1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐỀ TIỂU LUẬN:VẬN DỤNG HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ-XÃ HỘI VÀO THỰC TIỄN ĐỔI MỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

15 45 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 521,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đất nước Việt Nam đang ngày càng phát triển về mọi mặt, đặc biệt là tốc độ hội nhập nhanh chóng của nền kinh tế trong những năm gần đây. Mặc dù chịu sự gián đoạn và ảnh hưởng ít nhiều do dịch bệnh Covid 19 và sự biến động của tình hình thế giới, nhưng nhìn chung nền kinh tế nước ta vẫn có những sựu đột phá khá mạnh mẽ - đó luôn là một trong những mục tiêu hàng đầu của đất nước. Muốn phát triển được nền kinh tế đất nước trước hết phải đẩy mạnh đổi mới nguồn nhân lực. Do đó, đổi mới người lao động luôn đóng một vai trò quan trọng và thiết yếu, nhất là trong quá trình Việt Nam đang trên đà hội nhập và phát triển. Phát triển và đổi mới người lao động luôn là vấn đề được đặt ra hàng đầu và được quan tâm đối với các nhà lãnh đạo. Trong phiên thảo luận Quốc hội khóa XV, phiên họp thứ hai, đại biểu Nguyễn Minh Tâm (Quảng Bình) đã phát biểu: “Thị trường lao động Việt Nam có khoảng 75% lao động không được đào tạo chuyên môn kỹ thuật. Đây là hạn chế lớn của nền kinh tế Việt Nam trong bối cảnh đại dịch vẫn đang còn lan rộng và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn thế giới. Vì thế, tôi đề nghị Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo đổi mới, triển khai các chính sách đào tạo, đào tạo lại nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thích ứng với yêu cầu tăng trưởng và phát triển kinh tế, đào tạo đáp ứng với nhu cầu thực tiễn, tránh việc đào tạo tràn lan, tốn kém nhưng lại không đáp ứng yêu cầu thực tiễn”. Như vậy, để phát triển và đổi mới người lao động cần kết hợp vận dụng sáng tạo học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa MácLênin trong thực tiễn của đất nước, phù hợp với nguồn lực người lao động Việt Nam hiện nay cách toàn diện và hiệu quả nhất.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

-*** -

BÀI TẬP LỚN

ĐỀ TIỂU LUẬN:VẬN DỤNG HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ-XÃ HỘI VÀO THỰC TIỄN ĐỔI MỚI NGƯỜI

LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

GV hướng dẫn: Nghiêm Thị Châu Giang

Người thực hiện: Phùng Tấn Dũng

Lớp: 63D Kinh Doanh Quốc Tế CLC

Mã SV: 11211510

HÀ NỘI, NĂM 2021

Trang 2

1

MỞ ĐẦU

Đất nước Việt Nam đang ngày càng phát triển về mọi mặt, đặc biệt là tốc độ hội nhập nhanh chóng của nền kinh tế trong những năm gần đây Mặc dù chịu sự gián đoạn và ảnh hưởng ít nhiều do dịch bệnh Covid 19 và sự biến động của tình hình thế giới, nhưng nhìn chung nền kinh tế nước ta vẫn có những sựu đột phá khá mạnh mẽ - đó luôn là một trong những mục tiêu hàng đầu của đất nước Muốn phát triển được nền kinh tế đất nước trước hết phải đẩy mạnh đổi mới nguồn nhân lực Do đó, đổi mới người lao động luôn đóng một vai trò quan trọng và thiết yếu, nhất là trong quá trình Việt Nam đang trên đà hội nhập và phát triển Phát triển và đổi mới người lao động luôn là vấn đề được đặt ra hàng đầu và được quan tâm đối với các nhà lãnh đạo Trong phiên thảo luận Quốc hội khóa XV, phiên họp thứ hai, đại biểu Nguyễn Minh Tâm (Quảng Bình) đã phát biểu: “Thị trường lao động Việt Nam có khoảng 75% lao động không được đào tạo chuyên môn kỹ thuật Đây là hạn chế lớn của nền kinh tế Việt Nam trong bối cảnh đại dịch vẫn đang còn lan rộng và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn thế giới Vì thế, tôi đề nghị Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo đổi mới, triển khai các chính sách đào tạo, đào tạo lại nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thích ứng với yêu cầu tăng trưởng và phát triển kinh tế, đào tạo đáp ứng với nhu cầu thực tiễn, tránh việc đào tạo tràn lan, tốn kém nhưng lại không đáp ứng yêu cầu thực tiễn” Như vậy, để phát triển và đổi mới người lao động cần kết hợp vận dụng sáng tạo học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Mác-Lênin trong thực tiễn của đất nước, phù hợp với nguồn lực người lao động Việt Nam hiện nay cách toàn diện và hiệu quả nhất

Trang 3

2

MỤC LỤC

I, Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội:

1 Khái niệm hình thái kinh tế - xã hội

2 Kết cấu hình thái kinh tế - xã hội

3 Sự phát triển hình thái kinh tế - xã hội là quá trình lịch sử tự nhiên

4 Hình thái kinh tế - xã hội bao hàm sự bỏ qua như thế nào?

II, Vận dụng:

1 Yếu tố con người ảnh hưởng đến hình thái kinh tế - xã hội như thế nào?

2 Yếu tố khoa học xã hội

3 Thực tiễn đổi mới người lao động ở Việt Nam hiện nay

4 Công cuộc đổi mới người lao động phù hợp với thực tiễn đất nước và vận dụng học thuyết hình thái kinh tế - xã hội vào công cuộc đổi mới

III, Kết luận chung

IV, Tài liệu tham khảo

Trang 4

3

I, Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội

Trong kho tàng lý luận của Mác để lại cho loài người, Học thuyết hình thái kinh

tế - xã hội của ông được coi là "cơ sở phương pháp luận của các khoa học xã hội, là hòn đá tảng cho mọi nghiên cứu về xã hội" (1), là cơ sở khoa học để giải thích tính phong phú, đa dạng trong sự phát triển của các quốc gia, dân tộc Xã hội loài người nói chung phải trải qua các hình thái kinh tế - xã hội từ thấp đến cao, là một quá trình lịch sử - tự nhiên do những mâu thuẫn trong lòng của mỗi hình thái kinh tế - xã hội quy định Đó là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất; giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng Những mâu thuẫn này được giải quyết sẽ dẫn đến hình thái kinh tế - xã hội cũ mất đi, hình thái kinh tế - xã hội mới ra đời thay thế, làm cho xã hội phát triển lên một trình

độ mới cao hơn Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là tất cả các quốc gia, dân tộc đều lần lượt, nhất loạt phải trải qua đầy đủ các nấc thang phát triển đó Do vậy, có sự phát triển không đồng đều giữa các quốc gia, dân tộc 1, Khái niệm hình thái kinh tế - xã hội

Hình thái kinh tế - xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử (hay còn gọi là chủ nghĩa duy vật biện chứng về xã hội) dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội

đó, phù hợp với một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất, và với một kiến trúc thượng tầng tương ứng được xây dựng trên những quan hệ sản xuất đó Nó chính là các xã hội cụ thể được tạo thành từ sự thống nhất biện chứng giữa các mặt trong đời sống xã hội và tồn tại trong từng giai đoạn lịch sử nhất định Hình thái kinh tế - xã hội là một hệ thống hoàn chỉnh, có cấu trúc phức tạp, trong đó có các mặt cơ bản là lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng Mỗi mặt của hình thái kinh tế - xã hội có vị trí riêng và tác động qua lại lẫn nhau, thống nhất với nhau

2, Kết cấu hình thái kinh tế - xã hội

Hình thái kinh tế - xã hội là một hệ thống, một chỉnh thể toàn vẹn có cơ cấu phức tạp, trong đó có những mặt cơ bản nhất là lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng Ba yếu tố đó tác động qua lại nhau tạo thành sự vận động tổng hợp của hai quy luật cơ bản, chung nhất của sự tồn tại và phát triển xã hội

Trang 5

4

Lực lượng sản xuất là mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, thể hiện trình

độ chinh phục tự nhiên của con người, trình độ của các quá trình sản xuất vật chất khác nhau trong xã hội Theo một nghĩa chung nhất lực lượng sản xuất là mặt tự nhiên của phương thức sản xuất hoặc là sức sản xuất vật chất của xã hội Lực lượng sản xuất mang tính khách quan độc lập với ý thức của con người Xét

về kết cấu lực lượng sản xuất bao gồm hai yếu tố, đó là: tư liệu sản xuất và người lao động Tư liệu sản xuất: Bao gồm có tư liệu lao động và đối tượng lao động Tư liệu lao động bao gồm có công cụ lao động và phương tiện lao động Quan hệ sản xuất là mối quan hệ giữa con người và con người trong quá trình sản xuất vật chất Theo một nghĩa chung nhất thì quan hệ sản xuất là một yếu tố của phương thức sản xuất, là mặt xã hội của phương thức sản xuất Quan hệ sản xuất là quan hệ kinh tế của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định Mối quan hệ giữa con người và con người trong quan hệ sản xuất bao giờ cũng thể hiện tính chất, bản chất của quan hệ lao động và dưới góc độ chung nhất nó thể hiện bản chất kinh tế của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định Quan hệ sản xuất mang tính khách quan độc lập với ý thức của con người Kết cấu của quan hệ sản xuất bao gồm ba mặt quan hệ cơ bản sau: Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất Xét về mặt lịch sử quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất đã được thể hiện dưới hai hình thức cơ bản, đó là sở hữu tư nhân và sở hữu xã hội về tư liệu sản xuất Quan hệ

tổ chức quản lý sản xuất Quan hệ phân phối sản phẩm lao động Quan hệ này phụ thuộc vào quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất Bới vì, chủ thể xã hội nào nắm tư liệu sản xuất thì đồng thời họ là người có mức hưởng thụ nhiều hơn,

và là người có quyền quyết định phân phối sản phẩm vật chất của xã hội Trong

ba mặt quan hệ của quan hệ sản xuất đều có sự tác động qua lại lẫn nhau

Nhưng quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất là quan hệ giữ vai trò quyết định trong quan hệ sản xuất Đồng thời quan hệ sở hữu tư nhân và sở hữu xã hội là sự khác nhau về bản chất và có tính chất đối lập Đặc điểm chung nhất của sản xuất vật chất xã hội, là nó luôn trong quá trình vận động và phát triển ngày một cao và tiến bộ hơn

Lực lượng sản xuất là yếu tố động và cách mạng nhất của phương thức sản xuất,

là nội dung của phương thức sản xuất Còn quan hệ sản xuất là cái tương đối ổn định, là hình thức của phương thức sản xuất Trong mối quan hệ này thì nội dung quyết định hình thức Nội dung thay đổi trước, hình thức thay đổi sau và phụ thuộc vào nội dung Cùng với sự thay đổi và phát triển của lực lượng sản xuất thì quan hệ sản xuất cũng thay đổi và phát triển cho phù hợp với tính chất

Trang 6

5

và trình độ của lực lượng sản xuất Nhưng lực lượng sản xuất thường có khuynh hướng phát triển nhanh hơn quan hệ sản xuất Cho nên, lực lượng sản xuất phát triển đến một giới hạn nhất định nào đó thì mâu thuẫn với quan hệ sản xuất Quan hệ sản xuất không còn phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất nữa, trở thành kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Sự phát triển khách quan đó tất yếu dẫn đến sự xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ, thay thế một kiểu quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất,

mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển Như vậy, quy luật quan hệ sản xuất phù hợp vơí tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất là quy luật chung nhất của xã hội Nó dẫn đến sự thay đổi và chuyển hóa các hình thái kinh tế xã hội khác nhau trong lịch sử Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là một quy luật chung nhất của sự phát triển xã hội Sự tác động của quy luật này đã khẳng định tính tất yếu khách quan của sự phát triển xã hội loài người từ phương thức sản xuất xã hội Nguyên thủy, Chiếm hữu nô lệ, Phong kiến, Tư bản chủ nghĩa và phương thức Cộng sản chủ nghĩa tương lai

Những quan hệ sản xuất là bộ xương của cơ thể xã hội hợp thành cơ sở hạ tầng

và trên đó dựng lên một kiến trúc thượng tầng tương ứng mà chức năng xã hội của nó là bảo vệ, duy trì và phát triển cơ sở hạ tầng sinh ra nó Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những tư tưởng xã hội, những thiết chế tương ứng và những quan hệ nội tại của nó được hình thành trên cơ sở hạ tầng nhất định Mỗi bộ phận khác nhau của kiến trúc thượng tầng đều có đặc điểm và qui luật riêng, nhưng chúng đều có sự tác động biện chứng qua lại lẫn nhau khi phản ánh cơ sở

hạ tầng Trong các bộ phận khác nhau đó thì nhà nước, pháp luật và hệ tư tưởng của giai cấp thống trị là các bộ phận quan trọng nhất Trong xã hội có giai cấp thì kiến trúc thượng tầng mang tính giai cấp, phản ánh tính giai cấp ở trong cơ

sở hạ tầng Trong đó luôn thể hiện cuộc đấu tranh về mặt hệ tư tưởng của các giai cấp đối kháng Đặc trưng của một kiến trúc thượng tầng do quan hệ sản xuất thống trị quy định Xây dựng kiến trúc thượng tầng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, Đảng ta khẳng định lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm kim chỉ nam cho hành động và nêu cao tư tưởng Hồ Chí Minh Ngoài các quan hệ cơ bản: lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, kiến trúc thượng tầng, trong mỗi hình thái kinh tế-xã hội còn có những quan hệ dân tộc, gia đình,

3, Sự phát triển hình thái kinh tế - xã hội là quá trình lịch sử tự nhiên

Trang 7

6

Lịch sử phát triển của xã hội đã trải qua nhiều giai đoạn nối tiếp nhau từ thấp đến cao Tương ứng với quá trình đó là lịch sử của các hình thái kinh tế - xã hội theo những qui luật, đó là quá trình lịch sử tự nhiên của xã hội.C.Mác viết: “Tôi coi sự phát triển của những hình thái kinh tế-xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên” (3) Hình thái kinh tế-xã hội được xem như là một cơ thể, một hệ thống hoàn chỉnh luôn luôn vận động và phát triển Đó là hệ thống các quan hệ xã hội, bao gồm những quan hệ vật chất và quan hệ tư tưởng Quan hệ tư tưởng được xây dựng trên những quan hệ vật chất-quan hệ hình thành ngoài ý chí và ý thức của con người, như một kết quả của sự hoạt động của con người để đảm bảo sự sinh tồn của mình Học thuyết hình thái kinh tế–xã hội cho phép đi sâu vào bản chất của quá trình lịch sử, hiểu được logic khách quan của quá trình đó, nhìn thấy sự phát triển của xã hội loài người như là một quá trình lịch sử tự nhiên, một quá trình diễn ra nhiều mặt và chứa đầy mâu thuẫn, quá trình vận động hợp với quy luật khách quan Đó là những quy luật nội tại, tự thân trong cấu trúc của hình thái kinh tế-xã hội, quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, quy luật cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã và đang trải qua năm hình thái kinh tế-xã hội khác nhau: cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa Chủ nghĩa duy vật lịch sử cho rằng, mỗi hình thái kinh tế-xã hội đều có những quy luật riêng của nó khi

nó phát sinh, phát triển và chuyển sang một hính thái khác cao hơn Đồng thời cũng khẳng định đến sự tồn tại của những quy luật phản ánh những đặc điểm chung của mọi hình thái kinh tế-xã hội, những quy luật phổ biến phát huy tác dụng trong tất cả các giai đoạn phát triển của lịch sử, trong tất cả các hình thái kinh tế-xã hội

Trong các quy luật khách quan chi phối sự vận động phát triển của các hình thái kinh tế-xã hội, quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất có vai trò quyết định nhất Lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, kiến trúc thượng tầng Mối liên hệ tác động qua lại của các nhân tố này thể hiện sự tác động của các qui luật chung vào trong các giai đoạn của sự phát triển của lịch sử làm cho các hình thái kinh tế - xã hội phát triển như một tiến trình lịch sử tự nhiên Quá trình phát triển lịch sử tự nhiên của xã hội

có nguồn gốc sâu xa từ sự phát triển của lực lượng sản xuất Chính tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất đã qui định một cách khách quan tính chất và trình độ của quan hệ sản xuất Mặt khác, sự tác động đến quá trình phát triển

Trang 8

7

của các hình thái kinh tế - xã hội như một quá trình lịch sử tự nhiên còn thể hiện

sự tác động trực tiếp, quan trọng của qui luật về mối quan hệ biện chứng giữa

cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng Có nhiều nguyên nhân tác động dẫn đến quá trình thay đổi các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau trong sự phát triển của lịch sử Trong đó điều kiện của môi trường địa lý, tính độc đáo của các nền văn hóa, của truyền thống, tư tưởng, tâm lý xã hội và vấn đề dân tộc đều có ý nghĩa quan trọng nhất định Tính chất của tác động lẫn nhau giữa các dân tộc tồn tại ở các giai đoạn khác nhau đều phụ thuộc vào tính chất của chế độ xã hội

Để xác định tính đặc trưng và phân biệt sự khác nhau giữa các giai đoạn, phù hợp với khuynh hướng chủ đạo đó, người ta dùng khái niệm thời đại.Con người làm ra lực lượng sản xuất bằng năng lực thực tiễn của mình Tuy nhiên, năng lực thực tiễn lại bị quy định bởi nhiều điều kiện khách quan Mỗi thế hệ làm ra lực lượng sản xuất của mình phải dựa trên những lực lượng sản xuất đã đạt được của thế hệ trước ở hình thái kinh tế-xã hội trước đó Vì vậy, bản thân các lực lượng sản xuất không phải là sản phẩm riêng của thời đại nào, mà là sản phẩm của cả một quá trình phát triển liên tục từ thấp lên cao qua các hình thái kinh tế-xã hội Chính tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất đã quy định một cách khách quan tính chất và trình độ của quan hệ sản xuất, do đó, xét đến cùng lực lượng sản xuất quyết định quá trình vận động phát triển của hình thái kinh tế-xã hội như một quá trình lịch sử tự nhiên

Sự vận động phát triển thay thế nhau của các hình thái kinh tế-xã hội từ thấp lên cao trước hết được giải thích bằng sự tác động của quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất Lực lượng sản xuất, một mặt của phương thức sản xuất, là yếu tố đảm bảo tính kế thừa trong sự phát triển tiến lên của lịch sử Quan hệ sản xuất là mặt thứ hai của phương thức sản xuất biểu hiện tính gián đoạn trong sự phát triển của lịch sử

Lịch sử loài người là lịch sử phát triển và thay thế nhau của các hình thái kinh tế-xã hội, nhưng lịch sử cụ thể vô cùng phong phú, không thể xem quá trình lịch

sử là một công thức hoặc như một đường thẳng Thực tế lịch sử diễn ra những hình thức quá độ khác nhau của các dân tộc, một số dân tộc phải trải qua tuần tự các hình thái kinh tế-xã hội, một số dân tộc lại bỏ qua một số hình thái để đạt được những bước phát triển nhanh hơn Nhân loại hiện nay đang và sẽ trải qua hình thái kinh tế-xã hội cộng sản chủ nghĩa Hình thái kinh tế-xã hội cộng sản chủ nghĩa có ba giai đoạn phát triển: Thời kỳ quá độ từ tư bản chủ nghĩa lên chủ nghĩa xã hội, Chủ nghĩa xã hội, Chủ nghĩa Cộng Sản

Trang 9

8

4, Hình thái kinh tế - xã hội bao hàm sự bỏ qua như thế nào?

Con đường phát triển của mỗi dân tộc không chỉ bị chi phối bởi các quy luật chung, mà còn bị tác động bởi các điều kiện về tự nhiên, về chính trị, về truyền thống văn hóa, về điều kiện quốc tế Chính vì vậy, lịch sử phát triển của nhân loại hết sức phong phú, đa dạng Mỗi dân tộc đều có nét độc đáo riêng trong lịch

sử phát triển của mình Có những dân tộc lần lượt trải qua các hình thái kinh tế -

xã hội từ thấp đến cao, nhưng cũng có những dân tộc bỏ qua một hay một số hình thái kinh tế - xã hội nào đó Tuy nhiên, việc bỏ qua đó cũng diễn ra theo một quá trình lịch sử - tự nhiên chứ không phải theo ý muốn chủ quan Như vậy, quá trình lịch sử - tự nhiên của sự phát triển xã hội chẳng những diễn ra bằng con đường phát triển tuần tự, mà còn bao hàm cả sự bỏ qua, trong những điều kiện nhất định, một hoặc một vài hình thái kinh tế - xã hội nhất định Rõ ràng việc “bỏ qua” một hình thái kinh tế - xã hội nào đó trong trật tự phát triển của một quốc gia là không thể tùy tiện, mà phải tuân theo quy luật khách quan

II, Vận dụng

1, Yếu tố con người:

Con người còn là sản phẩm của lịch sử xã hội và chính lao động là nhân tố giữ vai trò quyết định cho quá trình hình thành hình thái kinh tế - xã hội Không thể xuất phát từ ý thức, tư tưởng, từ ý chí chủ quan của con người để giải thích các hiện tượng đời sống mà phải từ phương thức sản xuất Trong đó con người giữ

vị trí trung tâm, là chủ thể của lịch sử, người lao động là nhân tố đóng vai trò quyết định sự phát triển của lực lượng sản xuất Không thể phủ nhận được ngày nay những thành tựu của khoa học - công nghệ hiện đại với sự ra đời của người máy đã thay thế không chỉ những công việc nặng nhọc, những hoạt động cơ bắp

mà còn có thể thay thế cho cả những hoạt động tinh vi, phức tạp của con người Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là khoa học - công nghệ hiện đại trở thành yếu tố quyết định sự phát triển của lực lượng sản xuất, từ đó người lao động trở thành yếu tố thứ yếu, đứng bên ngoài quá trình sản xuất Về thực chất, khoa học

- công nghệ là sản phẩm của quá trình nhận thức, sản phẩm của sự phát triển trí tuệ của con người Có thể nói, do yêu cầu của sản xuất mà con người đã sáng tạo và quyết định khuynh hướng, tốc độ phát triển của khoa học - công nghệ, đồng thời quyết định việc sử dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất theo mục đích của mình Thực tế cho thấy, kỹ thuật, công nghệ hiện đại với tư cách là phần vật chất trong các yếu tố cấu thành của lực lượng sản xuất dù năng động

Trang 10

9

và cách mạng đến mấy cũng chỉ là sản phẩm do bàn tay và khối óc của con người làm ra và chịu sự điều khiển, giám sát của con người Do đó, trí tuệ nhân tạo dù được mệnh danh là tiên tiến đến đâu cũng chỉ là sản phẩm của con người, hoạt động của nó phụ thuộc vào những chương trình mà con người đã lập ra, đã cài đặt vào máy tính điện tử và người máy công nghiệp Chính vì thế, khoa học

- công nghệ là của con người, gắn liền với con người, phụ thuộc vào con người

và phải thông qua hoạt động của con người mới có thể được vật hóa vào quá trình sản xuất Nếu không xuất phát từ con người, được tiến hành bởi con người

và không hướng về mục đích phục vụ con người, không có quá trình sản xuất nào có đủ lý do để tồn tại và phát triển Do vậy, trong bất cứ thời đại nào, kể cả thời đại của khoa học - công nghệ hiện đại, người lao động vẫn là nhân tố đóng vai trò quyết định sự phát triển của lực lượng sản xuất

2, Yếu tố khoa học xã hội

Trong các nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội, khoa học và công nghệ là một thành tố đóng vai trò rất quan trọng, xét về lý thuyết cũng như thực tiễn cho thấy khoa học - công nghệ luôn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua tác động đến tổng cung và tổng cầu Khoa học - công nghệ góp phần mở rộng khả năng phát hiện và khai thác có hiệu quả các nguồn lực, sản phẩm khoa học - công nghệ đóng góp trực tiếp vào GDP, đồng thời quyết định tăng trưởng trong dài hạn và chất lượng tăng trưởng, tạo điều kiện chuyển đổi từ chiều rộng sang chiều sâu Khoa học - công nghệ phát triển với sự ra đời hàng loạt công nghệ mới, hiện đại như: vật liệu mới, công nghệ nano, công nghệ sinh học, điện tử, viễn thông… làm tăng các yếu tố của sản xuất - kinh doanh, tăng thu nhập, điều

đó dẫn đến sự gia tăng chi tiêu cho tiêu dùng dân cư và tăng đầu tư cho cả nền kinh tế Khoa học - công nghệ phát triển làm tăng khả năng tiếp cận của con người với tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ qua các phương tiện thông tin và dịch vụ vận chuyển Do vậy, trong thời đại ngày nay, phần đóng góp vào tăng trưởng và phát triển kinh tế của nhiều nước từ khoa học - công nghệ là rất cao

3, Thực tiễn đổi mới người lao động ở Việt Nam hiện nay

Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, vấn đề lao động có vai trò quan trọng, mang tính cấp thiết, lâu dài đối với sự phát triển bền vững nền kinh tế Việt Nam là nước có quy mô dân số lớn, tháp dân số tương đối trẻ và bắt đầu bước vào thời kỳ “cơ cấu dân số vàng” với nguồn nhân lực dồi dào nhất từ trước đến nay Tính đến hết năm 2017, dân số nước ta đạt 96,02 triệu người, trong đó nữ

Ngày đăng: 01/04/2022, 05:54

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

ĐỀ TIỂU LUẬN:VẬN DỤNG HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ-XÃ HỘI VÀO THỰC TIỄN ĐỔI MỚI NGƯỜI KINH TẾ-XÃ HỘI VÀO THỰC TIỄN ĐỔI MỚI NGƯỜI  - ĐỀ TIỂU LUẬN:VẬN DỤNG HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ-XÃ HỘI VÀO THỰC TIỄN ĐỔI MỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
ĐỀ TIỂU LUẬN:VẬN DỤNG HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ-XÃ HỘI VÀO THỰC TIỄN ĐỔI MỚI NGƯỜI KINH TẾ-XÃ HỘI VÀO THỰC TIỄN ĐỔI MỚI NGƯỜI (Trang 1)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w