- Đề xuất giải pháp phù hợp để khắc phục những tồn tại, hại chế trong công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa được thực hiện bởi Chi cục thuế thành phố Lào Cai.. - Phạm vi
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Nhung
THÁI NGUYÊN - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi, chưa từng được công bố trong bất kỳ tài liệu hay công trình nghiên cứu nào khác Các số liệu, tư liệu nêu trong luận văn được trích dẫn trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Nếu nội dung nghiên cứu của tôi trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã công bố, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và tuân thủ kết luận đánh giá luận văn của Hội đồng khoa học
Tác giả luận văn
Lê Thị Ngọc
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn là kết quả của sự nỗ lực cố gắng của bản thân trong quá trình học tập, nghiên cứu ở nhà trường, kết hợp với kinh nghiệm trong quá trình công tác tại Cục Thuế tỉnh Lào Cai
Đạt được kết quả này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến quý thầy, cô giáo giảng dạy tại Trường đại học kinh tế và quản trị kinh doanh – Đại học Thái Nguyên đã nhiệt tình truyền đạt những kiến thức và giúp đỡ hỗ trợ cho tôi Đặc biệt, tôi xin bày
tỏ lòng biết ơn chân thành sâu sắc đến TS.Nguyễn Thị Nhung, là người trực tiếp hướng dẫn khoa học; Cô đã dày công giúp đỡ, chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn đến Ban lãnh đạo, các đồng nghiệp tại Cục Thuế tỉnh Lào Cai; Chi cục Thuế thành phố Lào Cai đã giúp đỡ tạo điều kiện cho tôi trong thời gian thực hiện luận văn cũng như trong công tác
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, người thân luôn đứng bên cạnh tôi khích lệ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Mặc dù bản thân đã rất cố gắng nhưng luận văn không tránh khỏi những khiếm khuyết, tôi mong nhận được sự góp ý chân thành của quý thầy, cô giáo và đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Lào Cai, ngày tháng năm 2020
Tác giả luận văn
Lê Thị Ngọc
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ, HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
1 Sự cần thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
5 Kết cấu của đề tài 3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 4
1.1 Cơ sở lý luận về kiểm tra thuế với doanh nghiệp nhỏ và vừa 4
1.1.1 Khái quát chung về doanh nghiệp nhỏ và vừa 4
1.1.2 Lý luận chung về kiểm tra thuế với doanh nghiệp nhỏ và vừa 8
1.1.3 Các hình thức kiểm tra thuế với doanh nghiệp nhỏ và vừa 12
1.1.4 Quy trình kiểm tra thuế với doanh nghiệp nhỏ và vừa 14
1.1.5 Các phương pháp kiểm tra thuế với doanh nghiệp nhỏ và vừa 17
1.1.6 Các nội dung kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa 20
1.1.7 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa 22
1.2 Cơ sở thực tiễn về kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa 24
1.2.1 Kinh nghiệm kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại một số tỉnh, thành phố 24
1.2.2 Bài học rút ra cho Chi cục thuế thành phố Lào Cai 27
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Các câu hỏi nghiên cứu 29
2.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể 29
Trang 62.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 29
2.2.2 Phương pháp tổng hợp thông tin 31
2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 31
2.3 Chỉ tiêu đánh giá công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Chi cục thuế thành phố Lào Cai 31
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI CHI CỤC THUẾ TP LÀO CAI 35
3.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội thành phố Lào Cai và khái quát về Chi cục thuế thành phố Lào Cai 35
3.1.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội thành phố Lào Cai 35
3.1.2 Khái quát về Chi cục thuế thành phố Lào Cai 37
3.2 Tình hình hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Lào Cai 39
3.2.1 Đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Lào Cai 39
3.2.2 Kết quả thu NSNN của Chi cục thuế thành phố Lào Cai năm 2017 – 2019 44
3.3 Kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Chi cục thuế thành phố Lào Cai 47
3.3.1 Kiểm tra thuế tại trụ sở cơ quan thuế 47
3.3.2 Công tác kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế 61
3.4 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Chi cục thuế thành phố Lào Cai 68
3.4.1 Nhóm nhân tố chủ quan 68
3.4.2 Nhóm nhân tố khách quan 74
3.5 Đánh giá chung về thực trạng công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Chi cục thuế thành phố Lào Cai 80
3.5.1 Kết quả đạt được 80
3.5.2 Những hạn chế 81
3.5.3 Nguyên nhân của những hạn chế 83
Trang 7CHƯƠNG 4 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI CHI CỤC THUẾ
THÀNH PHỐ LÀO CAI 84
4.1 Quan điểm, định hướng hoàn thiện hiệu quả công tác kiểm tra thuế 84
4.1.1 Quan điểm 84
4.1.2 Định hướng 86
4.2 Một số giải pháp hoàn thiện chất lượng công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Chi cục thuế thành phố Lào Cai 88
4.2.1 Giải pháp về tổ chức và đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra thuế doanh nghiệp nhỏ và vừa 88
4.2.2 Phát triển hệ thống cơ sở dữ liệu phục vụ công tác kiểm tra thuế 90
4.2.3 Nâng cao chất lượng công tác xây dựng kế hoạch kiểm tra hàng năm 93
4.2.4 Tăng cường sự phối hợp các ban ngành có liên quan trong việc cung cấp thông tin, điều tra, xử lý và giải quyết các vụ việc liên quan tới các doanh nghiệp nhỏ và vừa 94
4.2.5 Tăng cường giám sát, nâng cao chất lượng hồ sơ khai thuế của NNT đảm báo khai đúng, khai đủ, khai kịp thời 96
4.3 Một số đề xuất, kiến nghị 96
4.3.1 Kiến nghị đối với Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế 96
4.3.2 Kiến nghị đối với Chi cục thuế thành phố Lào Cai 97
4.3.3 Kiến nghị đối với UBND thành phố Lào Cai 98
KẾT LUẬN 99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
PHỤ LỤC 1 101
PHỤ LỤC 2 103
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ, HÌNH Bảng
Bảng 3.1 Phân loại thống kê DN nhỏ và vừa thuộc quản lý của CCT Tp Lào Cai 40 Bảng 3.2 So sánh phân loại thống kê DN nhỏ và vừa thuộc quản lý của CCT Tp
Lào Cai 42
Bảng 3.3 Kết quả thu NSNN tại Chi cục thuế thành phố Lào Cai giai đoạn 2017-2019 45
Bảng 3.4 Kế hoạch kiểm tra thuế tại trụ sở cơ quan Chi cục thuế TP Lào Cai 48
Bảng 3.5 Kết quả kiểm tra hồ sơ thuế tại CQT 54
Bảng 3.6 Kết quả của công tác kiểm tra hóa đơn 56
Bảng 3.7 Tình hình xác minh vi phạm trong sử dụng hóa đơn 57
Bảng 3 8 Báo cáo tổng hợp kết quả hồ sơ điều chỉnh CQT 59
Bảng 3.9 Tổng hợp kết quả kiếm tra tại trụ sở DNNVV từ 2017-2019 63
Bảng 3.10 Đánh giá công tác lập kế hoạch và chuẩn bị công tác kiểm tra thuế doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Chi cục Thuế thành phố Lào Cai 68
Bảng 3.11 Đánh giá cơ cấu tổ chức của cơ quan thuế của các DNNVV 69
Bảng 3.12 Đánh giá tổ chức bộ máy và cơ cấu tổ chức của cơ quan thuế của cán bộ kiểm tra thuế 70
Bảng 3.13 Đánh giá về trình độ và đạo đức của người đứng đầu cơ quan thuế 71
Bảng 3.14 Đánh giá chất lượng cán bộ kiểm tra thuế thông qua ý kiến của công chức thuế 73
Bảng 3.15 Đánh giá về trình độ và đạo đức của cán bộ kiểm tra thuế 73
Bảng 3.16 Đánh giá về sự nghiêm minh trong việc xử lý vi phạm 73
Bảng 3.17 Đánh giá hiểu biết của doanh nghiệp về quy trình nghiệp vụ kiểm tra thuế 75
Bảng 3.18 Đánh giá về quy định Pháp luật thuế hiện nay 76
Bảng 3.19 Ý thức chấp hành pháp luật thuế của các doanh nghiệp 77
Bảng 3.20 Điều kiện cơ sở vật chất tại CCT Tp Lào Cai 78
Bảng 3.21 Đánh giá thực trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật hỗ trợ quản lý thuế thông qua ý kiến của cán bộ thuế 79
Trang 10Sơ đồ
Sơ đồ 1.1 Quy trình kiểm tra tại trụ sở cơ quan thuế 15
Sơ đồ 1.2 Quy trình kiểm tra tại trụ sở của người nộp thuế 16
Hình
Hình 3.1: Cơ cấu tổ chức Chi cục thuế thành phố Lào Cai 38
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Thuế là khoản nộp bắt buộc mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ phải thực hiện đối với Nhà nước, phát sinh trên cơ sở các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành Thuế không phải là một hiện tượng tự nhiên mà là một hiện tượng xã hội
do chính con người định ra và nó gắn liền với phạm trù Nhà nước và pháp luật Thuế ra đời và phát triển gắn với sự tồn tại và phát triển của Nhà nước Cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội thuế ngày càng hoàn thiện và trở thành công cụ quan trọng mà bất kỳ quốc gia nào cũng phải sử dụng để điều tiết nền kinh tế xã hội Các nhà kinh tế, các nhà quản lý luôn quan tâm nghiên cứu về chính sách thuế
và quản lý thuế của quốc gia nói chung và của từng địa phương nói riêng Trọng tâm của các nghiên cứu là: làm thế nào để thuế đạt được mục đích tạo nguồn thu vững chắc, đảm bảo cân đối thu chi Ngân sách Nhà nước; đồng thời góp phần phát huy tác dụng điều tiết vĩ mô nền kinh tế và thực hiện công bằng xã hội
Giúp người nộp thuế nắm rõ được kiến thức về kiểm tra thuế là một trong những chức năng quan trọng trong công tác quản lý thuế nên ngành thuế rất quan tâm,
chú trọng đến công tác kiểm tra thuế, nhất là từ khi người nộp thuế thực hiện cơ chế "tự
khai, tự nộp" Vì qua công tác kiểm tra thuế, cơ quan thuế sẽ nhận diện rủi ro để đưa ra
cảnh báo, ngăn ngừa, phát hiện và xử lý những gian lận về thuế Hơn nữa, công tác kiểm tra này có thể giúp cơ quan thuế (CQT) phát hiện những bất hợp lý trong chính sách, pháp luật thuế để nghiên cứu bổ sung, sửa đổi kịp thời, nhằm phát huy tốt nhất vai trò của thuế trong việc đảm bảo nguồn thu cho NSNN và điều tiết vĩ mô nền kinh
tế Bởi vậy, muốn nâng cao hiệu quả quản lý thuế thì một trong những nội dung mà CQT các cấp phải làm là thường xuyên hoàn thiện và nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra thuế
Lào Cai là địa phương rất giàu tiềm năng phát triển kinh tế thương mại, dịch
vụ du lịch và tiểu thủ công nghiệp Với cửa khẩu quốc gia, quốc tế, có vị trí quan trọng trên tuyến hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng; tỉnh Lào Cai xứng đáng là điểm hẹn hấp dẫn có sức thu hút đối với khách trong nước và nước ngoài tới du lịch văn hóa, du lịch sinh thái, tham quan, nghỉ dưỡng, nghiên
Trang 12cứu khoa học Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Lào Cai tương đối ổn định tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển đòi hỏi công tác kiểm tra thuế cần được tăng cường hơn nữa, phải đổi mới nội dung và phương thức kiểm tra Các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn Các doanh nghiệp này hoạt động nhỏ lẻ, phân tán với nhiều ngành nghề khác nhau, dẫn đến sự khó khăn trong hoạt động kiểm tra thuế của Chi cục Thuế thành phố Lào Cai Để nâng cao hiệu quả quản lý thuế thì Chi cục phải không ngừng hoàn thiện công tác kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp nói chung
và doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng Chính vì vậy, tôi chọn đề tài: “Hoàn thiện
công tác kiểm tra thuế với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Chi cục thuế thành phố Lào Cai” làm luận văn tốt nghiệp của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
- Chỉ ra và phân tích được các yếu tố ảnh hưởng đến công tác kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa
- Đề xuất giải pháp phù hợp để khắc phục những tồn tại, hại chế trong công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa được thực hiện bởi Chi cục thuế thành phố Lào Cai
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: các quy trình nghiệp vụ kiểm tra thuếm công tác tổ chức bộ máy, chỉ đạo điều hành công tác kiểm tra thuế đối với DNNVV
* Phạm vi nghiên cứu:
Trang 13- Phạm vi nội dung: công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (bao gồm kiểm tra thuế tại trụ sở của DN – người nộp thuế và kiểm tra thuế tại CQT – cơ quan quản lý trực tiếp đối với DN)
- Phạm vi không gian: tại Chi cục thuế thành phố Lào Cai
- Phạm vi thời gian: nghiên cứu thực trạng giai đoạn 2017 – 2019 Đề xuất giải pháp đến năm 2022
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học: Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về
kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp tại Chi cục thuế thành phố Lào Cai Phân tích, đánh giá thực trạng của kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Lào Cai trong thời gian qua từ đó đưa ra một số giải pháp thiết thực nhằm hoàn thiện công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp trong thời gian tới
Ý nghĩa thực tiễn: Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về công tác kiểm tra
thuế nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu về công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Chi cục thuế thành phố Lào Cai Luận văn là tài liệu tham khảo tốt, là cơ sở và thông tin hữu ích với các nhà quản lý và hoạch định chính sách thuế Luận văn cũng là tài liệu tham khảo cho các lĩnh vực giảng dạy, học tập nghiên cứu về công tác kiểm tra thuế
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp nhỏ
và vừa tại Chi cục thuế thành phố Lào Cai
Chương 4: Giải pháp hoàn thiện công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Chi cục thuế thành phố Lào Cai
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC KIỂM TRA THUẾ
ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1.1 Cơ sở lý luận về kiểm tra thuế với doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.1.1 Khái quát chung về doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa
Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế thực hiện hạch toán kinh tế độc lập, có đầy
đủ tư cách pháp nhân, được thành lập theo Luật doanh nghiệp Nhà nước, Luật Hợp tác xã, Luật Doanh nghiệp, luật Đầu tư trực tiếp của nước ngoài hoặc theo hiệp định
ký kết giữa Chính phủ Việt Nam với Chính phủ nước ngoài, bao gồm các loại hình doanh nghiệp sau đây:
Doanh nghiệp Nhà nước;
Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài
Theo quy định tại điều 4 Luật Doanh nghiệp của Quốc hội nước Cộng hoà
Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam số 68/2014/QH13 ngày 26/11/2014 thì Doanh nghiệp
là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh
Doanh nghiệp quy mô nhỏ và vừa: Theo Nghị định 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018 của Chính phủ thì tiêu chí xác định Doanh nghiệp nhỏ và vừa như sau:
- Trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng
Doanh nghiệp siêu nhỏ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng
Trang 15Doanh nghiệp nhỏ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này
Doanh nghiệp vừa có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này
- Trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ:
Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng
Doanh nghiệp nhỏ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 50 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này
Doanh nghiệp vừa có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này
Như vậy, Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy
mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)
Sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường mang tính tự phát và
có nhiều biến động phụ thuộc vào cung cầu của thị trường hàng hoá, vào chính sách của Nhà nước trong việc khuyến khích hay hạn chế phát triển Với quy mô tuy nhỏ nhưng các doanh nghiệp nhỏ và vừa lại chiếm một số lượng lớn trong nền kinh tế, thường tập trung ở các ngành xây dựng, thương mại, dịch vụ Các doanh nghiệp này
Trang 16có tính năng động cao nên dễ dàng chuyển hướng kinh doanh, dễ thích nghi với hoàn cảnh và yêu cầu của nền kinh tế
Ý thức chấp hành pháp luật đối với khu vực này thường không cao, thể hiện qua việc thực hiện chế độ kế toán, hoá đơn chứng từ mua bán hàng hoá chưa đầy
đủ, không theo đúng quy định của Nhà nước, nếu có chỉ mang tính chất đối phó
1.1.1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Ngoài những đặc trưng vốn của một doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh
tế, DNNVV còn có những đặc điểm riêng biệt xuất phát từ tính chất hoạt động như sau:
Thứ nhất, DNNVV có quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh và tiềm lực tài
Thứ năm, bộ máy điều hành gọn nhẹ, có tính linh hoạt cao nhưng năng lực
quản trị chưa cao
Từ những đặc điểm trên, có thể khái quát thành những đặc trưng cơ bản của doanh nghiệp nhỏ và vừa như sau:
- Hình thức sở hữu: Có đủ các hình thức sở hữu: Nhà nước, tập thể, tư nhân
- Công nghệ và thị trường: Các doanh nghiệp nhỏ và vừa chủ yếu có năng lực tài chính rất thấp, có công nghệ, thiết bị lạc hậu, chủ yếu sử dụng lao động thủ công
Trang 17- Trình độ tổ chức quản lý và tay nghề của người lao động còn thấp và yếu
1.1.1.3 Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Thứ nhất, các doanh nghiệp nhỏ và vừa có vai trò quan trọng trong sự tăng
trưởng của nền kinh tế Theo thống kê của hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa, Việt Nam hiện có khoảng 700.000 DNNVV, chiếm khoảng 97,5% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động thực tế Tuy nhiên, trong tổng số DNNVV của Việt Nam, số doanh nghiệp quy mô vừa chỉ chiếm 1,6%, còn lại là doanh nghiệp quy mô nhỏ và siêu nhỏ Tổng số vốn đăng ký của các DNNVV đạt xấp xỉ 121 tỷ USD, chiếm 30% tổng
số vốn đăng ký của doanh nghiệp Hàng năm, các DNNVV đóng góp khoảng 40% GDP; 30% nộp ngân sách, 33% giá trị sản lượng công nghiệp, 30% giá trị hàng hóa xuất khẩu và tạo ra gần 60% việc làm…
Thứ hai, tác động kinh tế - xã hội lớn nhất của doanh nghiệp nhỏ và vừa là
giải quyết một số lượng lớn chỗ làm việc cho dân cư, làm tăng thu nhập cho người lao động, góp phần xoá đói giảm nghèo Ở Việt Nam, mỗi năm doanh nghiệp nhỏ
và vừa tạo ra hơn một triệu việc làm mới, số lượng lao động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong các lĩnh vực phi nông nghiệp có khoảng 7,8 triệu người, chiếm khoảng 79,2% tổng số lao động phi nông nghiệp và chiếm khoảng 22,5% lực lượng lao động của cả nước
Thứ ba, các doanh nghiệp nhỏ và vừa góp phần làm năng động nền kinh tế
trong cơ chế thị trường
Thứ tư, khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa thu hút được khá nhiều vốn
trong dân
Thứ năm, góp phần đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt
với khu vực nông thôn
Thứ sáu, các doanh nghiệp nhỏ và vừa là nơi ươm mầm các tài năng kinh
doanh, là nơi đào tạo, rèn luyện các nhà doanh nghiệp, giúp họ làm quen với môi trường kinh doanh
Thứ bảy, các doanh nghiệp nhỏ và vừa góp phần vào đô thị hoá phi tập trung
và thực hiện phương châm “ly nông bất ly hương”
Trang 181.1.2 Lý luận chung về kiểm tra thuế với doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.1.2.1 Khái niệm kiểm tra thuế với doanh nghiệp nhỏ và vừa
a Khái niệm thuế
Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước, là công cụ điều tiết và là
cơ sở đảm bảo công bằng xã hội, thúc đẩy cạnh tranh phát triển Sự phát triển hay suy thoái của một quốc gia phụ thuộc rất nhiều vào chính sách thuế của quốc gia đó Nước ta đã và đang chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hệ thống thuế cũng ngày càng được hoàn thiện hơn
Thuế ra đời là một tất yếu khách quan, gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước Để duy trì sự tồn tại của mình, Nhà nước cần có những nguồn tài chính để chi tiêu, trước hết là chi cho việc duy trì và củng cố bộ máy quản lý Nhà nước; chi cho các công việc thuộc chức năng của Nhà nước như: quốc phòng,
an ninh, chi cho xây dựng và phát triển các cơ sở hạ tầng; chi cho các vấn đề về phúc lợi công cộng, về sự nghiệp, về xã hội trước mắt và lâu dài
Để có nguồn tài chính đáp ứng nhu cầu chi tiêu thường xuyên, Nhà nước dùng quyền lực chính trị buộc dân phải đóng góp một phần thu nhập của mình cho Ngân sách Nhà nước Đây chính là hình thức cơ bản nhất để huy động tập trung nguồn tài chính cho Nhà nước Hình thức đóng góp đó chính là Thuế
Nhà kinh tế học Gaston Jeze trong cuốn “Tài chính công” đưa ra một định nghĩa tương đối cổ điển về thuế: Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của nhà nước
Theo từ điển tiếng Việt (1998), “Thuế là khoản tiền hay hiện vật mà người dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tùy theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp buộc phải nộp cho Nhà nước theo mức qui định"
Tuy nhiên, có thể thấy các khái niệm trên đều thống nhất: thuế là khoản nộp bắt buộc vào ngân sách nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của nhà nước
Vậy, theo tác giả, Thuế là một khoản nộp bắt buộc mà các thể nhân (cá nhân)
và pháp nhân (tổ chức) có nghĩa vụ phải thực hiện đối với Nhà nước, phát sinh trên
cơ sở các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành, không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp thuế
Trang 19Khái niệm kiểm tra thuế với doanh nghiệp nhỏ và vừa
Trong hoạt động quản lý, không chỉ riêng ngành Thuế mà tất cả các ngành khác thì kiểm tra là một chức năng không thế thiếu và nó có vai trò rất quan trọng Nhất là trong điều kiện quản lý thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp như hiện nay Kiểm tra thuế không chỉ góp phần phát hiện và ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật về thuế, trốn thuế, gian lận thuế, mà còn góp phần nâng cao tính tuân thủ pháp luật thuế, tạo sự bình đẳng trong thực hiện nghĩa vụ thuế
Về khái niệm kiểm tra có thể được hiểu trên hai phạm vi:
Theo phạm vi hẹp, kiểm tra là hoạt động của chủ thể nhằm tiến hành xem xét, xác minh một việc gì đó của đối tượng bị quản lý xem có phù hợp hay không với trạng thái định trước (kiểm tra mang tính nội bộ của người đứng đầu cơ quan, kiểm tra phương tiện giao thông…)1
Theo nghĩa này, chủ thể kiểm tra có thể áp dụng một chế tài nhất định như áp dụng các hình thức kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc buộc phải thực hiện một số biện pháp ngăn chặn hành chính
Theo phạm vi rộng, kiểm tra là chỉ hoạt động của các tổ chức xã hội, các đoàn thể và của công dân kiểm tra hoạt động bộ máy của Nhà nước2
Theo nghĩa này, tính quyền lực Nhà nước trong kiểm tra bị hạn chế vì các chủ thể thực hiện kiểm tra không có quyền áp dụng trực tiếp những biện pháp cưỡng chế Nhà nước
Như vậy, Kiểm tra là chức năng chung của quản lý Nhà nước, là hoạt động mang tính chức năng của quản lý Nhà nước, là hoạt động mang tính phản hồi (rà soát, nhiều khi là phản ứng lại) đối với chu trình quản lý nhằm phân tích, đánh giá, theo dõi những mục tiêu, nhiệm vụ quản lý đã đề ra3
Theo Giáo trình Quản lý thuế (2016) của tác giả Lê Văn Trường - Học viện
Tài chính: “Kiểm tra thuế là hoạt động của cơ quan thuế trong việc xem xét tình
1 Vũ Trọng Hùng, Vũ Trọng Khải, 1994, Từ điển pháp luật Anh – Việt
2 Vũ Trọng Hùng, Vũ Trọng Khải, 1994, Từ điển pháp luật Anh – Việt
3 PGS.TS.Nguyễn Thị Liên, PGS.TS.Nguyễn Văn Hiệu chủ biên (2009), Giáo trình nghiệp
vụ thuế, Học viện Tài chính
Trang 20hình thực tế của đối tượng kiểm tra, từ đó đối chiếu với chức năng nhiệm vụ, yêu cầu đặt ra đối với đối tượng kiểm tra để có những nhận xét, đánh giá về tình hình chấp hành nghĩa vụ thuế của đối tượng kiểm tra”
Tóm lại, có thể hiểu kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa là hoạt động phân tích, đánh giá, giám sát của cơ quan thuế nhằm đảm bảo các doanh nghiệp nhỏ và vừa chấp hành nghĩa vụ nộp thuế vào ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật
1.1.2.2 Đặc điểm quản lý thuế với doanh nghiệp nhỏ và vừa
Với các cách hiểu như trên, kiểm tra thuế với DNNVV có những đặc điểm sau:
Thứ nhất: Kiểm tra thuế có phạm vi rộng Đối tượng kiểm tra là các tổ chức,
cá nhân trong ngành thuế, là NNT bao gồm mọi tổ chức và cá nhân trong xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của các Luật thuế
Thứ hai: Kiểm tra thuế là công tác rất khó khăn, phức tạp vì nó động chạm
trực tiếp tới lợi ích kinh tế của NNT Để che dấu các hành vi trốn thuế nhằm bảo vệ lợi ích vật chất của mình, NNT thường tìm mọi biện pháp cản trở, gây khó khăn cho công tác kiểm tra của CQT
Thứ ba: Kiểm tra thuế đòi hỏi rất cao về năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức của người cán bộ làm việc trong lĩnh vực này Để xác định đúng đắn nghĩa
vụ thuế của đối tượng được kiểm tra, đòi hỏi người cán bộ thuế không chỉ nắm chắc các luật thuế mà còn phải nắm bắt được bản chất các hoạt động kinh tế của đối tượng kiểm tra, có nghĩa là người cán bộ kiểm tra thuế phải có sự am hiểu sâu rộng
về kinh tế, giỏi kế toán, sâu sắc trong tư duy logic,… Đồng thời, người cán bộ kiểm tra thuế phải có phẩm chất đạo đức tốt, bản lĩnh vững vàng, vì thường xuyên phải làm việc trong môi trường có sự cám dỗ về vật chất
1.1.2.3 Mục đích của kiểm tra thuế với doanh nghiệp nhỏ và vừa
- Tăng cường kiểm tra, giám sát hồ sơ khai thuế của DNNVV nhằm chống thất thu thuế qua việc kê khai thuế; ngăn chặn và xử lý kịp thời những vi phạm
về thuế
- Nâng cao tính tự giác tuân thủ pháp luật thuế của DNNVV trong việc thực hiện kê khai thuế, tính thuế và nộp thuế
Trang 21- Thực hiện cải cách hành chính trong việc kiểm tra thuế từ đó tránh gây phiền hà và tạo điều kiện thuận lợi cho DNNVV phát triển sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ
- Tạo sự thống nhất trong việc thực hiện công tác kiểm tra trong toàn ngành thuế nhằm phát hiện, ngăn chặn kịp thời các DNNVV có hành vi gian lận, trốn thuế
- Nâng cao việc quản lý cán bộ kiểm tra thuế trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao, làm cơ sở đánh giá phân loại cán bộ kiểm tra
- Thực hiện cải cách thủ tục hành chính và hiện đại hóa công tác kiểm tra thuế góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế với DNNVV
1.1.2.4 Nguyên tắc kiểm tra thuế với doanh nghiệp nhỏ và vừa
Mục đích của việc kiểm tra thuế là phát huy nhân tố tích cực, ngăn ngừa, xử
lý các sai phạm gây tổn thất tới lợi ích của Nhà nước, của nhân dân, của các doanh nghiệp, góp phần hoàn thiện chính sách và pháp luật về thuế Để đạt được mục đích này thì kiểm tra thuế phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
Thực hiện đúng nguyên tắc này có nghĩa là các cơ quan và cán bộ kiểm tra thuế phải thực hiện đúng chức năng, trách nhiệm, quyền hạn mà pháp luật quy định xem xét sự đúng sai của đối tượng kiểm tra phải căn cứ vào quy định của pháp luật không tuân theo ý kiến của bất cứ một cơ quan hoặc một cá nhân nào Kết luận của kiểm tra phải đúng theo pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật
b Trung thực, chính xác, khách quan
Đảm bảo tính trung thực, chính xác, khách quan là vấn đề có tính nguyên tắc cao trong công tác kiểm tra Có trung thực, chính xác, khách quan trong công tác kiểm tra thì mới cho phép đánh giá đúng thực trạng của đối tượng kiểm tra, xử lý đúng người, đúng việc, đúng pháp luật
Trang 22Nguyên tắc khách quan và chính xác đòi hỏi trong hoạt động kiểm tra phải tôn trọng sự thật, đánh giá sự vật, hiện tượng như nó vốn có, không suy diễn hay quy chụp một cách chủ quan, phải tiến hành công việc một cách thận trọng
Nguyên tắc trung thực đòi hỏi trong hoạt động kiểm tra phải phản ánh và đánh giá đúng bản chất của sự vật, hiện tượng; vô tư, không thiên lệch; không vì quyền lợi cá nhân; phải tỷ mỷ, cẩn thận và phải có kiến thức chuyên môn vững vàng, hiểu biết sâu rộng và sâu sát thực tiễn
c Công khai, dân chủ
Tính dân chủ trong kiểm tra thuế tức là phải thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” để thu hút sự tham gia, đồng tình ủng hộ của nhân dân
Việc công khai gồm nhiều vấn đề cụ thể như: tiếp xúc công khai với các đối tượng liên quan, công bố công khai kết luận kiểm tra Tuy nhiên tùy từng trường hợp
cụ thể mà xác định phạm vi và hình thức công khai cho phù hợp với yêu cầu đảm bảo giữ bí mật quốc gia, lợi ích của Nhà nước, đảm bảo hiệu quả kiểm tra cao nhất
d Bảo vệ bí mật
Cần quán triệt nguyên tắc này trong kiểm tra thuế là vì trong quá trình kiểm tra cán bộ làm công tác này tiếp cận với nhiều vấn đề, nhiều tài liệu liên quan đến bí mật, bí quyết kinh doanh của doanh nghiệp, bí mật của quốc gia Nếu để lộ cho những đối tượng không được phép biết sẽ làm thiệt hại lợi ích của quốc gia và các doanh nghiệp Do vậy, chỉ được phép báo cáo cho những người có thẩm quyền được biết
e Hiệu quả
Thực hiện nguyên tắc này mới đảm bảo kiểm tra thuế đạt được mục đích của
nó Nguyên tắc này đòi hỏi kiểm tra thuế phải đảm bảo tính hiệu quả, nghĩa là nó phải có tác dụng đề phòng, ngăn ngừa những thiếu sót, vi phạm; phải đảm bảo giúp các đối tượng kiểm tra thực hiện đúng chính sách thuế
1.1.3 Các hình thức kiểm tra thuế với doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.1.3.1 Phân loại theo thời gian
Với tiêu thức phân loại này, kiểm tra được chia làm 2 loại:
Trang 23- Kiểm tra thường xuyên: Thông thường chỉ có thể tiến hành kiểm tra thường
xuyên, việc tiến hành kiểm tra thường xuyên chủ yếu là việc tự kiểm tra trong các đơn vị của ngành Thuế
- Kiểm tra bất thường (đột xuất): Hình thức kiểm tra này được tiến hành theo
yêu cầu của cơ quan quản lý cấp trên, cơ quan có chức năng kiểm tra hoặc do lãnh đạo đơn vị đặt ra
Ưu điểm: Tiêu thức kiểm tra phân loại theo thời gian giúp CQT thực hiện
triển khai công tác kiểm tra theo đúng giai đoạn, phù hợp với từng thời kỳ chính sách , gắn liền với chủ trương và chỉ đạo của các cấp lãnh đạo trong ngành thuế
Nhược điểm: Tuy nhiên công tác kiểm tra theo thời gian còn hạn chế trong
việc chủ động giao kế hoạch thực hiện cho các cán bộ kiểm tra
1.1.3.2 Phân loại theo phạm vi
Dựa vào tiêu thức này, kiểm tra được chia làm 2 loại, đó là:
- Kiểm tra từng phần: Hình thức kiểm tra này thường được áp dụng đối với
một sắc thuế nhất định hoặc một phần của quy trình thu nộp
- Kiểm tra toàn phần: Với hình thức kiểm tra này, cơ quan chức năng tiến
hành kiểm tra toàn diện các mặt công tác của một cơ quan thuế, một cá nhân hoặc toàn bộ quá trình kê khai nộp thuế với tất cả các sắc thuế có liên quan của Người nộp thuế
Ưu điểm: Trong công tác kiểm tra đã xác định phạm vi qua việc nhận biết rõ
các dấu hiệu rủi ro của các doanh nghiệp từ đó tiến hành kiểm tra chọn lọc, kiểm tra theo chuyên đề nên mang lại tính hiệu quả về mặt thời gian và chất lượng kiểm tra được nâng cao
Nhược điểm: Cơ sở dữ liệu và trình độ nguồn nhân lực khó đáp ứng được
yêu cầu xác định các dấu hiệu vi phạm và phương pháp thực hiện phân loại rủi ro đối với từng sắc thuế
1.1.3.3 Phân loại theo địa điểm tiến hành kiểm tra
- Kiểm tra tại cơ quan thuế: Cơ quan thuế không đến làm việc tại trụ sở
Người nộp thuế mà tiến hành kiểm tra các hồ sơ liên quan đến việc xác định nghĩa
vụ thuế của người nộp thuế tại cơ quan thuế Đây là các báo cáo tài chính mà người
Trang 24nộp thuế có nghĩa vụ nộp cho cơ quan thuế và các hồ sơ, tài liệu khác về người nộp thuế mà cơ quan thuế thu thập và lưu giữ được
- Kiểm tra tại trụ sở của người nộp thuế: Tại trụ sở của người nộp thuế, cán
bộ kiểm tra thực hiện việc kiểm tra các nội dung kiểm tra theo quy định pháp luật Hình thức kiểm tra này cho phép cán bộ kiểm tra tiếp cận các tài liệu cụ thể và thực tiễn kinh doanh của cơ sở kinh doanh như: các sổ sách, chứng từ kế toán; thực tế tồn quỹ tiền mặt; thành phẩm tồn kho thực tế…
Ưu điểm: phân loại theo địa điểm giúp các cán bộ kiểm tra thuận lợi trong
việc lựa chọn hình thức kiểm tra phù hợp với việc thu thập được đầy đủ và chính xác hồ sơ, dữ liệu doanh nghiệp cung cấp cho cơ quan thuế
Nhược điểm: Tùy thuộc vào ý thức và sự phối hợp tốt hay không của NNT
trong công tác quyết toán, kiểm tra thuế trong doanh nghiệp nhỏ và vừa; chất lượng
và số lượng nộp hồ sơ kê khai thuế của NNT cũng ảnh hưởng không nhỏ trong việc đánh giá và lựa chọn hình thức kiểm tra sao cho phù hợp
1.1.4 Quy trình kiểm tra thuế với doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.1.4.1 Kiểm tra thuế tại trụ sở cơ quan thuế
(a) - Nguyên tắc kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở cơ quan thuế
- Các loại hồ sơ khai thuế theo tháng, quí và năm (gọi chung là hồ sơ khai thuế) NNT gửi đến CQT đều được kiểm tra thường xuyên theo quy định tại Điều
77, Luật QLT 2006 và kiểm tra theo cơ chế quản lý rủi ro quy định tại khoản 4, Điều 1, Luật bổ sung sửa đổi một số điều của Luật QLT 2006
- Hồ sơ khai thuế phải kiểm tra tại trụ sở CQT bao gồm tất cả hồ sơ khai thuế của tổ chức gửi đến CQT trừ: hồ sơ khai thuế của tổ chức kê khai thuế theo phương pháp trực tiếp; hồ sơ khai thuế nộp tiền thuế sử dụng đất khi được giao đất; thuế sử dụng đất nông nghiệp; thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, tiền thuê đất; thuế môn bài; lệ phí trước bạ; phí và các loại lệ phí khác
- Đối với các trường hợp đóng mã số thuế nhà thầu, mã số thuế chi nhánh nếu chưa phát sinh hoạt động sản xuất kinh doanh thì có thể thực hiện kiểm tra tại trụ sở CQT ghi nhận biên bản và tiến hành các thủ tục đóng mã số thuế theo quy định
Trang 25- Đối với các loại hồ sơ khai thuế gửi đến CQT đã có phần mềm tin học hỗ trợ kiểm tra thì áp dụng các phần mềm ứng dụng tin học của ngành thuế để kiểm tra tính đầy đủ, chính xác của các thông tin và kịp thời phát hiện rủi ro trong các hồ sơ khai thuế
(b) - Các bước thực hiện kiểm tra tại trụ sở cơ quan thuế
Theo quyết định 746/QĐ – TCT ngày 20/04/2015 về ban hành quy trình kiểm tra thuế :
Sơ đồ 1.1 Quy trình kiểm tra tại trụ sở cơ quan thuế
(Nguồn: Quyết định 746/QĐ-TCT ngày 20/04/2015) 1.1.4.2 Kiểm tra thuế tại trụ sở Người nộp thuế
(a)- Nguyên tắc kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế
- Hằng năm CQT cấp trên giao nhiệm vụ kiểm tra thuế cho CQT cấp dưới với số lượng NNT dựa trên tiêu chí tỷ lệ số NNT hoạt động đang QLT cho 5 (năm) trường hợp: kiểm tra từ hồ sơ khai thuế; kiểm tra theo dấu hiệu vi phạm; kiểm tra hoàn thuế; kiểm tra theo kế hoạch, chuyên đề và kiểm tra khác
- Đối với trường hợp kiểm tra theo kế hoạch và kiểm tra theo chuyên đề, kiểm tra theo dấu hiệu vi phạm CQT thực hiện kiểm tra tại trụ sở NNT không quá 1 lần trong một năm
- Đối với trường hợp kiểm tra trước hoàn thuế sau và kiểm tra sau hoàn thuế, trường hợp kiểm tra theo kế hoạch và kiểm tra theo chuyên đề, trước khi kiểm tra tại trụ sở NNT thì CQT có thể yêu cầu NNT giải trình, cung cấp thông tin tài liệu như trường hợp kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở CQT
- Đối với trường hợp kiểm tra NNT chia tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, phá sản, cổ phần hóa, đóng mã số thuế, chuyển địa điểm kinh doanh và các trường hợp kiểm tra đột xuất, kiểm tra theo chỉ đạo của cấp có thẩm quyền được áp dụng linh hoạt các hình thức kiểm tra từ hồ sơ khai thuế, hoặc kiểm tra theo dấu hiệu vi
Trang 26phạm, hoặc kiểm tra theo kế hoạch, chuyên đề quy định tại các văn bản hướng dẫn thi hành
- Đối với các loại hồ sơ khai thuế: Thuế nhà thầu nước ngoài; tổ chức kê khai theo phương pháp trực tiếp; nộp tiền thuế sử dụng đất khi được giao đất; thuế sử dụng đất nông nghiệp; thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, tiền thuê đất; thuế môn bài; lệ phí trước bạ; phí và các loại lệ phí khác việc kiểm tra tại trụ sở NNT được thực hiện trên cơ sở rủi ro về thuế
(b)- Nội dung kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế cho từng trường hợp cụ thể
- Trường hợp kiểm tra từ hồ sơ khai thuế là các khoản mục NNT không giải trình hoặc không khai bổ sung sau thời hạn thông báo của CQT;
- Trường hợp kiểm tra hoàn thuế là kiểm tra số thuế đề nghị hoàn hoặc số thuế đã được hoàn theo quyết định của CQT;
- Trường hợp kiểm tra theo dấu hiệu vi phạm là kiểm tra các nội dung, khoản mục có dấu hiệu vi phạm pháp luật thuế;
- Trường hợp kiểm tra theo kế hoạch, chuyên đề là kiểm tra nội dung có dấu hiệu rủi ro qua phân tích chuyên sâu hồ sơ khai thuế của NNT;
- Đối với trường hợp kiểm tra NNT chia tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, phá sản, cổ phần hóa, đóng mã số thuế, chuyển địa điểm kinh doanh và các trường hợp kiểm tra đột xuất, kiểm tra theo chỉ đạo của cấp có thẩm quyền là nội dung kiểm tra việc chấp hành pháp luật thuế
(c)- Quy trình kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế
Sơ đồ 1.2 Quy trình kiểm tra tại trụ sở của người nộp thuế
(Nguồn: Quyết định 746/QĐ-TCT ngày 20/04/2015)
NNT
Bước 3:
Thực hiện kiểm tra tại trụ sở
NNT
Bước 4
Lập biên bản kiểm tra
Bước 5:
Xử lý kết quả kiểm tra tại trụ
sở NNT
Bước 6
Giám sát kết quả kiểm tra
Trang 271.1.5 Các phương pháp kiểm tra thuế với doanh nghiệp nhỏ và vừa
Những phương pháp được sử dụng trong công tác kiểm tra bao gồm:
1.1.5.1 Phương pháp vận dụng kỹ thuật rủi ro
Theo Giáo trình Quản lý thuế thì rủi ro là “The effect of uncertainty on
objectives, whether possitive or negative” nghĩa là “Tác động của một sự kiện không chắc chắn có thể xảy ra mà hệ quả của nó có thể có tác động tích cực hoặc tiêu cực” Mà cụ thể trong lĩnh vực quản lý thuế thì rủi ro được hiểu là những tổn
thất có thể xảy ra phát sinh từ các hoạt động không tuân thủ pháp luật thuế trong một môi trường, hoàn cảnh cụ thể (Lê Xuân Trường, 2016, Giáo trình quản lý thuế)
Quản lý rủi ro có thể được hiểu là quá trình lựa chọn và thực hiện các giải pháp trong bối cảnh nguồn lực có hạn để giảm thiểu nguy cơ xấu đe dọa đến sự thành công của một tổ chức Cụ thể hơn có thể hiểu, quản lý rủi ro làm một quá trình đo lường hay đánh giá về quy mô hoặc tính chất nghiêm trọng của một sự việc, một hiện tượng, một vấn đề, để trên cơ sở đó lập chiến lược quản lý rủi ro Và điểm mấu chốt trong quản lý rủi ro là dành ưu tiên mọi nguồn lực vào quản lý rủi ro
có thể gây ra tổn thất lớn nhất và những rủi ro có khả năng xảy ra nhất, sau đó mới
là những rủi ro có tổn thất thấp hơn và ít có khả năng xảy ra hơn
Như vậy có thể hiểu quản lý rủi ro trong việc kiểm tra thuế là việc phân loại, đánh giá DN dựa trên hệ thống những tiêu thức rủi ro về thuế nhằm xác định những
DN có mức tuân thủ thấp và khả năng gian lận cao về thuế để tập trung nguồn lực kiểm tra theo nguyên tắc ưu tiên nguồn lực để kiểm tra những DN có thể mang lại tổn thất lớn nhất và những sai phạm có nhiều khả năng xảy ra nhất
Thông thường để quản lý rủi ro, người ta chia rủi ro thành các loại sau:
- Rủi ro tiềm tàng (IR): là rủi ro tiềm ẩn có thể xảy ra trong một môi trường nhất định Trong kiểm tra thuế, rủi ro tiềm tàng là rủi ro có thể xảy ra sai xót trọng yếu trong báo cáo tài chính và các hồ sơ khai thuế; nó tồn tại một cách độc lập với tác động hệ thống kiểm soát nội bộ và việc thực hiện kiểm tra thuế hay không
Khi nghiên cứu về rủi ro tiềm tàng thì điều quan trọng nhất cần chú ý là rủi
ro tiềm tàng nằm ngoài tầm kiểm soát của cán bộ kiểm tra bởi vì nó là một rủi ro không phụ thuộc vào đối tượng đó có bị kiểm tra hay không Nhiệm vụ của cơ quan
Trang 28thuế là xác định rõ mức độ rủi ro tiềm tàng của từng cơ sở kinh doanh để làm cơ sở xây dựng kế hoạch kiểm tra
Rủi ro kiểm soát (CR): là rủi ro về khả năng kiểm soát tại chỗ không chặt chẽ nên không ngăn ngừa được những sai sót trọng yếu có thể xảy ra
Rủi ro kiểm soát cũng nằm ngoài tầm kiểm soát của cán bộ kiểm tra thuế, nó luôn luôn tồn tại dù có tiến hành kiểm tra hay không Cán bộ kiểm tra không thể kiểm soát hoặc làm thay đổi được rủi ro kiểm soát trong một thời gian ngắn nhưng
có thể đánh giá được mức độ tác động của nó
Rủi ro phát hiện (DR): là rủi ro mà kiểm tra thuế không phát hiện được qua các báo cáo tài chính gian lận Trong khi rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát bắt nguồn và gắn với hoạt động kinh doanh của DN và cách thức DN kiểm soát môi trường hoạt động của mình thì rủi ro phát hiện lại xuất phát từ chất lượng của hoạt động kiểm tra, tức là xuất phát từ các quy định của pháp luật, chất lượng của quy trình và trình độ cán bộ kiểm tra
Để kiểm soát rủi ro phát hiện, cán bộ kiểm tra cần đánh giá rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát Từ đó, lựa chọn phương pháp kiểm tra và lên kế hoạch kiểm tra chi tiết để loại trừ hoặc bù đắp các rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát càng nhiều càng tốt, nhờ đó, giảm rủi ro phát hiện Để rủi ro phát hiện càng thấp thì cần nhiều thủ tục kiểm tra để nắm bắt và đưa ra các bằng chứng cần thiết
Rủi ro kiểm toán (AR): là rủi ro mà các báo cáo tài chính gian lận được chấp nhận như những báo cáo tài chính trung thực
Rủi ro kiểm toán tổng thể chịu sự tác động của 3 cấu phần là rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện Mối quan hệ tổng quát giữa chúng thể hiện qua công thức sau:
AR = IR x CR x DR
Từ công thức trên cho thấy, vì cán bộ kiểm tra không thể kiểm soát được rủi
ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát nên trong trường hợp cả rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát đều cao thì cách duy nhất để giảm rủi ro kiểm tra là làm giảm rủi ro phát hiện Muốn vậy, phải điều chỉnh nội dung và phạm vi của các thủ tục kiểm tra Về
cơ bản, kiểm tra càng chi tiết thì rủi ro phát hiện càng thấp và ngược lại
Trang 291.1.5.2 Phương pháp đối chiếu, so sánh
Phương pháp này được sử dụng trong suốt quá trình tiến hành kiểm tra Cán
bộ kiểm tra thuế tiến hành so sánh, đối chiếu các nội dung kiểm tra để xác định tính hợp lý, khách quan, mức độ trung thực của nội dung kiểm tra: đối chiếu tài liệu, số liệu của đơn vị kiểm tra này với các đơn vị khác; đối chiếu giữa báo cáo kế toán với
sổ sách kế toán; giữa sổ tổng hợp với sổ chi tiết; giữa sổ sách kế toán với chứng từ
kế toán; đối chiếu giữa nội dung tài liệu, báo cáo quyết toán; đối chiếu nội dung các khoản thu, chi với thực tế,
1.1.5.3 Phương pháp kiểm tra đi từ tổng hợp đến chi tiết
Phương pháp này được gọi là phương pháp kiểm tra ngược chiều, tức là tiến hành kiểm tra số liệu tổng hợp trước sau đó mới kiểm tra đến chi tiết chứ không theo như trình tự hạch toán kế toán (đi từ chi tiết đến tổng hợp) Phương pháp này giúp cho cán bộ kiểm tra phát hiện được những mâu thuẫn, bất thường để tiến hành kiểm tra những vấn đề trọng tâm, mấu chốt, tránh xa vào những việc vụn vặt
Việc kiểm tra số liệu tổng hợp được tiến hành với các số liệu được tổng hợp trên các báo cáo: báo cáo đánh giá tài sản, báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh…
Từ đó phân tích, đối chiếu để rút ra nhận xét tổng quát về những vấn đề cần nghiên cứu
Việc kiểm tra số liệu chi tiết được thể hiện qua việc kiểm tra từng nghiệp vụ kinh tế phát sinh (kiểm tra trên chứng từ gốc hoặc bảng kê chi tiết)
1.1.5.4 Các phương pháp kiểm tra chứng từ gốc
Các phương pháp kiểm tra chứng từ gốc có ý nghĩa vô cùng quan trọng vì chúng là những cơ sở pháp lý ghi nhận các nghiệp vụ kinh tế phát sinh và thực sự được hoàn thành (nó là cơ sở của mọi số liệu kế toán) Có 3 phương pháp để kiểm tra chứng từ gốc:
Kiểm tra chứng từ theo trình tự thời gian Đây là phương pháp ít được sử dụng bởi mất nhiều thời gian và hiệu quả thấp
Kiểm tra theo loại nghiệp vụ là phương pháp được sử dụng phổ biến trong kiểm tra thuế bởi nó được áp dụng khi cần kiểm tra để đưa ra kết luận đầy đủ về một loại nghiệp vụ nào đó theo yêu cầu kiểm tra (điều này vừa tiết kiệm được thời gian cũng như mang lại hiệu quả công tác cao)
Trang 30Kiểm tra điển hình là phương pháp lựa chọn ngẫu nhiên một số chứng từ của một loại nghiệp vụ nào đó để kiểm tra, xem xét và đưa ra kết luận chung Đây là phương pháp có thể tiết kiệm được thời gian nhưng trên thực tế thì đây lại là phương pháp cho kết quả kém tin tưởng nhất
1.1.5.5 Các phương pháp kiểm tra bổ trợ
Ngoài các phương pháp kiểm tra thuế được sử dụng như trên thì còn có một
số phương pháp kiểm tra bổ trợ được sử dụng như:
Phương pháp thẩm tra và xác nhận từng phần là phương pháp phối hợp kiểm tra nhiều nguồn Theo phương pháp này số liệu được đối chiếu với nhiều nguồn khác nhau để đảm bảo chính xác Cán bộ kiểm tra phải có văn bản xác nhận về từng phần việc đã được xác minh, trên cơ sở xác nhận từng phần để đi đến xác nhận toàn bộ
Phương pháp quan sát: quan sát trực tiếp không gây trở ngại đến những công việc có liên quan đến nội dung kiểm tra
Phương pháp toán học: để tính toán, đối chiếu, phân tích và tổng hợp số liệu Phương pháp phỏng vấn nhằm thu thập thông tin từ người có liên quan đến nội dung kiểm tra
1.1.6 Các nội dung kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa
Nội dung xuyên suốt của kiểm tra thuế là kiểm tra việc chấp hành pháp luật thuế của NNT, trong đó bao gồm các nội dung cụ thể sau:
Một là, kiểm tra hồ sơ pháp lý, tính trung thực của các tài liệu của NNT có liên quan tới pháp luật thuế như: Giấy chứng nhận mã số doanh nghiệp - mã số thuế
(ngành nghề kinh doanh, vốn, địa điểm, thời gian thực tế kinh doanh)…nhằm phát hiện và xử lý những gian lận trong kê khai đăng ký thuế Cần coi trọng việc kiểm tra nội dung ghi trong đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế vì đây là khâu đầu tiên trong quy trình quản lý thu thuế để tránh bỏ sót đối tượng nộp thuế, đối tượng chịu thuế, bỏ sót nguồn thu Việc kiểm tra tính pháp lý của các tờ khai thuế gốc, các báo cáo tài chính, các hợp đồng kinh tế gốc, hồ sơ tài liệu đã đủ chữ ký của người có thẩm quyền hay chưa, sổ sách, chứng từ, hóa đơn có đủ tính chất pháp lý hay không, nhằm đảm bảo hồ sơ kiểm tra là đủ cơ sở pháp lý để kiểm tra, đảm bảo nguyên tắc
an toàn, hợp pháp khi kiểm tra
Trang 31Hai là, kiểm tra việc chấp hành chế độ kế toán, sổ sách, hoá đơn, chứng từ
Việc thực hiện chế độ kế toán, sổ sách, hóa đơn, chứng từ có liên quan chặt chẽ đến việc tính thuế, khai thuế và nộp thuế của NNT Kiểm tra nội dung này bao gồm:
Kiểm tra việc tổ chức thực hiện luật kế toán, chuẩn mực kế toán của người nộp thuế; “Kiểm tra việc mở sổ sách kế toán; việc quản lý và sử dụng các loại chứng từ, hóa đơn theo chế độ quy định; hình thức hạch toán, chế độ ghi chép cập nhật sổ sách…”
Xác định tính hợp lý, trung thực của từng loại chứng từ, hóa đơn có liên quan như: hóa đơn bán hàng, phiếu xuất kho, chứng từ thu, chi… nhằm đảm bảo chính xác các căn cứ tính thuế, ngăn chặn việc hạch toán sai để trốn, tránh thuế
Do đó, đây là một nội dung kiểm tra quan trọng, đòi hỏi cán bộ kiểm tra phải
am hiểu Luật kế toán, Chuẩn mực kế toán, đồng thời tốn nhiều thời gian, công sức Thực hiện tốt nội dung kiểm tra này sẽ tạo tiền đề cho kiểm tra việc thực hiện kê khai thuế, tính thuế và nộp thuế
Ba là, kiểm tra việc thực hiện kê khai thuế, tính thuế và nộp thuế Kiểm tra
căn cứ tính thuế nhằm mục đích xác định đúng số thuế phải nộp, số thuế đã nộp, số thuế nợ, số thuế được miễn giảm, số thuế được hoàn trong kỳ của NNT
Trong thực tế, NNT có nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh phức tạp, cần phải kiểm tra để xác định đúng đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế đúng với quy định của từng sắc thuế là bước quan trọng để xác định mức thuế phải nộp, tránh
bỏ sót nguồn thu
Kiểm tra căn cứ tính thuế thực hiện thông qua việc xem xét, đối chiếu các sổ sách kế toán, chứng từ hóa đơn và các tài liệu có liên quan: tờ khai, bảng kê mua vào bán ra, tờ khai tự quyết toán, … Người nộp thuế tự tính so với các quy định hiện hành và thực tế sản xuất kinh doanh để phát hiện số thuế đơn vị khai thiếu, số thuế ẩn lậu…” Đây là một khâu rất quan trọng trong quy trình kiểm tra thuế, đòi hỏi cán bộ thuế phải nắm vững nội dung quy định của các sắc thuế, các văn bản hướng dẫn thực hiện, đồng thời cần thông thạo nghiệp vụ kế toán
Tóm lại, nội dung kiểm tra thuế rất quan trọng, là cơ sở để CQT tiến hành kiểm tra NNT Tùy theo tính chất, yêu cầu quản lý thuế theo từng thời kỳ và tùy
Trang 32thuộc vào nguồn lực mà CQT (bộ phận kiểm tra) đặt giới hạn, trọng tâm nội dung kiểm tra cho phù hợp Nội dung kiểm tra cũng có thể chỉ tập trung vào những chuyên đề hẹp như: đôn đốc nợ đọng, sử dụng hóa đơn, hoặc chỉ là quyết toán một sắc thuế: giá trị gia tăng (GTGT), thu nhập doanh nghiệp (TNDN), thu nhập cá nhân (TNCN)…) Hoặc trong cùng một CQT có thể mỗi đoàn kiểm tra lựa chọn một nội dung kiểm tra thuế riêng, theo loại hình DN hoặc theo lĩnh vực sản xuất kinh doanh…để có thể hoàn thành hiệu quả nhất nhiệm vụ, nhưng tất cả phải dựa trên cơ
sở phân tích rủi ro để xác định trọng tâm nội dung kiểm tra
1.1.7 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa
Trong quá trình triển khai công tác kiểm tra thuế, cơ quan thuế cũng gặp phải những tác động từ bên ngoài (cả khách quan và chủ quan):
1.1.7.1 Nhóm nhân tố chủ quan
Đây là nhóm nhân tố xuất phát từ chính cơ quan thuế bao gồm:
- Chất lượng của công tác lập kế hoạch và chuẩn bị công tác kiểm tra: Lập
kế hoạch đúng, giúp lựa chọn đúng đối tượng kiểm tra thuế Lập kế hoạch đúng, giúp lựa chọn đúng thời điểm tiến hành kiểm tra Chuẩn bị kiểm tra thuế càng kỹ lưỡng thì hiệu quả công tác kiểm tra thuế càng cao và ngược lại
- Tổ chức bộ máy cơ quan thuế: Để thực hiện có hiệu quả cơ chế NNT tự
khai tự nộp và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật, bộ máy cơ quan thuế được cải cách, tổ chức theo mô hình chức năng chuyên sâu (Tuyên truyền-hỗ trợ; quản lý kê khai; Thanh tra, kiểm tra; quản lý nợ thuế), trong đó chức năng kiểm tra là nhiệm vụ trọng tâm trong mô hình chức năng Hiện nay, tổ chức bộ máy cho công tác kiểm tra thuế được tổ chức thành 02 cấp (cấp Cục Thuế có phòng kiểm tra; cấp Chi cục Thuế có đội kiểm tra)
- Trình độ và đạo đức của người đứng đầu cơ quan thuế: Người lãnh đạo có
vai trò đặc biệt quan trọng trong mọi hệ thống quản lý mà trong quản lý thuế không phải là một ngoại lệ Tài năng, đạo đức và uy tín của người lãnh đạo CQT có tác động quan trọng đến chất lượng và hiệu quả của công tác kiểm tra thuế
- Trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ kiểm tra thuế:
Trang 33Con người là nhân tố quyết định đến sự thành bại của mọi hoạt động kinh tế - xã hội Con người là nhân tố trung tâm của mọi hệ thống quản lý Lĩnh vực kiểm tra thuế cũng không phải là ngoại lệ Trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ kiểm tra thuế càng cao thì chất lượng công tác kiểm tra càng tốt và ngược lại
- Sự nghiêm minh trong việc xử lý vi phạm: Chế tài là một trong ba bộ phận
cơ bản cấu thành của một quy phạm pháp luật Chế tài có chức năng áp dụng hình phạt với hành vi vi phạm pháp luật Chức năng này sẽ không được thực hiện đầy đủ khi việc tổ chức thực hiện pháp luật không nghiêm minh Khi xử lý vi phạm không nghiêm minh sẽ khiến cả cán bộ kiểm tra và NNT nhờn luật; giảm tác động cảnh báo, ngăn ngừa của công tác kiểm tra thuế
Sự ảnh hưởng của mỗi nhân tố đều có tác động hai mặt, cả tích cực và hạn chế Chính vì vậy, CQT phải có các biện pháp, giải pháp hạn chế các ảnh hưởng tiêu cực, phát huy tác dụng tích cực để nâng cao hiệu quả, chất lượng của công tác kiểm tra thuế
1.1.7.2 Nhóm nhân tố khách quan
Bên cạnh những nhân tố chủ quan thì công tác kiểm tra thuế còn bị ảnh hưởng bởi các nhân tố khách quan khác đến từ môi trường bên ngoài Dưới góc độ
nghiên cứu ở cơ quan thuế cấp Cục Thuế thì các nhân tố bên ngoài này bao gồm:
- Quy trình nghiệp vụ về kiểm tra thuế: Việc xây dựng và tổ chức thực hiện
theo đúng quy trình là nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả công tác kiểm tra thuế, quy trình được xây dựng rõ ràng, minh bạch, bao quát hết các bước công việc của công tác kiểm tra thuế thì giúp cho cán bộ kiểm tra thực hiện được dễ dàng, công tâm, khách quan hơn
- Hành lang pháp lý về quản lý thuế và kiểm tra thuế: Pháp luật thuế càng
hoàn thiện thì càng tạo ra một cơ sở pháp lý rõ ràng, đầy đủ, vững chắc, làm cho hoạt động kiểm tra thuế được thuận lợi Pháp luật thuế thiếu minh bạch thì cơ sở xác định sai phạm không vững chắc, có thể gây những tranh luận không có hồi kết
về mức độ đúng sai trong hành vi của NNT và của CQT Pháp luật không đầy đủ thì không có cơ sở pháp lý để tiến hành một số nội dung kiểm tra thuế cần thiết
Trang 34- Trình độ dân trí, ý thức chấp hành pháp luật thuế của NNT: Người dân có
tác động đến hoạt động kiểm tra thuế trên hai phương diện: (i) Họ là NNT, là đối tượng của kiểm tra thuế; (ii) Họ là quần chúng nhân dân có thông tin về đối tượng kiểm tra Trên phương diện thứ nhất, với trình độ dân trí cao và ý thức chấp hành pháp luật tốt thì NNT phối hợp tốt với cơ quan kiểm tra; tạo sự thuận lợi cho công tác kiểm tra Trên phương diện thứ hai, trình độ dân trí càng cao thì người dân càng chủ động đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật nói chung và pháp luật thuế nói riêng, người dân sẽ tích cực giúp đỡ CQT trong quá trình kiểm tra thuế
- Trình độ phát triển kinh tế - xã hội: là một trong những yếu tố có ảnh
hưởng trực tiếp đến quản lý thuế nói chung và công tác kiểm tra thuế nói riêng Cùng với sự phát triển KT-XH trong giai đoạn hội nhập hiện nay, thì hệ thống pháp luật trong đó có pháp luật thuế sẽ dần được hoàn thiện, cơ sở trang thiết bị kỹ thuật ngày càng được hiện đại hóa, số lượng NNT không ngừng tăng nhanh…Tất cả những biến đổi trên đều tác động đến hiệu quả công tác kiểm tra thuế
- Sự phối hợp của các cơ quan Nhà nước có liên quan: Để tiến hành công tác
kiểm tra thuế, CQT cần sự phối hợp của các cơ quan quản lý nhà nước như: công
an, quản lý thị trường, thanh tra, kho bạc, ngân hàng Hoạt động phối hợp có ý nghĩa quan trọng trong xác định thông tin về hoạt động kinh doanh và tình hình chấp hành pháp luật thuế của NNT
- Cơ sở vật chất, hạ tầng của cơ quan thuế: Sự đầu tư của nhà nước về cơ sở
vật chất và phương tiện làm việc có tác động không nhỏ đến hiệu quả và chất lượng của công tác kiểm tra thuế Cơ sở vật chất và phương tiện làm việc hiện đại giúp nâng cao hiệu suất làm việc của cán bộ kiểm tra thuế
1.2 Cơ sở thực tiễn về kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.2.1 Kinh nghiệm kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại một số tỉnh, thành phố
Theo mô hình quản lý thuế theo chức năng, kiểm tra thuế tại Việt Nam được thực hiện theo nguyên tắc quản lý rủi ro; xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin
về NNT, trên cơ sở đó thực hiện phân tích, đánh giá rủi ro, phân loại NNT tại tất cả các khâu đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế và hoàn thuế; sử dụng phân tích thông
Trang 35tin để xác định đối tượng và nội dung cần kiểm tra; đảm bảo tính khách quan, công khai minh bạch trong kiểm tra NNT
Công tác kiểm tra được thực hiện thống nhất trên toàn quốc theo quy trình đã nâng cao hiệu quả các cuộc kiểm tra, rút ngắn thời gian thực hiện, giảm bớt phiền
hà cho DN Từ đó đã phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật của NNT góp phần chống thất thu NSNN; các kẽ hở trong cơ chế chính sách được phát hiện để kiến nghị sửa đổi
1.2.1.1 Kinh nghiệm kiểm tra thuế của Chi cục thuế Thành phố Huế
Trong những năm gần đây, số hồ sơ thuế cần kiểm tra tại Chi cục thuế Thành phố Huế ngày càng tăng lên, tuy nhiên, tốc độ tăng số lượng hồ sơ kiểm tra năm
2019 so với năm 2017 không cao, chỉ tăng khoảng 5.6% Số lượng hồ sơ tăng không cao là do năm 2019 là một năm khó khăn đối với các DNNVV, số lượng các DNNVV giải thể rất lớn, xấp xỉ bằng với số DN đăng ký kinh doanh trong năm 2019
Trong tổng số 76.645 lượt hồ sơ khai thuế mà DNNVV đã nộp qua 3 năm:
Có 57.713 hồ sơ được chấp nhận sau kiểm tra, 5.531 lượt hồ sơ không được chấp nhận sau kiểm tra và 13.400 lượt hồ sơ chưa được kiểm tra chiếm tỷ lệ 17.56% trên tổng số hồ sơ khai thuế
Nguyên nhân của việc không chấp nhận hồ sơ khai thuế của doanh nghiệp sau kiểm tra là do nhiều doanh nghiệp chưa thực sự am hiểu hết các chính sách thuế cũng như chế độ kế toán Mặt khác các DNNVV này không mấy quan tâm đến người làm công tác kế toán, thuê kế toán với mức lương thấp làm việc bán thời gian Một kế toán viên chưa có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực kế toán nhưng cũng có thể nhận một lúc 4 đến 5 doanh nghiệp để làm kế toán, dẫn đến nhầm lẫn số liệu giữa công ty này và công ty kia Ngoài ra việc kê khai thuế theo phần mềm KKHT người nộp thuế cũng có nhiều bất cập dẫn đến sai số học trong việc lập tờ khai thuế Điều này có thể do công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT còn gặp nhiều khó khăn và hiệu quả chưa thực sự cao Nhưng có thể thấy rằng, số hồ sơ khai thuế không được chấp nhận đang có dấu hiệu giảm dần trong những năm gần đây, điều này cho thấy các DNNVV cũng đang dần hoàn thiện bộ máy kế toán tại DN của mình và công tác tuyên truyền hỗ trợ NNT đang ngày càng trở nên hiệu quả hơn Mặt khác, cũng có
Trang 36thể là do trình độ cán bộ kiểm tra còn có những thiếu sót, dẫn đến tình trạng không phát hiện được những sai phạm trong hồ sơ khai thuế Tuy nhiên, theo đánh giá về trình độ của cán bộ phòng kiểm tra thì các cán bộ kiểm tra là những người có kiến thức về chuyên môn, nghiệp vụ khá tốt nên tỷ lệ số hồ sơ sai phạm giảm theo thời gian có thể do việc thực hiện kê khai của NNT đang dần tốt hơn
Tình hình thực hiện kiểm tra tại trụ sở NNT giai đoạn 2017-2019 đang có xu hướng tăng về số lượng DN phải tiến hành kiểm tra tại DN Tỷ lệ số DN kiểm tra tại trụ sở NNT/ Tổng số DNNVV ngày càng tăng, tốc độ tăng tuy không nhanh nhưng cũng là dấu hiệu đáng lo ngại bởi điều này đi ngược với chủ trương kiểm tra thuế hiện nay là giảm thiểu công tác kiểm tra thuế tại trụ sở NNT để tăng cường hơn công tác kiểm tra thuế tại trụ sở CQT Tuy nhiên, điều này còn tùy thuộc vào tình hình thực tế hiện nay khi mà các DNNVV gặp nhiều khó khăn, số lượng DNNVV tăng lên không nhiều như những năm trước, hơn nữa số thu NSNN giảm rõ rệt thì việc đẩy mạnh kiểm tra để truy thu số thuế mà các DNNVV đang có dấu hiệu trốn thuế, gian lận cũng cho thấy được sự nỗ lực, cố gắng của cán bộ Chi cục thuế trong mục tiêu hoàn thành nhiệm vụ kiểm tra và thu ngân sách được giao
1.2.1.2 Kinh nghiệm kiểm tra thuế của Chi cục thuế thành phố Sơn La
Trong 6 tháng đầu năm 2019, Chi cục thuế thành phố Sơn La đã thực hiện thanh tra, kiểm tra 312 DN với số thuế truy thu và phạt 53 tỷ đồng, nộp ngân sách
26 tỷ đồng, giảm khấu trừ thuế GTGT 27 tỷ đồng, giảm lỗ 103 tỷ đồng
Trong đó, kiểm tra tại trụ sở đối với 522 lượt DN, truy thu và phạt 35 tỷ đồng, tăng 48%, so với cùng kỳ năm trước, giảm khấu trừ thuế GTGT 31 tỷ đồng, giảm lỗ
24 tỷ đồng, nộp ngân sách 44 tỷ đồng Kiểm tra tại cơ quan Thuế 5.258 hồ sơ khai thuế, số thuế kê khai bổ sung và ấn định được 31 tỷ đồng, tăng 29% so với cùng kỳ năm 2018 Theo Chi cục thuế thành phố Sơn La, qua công tác kiểm tra trong 6 tháng đầu năm cho thấy, nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa đã có chuyển biến tích cực trong việc thực hiện các quy định về thuế ngày một đầy đủ và kê khai tốt Ngoài ra, thông qua việc xử lý vi phạm về thuế đã tạo nên hiệu ứng tích cực trong việc kê khai và nộp thuế của các DN, nâng cao ý thức chấp hành nghĩa vụ thuế của DN Chi cục thuế thành phố Sơn La đã chỉ đạo các phòng tiếp tục đẩy mạnh công tác kiểm
Trang 37tra chống thất thu Phấn đấu kiểm tra hồ sơ khai thuế tại cơ quan Thuế đạt 100% hồ
sơ Bên cạnh đó các đơn vị tăng cường công tác kiểm tra đối với các DN có số thu lớn, các DN có thuế GTGT khai âm liên tục hoặc khai lỗ thuế TNDN, các DN có nhiều quyết định hoàn thuế, các DN có giao dịch liên kết hoặc chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng thương hiệu, dự án, bản quyền, các hành vi kinh doanh, mua bán hóa đơn bất hợp pháp để trốn thuế, chiếm đoạt tiền hoàn thuế Ngoài ra, Chi cục thuế thành phố Sơn La yêu cầu các phòng kiểm tra, đội kiểm tra lập danh sách các
DN có rủi ro cao về thuế Tập trung kiểm tra sau hoàn thuế thuế đối với các hồ sơ kinh doanh nông, lâm;…
1.2.2 Bài học rút ra cho Chi cục thuế thành phố Lào Cai
Qua nghiên cứu kinh nghiệm kiểm tra thuế tại một số tỉnh của Việt Nam những nội dung có thể vận dụng để từng bước nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm tra của Việt Nam nói chung và ở Chi cục Thuế thành phố Lào Cai nói riêng trong thời gian tới là:
Áp dụng các chuẩn mực trong kiểm tra để nâng cao hiệu quả, hiệu lực kiểm tra thuế: Xây dựng hệ thống tiêu chí phục vụ kỹ thuật phân tích, đánh giá hiệu quả kiểm tra Đồng thời xây dựng các mô hình đánh giá hiệu quả kiểm tra theo loại hình doanh nghiệp, lĩnh vực kinh doanh và sắc thuế
Áp dụng phương pháp phân tích rủi ro trong kiểm tra là một hướng quản lý hiện đại, tiên tiến nâng cao hiệu quả kiểm tra Đồng thời, hết sức quan tâm đến khâu lập kế hoạch kiểm tra và vận dụng phương pháp chọn xác suất một tỷ lệ nhất định
để thực hiện kiểm tra ngẫu nhiên NNT
Cơ cấu lại bộ phận kiểm tra thuế các cấp theo hướng chuyên môn hóa, hình thành các bộ phận chịu trách nhiệm một hoặc một vài khâu trong quy trình kiểm tra:
bộ phận chịu trách nhiệm thu thập, xử lý, phân tích rủi ro, lập kế hoạch kiểm tra; bộ phận thực hiện kiểm tra và xác định thuế; bộ phận đặc biệt chịu trách nhiệm về phân tích ở những thông tin liên quan đến việc trốn thuế và điều tra tội phạm
Chuẩn hóa quy trình kiểm tra thuế theo đối tượng nộp thuế (lớn, vừa) Ở các nước phát triển, các doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm phần lớn các hoạt động kinh tế của một quốc gia, nếu tập trung tiến hành kiểm tra thuế vào các đối tượng này sẽ
Trang 38làm cho các doanh nghiệp này phải gánh chịu chi phí tuân thủ lớn, trong khi hiệu quả thu về cho CQT là không cao Các doanh nghiệp nhỏ phải gánh chịu chi phí tuân thủ trên đầu người cao gấp năm lần đối với doanh nghiệp Do đó cần tập trung vào kiểm tra các doanh nghiệp lớn, kinh doanh các mặt hàng nhạy cảm, được dư luận đặc biệt quan tâm, đem lại cả hiệu quả về kinh tế lẫn xã hội Tuy nhiên đối với Việt Nam, số lượng các doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tỷ trọng lớn, mang lại nguồn thu chủ yếu cho NSNN Chính vì vậy cần tập trung kiểm tra, rà soát các doanh nghiệp thuộc loại hình này
Kiến nghị các cơ quan ban hành chính sách sửa đổi Luật Quản lý thuế: bổ sung chức năng điều tra cho kiểm tra thuế
Chuẩn hoá lực lượng kiểm tra về số lượng và chất lượng (đạt ít nhất 30% tỷ
lệ cán bộ kiểm tra /Tổng số cán bộ công chức) Tuyển chọn và bồi dưỡng cán bộ kiểm tra theo hướng chuyên sâu, chuyên nghiệp
Ứng dụng CNTT hỗ trợ kiểm tra: Xây dựng hệ thống tích hợp thông tin, dữ liệu từ DN và thông tin bên ngoài (Ngân hàng và tổ chức tín dụng, cơ quan quản lý vốn, cơ quan Hải quan, hiệp hội ngành nghề, cơ quan thống kê, cơ quan công an )
Quy định thời gian kiểm tra dài hơn để đảm bảo cán bộ kiểm tra có đủ thời gian thu nhập, phân tích thông tin và kiểm định nội dung phân tích
Trang 39CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Các câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng công tác kiểm tra thuế và các nhân tố ảnh hưởng tới công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại thành phố Lào Cai như thế nào?
- Các thành tựu đạt được, hạn chế, tồn tại và nguyên nhân của các hạn chế tồn tại trong công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại thành phố Lào Cai?
- Cần có những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại thành phố Lào Cai?
2.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
2.2.1.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Các số liệu thứ cấp được thu thập từ các kế hoạch, báo cáo, các quyết định xử phạt hành chính của Chi cục thuế thành phố qua các năm từ 2017- 2019 để đánh giá thực trạng công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Chi cục thuế thành phố Lào Cai
Ngoài ra tài liệu còn được thu thập thông qua các phương tiện mở như sách, báo, truyền hình, internet, các trang mạng… đề tìm tất cả các số liệu, thông tin có liên quan đến đề tài
2.2.1.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Nhằm phân tích cụ thể công tác kiểm tra thuế tại Chi cục thuế thành phố Lào Cai, làm cơ sở đề xuất các giải pháp tốt nhằm nâng cao hiệu quả kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại thành phố Lào Cai trong thời gian tới Tác giả tiến hành điều tra bằng bảng hỏi đối với đối tượng là các cán bộ kiểm tra thuế tại Chi cục Thuế thành phố Lào Cai và các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Lào Cai, cụ thể như sau:
* Mục đích điều tra: điều tra bằng bảng hỏi nhằm nắm bắt các vấn đề về
quan điểm, nhận định của cán bộ kiểm tra thuế và DNNVV đối với công tác kiểm tra thuế tại thành phố Lào Cai
Trang 40* Chọn mẫu điều tra:
Đối với các cán bộ kiểm tra thuế tại Chi cục Thuế thành phố Lào Cai Hiện nay Chi cục Thuế thành phố Lào Cai có 85 cán bộ công chức, trong đó có 20 cán bộ làm công tác kiểm tra thuế Tác giả đã tiến hành điều tra toàn bộ 20 cán bộ kiểm tra thuế tại Chi cục thuế TP Lào Cai
Đối với các DNNVV trên địa bàn thành phố Lào Cai Tính đến hết ngày 31/12/2019 trên địa bàn thành phố Lào cai có 1.286 doanh nghiệp; trong đó có 1.073 doanh nghiệp nhỏ và vừa
Tác giả sử dụng công thức Slovin (1960) để xác định quy mô mẫu điều tra,
cụ thể như sau:
n= N/(1+N*e 2 )
Trong đó:
n: số Doanh nghiệp cần điều tra
N: Tổng thể số Doanh nghiệp nhỏ và vừa cần khảo sát
e: sai số cho phép (trong trường hợp số lượng mẫu nhỏ, ta chọn e = 5%)
Do đó, n = 1073/(1+1073*0,052) = 291,3 Để thuận tiện trong các tính toán
và giảm độ sai số, tác giả làm tròn số mẫu điều tra n = 291 Tác giả lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên người nộp thuế đến Chi cục Thuế công tác, làm việc
* Nội dung phiếu điều tra: phiếu điều tra được thiết kế dựa trên tham khảo ý
kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực quản lý thuế Phiếu điều tra gồm có 2 phần:
+ Phần 1 thu thập thông tin cá nhân của đối tượng điều tra
+ Phần 2 thu thập thông tin về đánh giá các nội dung kiểm tra thuế tỉnh Lào Cai Cách quy ước điểm số cho bảng hỏi: Mỗi mục đều có các lựa chọn và được quy ước bằng các mức điểm khác nhau Cụ thể:
Ý nghĩa Rất không
đồng ý Không đồng ý
Bình Thường Đồng ý Rất đồng ý Thang đo của bảng hỏi: Thang đo Likert 5 mức độ được sử dụng trong nghiên cứu này Thang đo được tính như sau: