1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tiểu luận Văn học địa phương Ngôn ngữ thơ Phạm Tiến Duật

14 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 55,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNGKHOA KHXH & VHDL BÀI TIỂU LUẬN TẬP THƠ “VẦNG TRĂNG QUẦNG LỬA” THỂ HIỆN RÕ NGÔN NGỮ THƠ PHẠM TIẾN DUẬT Học phần: Văn học địa phương Mã học phần: Họ và tên Giảng v

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG

KHOA KHXH & VHDL

BÀI TIỂU LUẬN TẬP THƠ “VẦNG TRĂNG QUẦNG LỬA” THỂ HIỆN RÕ NGÔN NGỮ

THƠ PHẠM TIẾN DUẬT

Học phần: Văn học địa phương

Mã học phần:

Họ và tên Giảng viên hướng dẫn:

Họ và tên sinh viên thực hiện:

Lớp:

Mã sinh viên:

Phú Thọ, năm 2022

Trang 2

Điểm Họ tên học viên:

Ngày tháng năm sinh:

Lớp:

Trang 3

Phần 1: MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Phạm Tiến Duật là một cây bút điển hình của thơ ca chống Mỹ của nền văn học Việt Nam cũng nói chung cũng như của Văn học Phú Thọ núi riêng (được tôi luyện và trưởng thành trong chiến tranh, khẳng định sau chiến tranh -giải nhất báo Văn nghệ 1969 - 1970; giải thưởng nhà nước Việt nam 2001) 1.2 Những đóng góp chủ yếu của ông cho văn học là những tác phẩm thơ Phần lớn thơ được sáng tác trong thời kỳ ông tham gia quân ngũ Thơ của ông được các nhà văn khác đánh giá cao và có nét riêng như: giọng điệu sôi nổi, trẻ trung và có cái “tinh nghịch” nhưng cũng rất sâu sắc

1.3 Ông có rất nhiều tập thơ nổi tiếng, tiêu biểu là tập “ Vầng trăng và quầng lửa” đã tỏa sáng trên thi đàn và nó thể hiện rõ nét ngôn ngữ thơ của ông

Với tất cả các lý do trên người viết chọn đề tài: Tập thơ “Vầng trăng quầng lửa” thể hiện rõ ngôn ngữ thơ của Phạm tiến Duật.

2 Mục tiêu nghiên cứu

Tìm hiểu đặc điểm hình thức ngôn ngữ thơ Phạm Tiến Duật qua tập “ Vầng trăng và quầng lửa”, gồm đặc trưng sử dụng, tổ chức từ ngữ và đặc trưng

tổ chức câu thơ điển hình nhằm hiểu rõ đặc trưng ngữ nghĩa thơ của Phạm Tiến Duật Từ đó tìm ra những đặc điểm chung nhất về ngôn ngữ thơ Phạm Tiến Duật

3.Đối tượng nghiên cứu

Tập thơ “Vầng trăng và quầng lửa” thể hiện rõ ngôn ngữ thơ của Phạm tiến Duật

3.Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này tập trung vào tập thơ “Vầng trăng và quầng lửa” và đặc điểm ngôn ngữ thơ của Phạm Tiến Duật

4.Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thống kê, phân loại

- Phương pháp miêu tả, đối chiếu

- Phương pháp phân tích tổng hợp

Trang 4

Phần 2: NỘI DUNG Chương 1: Cơ sở lý thuyết.

1.Tác giả Phạm Tiến Duật

1.1 Cuộc đời và thơ của Phạm Tiến Duật.

1.1.1 Phạm Tiến Duật là bút danh và cũng là tên thật, sinh ngày 14 tháng

01 năm 1941 tại thị xã Phú Thọ Bố là ông tổng sư dạy Hán văn, Pháp văn nổi tiếng của thị xã Mẹ là người phụ nữ không biết chữ nhưng thuộc nhiều ca dao, dân ca Tác giả chịu ảnh hưởng khá lớn về nghị lực tự học, vốn tri thức Hán học

ở bố; sự nhạy cảm, đa mang với tình yêu văn học dân gian ở mẹ Công bằng mà nói thì ông chịu ảnh hưởng của người mẹ, bên ngoại nhiều hơn Quả thực, bố mất khi tròn ba tuổi, ông về quê ngoại để ở Tình mẹ dịu dàng và làng Sỏi với bao lễ hội văn hoá cổ truyền, những làn điệu dân ca hát xoan, hát ghẹo đậm phong vị văn hoá Trung châu là thế giới mê say, an ủi cho tuổi thơ côi cút, cho tâm hồn dễ xúc động của cậu bé Phạm Tiến Duật Chính đó là cội nguồn văn hoá dân gian được nén lại, tiềm ẩn và sẵn sàng xuất hiện trong các tác phẩm của nhà thơ hiện đại Phạm Tiến Duật sau này

Nhưng đó chưa phải là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng tới hồn thơ Phạm Tiến Duật Thơ Phạm Tiến Duật là thơ của Trường Sơn đánh Mỹ nên hiển nhiên điều làm nên những thành công trong thơ ông là những trải nghiệm của tác giả trong thời kỳ chiến tranh Hồi bé Phạm Tiến Duật được sống trong thủ đô kháng chiến, chứng kiến bao cuộc tiễn đưa những người con vào Nam chiến đấu, lớn lên trong vòng tay của các chú bộ đội sư đoàn 308, 312, chứng kiến tất

cả các sự kiện, không khí cách mạng trên quê hương giàu truyền thống yêu nước nên trong trái tim cậu đã cháy bùng lên tình yêu tổ quốc Tình yêu ấy hồn nhiên như hoa lá, cỏ cây, nguyên vẹn trẻ trung như điều nó vốn có và phải có Tình cảm mãnh liệt ấy thăng hoa khi được tình yêu văn học nghệ thuật chắp cánh Những cuốn sách, câu chuyện, tiết mục văn nghệ của đội ngũ văn nghệ sỹ tản cư

có một ma lực mãnh liệt lôi cuốn tâm hồn thơ bé ham lắng nghe, giàu cảm xúc

Đó chính là nguyên nhân, là cơ sở để Phạm Tiến Duật theo nghề văn chương và theo học khoa Văn ĐH Sư phạm Hà Nội Sau khi tốt nghiệp, ông nhập ngũ, công tác tại đoàn vận tải Quang Trung 559 Ông đã lao vào cuộc sống chiến trận, nếm trải, lắng nghe, quan sát một cách chăm chú sự vất vất vả, gian lao nhưng cũng

vô cùng sôi động của nó Năng khiếu, vốn liếng văn học tiềm ẩn trong con người ông đã được dịp nở hoa kết trái trên mảnh đất hiện thực màu mỡ ấy Một giọng

thơ rất lạ, khó có thể viết hay hơn thế về Trường sơn đã ra đời “ tạo nên một dòng phong cách mà hiếm người làm thơ có thể tạo được”,

1.1.2 Thơ ông vừa giàu chất hiện thực, vừa giàu chất thơ, giàu chất gợi

mở bởi những chi tiết vừa thật vừa lạ, vừa ngộ nghĩnh vừa nghiêm trang , vừa hài hước, vừa đầy suy nghĩ: Chiếc xe không kính và trái tim cầm lái; áo em

trắng nhất trong đêm lấp hố bom; "nơi tắt lửa là nơi vang rền xe xích " Vũ Quần Phương cho rằng đó là cái giọng " đùa đùa tinh nghịch , tếu táo nhưng laị đụng vào những miền sâu thẳm của tình cảm con người Giọng ấy là của một chất tâm hồn chứ không phải chỉ đơn thuần một kiểu cách chữ nghĩa” (26,158)

Điều đáng nói là giọng thơ ấy đã tỏ ra đắc địa trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể lúc

đó Kháng chiến chống Mỹ là một cuộc chiến ác liệt, nhất là ở Trường Sơn Hy

Trang 5

sinh lớn, gian khổ nhiều nhưng không được gây bi lụy, xót thương Cuộc chiến đang cần sự phấn đấu của lòng người nhưng không được lên gân, cao giọng hay cắt xén bớt nét dữ dằn của thực tế

Chính chất giọng đó lại phù hợp với lính Điều này giải thích tại sao thơ Phạm Tiến Duật lại được lính Trường Sơn say mê đến thế

Khẳng định Phạm Tiến Duật có một phong cách thơ lạ, độc đáo nhưng

thơ ông không thể nằm ngoài xu hướng chung của văn học chống Mỹ " văn học

có tính tập đoàn" ( ý tác giả ) Thơ tập đoàn, con người tập đoàn , cơm tập đoàn

nên khi về với thời bình tìm lại được chính mình không phải dễ Có một cái gì

đó chông chênh , hụt hẫng dẫu con người thông minh, nhạy cảm, nhiều sáng tạo

ấy đang trăn trở , tìm tòi

1.2 Ngôn ngữ thơ

Ngôn ngữ thơ được hiểu là một đặc trưng về ngữ âm , từ vựng , ngữ pháp nhằm biểu trưng hoá , khái quát hoá hiện thực khách quan theo cách tổ chức riêng của thơ ca Ngôn ngữ thơ được tổ chức có vần , có nhịp , có cắt mạch , có

số lượng âm tiết , có đối , có câu , có niêm luật , có sự vận dụng về trọng âm và trường độ theo một mô hình cực kỳ gắt gao Nhưng cái gắt gao ấy của mô hình

là chỗ dựa vào trí nhớ Mô hình càng chặt thì càng nhớ và lưu truyền Bởi vì người ta có thể căn cứ vào mô hình để phục hồi câu thơ một cách chính xác (thể hiện rõ nhất trong thơ cách luật , thơ thất ngôn bát cú , tứ tuyệt , lục bát ) Thậm chí , có những câu thơ như văn xuôi , không vần nhưng vẫn ám ảnh người đọc một cách trọn vẹn Nhiều nhà thơ chống Mỹ làm việc trên trục kết hợp khá thành công và tài hoa trong cách dựng cảnh nên hiển nhiên sẽ có nhiều câu thơ kiểu ấy mà hơn ai hết Phạm Tiến Duật là người đi tiên phong

1.3 Vị trí của tập “ Vầng trăng quầng lửa” trong tiến trình sáng tác của nhà thơ Phạm Tiến Duật

1.3.1 Đây là một trong những tập thơ đầu tiên của đội ngũ văn nghệ sỹ trẻ

thời chống Mỹ Trong dàn đồng ca hào hùng mang đậm chất sử thi, anh hùng ca của văn học lúc ấy một giọng đơn ca mộc mạc, tự nhiên, giàu chất hiện thực cất

lên đầy ấn tượng qua tập ‘’Vầng trăng quầng lửa’’(1970-NXB VH ).Thật trọn

vẹn khi bên cạnh tác phẩm giàu chất suy tưởng, chất chính luận, giàu tính triết

lý, có những tác phẩm chân chất, tươi rói sức sống của hiện thực, một thứ hiện thực được gạn lọc, chắt chiu, đầy chất thơ, giàu ý nghĩa của Phạm Tiến Duật Diện mạo văn học chống Mỹ mất đi một phần phong phú, giá trị nếu thiếu những bài thơ ấy

1.3.2.Đây là tập thơ đầu tay nhưng đã đưa tên tuổi ông toả sáng trên thi

đàn với niềm say mê, hào hứng đón nhận của bạn đọc Trong tập thơ ấy có 4 bài

thơ đã đem lại hai giải thưởng lớn nhất cuộc đời thơ của ông, gồm: " Lửa đèn ",

" Nhớ ", " Bài thơ về tiểu đội xe không kính ", " Gửi em, cô thanh niên xung phong”

1.3.3.“ Vầng trăng quầng lửa” là tập thơ viết khi Phạm Tiến Duật còn rất

trẻ song nó có ảnh hưởng lớn đến toàn bộ tiến trình sáng tác của ông Cũng giọng điệu, phong cách, hình tượng ấy cứ đeo đuổi ông suốt cả cuộc đời mặc dù tác giả là người không hoài cổ và luôn có ý thức học tập, đổi mới, sáng tạo

Trang 6

Tóm lại, “Vầng trăng quầng lửa” có một vị trí vô cùng quan trọng trong

tiến trình sáng tác của Phạm Tiến Duật nói riêng, thơ ca chống Mỹ nói chung

Nó đã đưa Phạm Tiến Duật đến với công chúng, đưa Phạm Tiến Duật đến với đỉnh cao Quan trọng hơn, nó là tập thơ đầu tiên đánh dấu sự xuất hiện một phong cách lạ, đánh dấu sự đổi mới hiện đại thực sự của một thời đại thi ca

Chương 2: Tập thơ “ Vầng trăng quầng lửa” thể hiện rõ ngôn ngữ thơ của Phạm Tiến Duật.

1 Thể loại thơ lục bát

Nền văn học dân gian, đã được cô đúc lại trong thể thơ đẹp, dồi dào nhạc điệu, chuyên chở những tình cảm sâu lắng mượt mà là thể thơ lục bát Đạt đỉnh cao thành công ở thể thơ này là các tên tuổi như Nguyễn Du, Nguyễn Bính, Nguyễn Duy Song đó cũng là cửa ải khó khăn thử thách tài năng, bản lĩnh của

những "nhà thơ thứ thiệt".

Vốn được nuôi dưỡng từ một miền quê có nền văn học dân gian phát triển mạnh mẽ, từ một người mẹ thuộc rất nhiều ca dao, dân ca và vốn là một cử nhân văn chương song Phạm Tiến Duật lại ít làm thơ lục bát Quả thực, tuy ít làm nhưng lục bát của ông đã để lại ấn tượng khá mạnh mẽ trong lòng độc giả Theo

thống kê trong “Vầng trăng quầng lửa” chỉ duy nhất có một bài “Ngủ rừng”

chiếm 3%

Nhịp thơ: Lục bát của ông có sự linh hoạt trong ngắt nhịp ( kể cả ở dòng

lục lẫn dòng bát )

Cách dùng từ của tác giả hết sức tự nhiên Đôi khi ông đưa cả khẩu ngữ

vào địa hạt vốn rất kỵ những yếu tố này, như : "kệ ", “ngủ liền”, “ngủ rừng”,

“ngủ giường”, " ngủ đất” Từ ngữ trong đặt tiêu đề của Phạm Tiến Duật nghe

cứ ngồ ngộ, mang màu sắc tự nhiên, hiện đại :“Nhật ký ở rừng", "Ngủ rừng",

"Cái tai".

2.Thơ ngũ ngôn

Phạm Tiến Duật quay về với thể thơ ngũ ngôn - một thể thơ truyền thống

có tự xa xưa trong các thể loại vè , đồng giao , thơ cổ phong ; một thể thơ mà các nhà thơ hiện đại khó gần vì sợ tính chất dễ trở thành những bài thơ nhạt nhẽo , dễ làm cho mình thiếu chất hiện đại khi người ta đang mong muốn mang đến sự cách tân cho thơ ca hiện đại Nhưng Phạm Tiến Duật cũng đã có những thành công nhất định vì đã khẳng định mình qua 4/33 bài , chiếm 12% trong

“ Vầng trăng quầng lửa ” Trong tập ta xét , có những bài sau :

1 Mùa cam trên đất Nghệ 24 dòng

Giọng thơ ngũ ngôn: Thơ ngũ ngôn của Phạm Tiến Duật đã vượt tường rào

cản của sự hạn hẹp do câu chữ đưa đến để mang lại cho người đọc một thế giới sinh động , chân thực , đầy sức sống của cuộc đời và cảm xúc Thể thơ 5 chữ mạnh về hoài niệm với giọng kể nhưng ở tác giả này lại không theo đó mà cảm xúc của ông luôn ở trong hiện tại , tương lai và giọng thơ của ông là giọng tả

Trang 7

Điều đó làm cho thơ ngũ ngôn của Phạm Tiến Duật khác mọi người trong diện

mạo thanh tân, khoẻ mạnh bởi nó không mang giọng điệu tiếc nuối, ngọt ngào , mênh mang của con người khi nghĩ về quá khứ

Kể về sự ngang nhiên của những chiếc xe Zin mà chủ nhân của nó hẳn phải là một anh lính dũng cảm:

Đang hì hục kéo bạn Bom giặc nổ đằng sau

Cứ kéo, kệ mẹ nó

Tớ là Din ba cầu

Ông còn tận dụng được lợi thế của thơ ngũ ngôn là để tạo ra tiếng nói gấp gáp, khoẻ khoắn của cuộc sống mới, con người thời đại mới trong chiến tranh Chất giọng ấy của Phạm Tiến Duật không thể lẫn dù trong thể ngũ ngôn ngắn ngọn này

Từ ngữ thơ ngũ ngôn: Thơ ngũ ngôn của Phạm Tiến Duật là cuộc khiêu

vũ của động từ và tính từ (Có 54 tính từ và 61 động từ trong 4 bài) Tâm hồn chúng ta bị lay động bởi thế giới sống động , rực rỡ sắc màu, tràn đầy sức sống, chuyển động không ngừng, hối hả vui tươi do các động từ, tính từ mang lại Các gam màu tươi sáng của những tính từ: "vàng", "xanh", "hồng", "trắng" lặp lại

hàng chục lần sẽ cho ta một cảm giác lạc quan, tin tưởng của một cuộc sống,

tương lai tươi sáng, đẹp đẽ Các động từ diễn tả những cử động mạnh "bay",

"vụt", "kéo", "nổ", "xông" (lên) liên kết lại với nhau tạo nên thế giới của sự

sống của những biến động dữ dội , của sự vận động hối hả, gấp gáp mà trong đó

sự sống và cái đẹp là bất diệt, không có một sức mạnh nào huỷ diệt được

Nhạc thơ: Phạm Tiến Duật đã tạo nhạc tính cho thơ :" Khi nhạc điệu vĩnh

viễn trường tồn thì làm sao thơ ca bị tiêu diệt " (Ki No Curajuki ) Ông thường

tổ chức nhịp điệu 2/2, 2/3, 3/2, 1/4 để góp phần tạo nên âm hưởng luyến láy cho thơ, giúp thoát khỏi sự đơn điệu

Bài “Ngãng thân yêu” là một bài thơ được gieo nhịp 4 cùng cách hiệp vần gián cách (vần cuối khổ 1 hiệp với vần đầu khổ 2) tạo cho hơi thơ dài ra, cuồn

cuộn chảy Đó là nhịp sống của con người chiến tranh Cách ngắt nhịp như thế

mở rộng câu thơ về mọi phía khiến cho âm hưởng câu thơ không chỉ ngắn gọn trong 4 chữ mà cảm xúc được trải rộng ra như hân hoan , reo ca:

Bom giập liên hồi

Lỗ tai máu chảy Xông lên vá đường Mặc cho áo cháy

Anh vẫn đứng đấy Gọi mà không thưa Tay cầm cái xẻng

Đổ đất như mưa

Hiệu quả ấy còn được sự góp công của việc tạo lập câu Ông rất ít dùng

dấu chấm câu trong 1 bài Ở "Ta bay" có 19 dòng / 1câu Ở "Ngãng thân yêu"

có 32 dòng / 1câu “Mùa cam trên đất Nghệ ” có 16 dòng / 1 dấu chấm câu.

Cùng với nhịp thơ linh hoạt, khoẻ khoắn , mạnh mẽ, giọng điệu tự nhiên , vui

Trang 8

tươi, trong sáng là những sự kiện , hình ảnh dồn dập xuất hiện với những động

từ, tính từ tả cảm xúc ở thời hiện tại nên nó diễn tả được không khí sôi nổi, khẩn trương của cuộc chiến đấu thần thánh của dân tộc ta

Vì những lẽ ấy mà thơ ngũ ngôn của Phạm Tiến Duật có một dáng vẻ tân thời, độc đáo Đó là nét khá riêng trong sự đa dạng phong phú và sâu sắc về nội dung, cảm xúc của thế giới thơ Phạm Tiến Duật

3 Thể loại thơ tự do

Đây là thể thơ mà tác giả tâm đắc nhất Hẳn nhiên, nó cũng chiếm vai trò chủ đạo trong sự nghiệp sáng tác của ông Thơ tự do phù hợp với nguồn cảm xúc của một chàng lính trẻ, mang tất cả nhiệt huyết của tuổi trẻ lao vào trận địa

và nó dễ dàng hơn trong việc chuyển tải hiện thực xô bồ, ào ạt, dữ dội của cuộc

chiến " Lục bát có những hạn chế trong việc biểu hiện cái quyết liệt và sôi nổi của hiện thực khách quan Cuộc sống với tất cả những sự kiện xô bồ, chất liệu phong phú và những sắc thái đa dạng nhất cũng gặp khó khăn khi đưa vào thơ lục bát” (11, 123) Đó là lý do cho hồn thơ hiện đại phóng khoáng ham bám rễ

vào hiện thực bộn bề

Trong tập “ Vầng trăng quầng lửa” có 28/33 bài làm theo thể thơ tự do,

chiếm tỷ lệ 85%

4.Tiêu đề của những bài thơ trong tập Vầng trăng và quầng lửa đều có đặc điểm chung

a) Ghi lại những nơi Phạm Tiến Duật đã đến , đã đi qua Đó là những nơi khốc liệt, dữ dội, là những trọng điểm đánh phá của bọn giặc Mỹ Nơi đó, có "hố bom dày như lỗ hà ăn chân" của Ngã ba Đồng Lộc, của Trường Sơn đông Trường

Sơn Tây, của Seng Phan Nhắc đến những địa danh ấy lòng ta lại xốn xao bởi hồi

ức về những kỷ niệm thiêng liêng, những câu chuyện huyền thoại được khơi dậy

b) Ghi lại những cảm xúc đẹp trước những nét đẹp, hành động đẹp của mỗi con người, mỗi vùng đất như cô thanh niên xung phong ở ngã ba Đồng Lộc,

đồng chí coi kho ở hang đá Trường Sơn, chú Lư ở phố Khách, anh chiến sỹ công binh ở vùng giáp với mặt trận, những đoàn quân tuyên truyền những đoàn quân nghệ thuật ở lưng Trường Sơn.v.v Họ hiện lên thật đẹp đẽ, phi thường, dũng

cảm qua tâm thế tiếp nhận rất đẹp của nhà thơ Ví dụ đọc bài’’Em gái văn công’’

ta cứ tưởng tượng em là một người con gái tài hoa xinh đẹp Đáng lẽ em phải được sống ở một nơi khác cớ điều kiện hơn nhưng em lại chọn Trường Sơn, nơi:

" Ban giám khảo là cô giao liên

Và bộ đội hành quân bùn rừng còn lấm "

bởi nơi đó: " Tiếng em hay là viên đạn nổ

Cùng bay lên gìn giữ trời xanh "

c) Đậm chất hiện thực về cuộc chiến tranh chống Mỹ Trong tiêu đề của

mình Phạm Tiến Duật thường có xu hướng kéo dài con chữ Có những tiêu đề có

12 tiếng, có những tiêu đề 16 tiếng (Bài thơ không vần kể chuyện chụp ảnh ở một vùng giáp với mặt trận) Đây là sự khác người của Phạm Tiến Duật Ông muốn đẩy sự kiện, chi tiết của hiện thực cuộc sống vào trong cả địa hạt cần sự súc tích Bởi thế, nó đã ghi lại cuộc chiến đấu chống Mỹ anh dũng của cả dân tộc Việt Nam

Trang 9

d) Gắn với thể nhật ký ghi lại một cách trung thành hiện thực cuộc sống của một lớp người trẻ tuổi Ta có thể thấy điều này qua rất nhiều tiêu đề như:

"Chuyện hàng câu yêu đương", "Nhật ký yêu đương", "Chào những đoàn quân tuyên truyền, chào những đoàn quân nghệ thuật", "Gửi em cô thanh niên xung phong", "Em gái văn công" Đây là những con người tuổi vừa mười tám đôi

mươi gác bút đi vào chiến trường chiến đấu Cuộc sống của họ hiện lên thật cụ

thể và sinh động trong "Vầng trăng quầng lửa" từ những chuyện lạ gặp trên

đường hành quân, từ những niềm tin có thật, từ giọng hò trong đêm bốc vác Phạm Tiến Duật trung thành ghi lại hiện thực ấy chứ thơ ông không phải là nơi

để giãi bày cảm xúc, tìm tiếng nói đồng ý, đồng chí, đồng tình Tuy nhiên cái đích cuối cùng ấy lại đến sớm bởi người đọc đã thấy được sự đồng cảm sâu sắc với ông ở những bài thơ như thế

5 “Vầng trăng quầng lửa” thể hiện tính nhạc trong thơ Phạm Tiến Duật.

Thơ Phạm Tiến Duật đầy tính nhạc : Tính nhạc - một thứ nhạc hiện đại, mới lạ và độc đáo - thứ nhạc của chiến tranh chống Mỹ và thứ nhạc trong tâm hồn của những con người trẻ trung, tràn đầy nhiệt huyết, có ý thức trách nhiệm lớn với Tổ quốc Nó đầy những yếu tố dị thường, nổi loạn, bất ngờ như chính bản thân nhịp điệu cuộc chiến và những con người sống căng lên từng phút đầu tuyến lửa Thơ ông ít có thứ nhạc điệu êm ả, nhịp nhàng, đủng đỉnh của những tác phẩm đi trên trục lựa chọn, khai thác nhạc tính ở vần mà là nhạc điệu gấp gáp, khẩn trương, bất ngờ của những bài thơ chạy trên trục kết hợp, chú trọng khai thác nhạc ở tiết tấu Ở những nhà thơ khác, tất nhiên cũng có những sáng tạo, bứt phá trong việc lắp vần, ráp nhịp nhưng còn ở trong tần số có hạn Với Phạm Tiến Duật những thay đổi đó là khá tự do, thoải mái Có những đoạn thơ ông hoàn toàn tháo tung vần, phá loạn nhịp:

Tranh thủ có pháo sáng đèn dù Anh vội nhìn em và bạn bè khắp lượt Mọi người cũng tò mò nhìn anh Rồi bóng tối lại khép vào bóng tối.

(Gửi em, cô thanh niên xung phong)

Nhờ những vần thơ trên, tác giả đã nói lên sự hối hả, gấp gáp, cuống quýt, kiếm tìm của những tâm hồn còn rất trẻ bởi có thể mai đây, họ không còn được trêu gẹo, chọc đùa, liếc nhìn ai nữa Trong không khí ấy, sự tạo vần, nghỉ nhịp trở nên vô duyên, thừa thãi Phải là người trong cuộc, một chàng lính xế tuổi đôi

mươi - thì Phạm Tiến Duật mới có được một bài thơ như " Gửi em, cô thanh niên xung phong ", mới có được một thứ nhạc thơ lạ kỳ như đoạn vừa trích dẫn.

"Lửa đèn" dài 100 dòng là bài thơ điển hình nhất cho nhạc thơ của Phạm

Tiến Duật, một thứ nhạc linh hoạt, đa dạng như bản thân nhịp sống chiến tranh; một thứ nhạc trẻ trung, sôi nổi, lành mạnh như tâm hồn tuổi trẻ Trường Sơn Có những đoạn êm ả, dịu dàng như lời dân ca trữ tình mời gọi:

Anh cùng em sang bên kia cầu Nơi có những miền quê yên ả Nơi có những ngọn đèn thắp trong kẽ lá

Nó trở nên thiết tha, vẫy gọi, nó trở nên khắc khoải đến khôn cùng Mỗi tấc đất quê hương dấu yêu đang còn chờ phía trước, vẫy gọi bước chân những

Trang 10

con người đến bảo vệ, giành giật từ tay giặc thù Nó nhẹ nhàng nhưng tha thiết, mãnh liệt, có sức ám ảnh đau đáu khôn nguôi bởi nó là tiếng gọi từ thâm u, từ quá khứ hồng hoang có sẵn trong dân ca và bây giờ hiển hiện ở chốn này

Trong hầu hết tất cả các bài thơ của mình Phạm Tiến Duật đều có thứ nhạc linh động, biến đổi ở từng đoạn Ông chú trọng khai thác tính nhạc ở tiết tấu:

Bom bi nổ chậm / nổ trên đỉnh đổi Lốm đốm nền trời / những quầng lửa đỏ Một lát sau / cũng từ phía đó

Trăng lên /

Hun hút đường khuya / rì rầm / rì rầm Tiếng mạch đất / hai miền hoà làm một /

Và vầng trăng / vầng trăng / đất nước Vượt / qua quầng lửa / mọc lên cao /

(Vầng trăng và những quầng lửa )

Ở bài thơ này vần lùi xuống để nhịp lên ngôi Theo ông, chỉ khi nào thực

sự cần vần, ông mới chú trọng tạo vần và lúc ấy, giá trị của vần sẽ tăng đột biến Còn chủ yếu ông khai thác nhạc tính ở tiết tấu Nhịp ở đây rất ăn nhau, tuy nhiên khá linh hoạt, đầy những yếu tố nổi loạn, dị thường Lúc thì 4/4; 3/4; 2; 5/4; 4/4 lúc thì lại 4/2/2; 3/2/2; 1/3/3 nhưng sự đột biến ấy có tính chu kỳ, lặp lại : 4/4 rồi lại 4/4; 4/4 trong các khổ thơ

6.Từ ngữ trong thơ Phạm Tiến Duật là từ ngữ thể hiện tiếng nói của tuổi trẻ Trường Sơn.

Dân tộc Việt Nam là dân tộc anh hùng thì người lính là lớp người tiên phong hiện thân cho dân tộc ấy Tiếng nói của họ đang bị nhoè đi, hoà tan trong tiếng nói của dân tộc Vào những năm 1968, cuộc chiến ngày càng đi vào những thử thách nặng nề Cả dân tộc nín thở lắng nghe từng nhịp đập của tiền tuyến Thơ của Phạm Tiến Duật mang tiếng nói của lính trong chiến trường bay về hậu phương để bù đắp bao nỗi lo lắng, chờ trông Là người lính, nên Phạm Tiến Duật có vốn từ ngữ về lính phong phú Đó là những người lính thời chống Mỹ:

tự tin, hiểu biết, tinh nghịch, từng trải, hiện đại, đầy nhiệt huyết - cho nên từ ngữ của ông là tiếng nói của tuổi trẻ Trường Sơn

Bên cạnh cách dùng vốn từ ngữ với nghệ thuật đặc sắc, thơ ông còn xuất hiện khá nhiều từ ngữ mới có trong thời chống Mỹ Những từ ngữ này hay được

bộ đội giải phóng dùng, như: "Bếp Hoàng Cầm", "hai đứa", "mê", "chừa", "thân yêu", "ba sẵn sàng", "xe Din", "Trường Sơn", "lèn đá", "thanh niên xung phong", "bom nổ chậm", "bom từ trường"," B.52", "ngã ba Đồng Lộc", "bom Napan", "chống Mỹ", "thống nhất", "anh - em" “bọn anh” Đó là từ ngữ của

những anh giải phóng quân ở chiến trường

Ngôn ngữ ông đi gần với lời nói, với khẩu ngữ Đôi lúc ông tạo cho người đọc cảm giác hồi hộp, bởi lo lắng ngôn ngữ thơ ông sẽ giảm bớt chất thơ, khi nó cứ xích gần lại ngôn ngữ giao tiếp: ít láy âm, rõ nét nghĩa, tự do trong hoạt động, ít sử dụng từ Hán Việt, không hề yểu điệu, hoa mỹ, chải chuốt Tuy nhiên, xét kỹ ông có kênh lọc từ rất riêng: từ ngữ của ông phải là từ ngữ của

Ngày đăng: 01/04/2022, 09:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w