Khái niệm trục lợi bảo hiểm tài sản Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lời, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo
Trang 1ThS NguyÔn ThÞ Thuû *
1 Đặt vấn đề
Trục lợi bảo hiểm nói chung và bảo
hiểm tài sản nói riêng đang là vấn đề đáng
ngại không chỉ của ngành bảo hiểm mà còn
là vấn đề quan tâm của toàn xã hội Các
hành vi trục lợi này đã gây thiệt hại đáng kể
cho các doanh nghiệp bảo hiểm, những
người tham gia bảo hiểm và ảnh hưởng đến
toàn xã hội Nếu các hành vi trục lợi trong
bảo hiểm nói chung và bảo hiểm tài sản nói
riêng không được ngăn chặn kịp thời sẽ dẫn
đến trật tự kỉ cương của xã hội bị phá vỡ,
ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của
thị trường bảo hiểm nói chung và bảo hiểm
tài sản nói riêng Bài viết này xin nêu và
phân tích các hành vi trục lợi trong bảo
hiểm tài sản
2 Khái niệm trục lợi bảo hiểm tài sản
Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của
doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh
lời, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp
nhận rủi ro của người được bảo hiểm trên
cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm
để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm
cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho
người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo
hiểm.(1) Còn bảo hiểm tài sản là loại hình
bảo hiểm, theo đó, doanh nghiệp bảo hiểm
tiến hành thu phí bảo hiểm của bên mua bảo
hiểm và cam kết bồi thường cho bên được
bảo hiểm khi tài sản mua bảo hiểm gặp rủi
ro trong phạm vi bảo hiểm dẫn đến tổn thất Với khái niệm trên, hoạt động kinh doanh bảo hiểm được thực hiện trên cơ sở doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm để đổi lại họ được quyền thu những khoản phí nhất định từ người mua bảo hiểm Khi doanh nghiệp bảo hiểm thu phí của bên mua bảo hiểm cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp bảo hiểm
sẽ phải gánh chịu một mức trách nhiệm đối với người được bảo hiểm tương ứng mức phí bảo hiểm đã thu Đây là yếu tố để chứng minh quan hệ kinh doanh bảo hiểm là quan
hệ xã hội mang tính chất song vụ, quyền lợi bên này cũng chính là nghĩa vụ của bên kia
và ngược lại Để thiết lập nên quan hệ mang tính hợp tác, tương trợ này, bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm phải tuân thủ cam kết không được cố ý thực hiện những hành vi có thể gây thiệt hại cho phía đối tác Như vậy, hành vi lừa dối nhằm gây thiệt hại cho phía bên kia để đạt được những quyền lợi tài chính nhất định trong quan hệ bảo hiểm có thể bị coi là việc kiếm lời bất hợp pháp
Theo quy định tại Thông tư số 31/2004/TT-BTC của Bộ tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 118/NĐ/2004/CP
* Giảng viên Khoa luật thương mại Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh
Trang 2của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm
thì: “Trục lợi bảo hiểm là hành vi cố ý lừa
dối của tổ chức, cá nhân nhằm thu lợi bất
chính khi tham gia bảo hiểm, bồi thường
bảo hiểm, trả tiền bảo hiểm và giải quyết
khiếu nại bảo hiểm” Như vậy, nói đến trục
lợi bảo hiểm là phải nói đến hành vi của tổ
chức, cá nhân được thực hiện một cách cố ý
nhằm thu lợi bất chính Tổ chức, cá nhân
được đề cập trong khái niệm trục lợi bảo
hiểm trên đây có thể là bên mua bảo hiểm,
bên được bảo hiểm hoặc doanh nghiệp bảo
hiểm, thậm chí có thể là hành vi gian lận
trong bảo hiểm của đại lí bảo hiểm và
doanh nghiệp môi giới bảo hiểm Cho dù là
tổ chức, cá nhân nào đi chăng nữa nhưng
muốn thực hiện được hành vi trục lợi bảo
hiểm thì các chủ thể này cũng phải tham gia
vào quan hệ kinh doanh bảo hiểm
Tóm lại, chúng ta có thể khẳng định:
Trục lợi bảo hiểm là hành vi kiếm lời bất
hợp pháp của các chủ thể tham gia vào quan
hệ kinh doanh bảo hiểm
Còn trục lợi bảo hiểm tài sản là việc các
bên tham gia vào quan hệ bảo hiểm tài sản
nhằm thực hiện các hành vi lừa dối để được
hưởng quyền lợi tài chính mà lẽ ra mình
không được hưởng hoặc hưởng lợi lớn hơn
quyền lợi tài chính mà mình được hưởng
Với khái niệm trên đây, hành vi trục lợi
bảo hiểm có thể có từ những chủ thể tham
gia vào quan hệ bảo hiểm Tuy nhiên, bài
viết này chỉ đi sâu phân tích các hành vi
trục lợi từ phía người mua bảo hiểm (người
được bảo hiểm)
Các dấu hiệu để nhận dạng một hành vi trục lợi bảo hiểm nói chung và trục lợi bảo hiểm tài sản nói riêng là:
- Có hành vi lừa dối Hành vi lừa dối là hành
vi của một chủ thể đưa ra những thông tin hoặc bằng chứng để người khác tin rằng những thông tin, bằng chứng này là đúng sự thật
- Mục đích của các chủ thể khi đưa ra các thông tin, bằng chứng để được hưởng một quyền lợi mà lẽ ra mình không được hưởng hoặc được hưởng lợi lớn hơn quyền lợi tài chính mà mình được hưởng
- Sự hưởng lợi này đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi tài chính của các chủ thể khác
3 Các hành vi trục lợi trong bảo hiểm tài sản
a Tài sản đã tổn thất mới mua bảo hiểm
Một trong những nguyên tắc của hoạt động kinh doanh bảo hiểmlà doanh nghiệp bảo hiểm chỉ có thể bảo hiểm cho những rủi
ro khách quan và mang tính ngẫu nhiên xảy
ra đối với bên mua bảo hiểm Tham gia vào hoạt động bảo hiểm thương mại, mục đích của bên mua bảo hiểm là nhằm chuyển giao rủi ro về mặt tài chính từ mình sang doanh nghiệp bảo hiểm, trên cơ sở đó, tránh tổn thất xảy ra đối với họ khi đối tượng bảo hiểm gặp rủi ro Bảo hiểm tài sản là hoạt động kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận thông qua việc các doanh nghiệp bảo hiểm tạo lập quỹ bảo hiểm từ phí bảo hiểm và sử dụng để chi trả cho những trường hợp thuộc trách nhiệm bảo hiểm Do vậy, tại thời điểm giao kết hợp đồng, rủi ro đối với tài sản bảo
Trang 3hiểm phải chưa xảy ra
Để xác định sự kiện bảo hiểm làm phát
sinh trách nhiệm của doanh nghiệp bảo
hiểm trong quan hệ bảo hiểm tài sản phải
căn cứ vào 2 yếu tố:
Thứ nhất, tại thời điểm giao kết hợp
đồng bảo hiểm, rủi ro được bảo hiểm phải
chưa phát sinh Nếu tại thời điểm giao kết
hợp đồng bảo hiểm, rủi ro được bảo hiểm
đang xảy ra thì bên mua bảo hiểm phải
không biết được về việc đó
Thứ hai, tài sản mua bảo hiểm vẫn còn tồn
tại tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm
Sở dĩ, trong quan hệ bảo hiểm tài sản,
doanh nghiệp bảo hiểm phải lưu ý đến các
yếu tố trên khi tiến hành giao kết hợp đồng
bảo hiểm, bởi vì, một trong những đặc
trưng của bảo hiểm nói chung và bảo hiểm
tài sản nói riêng là yếu tố rủi ro phải chưa
xảy ra tại thời điểm giao kết hợp đồng, nếu
rủi ro đã xảy ra rồi thì không còn là đối
tượng của hoạt động kinh doanh bảo hiểm
nữa Do vậy, không một doanh nghiệp bảo
hiểm nào lại chấp nhận gánh chịu tổn thất
cho bên mua bảo hiểm khi biết chắc rủi ro
đã xảy ra đối với tài sản bảo hiểm Ngoài ra,
trong bảo hiểm tài sản, để được doanh
nghiệp bảo hiểm chấp nhận bảo hiểm thì
bên mua bảo hiểm phải có lợi ích bảo hiểm
Lợi ích này phải là lợi ích hợp pháp, tức là
phải được pháp luật thừa nhận Tất cả
những lợi ích không hợp pháp được tạo ra
từ những hành vi bị pháp luật nghiêm cấm
hoặc những lợi ích được tạo ra trái ngược
với lợi ích chung của xã hội… đều không
được coi là lợi ích bảo hiểm Ví dụ, một người mua bảo hiểm cho tài sản do mình trộm cắp mà có hay chủ hàng mua bảo hiểm hàng hóa vận chuyển cho những mặt hàng cấm… Những đối tượng trên, nếu được mua bảo hiểm thì hợp đồng bảo hiểm sẽ không
có giá trị pháp lí kể từ thời điểm giao kết Lợi ích trong bảo hiểm tài sản còn phải
là lợi ích xác định được tại thời điểm giao kết hợp đồng Lợi ích xác định là lợi ích hiện có không phải do suy đoán chủ quan Một người mua bảo hiểm cho tài sản mà không chứng minh được lợi ích mình mua bảo hiểm là lợi ích có thật thì doanh nghiệp bảo hiểm không thể có cơ sở để cấp bảo hiểm, do vậy không thể hình thành nên quan hệ bảo hiểm tài sản được Lợi ích hợp pháp và xác định trong bảo hiểm tài sản còn được hiểu là tại thời điểm giao kết hợp đồng, quyền lợi tài chính của bên mua bảo hiểm (bên được bảo hiểm) với tài sản vẫn được duy trì, có nghĩa là bên mua bảo hiểm vẫn có quyền sở hữu hoặc sử dụng (trong trường hợp được chủ sở hữu tài sản ủy quyền quản lí tài sản) đối với tài sản đó Như vậy, nếu tại thời điểm mua bảo hiểm, đối tượng bảo hiểm (tài sản) không còn tồn tại thì bên mua bảo hiểm không còn lợi ích đối với tài sản và như vậy thì không thể giao kết hợp đồng bảo hiểm Tuy nhiên, trên thực tế, có rất nhiều trường hợp, tài sản
đã bị tổn thất, bên mua bảo hiểm mới tiến hành mua bảo hiểm cho tài sản, hành vi này gọi là trục lợi bất hợp pháp Sở dĩ chúng ta gọi đây là hành vi trục lợi bất hợp pháp vì
Trang 4các lí do sau:
Thứ nhất, tại thời điểm giao kết hợp
đồng bảo hiểm, rủi ro đã xảy ra đối với tài
sản bảo hiểm, tức là không thể có cơ sở làm
phát sinh trách nhiệm bảo hiểm của doanh
nghiệp bảo hiểm nhưng bên mua bảo hiểm
vẫn yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm gánh
chịu rủi ro cho mình Điều đó có nghĩa là họ
cố tình gian lận để tạo lập nên một quan hệ
bảo hiểm nhằm hưởng lợi từ quan hệ này
Thứ hai, khi tiến hành mua bảo hiểm
cho tài sản, bên mua bảo hiểm không có
quyền lợi đối với tài sản đó nữa, bởi vì tài
sản đó không còn tồn tại ở thời điểm giao
kết hợp đồng
Như vậy, khi một người không còn
quyền lợi đối với tài sản mà yêu cầu một
người khác phải đứng ra cam kết chi trả
những tổn thất liên quan đến tài sản đó cho
mình là hành vi lừa đảo
b Trục lợi bảo hiểm thông qua việc
mua bảo hiểm trùng cho tài sản
Bảo hiểm trùng trong bảo hiểm tài sản
là trường hợp bên mua mua bảo hiểm cho
cùng một tài sản với cùng điều kiện và sự
kiện bảo hiểm tại hai hoặc nhiều doanh
nghiệp bảo hiểm.(2) Theo quy định của Luật
kinh doanh bảo hiểm, trong trường hợp các
bên (bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp
bảo hiểm) giao kết hợp đồng bảo hiểm
trùng, khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, mỗi
doanh nghiệp bảo hiểm chỉ chịu trách
nhiệm bồi thường theo tỉ lệ giữa số tiền bảo
hiểm đã thỏa thuận trên tổng số tiền bảo
hiểm của tất cả các hợp đồng mà bên mua
bảo hiểm đã giao kết Như vậy, pháp luật không cấm các bên tham gia quan hệ bảo hiểm tài sản giao kết hợp đồng bảo hiểm trùng, điều này là phù hợp với nguyên tắc thực hiện quyền sở hữu được quy định trong Bộ luật dân sự Đó là chủ sở hữu được toàn quyền định đoạt các vấn đề liên quan đến tài sản.(3)
Quy định bảo hiểm trùng trong Luật kinh doanh bảo hiểm xuất phát từ nhu cầu bảo vệ tài sản của chủ sở hữu Cụ thể, do phí bảo hiểm trong bảo hiểm tài sản chiếm tỉ lệ rất nhỏ trên tổng giá trị tài sản nên chủ tài sản
có thể tuỳ vào khả năng tài chính của mình
mà có thể mua bảo hiểm cho tài sản tại nhiều doanh nghiệp bảo hiểm khác nhau với cùng điều kiện và sự kiện bảo hiểm nhằm dàn trải rủi ro Trong trường hợp một trong các doanh nghiệp bảo hiểm mà chủ tài sản mua bảo hiểm bị phá sản thì người được bảo hiểm vẫn đảm bảo được quyền lợi tài chính của mình tại các doanh nghiệp bảo hiểm còn lại Tuy nhiên, pháp luật chỉ thừa nhận hành vi mua bảo hiểm trùng đối với tài sản nhằm mục đích dàn trải rủi ro chứ không cho phép việc lợi dụng quy định này để kiếm lợi bất hợp pháp Cụ thể, nếu bên mua bảo hiểm tiến hành mua bảo hiểm cho tài sản tại nhiều doanh nghiệp bảo hiểm rồi hoàn tất hồ sơ để yêu cầu các doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện nghĩa vụ bồi thường theo cam kết thì trách nhiệm bồi thường của các doanh nghiệp bảo hiểm không vượt quá giá trị thiệt hại thực tế của tài sản.(4) Trong bảo hiểm trùng, bên mua bảo hiểm phải có nghĩa vụ
Trang 5thông báo cho các doanh nghiệp bảo hiểm
cùng tiến hành bảo hiểm cho tài sản về việc
bảo hiểm trùng Trường hợp, bên mua bảo
hiểm không thông báo cho các doanh nghiệp
bảo hiểm có liên quan về việc bên mua bảo
hiểm cùng lúc mua bảo hiểm cho tài sản tại
nhiều doanh nghiệp bảo hiểm khác nhau thì
có thể coi đây là hành vi lừa dối
Như vậy, nếu trên thực tế, bên mua mua
bảo hiểm cho một tài sản tại nhiều doanh
nghiệp bảo hiểm khác nhau với cùng một
điều kiện và sự kiện bảo hiểm nhằm để
được hưởng số tiền bảo hiểm lớn hơn giá trị
của tài sản là hành vi trục lợi bảo hiểm
Khía cạnh trục lợi của hình thức này thể
hiện, người được bảo hiểm cố tình che giấu
doanh nghiệp bảo hiểm việc tài sản đã được
mua bảo hiểm tại doanh nghiệp bảo hiểm
khác với cùng điều khoản và sự kiện bảo
hiểm trước khi giao kết hợp đồng với doanh
nghiệp bảo hiểm Ngoài ra, để khẳng định
đây là hành vi trục lợi bảo hiểm còn căn cứ
vào mục đích của việc không cung cấp
thông tin này từ phía bên mua bảo hiểm là
nhằm được hưởng quyền lợi tài chính lớn
hơn giá trị tài sản mà mình đang sở hữu
c Khai tăng giá trị của tài sản bảo hiểm
Trong bảo hiểm tài sản chỉ có bên mua
bảo hiểm (chủ sở hữu tài sản) là biết rõ nhất
những yếu tố liên quan đến tài sản Vì vậy,
đối với những tài sản để định giá được yêu
cầu trình độ kĩ thuật cao, chi phí định giá
lớn thì thông thường doanh nghiệp bảo
hiểm căn cứ vào giá trị của tài sản mà bên
mua bảo hiểm khai báo để cấp bảo hiểm
Trong trường hợp này, khi có tổn thất xảy
ra doanh nghiệp bảo hiểm sẽ căn cứ vào số tiền bảo hiểm để bồi thường
Trên thực tế, có rất nhiều trường hợp, bên mua bảo hiểm đã lợi dụng quy định này
để khai tăng giá trị của tài sản bảo hiểm nhằm mục đích trục lợi Theo quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm,(5) trường hợp bên mua bảo hiểm yêu cầu bảo hiểm lớn hơn giá thị trường của tài sản thì hợp đồng bảo hiểm này được gọi là hợp đồng bảo hiểm trên giá trị Mặc dù khoản 1 Điều 42 Luật kinh doanh bảo hiểm quy định doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm không được giao kết hợp đồng bảo hiểm tài sản trên giá trị nhưng tại khoản 2 Điều 42
lại đưa ra hướng xử lí “trong trường hợp
hợp đồng bảo hiểm trên giá trị được giao kết do lỗi vô ý của bên mua bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải hoàn lại cho bên mua bảo hiểm số phí bảo hiểm đã đóng tương ứng với số tiền bảo hiểm vượt quá giá thị trường của tài sản được bảo hiểm sau khi trừ các chi phí hợp lí có liên quan”
Chính quy định thiếu thống nhất giữa khoản
1 và khoản 2 Điều 42 Luật kinh doanh bảo hiểm đã dẫn đến việc bên mua bảo hiểm thường cố tình khai tăng giá trị tài sản khi mua bảo hiểm để hưởng lợi bất hợp pháp
Sở dĩ xảy ra tình trạng trên là do pháp luật chưa có biện pháp chế tài trong trường hợp bên mua bảo hiểm cố ý giao kết hợp đồng bảo hiểm trên giá trị Hơn nữa, việc thừa nhận sự tồn tại của hợp đồng bảo hiểm tài sản trên giá trị do lỗi vô ý đã giúp cho bên
Trang 6mua bảo hiểm có thể thực hiện được hành
vi lừa đảo của mình.(6) Cụ thể, trên thực tế,
để xác định được bên mua bảo hiểm giao
kết hợp đồng bảo hiểm trên giá trị do lỗi cố
ý hay vô ý là rất khó khăn, hiện tại pháp
luật kinh doanh bảo hiểm cũng chưa đưa ra
được những tiêu chí để phân biệt thế nào là
giao kết do lỗi cố ý và thế nào là giao kết do
vô ý Vì vậy, kết luận về vấn đề này chỉ
mang tính chủ quan mà thôi
Khía cạnh trục lợi của hành vi này thể
hiện: Bên mua bảo hiểm cố tình yêu cầu
doanh nghiệp bảo hiểm gánh chịu thay
mình những tổn thất lớn hơn tổn thất thực tế
xảy ra Phần chênh lệch mà bên mua bảo
hiểm được hưởng (giữa số tiền bảo hiểm mà
doanh nghiệp bảo hiểm chi trả với tổn thất
thực tế) là không có căn cứ hợp pháp hay
còn gọi là sự hưởng lợi bất hợp pháp
d Tự hủy hoại tài sản để nhận bảo hiểm
Cơ sở để hình thành quyền lợi bảo hiểm
trong bảo hiểm tài sản là quyền sở hữu của
bên mua bảo hiểm đối với tài sản Như vậy,
về mặt pháp lí, trong thời gian mua bảo
hiểm, tài sản bảo hiểm vẫn thuộc quyền sở
hữu của bên mua bảo hiểm Để bảo vệ
quyền sở hữu của chủ tài sản, Bộ luật dân
sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam quy định quyền sở hữu của cá
nhân, pháp nhân và chủ thể khác được pháp
luật công nhận và bảo vệ, không ai có thể bị
hạn chế, bị tước đoạt trái pháp luật quyền
sở hữu đối với tài sản của mình Chủ sở hữu
có quyền tự bảo vệ, ngăn cản bất kì người
nào có hành vi xâm phạm quyền sỡ hữu của
mình, truy tìm, đòi lại tài sản bị người khác chiếm hữu, sử dụng, định đoạt không có căn
cứ pháp luật.(7) Như vậy, khi tạo ra tài sản một cách hợp pháp, chủ sở hữu tài sản được quyền yêu cầu Nhà nước bảo vệ quyền sở hữu của mình đối với tài sản
Xét ở góc độ lí luận, không ai lại hủy hoại chính tài sản mà mình đang có quyền lợi về tài chính đối với nó, bởi vì, tổ chức,
cá nhân khi yêu cầu Nhà nước chứng nhận quyền sở hữu của họ đối với tài sản thì bản thân họ phải có nhu cầu bảo vệ những lợi ích liên quan đến tài sản Khi chủ sở hữu tài sản tham gia vào quan hệ bảo hiểm nhằm mục đích hoán chuyển rủi ro của mình đối với tài sản sang cho doanh nghiệp bảo hiểm thì không có lí do gì họ lại cố tình tạo ra rủi
ro đối với tài sản mà họ đang sở hữu Trên thực tế, có một nguyên tắc chung của bảo hiểm thương mại liên quan đến vấn
đề này đó là nguyên tắc hợp tác vì mục tiêu bảo hiểm Theo nguyên tắc này, bên mua bảo hiểm phải có trách nhiệm bảo vệ tài sản bảo hiểm như là chưa hề mua bảo hiểm Quán triệt nguyên tắc này, Luật kinh doanh bảo hiểm đã quy định một trong những nghĩa
vụ của bên mua bảo hiểm là trong suốt quá trình mua bảo hiểm, bên mua bảo hiểm phải
áp dụng các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất xảy ra đối với tài sản bảo hiểm.(8)
Khi tham gia vào quan hệ bảo hiểm tài sản, mục đích mà bên mua bảo hiểm nhằm đạt được là yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm bảo vệ quyền lợi vật chất của mình trước những rủi ro bất ngờ Như vậy, không có lí
Trang 7do gì một người vừa yêu cầu người khác
bảo vệ quyền lợi tài chính của mình đối với
tài sản lại cố tình hủy hoại chính tài sản mà
mình yêu cầu bảo vệ Nếu một người sau
khi mua bảo hiểm cho tài sản rồi cố tình
hủy hoại tài sản đó thì chắc chắn không
ngoài mục đích để được hưởng một số tiền
lớn hơn giá trị của tài sản từ doanh nghiệp
bảo hiểm Để thực hiện được mục đích trục
lợi bằng việc cố ý gây tổn thất đối với tài
sản bảo hiểm với mục đích được nhận tiền
bảo hiểm từ doanh nghiệp bảo hiểm, kẻ trục
lợi thường vạch ra kế hoạch từ trước, chuẩn
bị rất chu đáo Đây là hình thức trục lợi
nghiêm trọng nhất và khó phát hiện nhất,
bởi vì, bên mua bảo hiểm khi lựa chọn hình
thức trục lợi kiểu này thường là những
người am hiểu về kĩ thuật nghiệp vụ bảo
hiểm.(9) Cách thức sử dụng để trục lợi trong
trường hợp này thường khá tinh vi, gây
nhiều khó khăn đối với việc điều tra của các
cơ quan liên quan khi tổn thất xảy ra Ý đồ
trục lợi của hình thức này thường nảy sinh
trước khi người mua bảo hiểm tham gia bảo
hiểm, quy mô trục lợi lớn, số tiền gian lận,
trục lợi rất cao Hình thức trục lợi này
thường được thực hiện bằng việc người chủ
tài sản sau khi mua bảo hiểm cho tài sản sẽ
tháo rời các bộ phận của tài sản (như máy
móc, thiết bị có giá trị) để thay thế vào đó
những bộ phận tài sản kém giá trị hơn, sau
đó sẽ cố ý phá hủy tài sản Đương nhiên,
sau khi tài sản được phá hủy, bên mua bảo
hiểm sẽ hoàn tất các thủ tục để được bồi
thường bảo hiểm và dĩ nhiên kẻ trục lợi vẫn
nhận tiền bồi thường tương ứng với các bộ phận, máy móc, thiết bị có giá trị Chẳng hạn, chủ tàu biển sau khi đã mua bảo hiểm cho con tàu đã tháo dỡ hết trang thiết bị, máy móc trên tàu rồi thay thế bằng các thiết
bị khác kém giá trị hơn, sau đó đánh chìm con tàu để được hưởng số tiền bảo hiểm
đ Khai tăng số tiền tổn thất trong vụ tai nạn
Một trong những nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm tài sản là bồi thường Có một từ điển đã định nghĩa “bồi thường” là “sự bảo
vệ hoặc bảo đảm cho thiệt hại hoặc tổn thất phát sinh từ trách nhiệm pháp lí”.(10) Chúng
ta có thể coi ý tưởng này như là một cơ chế
mà doanh nghiệp bảo hiểm sử dụng để cung cấp khoản bồi thường tài chính với mục đích khôi phục tình trạng tài chính ban đầu cho người được bảo hiểm sau khi tổn thất xảy ra
Về nguyên tắc, khi rủi ro được bảo hiểm xảy ra, doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường cho người được bảo hiểm những tổn thất thực tế, có nghĩa là tài sản bảo hiểm bị tổn thất bao nhiêu sẽ được bồi thường bấy nhiêu Tuy nhiên, nếu có tổn thất thì mới bồi thường, không được bồi thường ít hơn tổn thất (trừ trường hợp bên mua bảo hiểm chỉ bảo hiểm một phần giá trị của tài sản) Ngược lại, trong trường hợp dù rủi ro bảo hiểm xảy ra nhưng tài sản bảo hiểm không
bị tổn thất thì không được bồi thường Quan hệ bảo hiểm tài sản là quan hệ song vụ, do vậy, nếu bên được bảo hiểm yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm chi trả bảo hiểm lớn hơn giá trị tổn thất thực tế thì sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của doanh nghiệp
Trang 8bảo hiểm Cụ thể, để đảm bảo nguyên tắc
bồi thường trong bảo hiểm tài sản thì bên
được bảo hiểm không được khai tăng tổn
thất đối với tài sản bảo hiểm, bởi vì, hành vi
này sẽ có thể mang lại hệ quả là họ được
hưởng một số tiền lớn hơn tổn thất thực tế
Như vậy, nếu bên được bảo hiểm có hành vi
khai tăng tổn thất hoặc tài sản trên thực tế
không bị hư hỏng nhưng người này vẫn kê
khai vào hồ sơ đòi chi trả bảo hiểm sẽ bị coi
là hành vi trục lợi bất hợp pháp Sở dĩ,
chúng ta khẳng định đây là hành vi trục lợi
bảo hiểm vì các lí do:
Thứ nhất, quan hệ bảo hiểm tài sản là
quan hệ bồi thường, do vậy, pháp luật chỉ
cho phép bên được bảo hiểm yêu cầu doanh
nghiệp trả lại cho mình những gì mà mình
đã mất Việc bên được bảo hiểm khai tăng
tổn thất đối với tài sản bảo hiểm để được
hưởng một quyền lợi vật chất nhiều hơn
những gì mình đã mất là hành vi hưởng lợi
bất hợp pháp Trong trường hợp này, bên
được bảo hiểm đã sử dụng thủ đoạn nhằm
chiếm đoạt tài sản của doanh nghiệp bảo
hiểm, bởi vì, hành vi này đã dẫn đến hệ quả
là doanh nghiệp bảo hiểm phải chi trả một
lượng tài chính lớn hơn nghĩa vụ mà lẽ ra
mình phải gánh chịu
Thứ hai, cơ sở làm phát sinh trách
nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm
trong bảo hiểm tài sản là phải có rủi ro xảy
ra đối với tài sản bảo hiểm và hệ quả của rủi
ro này là tổn thất Rủi ro và tổn thất là hai
điều kiện cần và đủ để xác định sự kiện bảo
hiểm và chỉ khi sự kiện bảo hiểm xảy ra
mới phát sinh trách nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm Như vậy, nếu trường hợp mặc dù có rủi ro xảy ra (trong phạm vi bảo hiểm) nhưng không dẫn đến hệ quả tổn thất thì cũng không phát sinh trách nhiệm bảo hiểm từ doanh nghiệp bảo hiểm
e Trục lợi bảo hiểm thông qua hành vi lập hồ sơ, hiện trường giả
Trong bảo hiểm tài sản, để có cơ sở xác định trách nhiệm bồi thường của doanh nghiệp bảo hiểm phải dựa trên những bằng chứng pháp lí nhất định đó là hồ sơ, chứng
từ có xác nhận của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Việc xác nhận của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm mục đích chứng minh sự kiện bảo hiểm xảy ra là có thực Trong một số trường hợp, doanh nghiệp bảo hiểm có thể cử người đến hiện trường, nơi xảy ra tai nạn nhằm mục đích xác định trên thực tế, nguyên nhân dẫn đến tổn thất, hậu quả của tổn thất… để tiến hành bồi thường cho bên được bảo hiểm Việc yêu cầu bên mua bảo hiểm thống kê tổn thất thực tế, chứng minh rủi ro xảy ra trong phạm vi bảo hiểm… trên cơ sở xác nhận của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền là việc làm cần thiết và bắt buộc trong quan hệ bảo hiểm tài sản nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho các bên Đồng thời qua việc xác nhận này, bên mua bảo hiểm muốn chứng minh rằng họ hoàn toàn trung thực tuyệt đối trong việc cung cấp các thông tin về tai nạn, tổn thất cho doanh nghiệp bảo biểm Tất nhiên, để được hưởng quyền lợi bảo hiểm, những thông tin này phải có thật trên thực
Trang 9tế, tức có rủi ro trong phạm vi bảo hiểm xảy
ra và hệ quả của nó là tổn thất
Tuy nhiên, trên thực tế, bên mua bảo
hiểm đã lợi dụng quy định này trong quan
hệ bảo hiểm tài sản để hợp thực hóa những
tổn thất do mình tự đưa ra nhằm được chi
trả bảo hiểm Cụ thể, bên mua bảo hiểm đã
sử dụng thủ đoạn đưa những tài sản cùng
loại đã bị hư hỏng từ nơi khác đến nơi xảy
ra tai nạn để chụp ảnh, lập biên bản, khám
nghiệm hiện trường nhằm chứng minh tài
sản bảo hiểm bị tổn thất, trong khi đó thật
sự là không có tổn thất xảy ra hoặc có tổn
thất nhưng ít hơn so với tài sản hư hỏng bị
thay thế Hoặc tạo hiện trường giả giống
như dấu hiệu của việc mất cắp tài sản như
kho hàng bị phá khóa, bị cắt niêm phong
hoặc thay đổi biển số xe đã mua bảo hiểm
vào xe bị tai nạn nhưng chưa mua bảo hiểm
nhằm nhận được tiền bồi thường từ doanh
nghiệp bảo hiểm…
Các hành vi nêu trên được coi là trục lợi
bảo hiểm, bởi vì, mục đích của bên được
bảo hiểm khi thực hiện những hành vi này
là nhằm để được hưởng lợi những khoản tài
chính theo cam kết của doanh nghiệp bảo
hiểm nhưng trên thực tế thì không đủ điều
kiện để doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện
cam kết này Để hợp thức trách nhiệm bồi
thường của doanh nghiệp bảo hiểm, người
được bảo hiểm đã làm những thủ tục gian
dối nhằm mục đích tạo bằng chứng để
doanh nghiệp bảo hiểm tin rằng tổn thất xảy
ra là có thực và rủi ro dẫn đến tổn thất này
là trong phạm vi bảo hiểm
Tóm lại, việc nhận diện các hành vi trục lợi trong bảo hiểm tài sản có ý nghĩa rất quan trọng, là cơ sở để giúp các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và doanh nghiệp bảo hiểm nhanh chóng xác định được hành
vi vi phạm, có cơ chế để ngăn ngừa và xử lí phù hợp, góp phần xây dựng và phát triển lành mạnh thị trường bảo hiểm tài sản ở Việt Nam./
(1).Xem: Khoản 1 Điều 3 Luật kinh doanh bảo hiểm (2).Xem: Khoản 2 Điều 44 Luật kinh doanh bảo hiểm (3).Xem: Điều 165 Bộ luật dân sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
(4).Xem: Khoản 2 Điều 44 Luật kinh doanh bảo hiểm (5).Xem: Điều 42 Luật kinh doanh bảo hiểm
(6) Nếu viện dẫn các quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm và Điều 42 Luật kinh doanh bảo hiểm thì việc bên mua bảo hiểm giao kết hợp đồng bảo hiểm
do lỗi cố ý, hợp đồng bảo hiểm này sẽ vô hiệu, trong trường hợp này bên mua bảo hiểm được trả lại phí bảo hiểm đã đóng, còn nếu xác định là do vô ý thì bên mua bảo hiểm sẽ được bồi thường trong phạm vi giá thị trường của tài sản Điều đáng nói ở đây là nếu họ
cố tình giao kết hợp đồng bảo hiểm trên giá trị thì họ không bị bất cứ một chế tài nào, do vậy, trong một số trường hợp, người mua bảo hiểm đã đặt cược bằng cách nếu bị phát hiện thì họ nhận lại phí bảo hiểm đã đóng (vì hợp đồng bảo hiểm vô hiệu) còn nếu không
bị phát hiện thì họ có khả năng nhận được khoản tiền bồi thường từ phía doanh nghiệp bảo hiểm lớn hơn giá trị tài sản mà họ bị tổn thất
(7).Xem: Khoản 1,2 Điều 169 Bộ luật dân sự năm
2005 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (8).Xem: Khoản d Điều 18 Luật kinh doanh bảo hiểm (9).Xem: “Gian lận, trục lợi trong bảo hiểm tài sản-một vấn đề đáng quan ngại” của ThS Trịnh Hữu Hạnh - Hội bảo hiểm, đăng trên trang web http://www.mof.gov.vn Cập nhật ngày 8/9/2005 (10).Xem: “Bảo hiểm - nguyên tắc và thực hành” biên soạn Tiến sĩ Dvid Bland, Nxb Tài chính, năm
1998, tr 48