Bài tập về dung dịch có rất nhiều dạng, nhiều bài khó, phức tạp khi giải phảiqua nhiều bước và cần huy động nhiều kiến thức, thực tế đa số chưa xác định đượcdạng và chưa xác định được hư
Trang 1Sáng kiến kinh nghiệm:
“KINH NGHIỆM PHÂN DẠNG VÀ GIẢI BÀI TẬP VỀ
DUNG DỊCH TRONG MÔN HÓA HỌC LỚP 8 Ở TRUNG HỌC CƠ SỞ”
1 PHẦN MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn sáng kiến kinh nghiệm
Hoá học là một môn khoa học thực nghiệm được đưa vào chương trình họcmuộn nhất, bắt đầu từ lớp 8 Là môn học mới nên kích thích tính tò mò, muốnkhám phá, tìm tòi nghiên cứu, tạo được hứng thú bộ môn cho học sinh Tuy nhiên,
nó cũng có thể là môn học tạo tâm lý lo lắng, e ngại nếu như học sinh không nắmchắc kiến thức và không vận dụng được kiến thức để giải các bài tập hóa học
Với đặc điểm là môn khoa học gồm lý thuyết và thực hành Các bài tập hoáhọc rất đa dạng và phong phú, do đó việc rèn luyện kỹ năng giải bài tập hoá học lànhiệm vụ quan trọng của giáo viên bộ môn Bài tập hoá học giúp giáo viên kiểmtra đánh giá kết quả học tập của học sinh, từ đó phân loại học sinh để có kế hoạchđiều chỉnh phương pháp phù hợp với từng đối tượng, phát hiện những học sinh yếu
để có kế hoạch phụ đạo cũng như phát hiện những học sinh có năng khiếu để có kếhoạch bồi dưỡng thi học sinh giỏi
Thực tế giảng dạy cho thấy trong các bài tập hoá học, bài tập liên quan vềdung dịch là một nội dung không thể thiếu trong các bài tập hóa học nhất là bài tậptính toán Dạng bài tập này được đưa vào bắt đầu từ chương: Dung dịch ở lớp 8 vàsau đó được lồng ghép xuyên suốt cả cấp học cũng như các cấp học trên cao hơn
Bài tập về dung dịch có rất nhiều dạng, nhiều bài khó, phức tạp khi giải phảiqua nhiều bước và cần huy động nhiều kiến thức, thực tế đa số chưa xác định đượcdạng và chưa xác định được hướng giải nên học sinh e ngại, né tránh khi gặp dạngbài tập này chỉ có một số học sinh khá, giỏi mới làm được nhưng vẫn còn nhiều saisót
Bài tập về dung dịch có phạm vi rất rộng, có thể phân thành nhiều dạng bàitập từ lớp 8 ở THCS cho đến cấp học đại học, bên cạnh nghiên cứu các đơn vị kiếnthức ngày càng cao, sâu và rộng thì bài tập liên quan đến dung dịch luôn đồnghành trong từng đơn vị kiến thức qua các bài tập Dung dịch được đưa vào chươngtrình bắt đầu từ nữa sau học kì 2 lớp 8, tuy vậy nó đóng vai trò rất quan trọng, bàitập về dung dịch là nền tảng, là chìa khóa để giải nhiều bài tập hóa học, chủ yếu làbài tập định lượng Nếu không nắm chắc các dạng toán dung dịch ở lớp 8 thì khihọc lên học sinh sẽ không thể giải được các bài tập có liên quan đến nồng độ dungdịch nên khó tiếp thu tiếp thu hay lĩnh hội kiến thức mới còn khi đã nắm chắc rồithì chắc chắn việc giải các bài tập cũng như tiếp nhận kiến thức mới sẽ dễ dàng,thuận lợi hơn Với những nhận thức trên tôi nhận thấy rằng muốn nâng cao chất
1
download by : skknchat@gmail.com
Trang 2lượng dạy và học người giáo viên cần suy nghĩ tìm ra phương pháp giảng dạy,phân loại các dạng bài tập về dung dịch phù hợp với nhận thức của học sinh Vì
vậy, tôi chọn sáng kiến kinh nghiệm “Kinh nghiệm phân dạng và giải bài tập về dung dịch trong môn hoá học lớp 8 ở trung học cơ sở” để giúp giáo viên và học
sinh giải quyết được những tồn tại ở trên Đồng thời, thông qua sáng kiến này họcsinh được rèn kỹ năng làm bài tập tính toán về dung dịch, ôn tập, hệ thống hóanhững kiến thức cơ bản của nội dung chương trình và cũng qua đó phát huy tínhsáng tạo, năng lực tư duy của học sinh
1.2 Điểm mới của sáng kiến
Trong sách giáo khoa hay sách bài tập hoá học 8, 9 chưa phân dạng rõ ràngbài tập về dung dịch một cách có hệ thống và về phần hướng dẫn giải chưa có, nếu
có thì rất sơ sài, vắn tắt khi học sinh đọc tham khảo thì rất khó hiểu, nhiều học sinhbối rối không biết bắt đầu giải như thế nào Khắc phục được những hạn chế trênchính là điểm mới của sáng kiến
Rèn luyện kỹ năng giải bài tập định lượng là một vấn đề không mới, songcái mới trong sáng kiến này là tôi đã đưa ra các dạng toán theo hướng phát triểncủa kiến thức từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp và đưa ra phương pháp giảichung cho mỗi dạng Với mỗi bài tập sẽ có phần giải chi tiết, cụ thể, dễ hiểu đượcdẫn dắt, lập luận logic theo trình tự để giúp học sinh hiểu và định hướng được cáchgiải của từng bài tập từ đó giúp các em nắm chắc kiến thức, rèn luyện kĩ năng làmbài một cách khoa học Trên cơ sở đó học sinh sẽ tự mình chiếm lĩnh tri thức, tạotiền đề quan trọng cho việc phát triển tư duy ở các cấp học cao hơn, các em sẽ cóhứng thú, say mê môn hoá học nói riêng cũng như hình thành được phương phápnghiên cứu khoa học nói chung góp phần nâng cao chất lượng dạy và học, thựchiện mục tiêu giáo dục và đào tạo
2 NỘI DUNG
2.1 Thực trạng của vấn đề
Hiện nay trong chương trình hoá học trung học cơ sở không đề cập đến việcphân loại và nhận dạng bài tập về dung dịch mà chỉ đưa ra bài tập cụ thể sau mỗibài học Nhiều học sinh không giải được các bài tập cơ bản, không xác định đượchướng giải, không biết phải trình bày bài giải như thế nào, nhiều bài giải sai thậmchí còn làm phức tạp hoá những bài tập đơn giản, điều này gây khó khăn cho giáoviên khi hướng dẫn các em giải tiếp các bài tập ở mức độ cao hơn hay cản trở việctiếp thu những kiến thức mới, một vài học sinh cảm thấy lo lắng khi học môn hóa
Qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy khi gặp dạng bài tập này chỉ có một số
ít học sinh khá, giỏi mới tự tin làm được còn lại rất lúng túng, sợ làm bài tập dạng
2
download by : skknchat@gmail.com
Trang 3này Cụ thể, tôi đã tiến hành kiểm tra 15 phút sau khi học xong tiết 63, bài 42:Nồng độ dung dịch 2 lớp 81, 82 với đề bài như sau:
Bài tập 1:(5điểm) Hòa tan 10gam đường vào 40gam nước Tính nồng độ phần trăm của dung dịch thu được.
Bài tập 2:(5điểm) Tìm thể tích của dung dịch NaOH 5M để trong đó có hòa tan 60gam NaOH.
Một số em đã hiểu bài nhưng còn lúng túng trong việc trình bày bài cácbước giải, cũng có một số em hiểu sai làm phức tạp bài giải dẫn đến sai bản chất
Học sinh chưa biết cách phân tích bài tập nên định hướng sai, trình bày bàimột cách mò mẫm
Bài tập về dung dịch có vị trí và vai trò rất quan trọng, nó được xem như làmấu chốt để giải các dạng bài tập khác sau này nên nếu không nắm chắc ngay từlớp 8 thì sẽ kéo theo các lớp trên chắc chắc cũng không vận dụng được
Từ những thực trạng trên, tôi đã tiến hành nghiên cứu để phân dạng và đưa
ra phương pháp giải cụ thể, phù hợp cho bài tập về dung dịch theo hướng phát huytính tích cực, sáng tạo của học sinh đồng thời giúp giáo viên và học sinh hiểu rõhơn và có cái nhìn toàn diện hơn đối với dạng bài tập này
2.2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.2.1 Đối với giáo viên
Bài tập hoá học là một trong những phần không thể thiếu trong môn hoáhọc, làm bài tập giúp các em củng cố, khắc sâu thêm kiến thức đồng thời rèn luyện
óc tư duy, sáng tạo và hình thành cho các em những kỹ năng cơ bản cần thiết Đểđạt được mục tiêu trên thì người giáo viên phải nghiên cứu hệ thống các dạng bàitập, đưa ra phương pháp hướng dẫn từng dạng bài một cách cụ thể, chi tiết, ngắn
3
download by : skknchat@gmail.com
Trang 4gọn làm sao học sinh dễ hiểu nhất và dễ nhớ nhất phù hợp với từng đối tượng họcsinh, nhất là những học sinh yếu, kém.
Bài tập về dung dịch có thể giải theo nhiều cách khác nhau như: phươngpháp đại số, phương pháp đường chéo…Nhưng qua thực tế áp dụng vào giảng dạy,bản thân tôi nhận thấy với phương pháp đường chéo học sinh sẽ chỉ áp dụng mộtcách máy móc mà không hiểu được bản chất của vấn đề còn với phương pháp đại
số chỉ khi nắm được kiến thức mới định hướng và đưa ra được phương pháp giảicũng từ đó học sinh sẽ vận dụng được kiến thức theo hướng phát triển để giải đượcnhững bài tập nâng cao hơn Bởi vậy trong phạm vi sáng kiến này tôi chỉ đưa racách hướng dẫn học sinh giải theo phương pháp đại số, khi đã nắm vững cách giảitheo phương pháp đại số thì học sinh sẽ rất dễ dàng, nhanh chóng giải ngắn gọntheo phương pháp đường chéo Bài tập có thể được ra theo hình thức trắc nghiệmkhách quan hoặc tự luận, với mỗi hình thức kiểm tra nó sẽ có ưu nhược điểm riêngsong trong sáng kiến này tôi chỉ đưa ra các bài tập dưới hình thức tự luận, bởi theotôi để làm được dạng bài tập này chỉ khi đã nắm chắc kiến thức và khi các em đãlàm được thì nhớ kiến thức sẽ sâu sắc hơn và đó là cơ sở để giải các bài tập trắcnghiệm dễ dàng hơn, nhanh hơn
Để học sinh nắm chắc kiến thức cũng như phương pháp giải bài tập về dungdịch, với mỗi dạng bài tôi đã tiến hành theo các bước sau như:
- Bước 1: Đưa ra phương pháp giải chung
- Bước 2: Đưa ra ví dụ các bài tập cụ thể cùng với hướng dẫn học sinh địnhhướng được cách giải rồi giải trình tự các bước để có được bài giải mẫu
- Bước 3: Ra thêm các bài tập tương tự hoặc với mức độ cao hơn để học sinhlàm ở nhà (có thể thu vở bài tập của vài học sinh để chấm lấy điểm tạo hưng phấn,động lực cho học sinh củng cố kiến thức đồng thời rèn luyện hình thành kĩ nănggiải bài tập)
Việc hình thành kiến thức cũng như kỹ năng giải bài tập hoá học cho họcsinh được thực hiện phải đảm bảo tính kế thừa và phát triển có nghĩa là không phảithực hiện được ngay mà phải thực hiện thường xuyên, liên tục, từ dễ đến khó, từthấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Để dạy tốt phần bài tập về dung dịch tôithấy, nếu giáo viên có một phương pháp hướng dẫn cụ thể, lôgic, hợp lý thì tiếthọc sẽ rất sinh động, học sinh hứng thú nhớ bài và làm bài tốt
Trong quá trình giảng dạy giáo viên đã cố gắng tranh thủ thời gian trong cáctiết thực hành, luyện tập, ôn tập để hướng dẫn cho học sinh cách làm bài tập vềdung dịch nhưng thời gian mỗi tiết học có hạn bởi vậy giáo viên cần có phươngpháp để hướng dẫn học sinh một cách đơn giản, khoa học hơn
4
download by : skknchat@gmail.com
Trang 5Giáo viên phải cho học sinh tự kiểm tra và kiểm tra, đánh giá lẫn nhau saumỗi bài làm để đúc rút ra phương pháp làm bài tốt nhất đồng thời tránh đượcnhững lỗi, sai lầm hay xảy ra như: không nắm được kiến thức lý thuyết cũng kỹnăng giải bài tập nên dẫn đến trình bày lời giải dài dòng, không đúng bản chất hoáhọc.
Luôn quan tâm và có biện pháp giúp đỡ các em có học lực trung bình, yếu,không ngừng tạo tình huống có vấn đề hay ra các bài tập nâng cao hơn để phát huyđược khả năng của các em khá giỏi
2.2.2 Đối với học sinh
Học sinh cần có tinh thần thái độ tích cực, tuân thủ nghiêm túc những yêucầu, hướng dẫn của giáo viên Để làm được bài tập về dung dịch thì học sinh phảithực hiện tuần tự các bước sau đây:
* Tìm hiểu đề bài: Xác định cái đã cho và cái cần tìm, hiểu ý nghĩa mở rộng cái đã cho và cái cần tìm, hiểu các công thức hóa học, các chất đã cho
* Xác định phương hướng giải bài tập: Nhớ lại các khái niệm, tính chất, bàigiải mẫu…có liên quan Từ đó tìm ra mối liên hệ giữa điều kiện và yêu cầu của bàitập, đề ra các bước thực hiện và huy động các kiến thức, kĩ năng nào để thực hiện(có thể tóm tắt bài tập bằng sơ đồ)
* Trình bày lời giải: Thực hiện các bước giải đã vạch ra theo thứ tự phù hợp
* Kiểm tra kết quả: Sau khi thực hiện xong lời giải, cần phải kiểm tra lại(Trả lời đúng yêu cầu của bài chưa? Đã sử dụng hết dữ liệu của bài cho? Viếtphương trình đúng không? )
Phải tích cực rèn kĩ năng hệ thống hóa kiến thức sau mỗi bài học, phân loại bài tập và lập hướng giải phù hợp cho từng dạng
Trên đây là các hoạt động giải bài tập về dung dịch nói chung nếu học sinhnắm được kiến thức và kĩ năng cơ bản thì việc giải bài tập hóa học theo quy trìnhtrên sẽ đạt kết quả tốt
2.2.3 Các dạng bài tập cơ bản về dung dịch
Xuất phát từ thực tế để phù hợp với từng đối tượng học sinh và từng mức độcủa kiến thức sau đây tôi xin mạnh dạn đưa ra một số nội dung, kinh nghiệm vềphân dạng và phương pháp giải bài tập về dung dịch như sau:
Dạng 1: Những bài toán áp dụng trực tiếp công thức tính nồng độ dung dịch
* Phương pháp chung: là những bài toán tính nồng độ dung dịch đơn giảnnhất Để giải bài toán dạng này, ta vận dụng các công thức tính nồng độ dung dịch
- Nồng độ phần trăm C%
5
download by : skknchat@gmail.com
Trang 6Trong đó:
mct: khối lượng chất tan (g)
mdd: khối lượng dung dịch (g); mdd = mct +mdm
- Nồng độ của dung dịch CM
(mol/l)Trong đó:
- M là khối lượng mol của chất tan (gam/mol)
- D là khối lượng riêng của dung dịch (g/ml hay gam/cm3) Chú ý: nước
nguyên chất (nước cất) có khối lượng riêng là 1g/ml
Ví dụ 1: Tính nồng độ phần trăm của dung dịch trong các trường hợp
sau: a) Hòa tan 20 g Cu(NO)3 vào 180 g nước
b) Hòa tan 50 g NaCl vào 500 g nước
Ví dụ 2: Tính nồng độ mol của dung dịch thu được khi:
a) Hòa tan 23,4 g NaCl vào nước thu được 500 ml dung dịch
6
Trang 7download by : skknchat@gmail.com
Trang 8b) Hòa tan 32,2 g ZnSO4 vào 417,8 g nước thu được dung dịch có khối lượng riêng là 1,125 g/ml.
mNaOH = n.M = 2.40 = 80 (g)Nồng độ phần trăm của dung dịch NaOH là:
NaOH
m ct
.100
80 100% 7, 41% 1080
Trang 9download by : skknchat@gmail.com
Trang 10Ví dụ 4: Tính nồng độ mol của dung dịch H2SO4 đặc chứa 2% nước có khối lượng riêng là 1,84 g/ml.
Bài tập luyện thêm
Bài 1 Tính nồng độ phần trăm của dung dịch thu được khi:
a Hoà tan 8 g CuSO4 vào 192 g H2O
b Hoà tan 32 g Fe2(SO4)3 vào 368 g H2O
c Hoà tan 4 g NaOH vào nước được 200 g dung dịch NaOH
d Hoà tan 11,4 g KOH vào nước được 300 g dung dịch NaOH Bài 2 Tính
khối lượng dung dịch thu được khi:
a Cho 5,6 g KOH vào nước được dung dịch KOH 10%
b Hoà 34,2 g Al2(SO4)3 vào nước được dung dịch Al2(SO4)3 20%
Bài 4 Tính nồng độ mol của dung dịch NaOH 20% với D = 1,225 g/ml
Bài 5 Tính nồng độ % của dung dịch HCl 4,73M có D = 1,079 g/ml.
Dạng 2: Bài toán pha loãng hay cô đặc dung dịch
Đặc điểm của bài toán
- Khi pha loãng: Thêm nước vào dung dịch có sẵn nồng độ dung dịch giảm Còn cô đặc: đun nóng cho nước trong dung dịch bay hơi, nồng độ dung dịch tăng
- Dù pha loãng hay cô đặc, khối lượng chất tan trong dung dịch không thayđổi
Phương pháp chung:
Có thể áp dụng công thức pha loãng hay cô đặc:
Trường hợp 1: Vì khối lượng chất tan không thay đổi dù pha loãng hay cô
Trang 11download by : skknchat@gmail.com
Trang 12nct(t) = nct(s) => Vdd(t) CM (t) = Vdd(s) CM (s)
Ví dụ 1: Có 60 g dung dịch NaOH 20% Tính C% của dung dịch thu được
khi:
a) Pha thêm 40 g nước
b) Cô đặc dung dịch cho đến khi còn 50 g Giải:
Gọi thể tích nước cần thêm vào là x (l)
Thể tích dung dịch NaOH sau khi thêm nước là:
VddNaOH( sau) = VddNaOH( trước) + V H2 O = 2 + x (l)
Ta có: Vdd(t) CM (t) = Vdd(s) CM (s)
2.1 = (2 + x).0,1
Vậy, thể tích nước cần thêm vào là 1800 ml
Ví dụ 3: Xác định nồng độ phần trăm của dung dịch thu được khi:
9
download by : skknchat@gmail.com
Trang 13a) Thêm 1 lít nước vào 500 ml dung dịch HNO3 32% (D = 1,2 g/ml).
b) Cô cạn 76,34 lít dung dịch NaOH 28% (D = 1,31 g/ml) thành 70 kg dung dịch mới
Giải:
a) Khối lượng dung dịch HNO3 trước là:
mdd (t) = V.D = 1,2 500 = 600 (g)Khối lượng 1 lít (1000 ml) nước là:
m
H2 O = V.D = 1000.1 = 1000 (g)Khối lượng HNO3 sau khi pha loãng là:
Bài tập luyện thêm
Bài 1 Có sẵn 60 g dung dịch NaOH 20% Tính nồng độ % của dung dịch
thu được khi:
a Pha thêm 40 g nước
Bài 3 Phải pha thêm bao nhiêu gam nước vào 200 g dung dịch NaCl 10%
để được dung dịch NaCl 5%
Bài 4 Phải cô cạn bao nhiêu gam nước từ 400 g dung dịch H2SO4 8% để thuđược dung dịch H2SO4 12%
Bài 5 Có sẵn 300 g dung dịch HCl 6% Phải cô cạn bao nhiêu gam nước để
thu được dung dịch HCl 10%
10
Trang 14download by : skknchat@gmail.com
Trang 15Bài 6 Hòa thêm 300 ml nước vào 200 ml dung dịch NaOH 0,25M Tính
nồng độ mol của dung dịch thu được
Bài 7 Phải pha thêm bao nhiêu lít nước vào 2 lít dung dịch NaOH 1M để
thu được dung dịch NaOH 0,1M
Bài 8 Phải cô cạn bao nhiêu lít nước có trong 300 ml dung dịch BaCl2 0,1M
để được dung dịch BaCl2 0,5M
Dạng 3: Bài toán về mối quan hệ giữa độ tan và nồng độ dung dịch
* Phương pháp chung: Áp dụng các công thức: - Theo định nghĩa:
(C% là nồng độ % của dung dịch bão hòa)
Ví dụ 1: Ở 25oC độ tan của đường là 204g, NaCl là 36g Tính nồng độ %
bão hoà của các dung dịch này
Giải:
Độ tan của đường ở 25oC là 204g có nghĩa là 100g nước hoà tan được 204g
đường để tạo thành 304g dung dịch bão hòa
Nồng dộ % của dung dịch đường bão hòa là:
Ví dụ 2: Có bao nhiêu g K2SO4 trong 300 g dung dịch bão hòa muối này ở
200C ? Biết rằng độ tan của muối này ở nhiệt độ trên là 11,1g
Giải:
Độ tan của muối này ở 20o C là 11,1g có nghĩa là trong (100 + 11,1) = 111,1
g dung dịch K2SO4 bão hòa có 11,1 g K2SO4
Vậy trong 300 g dung dịch K2SO4 bão hòa có số g K2SO4 là:
mK2SO4 300.11,1
111,1 29,97( g)
11
download by : skknchat@gmail.com
Trang 16Bài tập luyện thêm
Bài 1 Ở 200C, hòa tan 14,36 g muối ăn vào 40 g nước thì thu được dungdịch bão hòa Tính độ tan và nồng độ % của dung dịch NaCl thu được
Bài 2 Ở 200C, hòa tan 53,75 g muối Na2CO3 vào 250 g nước thì thu đượcdung dịch bão hòa Tính độ tan và nồng độ % của dung dịch Na2CO3 thu được
Bài 3 Ở 200C, hòa tan 5 g muối ăn vào 120 g nước thì thu được dung dịchbão hòa Tính độ tan và nồng độ % của dung dịch NaCl thu được
Bài 4 Ở 400C, độ tan của K2SO4 là 15 Hãy tính nồng độ phần trăm củadung dịch K2SO4 bão hoà ở nhiệt độ này?
Bài 5 Tính độ tan của Na2SO4 ở 100C và nồng độ phần trăm của dung dịchbão hoà Na2SO4 ở nhiệt độ này Biết rằng, ở 100C khi hoà tan 7,2 g Na2SO4 vào 80
g H2O thì được dung dịch bão hoà Na2SO4
Dạng 4: Tính lượng chất tan (tinh thể ngậm nước) tách ra hay cần cho thêm vào dung dịch khi thay đổi nhiệt độ dung dịch bão hòa cho trước
* Phương pháp chung:
Thường khi ta thay đổi nhiệt độ dung dịch, độ tan sẽ thay đổi:
- Nếu thay đổi nhiệt độ mà độ tan giảm thì sẽ có một lượng chất tan nhất định tách ra (kết tinh)
- Nếu thay đổi nhiệt độ mà độ tan tăng thì phải thêm vào một lượng chất tan nữa thì dung dịch mới trở thành dung dịch bão hòa ở nhiệt độ mới
Vậy, lượng chất tan thêm vào hay tách ra được tính theo các bước như sau:Bước 1: Tính khối lượng chất tan, khối lượng dung môi (nước) có trongdung dịch bão hòa ở nhiệt độ t1
Bước 2: Đặt a là khối lượng chất tan A cần thêm vào hay tách ra khỏi dung dịch ban đầu khi nhiệt độ thay đổi từ t1 đến t2 ( t1# t2)
Lưu ý: Nếu là tinh thể ngậm nước cần đặt a là số mol tinh thể cần thêm vào hay tách ra
Bước 3: Tính khối lượng chất tan, khối lượng dung môi (nước) có trong dung dịch bão hòa ở nhiệt độ t2
Bước 4: Áp dụng công thức tính độ tan (hay công thức tính nồng độ %) của dung dịch bão hòa để tìm a
Ví dụ 1: Ở 12 oC có 1335 g dung dịch CuSO4 bão hòa Đun nóng dung dịchđến 90 oC Hỏi phải thêm bao nhiêu g CuSO4 để được dung dịch bão hòa ở nhiệt độnày? Biết ở 12oC độ tan của CuSO4 là 33,5 và ở 90oC là 80
Giải
Độ tan của CuSO4 ở 12 oC là 33,5 có nghĩa là ở nhiệt độ này:
12
download by : skknchat@gmail.com