện Cách mạng và kiên quyết lãnh đạo khởi nghĩa
- Nắm bắt thời cơ xuất hiện Cách Mạng
Trang 8Ngay từ khi mới ra đời, Đảng ta đã biết chăm lo xây dựng lực lượng cách mạng, làm cho lực lượng cách mạng đủ mạnh, thu hút được đông đảo Nhân dân tham gia; từ đó tạo ra những thời cơ chín muồi để đưa Cách mạng đến thành công Thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là nhờ bài học về vấn đề nắm bắt thời cơ, đề ra những quyết sách chính xác và kịp thời của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh
Thời điểm đó, tình hình chính trị vô cùng phức tạp, phát xít Nhật đảo chính hất cẳng Pháp (09/3/1945) Việc nắm bắt thời cơ được thể hiện ngay khi Đảng đưa ra những dự báo về tình thế cách mạng để dân tộc Việt Nam vùng lên giành chính quyền về tay Nhân dân Ngay trong đêm đó, Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương mở rộng quyết định phát động một cao trào cách mạng làm tiền đề cho Tổng khởi nghĩa Ngày 12/3/1945, Trung ương Đảng ra Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau
và hành động của chúng ta”, trong đó phân tích: “Tình hình chính trị khủng hoảng sâu sắc, nhưng điều kiện khởi nghĩa ở Đông Dương chưa thực sự chín muồi" và dự báo "ba cơ hội tốt" "sẽ giúp cho những điều kiện khởi nghĩa ở Đông Dương chín muồi một cách mau chóng và một cao trào cách mạng nổi dậy: Chính trị khủng hoảng; Nạn đói ghê gớm; Chiến tranh đến giai đoạn quyết liệt"
- Kiên quyết lãnh đạo khởi nghĩa
Từ tháng 3 đến tháng 8/1945, Đảng ta tiếp tục đề ra nhiều chủ trương nhằm chuyển hướng đấu tranh cách mạng, củng cố lực lượng như; ra Chỉ thị tổ chức các Ủy ban Dân tộc giải phóng các cấp và chuẩn bị thành lập Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam
Đầu tháng 5/1945, Bác Hồ từ Cao Bằng về Tuyên Quang, chọn Tân Trào làm căn cứ chỉ đạo cách mạng cả nước Tại đây, Người đã có Thư kêu gọi khởi nghĩa, ban hành Mệnh lệnh khởi nghĩa… Thời cơ khởi nghĩa giành chính quyền như Đảng dự báo đã đến, Chủ tịch Hồ Chí Minh với quyết tâm và tấm lòng khao khát giành độc lập đã khẳng định: “Lúc này, thời cơ thắng lợi đã tới, dù
hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập" Ngay khi nhận được tin Nhật chính thức đầu hàng Đồng minh vô điều kiện (ngày 15/8/1945), Hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào (tháng 8/1945) quyết định: “Cơ hội rất tốt cho ta giành độc lập đã tới” và phát động toàn dân khởi nghĩa giành chính quyền
Trong tình thế ngặt nghèo, Đảng đã hết sức khôn khéo, linh hoạt đẩy lùi nguy cơ để tạo thời
cơ thuận lợi Nhờ chọn đúng thời cơ mà sức mạnh của Nhân dân ta được nhân lên gấp bội: từ ngày
14 đến 18/8, cuộc Tổng khởi nghĩa nổ ra giành thắng lợi ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, đại bộ phận miền Trung, một phần miền Nam và ở các thị xã: Bắc Giang… Ngày 19/8, khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi ở Hà Nội Ngày 23/8, khởi nghĩa thắng lợi ở Huế và Bắc Kạn, Hòa Bình Ngày 25/8, khởi nghĩa thắng lợi ở Sài Gòn - Gia Định, Kon Tum Ở Côn Đảo, Đảng bộ nhà tù Côn Đảo đã lãnh đạo các chiến sĩ cách mạng bị giam cầm nổi dậy giành chính quyền
Chỉ trong vòng 15 ngày cuối tháng 8/1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, 25 triệu đồng bào ta, với tinh thần "đem sức ta mà giải phóng cho ta" đã nhất tề vùng lên giành chính quyền, tổng khởi nghĩa thắng lợi hoàn toàn Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố trước quốc dân và thế giới
Trang 91.2.4 Kết quả thực hiện đường lối
Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa mới ra đời đã phải đương đầu với muôn vàn khó khăn, thử thách Nhờ có sự tài tình và biết tận dụng triệt để thời cơ, Cách mạng Tháng Tám năm
1945 đã chiến thắng vang dội, giành lại độc lập và tự do cho nhân dân ta Cũng vì thế, bài học nắm vững và tận dụng triệt để thời cơ của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 được Đảng ta tiếp tục vận dụng và phát triển sáng tạo trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước
2 Nhận thức bản thân
2.1 Bối cảnh lịch sử Việt Nam hiện nay
2.1.1 Thành tựu sau 35 năm đổi mới:
Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát, tăng trưởng được duy trì ở mức khá cao; tiềm lực, quy mô và sức cạnh tranh của nền kinh tế được nâng lên (tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 5 năm 2016-2020 đạt khoảng 6%/năm, riêng năm 2020 vẫn đạt 2,91%; GDP năm 2020 đạt 271,2 tỉ USD; năng suất lao động từ 4,3%/năm giai đoạn 2011-2016, lên 5,9%/năm giai đoạn 2016-2020); thu nhập bình quân đạt 2.779 USD năm 2020
Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và xây dựng hệ thống chính trị được đặc biệt chú trọng, đạt nhiều kết quả tích cực Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực chuyển biến mạnh mẽ, có bước đột phá, được tiến hành quyết liệt, có hiệu quả, ngày càng đi vào chiều sâu, gắn kết chặt chẽ giữa "xây" và "chống"
Sự thống nhất, phối hợp đồng bộ giữa Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội được tăng cường
Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh không ngừng được củng cố, kiên quyết, kiên trì đấu tranh giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và hiệu quả; vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao
Đặc biệt, trong năm 2020, đại dịch Covid-19 tác động mạnh đến nước ta, gây ra nhiều thiệt hại về kinh tế - xã hội, nhưng nhờ phát huy được sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, sự ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, sự tham gia đồng bộ, quyết liệt của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, sự đồng lòng ủng hộ của nhân dân, chúng ta đã từng bước kiểm soát thành công đại dịch Covid-19; từng bước phục hồi sản xuất kinh doanh và các hoạt động kinh tế - xã hội;
ổn định đời sống, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; khẳng định bản lĩnh, ý chí, truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta, dân tộc ta
Đại hội XIII đã tổng kết thực tiễn cua công cuôc đổi mới, nhất là trong 5 năm thực hiện các nghị quyết của Đại hội XII, đồng thời rút ra 5 kinh nghiệm:
Một là, triển khai xây dựng và chỉnh đón Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và đội ngũ cán bộ; kế thừa, phát triển và vận dụng sang tạo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Trang 10Minh; xây dựng Đảng, nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; thúc đẩy công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng và lãng phí
Hai là luôn quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc” trong mọi công việc; thực sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ đất nước của nhân dân; cung cố và tăng cường lòng tin của nhân dân đối với Đảng, nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa
Ba là, lãnh đạo, phối hợp và triển khai các công việc với quyết tâm chính trị vững vàng, nỗ lực to lớn và hành động mạnh mẽ, phát huy mọi nguồn lực, phát huy tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa
Bốn là, tập trung ưu tiên xây dựng đồng bộ thể chế phát triển, bảo đảm sự phát triển hài hòa giữa đổi mới kinh tế vói đổi mới chính trị, văn hóa và xã hội, sự phát triển hài hòa giữa tuân theo quy luật thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa, giữa đọc lập tự chủ với hội nhập quốc tế… Năm là, chủ động nghiên cứu và dự báo chính xác tình hình; bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lạnh xthoor của đất nước; hội nhập một cách tích cực, toàn diện và sâu rộng vào cộng đồng quốc tế
2.1.2 Những khó khăn còn tồn đọng
- Việc hoàn thiện thể chế; đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế; công nghiệp hóa, hiện đại hóa còn chậm, chưa tạo được chuyển biến căn bản về mô hình tăng trưởng; năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế chưa cao
- Đổi mới giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ chưa thực sự trở thành động lực then chốt thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Lĩnh vực văn hóa, xã hội chưa có nhiều đột phá, hiệu quả chưa cao Quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu còn bất cập
- Các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại còn một số hạn chế
- Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và dân chủ xã hội chủ nghĩa có lúc, có nơi chưa được quan tâm phát huy đầy đủ Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có mặt chưa đáp ứng tốt yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và quản lý đất nước trong tình hình mới
- Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng còn một số hạn chế
2.1.3 Những thách thức đặt ra đối với cách mạng Việt Nam hiện nay:
Báo cáo chính trị của Đại hội XIII đã chỉ ra một cách khách quan rằng Việt Nam vẫn phải đối mặt với những vấn đề như chất lượng tăng trưởng kinh tế thấp, năng lực đổi mới công nghệ còn yếu, môi trường thị trường và cơ sở hạ tầng còn cần phải cải thiện, vấn đề môi trường sinh thái tương đối nghiêm trọng, thách thức và rủi ro trong công tác xây dựng Đảng…
Đại hội XIII đã đi sâu phân tích những nguy cơ va thách thức mà công tac xây dưng Đảng phải đối mặt; lần lượt đưa ra những sắp xếp toàn diện va có hệ thống trong việc tăng cường xây dựng chính trị, xây dựng tư tưởng, xây dựng đạo đức, xây dựng tổ chức và xây dựng cán bộ trong Đảng; đặt viêc xây dựng chính trị lên hàng đầu, kiên quyết ngăn chăn sư suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức tac phong va hiện tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đang; tiếp tục