1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Đề tài: Phát hiện khuôn mặt trong ảnh pptx

37 643 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát hiện khuôn mặt trong ảnh pptx
Trường học Trường Đại Học Công Nghệ Thông Tin
Thể loại Đề tài
Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 1,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dựa vào tính chất của các phương pháp xác định mặt người trên ảnh, các phương phápnày được chia thành bốn loại chính, tương ứng với bốn hướng tiếp cận khác nhau.. • Hướng tiếp cận dựa tr

Trang 1

TÓM TẮT

Nhận diện mặt người là bài toán mới chỉ xuất hiện cách đây không lâu , chỉ khoảng vàithập niên , nhưng đã có rất nhiều nghiên cứu về nó Các nghiên cứu ban đầu rất đơn giản , ảnh làđen trắng và chỉ có một khuôn mặt chụp thẳng , sau này mở rộng ra cho ảnh màu , ảnh có nhiềukhuôn mặt với nhiều góc , môi trường xung quanh cũng đi từ đơn giản đến rất phức tạp …

Ngày nay các hệ thống nhận dạng mặt người đang được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực,đặc biệt là an ninh và bảo mật Nhận dạng mặt người tức là đưa ra những thông tin về đối tượngđược đưa vào từ một bức ảnh, hay từ camera quan sát Bước đầu tiên của một hệ thống nhậndạng mặt người là phát hiện khuôn mặt, tức xác định vị trí khuôn mặt trên bức ảnh, sau đấy táchkhuôn mặt ra khỏi ảnh để tiến hành nhận dạng Sau khi đã xem xét các hướng tiếp cận khácnhau, em chọn phương pháp PCA và phương pháp tiếp cận học máy bằng Adaboost và mô hìnhCascade of classifiers Điểm mạnh của Adaboost là tốc độ phát hiện khuôn mặt khá nhanh Kếtquả thử nghiệm cho thấy chương trình đạt độ chính xác khá cao với các ảnh mặt người đượcchụp trực diện bằng máy kĩ thuật số

Trang 2

CHƯƠNG 1- TỔNG QUAN VỀ CÁC PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH MẶT NGƯỜI

1 Giới thiệu về bài toán xác định mặt người trong ảnh

Trong nhiều năm qua, có rất nhiều công trình nghiên cứu về bài toán nhận dạng mặtngười Các nghiên cứu đi từ bài toán đơn giản, từ việc nhận dạng một mặt người trong ảnh đentrắng cho đến mở rộng cho ảnh mầu và có nhiều mặt người trong ảnh Đến nay các bài toán xácđịnh mặt người đã mở rộng với nhiều miền nghiên cứu như nhận dạng khuôn mặt, định vị khuônmặt, theo dõi mặt người hay nhận dạng cảm xúc mặt người… Phát hiện mặt người trong ảnh làphần đầu tiên của một hệ thống nhận dạng mặt người Các hệ thống nhận dạng khuôn mặt đượcbắt đầu xây dựng từ những năm 1970, tuy nhiên do còn hạn chế về các luật xác định mặt ngườinên chỉ được áp dụng trong một số ứng dụng như nhận dạng thẻ căn cước Nó chỉ được phát triểnmạnh mẽ từ những năm 1990 khi có những tiến bộ trong công nghệ video và ngày nay thì cácứng dụng của xác định mặt người đã trở nên phổ biến trong cuộc sống

2 Định nghĩa bài toán xác định mặt người

Xác định khuôn mặt người là một kỹ thuật máy tính để xác định các vị trí và kích thướccủa các khuôn mặt người trong các ảnh bất kì Kỹ thuật này nhận biết các đặc trưng của khuônmặt và bỏ qua những thứ khác như: tòa nhà, cây cối, cơ thể …

3 Những khó khăn và thách thức đối với bài toán xác định mặt người

Việc xác định khuôn mặt người có những khó khăn nhất định như:

• Hướng của khuôn mặt đối với máy ảnh, như: nhìn thẳng, nhìn nghiêng hay nhìn từ trên xuống.Cùng trong một ảnh có thể có nhiều khuôn mặt ở những tư thế khác nhau

• Sự có mặt của các chi tiết không phải là đặc trưng riêng của khuôn mặt người, như: râu quainón, mắt kính, …

• Các nét mặt khác nhau trên khuôn mặt, như: vui, buồn, ngạc nhiên, …

• Mặt người bị che khuất bởi các đối tượng khác có trong ảnh rất khác khi người đấy cười, tứcgiận hay sợ hãi …

4 Các ứng dụng của xác định mặt người

Xác định mặt người thường là một phần của một hệ thống (facial recognition system) Nóthường được dùng trong giám sát video, giao tiếp người máy và quản lý cơ sở dữ liệu ảnh… Cácứng cơ bản của xác định mặt người có thể kể đến là:

4.1 Xác minh tội phạm.

Dựa vào ảnh của một người, nhận dạng xem người đấy có phải là tội phạm hay khôngbằng cách so sách với các ảnh tội phạm đang được lưu trữ Hoặc có thể sử dụng camera để pháthiện tội phạm trong đám đông Ứng dụng này giúp cơ quan an ninh quản lý con người tốt hơn

Trang 3

4.4 Lưu trữ khuôn mặt

Xác định mặt người có thể được ứng dụng trong các trạm rút tiền tự động (ATM) để lưutrữ khuôn mặt của người rút tiền Hiện nay có những người bị người khác lấy trộm thẻ ATM và

mã PIN, và bị rút tiền trộm, hoặc có những chủ tài khoản đi rút tiền nhưng lại báo với ngân hàng

là bị mất thẻ và bị rút tiền trộm Nếu lưu trữ được khuôn mặt của người rút tiền, ngân hàng có thểđối chứng và xử lý dễ dàng hơn

• Kiểm tra trạng thái người lái xe có ngủ gật, mất tập trung hay không, và hỗ trợ thông báo khicần thiết

• Tương lai sẽ phát triển các loại thẻ thông minh có tích hợp sẵn đặc trưng của người dùng trên

đó, khi bất cứ người dùng khác dùng để truy cập hay xử lý tại các hệ thống sẽ được yêu cầu kiểmtra các đặc trưng khuôn mặt so với thẻ để biết nay có phải là chủ thẻ hay không người

• Hãng máy chụp hình Canon đã ứng dụng bài toán xác định khuôn mặt người vào máy chụphình thế hệ mới để cho kết quả hình ảnh đẹp hơn, nhất là khuôn mặt người

5 Xác định phạm vi đề tài

Trong đề tài này, tôi tập trung vào việc xác định khuôn mặt trong ảnh Từ đấy lưu khuônmặt tìm được vào CSDL để phục vụ cho các mục đích khác ( chẳng hạn như nhận dạng mặtngười hoặc ghép khuôn mặt vào bức ảnh khác … ) Do các điều kiện khó khăn đã nêu ở trên( mục 3 chương 1) tôi xin đưa ra những giả định và rành buộc sau để giảm độ phức tạp của bàitoán:

• Các khuôn mặt được chụp thẳng hoặc góc nghiêng không đáng kể (bé hơn 10o)

• Phông nền của ảnh không quá phức tạp

• Ảnh được chụp trong điều kiện ánh sáng bình thường

• Đối với video hoặc webcam, do có thể tách thành các xử lý trên ảnh nên với những video phứctạp hay webcam quá kém, chương trình sẽ không thực hiện được tốt nhất có thể

Trang 4

CHƯƠNG 2- CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

1 Các phương pháp chính để xác định mặt người

Dựa vào tính chất của các phương pháp xác định mặt người trên ảnh, các phương phápnày được chia thành bốn loại chính, tương ứng với bốn hướng tiếp cận khác nhau Ngoài ra cũng

có rất nhiều nghiên cứu mà phương pháp xác định mặt người không chỉ dựa vào một hướng mà

có liên quan đến nhiều hướng

• Hướng tiếp cận dựa trên tri thức: Dựa vào các thuật toán, mã hóa các đặc trưng và quan hệ giữacác đặc trưng của khuôn mặt thành các luật Đây là hướng tiếp cận theo kiểu top-down

• Hướng tiếp cận dựa trên đặc trưng không thay đổi: Xây dựng các thuật toán để tìm các đặctrưng của khuôn mặt mà các đặc trưng này không thay đổi khi tư thế khuôn mặt hay vị trí đặtcamera thay đổi Hướng tiếp cận này là hướng tiếp cận theo kiểu bottom-up

• Hướng tiếp cận dựa trên so sánh khớp mẫu: Dùng các mẫu chuẩn của khuôn mặt (các mẫu nàyđược định nghĩa bằng tay trước hoặc được tham số hóa bằng mộ hàm số) để mô tả các khuôn mặthay các đặc trưng của khuôn mặt Mẫu này được sử dụng để phát hiện khuôn mặt bằng cách quét

nó qua ảnh và tính toán giá trị tương đồng cho mỗi vị trí Việc xuất hiện một khuôn mặt tại một

vị trí nào đó trong ảnh phụ thuộc vào giá trị tương đồng của điểm đó so với mẫu chuẩn

• Hướng tiếp cận dựa trên diện mạo: Trái ngược với hướng tiếp cận dựa trên khuôn mẫu, các môhình (hay các mẫu) sẽ được học từ một tập ảnh huấn luyện mà thể hiện tính chất tiêu biểu của sựxuất hiện của mặt người trong ảnh Sau đó hệ thống (mô hình) sẽ xác định mặt người Phươngpháp này còn được biết đến với tên gọi tiếp cận theo các phương pháp học máy

1.1 Hướng tiếp cận dựa trên tri thức

1.1.1 Tư tưởng

Trong hướng tiếp cận này, các phương pháp xác định mặt người được xây dựng dựa vàocác luật, các luật này phụ thuộc vào tri thức của các tác giả nghiên cứu về bài toán xác địnhkhuôn mặt Dễ dàng xây dựng các luật cơ bản để mô tả các đặc trưng của khuôn mặt và các quan

hệ tương ứng Ví dụ, một khuôn mặt thường có hai mắt đối xứng qua trục thẳng đứng giữa khuônmặt và có một mũi một miệng Các quan hệ đặc trưng có thể là quan hệ về vị trí và khoảng cáchtương đối Khó khăn của hướng tiếp cận này đó là làm thế nào để chuyển các tri thức của conngười về khuôn mặt sang các luật cho máy tính một cách hiệu quả Nếu các luật này quá chi tiết,chặt chẽ thì sẽ có thể xác định thiếu các khuôn mặt có trong ảnh, nhưng nếu các luật quá tổngquát thì sẽ dẫn đến xác định sai khu vực không phải là khuôn mặt thành khuôn mặt Ngoài racũng khó để mở rộng phạm vi của bải toán để xác định các khuôn mặt có nhiều tư thế khác nhau

1.1.2 Các nghiên cứu

Có nhiều cách để xây dựng chương trình xác định mặt người theo hướng tiếp cận dựatrên tri thức Thông thường chương trình sẽ được xây dựng theo hướng dựa vào một phươngpháp nào đấy chọn ra các ứng viên trong bức ảnh trước, sau đó sẽ áp dụng các luật để xác địnhứng viên nào là khuôn mặt, ứng viên nào không phải là khuôn mặt Quá trình này có thể được ápdụng nhiều lần để giảm sai sót

Trang 5

Hình 1: Một phương pháp xác định khuôn mặt điển theo hướng tiếp cận top-down.

Trên hình 1, Các luật được xây dựng dựa vào tri thức của người nghiên cứu về các đặctrưng của khuôn mặt (ví dụ như cường độ phân phôi và sự khác nhau ) của các vùng trên khuônmặt

Yang và Huang đã sử dụng hướng tiếp cận dựa trên tri thức để xác định khuôn mặt [7]

Hệ thống của hai tác giả bao gồm ba mức luật Đầu tiên các ông sử dụng một khung cửa sổ đểquét trên bức ảnh và thông qua một số tập luật để xác định các ứng viên có thể là mặt người, ví

dụ như tìm phần trung tâm của khuôn mặt (phần tối hơn trong hình 1) Tiếp theo, dùng một tậpluật để mô tả tổng quát hình dáng khuôn mặt, lọc các ứng viên ở mức một thành một tập các ứngviên mới có xác xuất là khuôn mặt cao hơn Cuối cùng, các ông lại dùng một tập luật khác đểxem xét ở mức chi tiết các đặc trưng khuôn mặt ( có thể là đặc trưng về mắt, mũi, miệng … ), từ

đó lọc ra các ứng viên chính xác nhất Có thể nói cách làm của hai ông là một cách làm mịn dần

để đạt được kết quả tốt nhất, mặc dù tỷ lệ chính xác chưa cao, nhưng đây là tiền đề cho nhiềunghiên cứu sau này

Có rất nhiều công trình nghiên cứu sử dụng phương pháp chiếu để xác định khuôn mặt.Kotropoulos và Pitas đưa ra một phương pháp gần tương tự với Yang và Huang Đầu tiên, cácvùng của khuôn mặt được định vị bởi phương pháp chiếu (đã được Kanade sử dụng thành công)

để xác định biên của khuôn mặt Với I(x,y) là giá trị xám của một điểm trong ảnh có kích thước

m x n ở tại vị trí (x,y), các hàm để chiếu ảnh theo phương ngang và thẳng đứng được định nghĩanhư sau:

Dựa trên biểu đồ hình chiếu ngang, khi xét biểu đồ biến thiên của HI hai ông tìm đượchai cực tiểu địa phương tương ứng với hai đỉnh đầu bên trái và bên phải của khuôn mặt Còn theohình chiếu dọc, xét biến thiên và tìm cực tiểu địa phương của VI cũng cho ta các vị trí củamiệng, đỉnh mũi và hai mắt Các đặc trưng này đủ để xác định khuôn mặt Hình 2.a cho một ví dụ

về cách xác định như trên Cách xác định này có tỷ lệ xác định chính xác là 86.5% cho trườnghợp chỉ có một khuôn mặt trực diện và hình nền không phức tạp Nếu hình nền phức tạp nhưhình 2.b thì rất khó tìm Còn nếu ảnh có nhiều khuôn mặt (hình 2.c) thì sẽ không xác định được

Trang 6

Hình 2: Phương pháp chiếu(a) Ảnh chỉ có một khuôn mặt và hình nền đơn giản;

(b) Ảnh chỉ có một khuôn mặt và hình nền phức tạp;

(c) Ảnh có nhiều khuôn mặt

1.2 Hướng tiếp cận dựa trên đặc trưng không thay đổi.

Tiếp cận dựa trên các đặc trưng không thay đổi là tiếp cận theo kiểu bottom up Dựa trênthực tế, chúng ta cố gắng tìm ra những đặc điểm không thay đổi khi của khuôn mặt khi ở các tưthế khác nhau và các điều kiện môi trường như ánh sáng khác nhau Đã có rất nhiều nghiên cứu

về hướng tiếp cận này, các đặc điểm không thay đổi được tìm thấy như lông mày, mắt, mũi,miệng hay các đường viền trên tóc … Trên cơ sở các đặc trưng này, các nhà nghiên cứu xâydựng lên một mô hình thống kê mô tả quan hệ của các đặc trưng và từ đó xác định sự xuất hiệncủa khuôn mặt trong bức ảnh Khó khăn của hướng tiếp cận này đó là phải mô tả các đặc trưngkhông thay đổi và quan hệ giữa chúng phù hợp với điều kiện ánh sáng, độ nhiễu hay bị chekhuất

1.2.1 Các đặc trưng của khuôn mặt

Có rất nhiều nghiên cứu về các đặc trưng của khuôn mặt Có thể dựa vào các đặc trưngnhư hai mắt, hai lỗ mũi, miệng, phần nối giữa mũi và miệng … hoặc dựa vào đường viền củakhuôn mặt

Leung đã đưa ra một mô hình xác xuất để xác định khuôn mặt trong ảnh có hình nềnphức tạp dựa trên việc tìm kiếm các đặc trưng không thay đổi của khuôn mặt trong ảnh,sau đódùng đồ thị ngẫu nhiên để xác định khuôn mặt Tư tưởng của phương pháp này đó là xem bàitoán xác định khuôn mặt như là bài toán tìm kiếm với mục tiêu là tìm thứ tự các đặc trưng khôngthay đổi của khuôn mặt Dùng năm đặc trưng (hai mắt, hai lỗ mũi, phần nối giữa mũi và miệng)

để mô tả một khuôn mặt Đồng thời tính quan hệ khoảng cách cho tất cả các cặp đặc trưng (nhưmắt trái, mắt phải), sau đấy dùng phân bố Gauss để mô hình hóa Một mẫu khuôn mặt được đưa

ra thông qua trung bình tương ứng cho một tập đa hướng, đa tỷ lệ của bộ lọc đạo hàm Gauss Từmột ảnh, các đặc trưng của ứng viên được xác định bằng cách so khớp từng điểm ảnh khi lọctương ứng với vector mẫu Hai ứng viên có đặc trưng đứng đầu sẽ được chọn để tìm kiếm chocác đặc trưng khác của khuôn mặt Từ các đặc trưng không thay đổi, các đặc trưng khác sẽ đượcxác định thông qua sự đánh giá xác xuất khoảng cách giữa các đặc trưng, hơn nữa phương saicủa phép thống kê này có thể được tính toán trước để xác định các đặc trưng với xác xuất lớn Tỷ

Trang 7

lệ chính xác của phương pháp này là 86%.

Bên cạnh tính khoảng cách liên quan để mô tả quan hệ giữa các đặc trưng như Leung.Kendall [4], Mardia and Dryden [12] dùng lý thuyết xác suất thống kê về hình dáng Dùng hàmmật độ xác suất (Probility Density Function - PDF) qua N điểm đặc trưng, tương ứng (xi, yi) làđặc trưng thứ i với giả sử là phân bố Gauss có 2N-chiều Các tác giả áp dụng phương thức cựcđại khả năng (Maximum-Likelihood - ML) để xác địnhvị trí khuôn mặt Một thuận lợi củaphương pháp này là các khuôn mặt bị che khuất vẫncó thể xác định được Hạn chế phương phápnày đó là không xác định được nhiều khuôn mặt trong cùng một ảnh

Không dùng phương pháp xác xuất, Sirohey đưa một phương pháp khác xác định khuônmặt từ một ảnh có hình nền phức tạp [10], gọi là phương pháp dựa trên cạnh Ông dùng phươngpháp Candy [9] và heuristics loại bỏ các cạnh để còn lại duy nhất một đường bao xung quanhkhuôn mặt Dùng một hình ellipse để bao khuôn mặt, tách biệt vùng đầu và hình nền Tỷ lệ chínhxác của thuật toán là 80%

Graf đưa ra một phương pháp khác để xác định đặc trưng, từ đó xác định khuôn mặttrong ảnh xám [8] Dùng bộ lọc để làm nổi các biên, các phép toán hình thái học (morphology)được dùng để làm nổi bật các vùng có cường độ cao và hình dáng chắc chắn (như mắt) Thôngqua histogram để tìm các đỉnh nổi bật để xác định các ngưỡng chuyển ảnh xám thành hai ảnh nhịphân Tiếp theo, ông xác định các ứng viên khuôn mặt nhờ vào các thành phần đều xuất hiệntrong cả hai ảnh nhỉ phân, sau đó phân loại xem các ứng viên có phải là khuôn mặt không.Phương pháp được kiểm tra và cho kết quả tốt trên các ảnh chỉ có đầu và vai của người Tuynhiên phương pháp này còn một vấn đề đấy là sử dụng các phép toán morphology như thế nào vàlàm sao xác định khuôn mặt trên các vùng ứng viên

Park dùng Gaze để tìm ứng viên góc mắt, miệng và tâm mắt Ông xây dựng SVM(Support Vector Machine) đã được học trước đó để xác định các vị trí ứng viên có phải là gócmắt, miệng, và tâm mắt hay không để theo vết con mắt người

Juan và Narciso xây dựng một không gian màu mới YCg’Cr’ để lọc các vùng là ứng viênkhuôn mặt dựa trên sắc thái của màu da người Sau khi có ứng viên, hai ông dùng các quan hệ vềhình dáng khuôn mặt, mức độ cân đối của các thành phần khuôn mặt để xác định khuôn mặtngười Tương tự, Chang và Hwang cũng dùng không gian mầu Ycg’Cr’ với tỷ lệ chính xác hơn80% trong ảnh xám Jin xây dựng một bộ lọc để xác định ứng viên khuôn mặt người theo màu dangười

Từ ứng viên này tác giả xác định khuôn mặt người theo hình dáng khuôn mặt và các quan hệ đặctrưng về thành phần khuôn mặt, với mắt phải được chọn làm gốc tọa độ để xét quan hệ Tỷ lệchính xác cho khuôn mặt chụp thẳng trên 80%

1.2.2 Kết cấu của khuôn mặt

Khuôn mặt con người có những kết cấu riêng biệt mà có thể dùng để phân loại so với cácđối tượng khác Từ kết cấu của khuôn mặt xây dựng lên một bộ phân loại, gọi là kết cấu giốngkhuôn mặt (face-like texture)

Trang 8

mặt thông qua dùng các đặc trưng cục bộ (chi tiết) như: mắt, lông mày, mũi, miệng, và tóc Tùymỗi tác giả sẽ sử dụng tập đặc trưng khác nhau.

1.3 Hướng tiếp cận dựa trên so sánh khớp mẫu.

1.3.1 Tư tưởng của so sánh khớp mẫu

Trong hướng tiếp cận dựa trên so sánh khớp mẫu, các mẫu chuẩn của khuôn mặt (thường

là khuôn mặt được chụp thẳng) sẽ được xác định trước hoặc được biểu diễn thành một hàm vớicác tham số cụ thể Từ ảnh đầu vào, ta tính các giá trị tương quan so với các mẫu chuẩn vềđường viền khuôn mặt, mắt, mũi và miệng Thông qua các giá trị tương quan này mà hệ thống sẽquyết định có hay không có tồn tại khuôn mặt trong ảnh Hướng tiếp cận này có lợi thế là rất dễcài đặt, nhưng không hiệu quả khi tỷ lệ, tư thế, và hình dáng thay đổi

1.3.2 Xác định các mẫu

Sakai đã cố gắng thử xác định khuôn mặt người chụp thẳng trong ảnh [20] Ông dùng vàimẫu con (sub template) về mắt, mũi, miệng, và đường viền khuôn mặt để mô hình hóa mộtkhuôn mặt Mỗi mẫu con được định nghĩa trong giới hạn của các đoạn thẳng Các đoạn thằngtrong ảnh được trích bằng cách xem xét thay đổi của hệ số góc và so khớp các mẫu con Đầu tiêntìm các ứng viên thông qua mối tương quan giữa các ảnh con và các mẫu về đường viền Sau đó,

so khớp với các mẫu con khác Hay nói một cách khác, giai đoạn đầu xem như là giai đoạn sơchế để tìm ứng viên, giai đọan thứ hai là giai đoạn tinh chế để xác định ứng viên có phải làkhuôn mặt hay không Ý tưởng này được duy trì cho đến các nghiên cứu sau này Craw đưa ramột phương pháp xác định khuôn mặt người dựa vào các mẫu về hình dáng của các ảnh đượcchụp thẳng (dùng vẻ bề ngoài của hình dáng khuôn mặt) Đầu tiên dùng phép lọc Sobel (Phép lọcSobel dựa vào tích vô hướng của hai vector gradient) để tìm các cạnh Các cạnh này sẽ đượcnhóm lại theo một số ràng buộc Sau đó, tìm đường viền của đầu, quá trình tương tự được lặp đilặp lại với mỗi tỷ lệ khác nhau để xác định các đặc trưng khác như: mắt, lông mày, và môi Sau

đó Craw mô tả một phương thức xác định dùng một tập có 40 mẫu để tìm các đặc trưng khuônmặt và điều khiển chiến lược dò tìm

Một số nhà nghiên cứu sử dụng hình chiếu như các mẫu để xác định khuôn mặt người.Silhouettes dùng PCA (phân tích thành phần chính – Principal Component Analysis - PCA) để

có một tập hình chiếu cơ bản từ các mẫu khuôn mặt, hình chiếu được mô tả như một mảng cácbit Sau đấy dùng đặc trưng hình chiếu kết hợp biến đổi Hough để xác định khuôn mặt người.Phương pháp này định nghĩa một số giả thuyết để mô tả các khả năng của các đặc trưng khuônmặt Với một khuôn mặt sẽ có một tập giả thuyết, gọi là lý thuyết DepsterShafer Dùng một nhân

tố tin cậy để kiểm tra sự tồn tại hay không của các đặc trưng của khuôn mặt, và kết hợp nhân tốtin cậy này với một độ đo để xem xét có hay không có khuôn mặt trong ảnh Sinha dùng một tậpnhỏ các ảnh bất biến trong không gian ảnh để mô tả không gian các mẫu ảnh [15, 16] Tư tưởngchính của ông dựa vào sự thay đổi mức độ sáng của các vùng khác nhau của khuôn mặt (như haimắt, hai má, và trán), (quan hệ về mức độ sáng của các vùng còn lại thay đổi không đáng kể).Sau đấy xác định các cặp tỷ số của mức độ sáng của một số vùng (một vùng tối hơn hay sánghơn) cho ta một lượng bất biến khá hiệu quả Ông lưu sự thay đổi độ sáng của các vùng trênkhuôn mặt trong một tập thích hợp với các cặp quan hệ sáng hơn – tối hơn giữa các vùng nhỏ.Một khuôn mặt được xác định nếu nó thỏa mãn tất cả các cặp sáng hơn – tối hơn Ý tưởng nàyxuất phát từ sự khác biệt của cường độ giữa các vùng kề cục bộ trên ảnh, sau này nó được mởrộng trên cơ sở biến đổi wavelet để xác định người đi bộ, xác định xe hơi, xác định khuôn mặt Ýtưởng của Sinha còn được áp dụng trong các nghiên cứu về thị giác của robot Hình 3 cho thấymẫu khuôn mặt với 16 cùng và 23 quan hệ Các quan hệ này được dùng để phân loại, có 11 quan

hệ thiết yếu (các mũi tên màu đen) và 12 quan hệ xác thực (các mũi tên mầu xám) Mỗi mũi tên

Trang 9

là một quan hệ Một quan hệ của hai vùng thỏa mãn mẫu khuôn mặt khi tỷ lệ giữa hai vùng vượtqua một ngưỡng và một khuôn mặt được xác đinh khi có 23 quan hệ thỏa mãn điều kiện trên

Hình 3: Một mẫu khuôn mặtMẫu khuôn mặt có kích thước 14 x 16 pixel được sử dụng trong phương pháp định vịkhuôn mặt của Sinha Mẫu gồm 16 vùng trên khuôn mặt và 23 quan hệ ( các mũi tên)

Một số phương pháp khác như của Froba và Zink lọc cạnh ở độ phân giải thấp rồi dùngbiến đổi Hough để so khớp mẫu theo hướng cạnh để xác định hình dáng khuôn mặt ở dạng chụphình thẳng ở dạng xám Tỷ lệ chính xác trên 91% Ngoài ra Shu và Jain còn xây dựng ngữ nghĩakhuôn mặt Ngữ nghĩa xây dựng theo hình dáng và vị trí các thành phần khuôn mặt Hai ông từ

bộ ngữ nghĩa này tạo một đồ thị quan hệ để dễ dàng so khớp khi xác định khuôn mặt người …1.3.3 Các mẫu biến dạng

Yuille dùng các mẫu biến dạng để mô hình hóa các đặc trưng của khuôn mặt [3]

Trong hướng tiếp cận này, các đặc trưng khuôn mặt được mô tả bằng các mẫu được tham số hóa

và có một hàm năng lượng (giá trị) được để liên kết các cạnh, đỉnh, và thung lũng trong ảnh đểtương ứng với các tham số trong mẫu Mô hình này tốt nhất khi tối thiểu hàm năng lượng quacác tham số, Mặc dù có kết quả tốt nhưng phương pháp này có một số hạn chế đó là các mẫubiến dạng phải được khởi tạo trong phạm vi gần với các đối tượng mà nó xác định Rất nhiềuhướng tiếp cận dựa trên dường gấp khúc (snake) và các mẫu để xác định khuôn mặt Đầu tiênảnh sẽ được làm xoắn lại bởi một lọc làm mờ rồi dùng phép toán morphology để làm nổi bậtcạnh lên Tiếp theo dùng một đường gấp khúc có n điểm ảnh (giá trị n nhỏ) để tìm và ước lượngcác đọan cong nhỏ Mỗi khuôn mặt được xấp xỉ bằng một ellipse và biến đổi Hough, rồi tìm mộtellipse nổi trội nhất Các ứng viên sẽ có bốn tham số mô tả nột ellipse (để xác định khuôn mặt).Với mỗi ứng viên, một phương thức tương tự như phương thức mẫu biến dạng được dùng để xácđịnh các đặc trưng ở mức chi tiết Nếu tìm thấy số lượng đáng kể các đặc trưng khuôn mặt vàthỏa mãn tỷ lệ cân đối thì xem như đã xác định được một khuôn mặt Lam và Yan cũng dùngđường gấp khúc để xác định vị trí đầu với thuất toán greedy để cực tiểu hóa hàm năng lượng[11]

Thay vì dùng đường gấp khúc thì Huang và Su [6] dùng lý thuyết dòng chảy để xác định

Trang 10

đường viền khuôn mặt dựa trên đặc tính hình học Hai ông dùng lý thuyết tập hợp đồng mức(Level Set) để loang từ các khởi động ban đầu để có được các khuôn mặt người.

Lanitis mô tả một phương pháp biểu diễn khuôn mặt người với cả hai thông tin: hìnhdáng và cường độ [12] Bắt đầu bằng các tập ảnh được huấn luyện với các đường viền mẫu như

là đường bao mắt, mũi, cằm/má đã được gán nhãn(phân loại) Ông dùng một vector các điểmmẫu để mô tả hình dáng Sau đó dùng một mô hình phân bố điểm (Point Distribution Model –PDM) để mô tả vector hình dáng qua toàn bộ các cá thể Dùng cách tiếp cận như của Kirby vàSirovich [14] để mô tả cường độ bề ngoài của hình dáng đã được chuẩn hóa Để tìm kiếm và ướclượng vị trí khuôn mặt cũng như các tham số về hình dáng ông sử dụng một mô hình PDM cóhình dáng như khuôn mặt (xác định khuôn mặt bằng mô hình hình dáng tích cực - Active ShapeModel - ASM) Các mảnh của khuôn mặt được làm biến dạng về hình dáng trung bình rồi tríchlấy các tham số cường độ Sau đấy các tham số hình dáng và cường độ được dùng để phân loại

và xác định khuôn mặt

1.4 Hướng tiếp cận dựa trên diện mạo.

1.4.1 Tư tưởng của hướng tiếp cận dựa trên diện mạo

Trái ngược với hướng tiếp cận dựa trên so sánh khớp mẫu (các mẫu đã được các nhà nghiên cứuđịnh nghĩa trước), các mẫu trong hướng tiếp cận này được học từ một tập ảnh mẫu Có thể nóihướng tiếp cận dựa trên diện mạo áp dụng các kỹ thuật theo hướng xác suất thống kê và học máy

để tìm những đặc tính liên quan của khuôn mặt và không phải là hiệu quả xác định

Trong hướng tiếp cận này, phương pháp xác xuất tiếp tục được nhiều nhà nghiên cứu sửdụng Một bức ảnh hoặc một vector (đặc trưng cho bức ảnh) được xem như một biến ngẫu nhiên.Biến ngẫu nhiên này sẽ được xác định là có mô tả các đặc tính của khuôn mặt hay không thôngqua các xác xuất có điều kiện p(x/face) và p(x/nonface) Có thể dùng bộ phân loại Bayesian đểphân loại các ứng viên là khuôn mặt hay không phải khuôn mặt Tuy nhiên, việc cài đặt bộ phânloại Bayesian với số chiều x lớn là một điều khá khó khăn, do đó có rất nhiều nghiên cứu theohướng tiếp cận này quan tâm tới việc tham số hóa hay không tham số các xác xuất p(x/face) vàp(x/nonface)

Một các tiếp cận khác trong hướng tiếp cận dựa trên diện mạo là tìm một hàm biệt số ví

dụ như các hàm mô tả mặt phẳng hay siêu phẳng quyết định (các ranh giới) để phân biệt hai lớpkhuôn mặt và không phải khuôn mặt Thông thường, một bức ảnh được chiếu vào không gian có

số chiều ít hơn rồi sau đó dùng một hàm biệt số (dựa trên các độ đo khoảng cách) để phân loạihoặc xây dựng một mặt quyết định phi tuyến bằng mạng neural đa tầng Ngoài ra có thể dùngSVM (Super Vector Machine) và các phương thức kernel chiếu các mẫu vào không gian có sốchiều cao hơn để dữ liệu bị rời rạc hoàn toàn và từ đó có thể sử dụng mặt phẳng phân loại đểphân loại các mẫu là khuôn mặt hay không phải là khuôn mặt[5]

1.4.2 Một số phương pháp cụ thể trong hướng tiếp cận dựa trên diện mạo

Có rất nhiều phương pháp học máy được sử dụng trong hướng tiếp cận dựa trên diệnmạo Trong phần này chỉ nêu ra một số phương pháp cùng những nghiên cứu liên quan đếnphương pháp đấy Riêng phương pháp adaboost sẽ được trình bầy trong phần sau của báo cáo

a Adaboost

Adaboost được đánh giá là phương phát tiếp cận nhanh nhất trong các thuật toán họcmáy Nó thường được kết hợp với các mô hình cascade of classifiers để tăng tốc độ phát hiệnkhuôn mặt trong ảnh Tư tưởng của thuật toán adaboost đấy là kết hợp các bộ phân loại yếuthành một bộ phân loại mạnh Trong quá trình xây dựng, bộ phân loại yếu tiếp theo sẽ được xâydựng dựa trên các đánh giá về các bộ phân loại yếu trước, cuối cùng các bộ phân loại yếu sẽđược kết hợp để trở thành bộ phân loại mạnh

Trang 11

Viola và Jones dùng AdaBoost kết hợp cascade để xác định khuôn mặt người [17] vớicác đặc trưng dạng Haar-like Tốc độ xử lý khá nhanh và tỷ lệ chính xác hơn 80% Ngoài raSchneiderman và Kanade dùng wavelet để trích đặc trưng, sau đấy cũng xây dựng hệ thống họcvới Adaboost, dựa trên xác suất để xác định khuôn mặt người Tỷ lệ chính xác trên của phươngpháp này lên đến 90%.

b Mạng Neural

Về cơ bản mạng neural là một mạng các phần tử (gọi là neuron) kết nối với nhau thôngqua các liên kết (các liên kết này được gọi là trọng số liên kết) để thực hiện một công việc cụ thểnào đó Khả năng xử lý của mạng neuron được hình thành thông qua quá trình hiệu chỉnh trọng

số liên kết giữa các neuron, nói cách khác là học từ tập hợp các mẫu huấn luyện

Mạng neural rất hay được sử dụng trong các bài toán nhận dạng mẫu, nhận dạng mặt người cũng

có thể xem là một bài toán nhận dạng với hai loại mẫu (mặt người hoặc không phải mặt người)

và như vậy có thể sử dụng mạng neural khá hiệu quả kể cả khi các mẫu khuôn mặt có độ phứctạp cao Tuy nhiên, một điều trở ngại đó là các kiến trúc mạng đều có tính tổng quát cao, do đó,khi áp dụng ta phải tính toán rõ số lượng tầng, số lượng node, tỷ lệ học … cho từng trường hợp

cụ thể

c Support Vector Machine

Support Vector Machine (SVM) được Vladimir Vapnik đưa ra vào năm 1995 để giảiquyết vấn đề nhận dạng mẫu hai lớp sử dụng nguyên tắc cực tiểu hóa rủi ro cấu trúc (StructuralRisk Minimization) Đây là phương pháp tiếp cận phân loại văn bản rất hiệu quả Ưu điểm củaSVM là giải thuật này được xây dựng trên ý tưởng cực tiểu rủi ro cấu trúc Nguồn gốc của SVMdựa trên sự chắc chắn về lỗi chính xác, có thể phân loại ngẫu nhiên các mẫu đối tượng được chọn

mà lỗi được giữ sao cho nhỏ nhất Vì vậy, giải thuật SVM giúp giảm thiểu biên trên các lỗi chínhxác và làm cho hệ thống tin cậy hơn

Cho trước một tập huấn luyện, các ảnh được biểu diễn dưới dạng vector Trong không gianvector, mỗi vertor được biểu diễn bởi một điểm Phương pháp SVM sẽ tim một siêu phẳng quyếtđịnh để phân chia không gian vector thành hai lớp (khuôn mặt và B chỉ có 3 việc mà anh ta thíchlàm đó là: việc thứ nhất là đi dạo, thứ hai là đi chợ và thứ ba là dọn phòng Và việc anh ta làmviệc gì trong ngày phụ thuộc rất lớn vào thời tiết của ngày hôm đấy Như vậy, dù không nhậnđược thông tin cụ thể về thời tiết trong ngày ở nơi người B ở, nhưng người A vẫn có thể dựa vàoviệc B làm trong ngày để đoán về thời tiết hôm đấy Như vậy nếu coi thời tiết chỉ có hai trạngthái là nắng và mưa thì thời tiết là một chuỗi Markov cụ thể, và nó là ẩn đối với người A Dữ liệuquan sát được ở đây là việc làm trong ngày của người B Toàn bộ hệ thống này là một mô hìnhMackov ẩn

Một giả thuyết quan trọng của mô hình Markov ẩn là các mẫu có thể được xem nhưcác tiến trình ngẫu nhiên có tham số và các tham số này được ước lượng chính xác Khi pháttriển HMM để giải quyết bài toán nhận dạng mẫu, phải xác định rõ có bao nhiêu trạng thái ẩnđầu tiên cho hình thái mô hình Sau đó, huấn luyện HMM học xác suất chuyển tiếp giữa cáctrạng thái từ các mẫu, mà mỗi mẫu được mô tả như một chuỗi các quan sát Mục tiêu huấn luyệnHMM là cực đại hóa xác suất của quan sát từ dữ liệu huấn luyện bằng cách điều chỉnh các tham

số trong mô hình HMM thông qua phương pháp phân đoạn Viterbi chuẩn và các thuật toánBaum-Welch Sau khi huấn luyện xong, dựa vào xác suất để xác định một quan sát thuôc lớpnào

Trang 12

Đối với bài toán phát hiện và nhận dạng mặt người, ta chia khuôn mặt thành các vùngkhác nhau như đầu, mắt, mũi, miệng, và cằm Có thể nhận dạng một mẫu khuôn mặt người bằngcách thực hiện tiến trình xem xét các vùng quan sát theo một thứ tự thích hợp (từ trên xuốngdưới, từ trái qua phải) Mục tiêu của hướng tiếp cận này là kết hợp các vùng đặc trưng khuôn mặtvới các trạng thái của mô hình

Trang 13

Thường các phương pháp dựa vào HMM sẽ xem xét một mẫu khuơn mặt như một chuỗicác vector quan sát, với mỗi vector là một dãy các điểm ảnh (hình 4 và hình 6) Trong quá trìnhhuấn luyện và kiểm tra, một ảnh được quét theo một thứ tự và một quan sát được xem như mộtkhối các điểm ảnh (hình 4 và hình 6) Sau đấy, áp dụng một định hướng theo xác suất để chuyển

từ trạng thái này sang trạng thái khác ( hình 5 ), dữ liệu ảnh được mơ hình hĩa bằng phân bốGauss đa biến Một chuỗi quan sát bao gồm tất cả giá trị cường độ từ mỗi khối Kết quả xuất racho biết quan sát thuộc lớp nào

Một nghiên cứu điển hình trong các tiếp cận này đĩ là của Samaria Samaria đã dùng nămtrạng thái tương ứng năm vùng như trong hình 6 để mơ hình hĩa tiến trình xác định khuơn mặtngười Ơng huấn luyện từng vùng cho HMM Mỗi trạng thái sẽ phụ trách xem xét một vùngtương ứng để đưa ra quyết định phù hợp Nếu kết quả xem xét cuối cùng vượt qua một ngưỡngthì quan sát này sẽ là khuơn mặt người

d Phân loại Bayes

Bayes là một bộ phân loại tuyến tính dựa trên xác xuất Tư tưởng của nĩ là dựa vào xácxuất của các đặc trưng xuất hiện trong khuơn mặt Đây là phương pháp đơn giản, cài đặt khơngphức tạp, tốc độ nhanh, với tập huấn luyện lớn thì cho kết quả vẫn tương đối chính xác Mộtnghiên cứu điển hình dùng phân loại Bayes vào xác định mặt người trong hướng tiếp cận dựatrên diện mạo đĩ là nghiên cứu của Schneiderman và Kanade Hai ơng đã mơ tả một phân loạiNạve Bayes để ước lượng xác xuất chung của diện mạo cục bộ và vị trí của các mẫu (các vùngtrên khuơn mặt) ở nhiều độ phân giải khác nhau Ứng với mỗi độ phân giải, khuơn mặt ngườiđược chia thành bốn vùng chữ nhật, các vùng này được chiếu xuống khơng gian cĩ số chiều béhơn và được lượng tử hĩa thành tập các mẫu cĩ giới hạn Sau đấy thống kê các vùng đã đượcchiếu để mã hĩa diện mạo cục bộ Nếu xác xuất lớn hơn xác xuất đạt được lớn hơn xác xuất tiềnnghiện thì kết luận cĩ khuơn mặt người Hướng tiếp cận này cịn cho phép xác định các khuơnmặt bị xoay hoặc gĩc nhìn nghiêng

Trang 14

CHƯƠNG 3- NHẬN DẠNG DỰA TRÊN PCA1.Thuật toán

Khuôn mặt con người có rất nhiều nét để nhận biết , nếu như ta gặp lại một người bạn saumột thời gian dài , ta có thể nhận ra ngay người đó dù những chi tiết cụ thể trên mặt có thể thayđổi như da , mái tóc Ta nhận ra không phải vì nhớ đôi mắt , hay mũi hay môi hay tóc , lông màyngười đó mà ta nhận ra vì nhớ diện mạo của người đó Tức là trên khuôn mặt tồn tại một néttổng thể nào đó để có thể nhận diện , thuật toán của ta bắt đầu từ ý tưởng này

Phân tích thành phần chính (Principal Component Analysis ) gọi tắt là PCA là thuật toán nhận

dạng ảnh dựa trên những nét tổng thể của khuôn mặt , ta sẽ áp dụng thuật toán này để thực hiệnhai công việc sau :

- Thứ nhất là tìm một khuôn mặt giống với khuôn mặt cho trước

- Thứ hai là xác định vị trí những khuôn mặt người trong một bức ảnh

Ban đầu ta có một tập ảnh khuôn mặt gọi là tập ảnh huấn luyện (training set) Giả sử mỗi ảnh cókích thước M×N , ta coi mỗi bức ảnh này là một vector trong không gian M*N chiều Bây giờmỗi khuôn mặt là một vector , ta thấy những vector này không phân bố ngẫu nhiên trong khônggian ảnh mà phân bố theo một quy luật tương đối nào đó , ta có thể nói những vector này nằmtrong một không gian con gọi là không gian khuôn mặt Từ những vector trong tập huấn luyện ,

ta sẽ tìm một cơ sở trực chuẩn cho không gian khuôn mặt Những vector thuộc cơ sở này có thểcoi là những vector mang những nét tổng thể đặc trưng về khuôn mặt

Giả sử tập huấn luyện có P ảnh , khi đó ta sẽ có P vector : T1 , T2 , … , T P

Sự khác biệt giữa những khuôn mặt với ảnh trung bình là những vector : A i=T im , i=1…P

Ý tưởng của việc phân tích thành phần chính là tìm một tập những vector trực chuẩn u k sao cho những vector này mô tả tốt nhất sự phân bố những vector khuôn mặt trong không gian Những vector u k được chọn sao cho :

Trang 15

u∨v là tích vô hướng giữa hai vector u , v

A=[ A1A2… A P ]

Ta thấy ma trận A có kích thước M*N × P , còn ma trận AA T có kích thước M*N×M*N , do kích thước

ma trận này quá lớn nên ta không thể tìm được những vector riêng và những trị riêng trực tiếp được , thay vào đó ta sẽ tìm những vector riêng của ma trận A T A có kích thước P×P

Nếu v là một vector riêng của A T A và λ là trị riêng tương ứng , khi đó ta có :

A T A v = λv AA T A v = λAv , tức là Av là một trị riêng của ma trận AA T

Thông thường ta chỉ lấy một số Q vector riêng ứng với Q trị riêng có giá trị lớn nhất

Sau khi có các vector riêng của ma trận AA T , ta sẽ chuẩn hóa chúng để thu được một cơ sở trực chuẩn của không gian khuôn mặt

Đặt L= A T A , tìm V là tập hợp các vector riêng của L , D là tập hợp các trị riêng tương ứng

V bao gồm Q vector riêng ứng với những trị riêng lớn hơn một giá trị nào đó hoặc ứng với Q trịriêng lớn nhất trong D

E = AV là tập các vector riêng của AA T Do đây là những vector riêng , mà nó lại có dạng khuônmặt nên còn đuợc gọi là Eigenfaces E là ma trận M*N×Q , mỗi cột là một vector riêng

Chuẩn hóa các vector cột trong E ( chia mỗi vector cho độ dài của vector đó )

Bây giờ , ta có thể coi E là một cơ sở trực chuẩn của không gian khuôn mặt

Với H là bức ảnh có cùng kích thước với những bức ảnh trong tập huấn luyện Ta sẽ xét nó cóphải là bức ảnh khuôn mặt hay không , cũng như tìm bức ảnh giống với nó nhất trong tập huấnluyện

H được xem là một vector trong không gian M*N chiều

Đặt K=H-m với m là vector ảnh trung bình

Cho V là một không gian có tích vô hướng hữu hạn chiều và W là một không gian con của V Giả sử W

có một cơ sở trực chuần là { u1, … , u Q} Khi đó hình chiếu trực giao của vector u bất kỳ lên W được xác định như sau :

Trang 16

Tập hợp c i=⟨u∨u i , i=1,… , Q được gọi là tọa độ của u0 trong không gian W

Tìm C=E T K là tọa độ của hình chiếu K f của K lên không gian khuôn mặt C là vector cột Q×1

K f = ∑

i=1

Q

c i e i với c i = C( i , 1) ; e i = E( : , i )

Với A i là một cột trong ma trận A ( tương ứng với bức ảnh T i trong tập huấn luyện ) Ta tính

C i = E T A i là tọa độ của hình chiếu A if của A i lên không gian khuôn mặt

Ta tính hai đại lượng sau :

- s = ‖K −K f‖ xem như khoảng cách từ bức ảnh H đến không gian mặt

- s i=‖C−C i xem như khoảng cách từ H đến bức ảnh T i trong tập huấn luyện

Xét α và β là hai ngưỡng nào đó

- s < α thì H là bức ảnh khuôn mặt ( do H đủ gần với không gian mặt )

- s i<¿ β thì T i là bức ảnh của cùng một người với H ( H đủ gần với Ti )

Vậy là ta đã có thể tìm bức ảnh trong tập huấn luyện giống với bức ảnh H hay xác định đó cóphải là bức ảnh khuôn mặt hay không Tuy nhiên ảnh H phải có cùng kích thước với những bứcảnh trong tập huấn luyện Bây giờ trong một bức ảnh lớn H có nhiều khuôn mặt , ta sẽ xác định

2.Hình ảnh minh họa

Trong ví dụ này ta có một tập huấn luyện gồm những bức ảnh khuôn mặt kích thước 180x200 pixel , dưới đây là một số hình ảnh của những eigenfaces thu được ( lưu ý là đây chỉ là các vectortrực giao , những eigenfaces thực sự chính là những vector này được chuẩn hóa )

Trang 18

Như ta thấy nếu bức ảnh là khuôn mặt người thì hình chiếu sẽ khá giống với ảnh gốc , còn khibức ảnh không phải là khuôn mặt thì hình chiếu sẽ khác ảnh gốc rất nhiều , do đó khoảng cách từbức ảnh mặt người tới không gian mặt sẽ nhỏ hơn rất nhiều so với khoảng cách từ bức ảnh khôngphải mặt người tới không gian mặt

Dưới đây là một ví dụ khác , ta có một tập huấn luyện gồm những bức ảnh kích thước 18x27pixel , ta cũng tìm các Eigenface và sau đó tìm face map của một bức ảnh kiểm tra Trong ví dụnày thì ảnh con H(x,y) vùng hình chữ nhật có tâm tại (x,y) trên bức ảnh và có kích thước 18x27pixel

Hình trên là face map của bức ảnh ban đầu

Ta thấy vị trí của mổi khuôn mặt chính là những vùng cực tiểu địa phương trên bức ảnh ( lànhững đốm đen trong những vùng trắng hình chữ nhật )

Ngày đăng: 15/02/2014, 06:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Một phương pháp xác định khuơn mặt điển theo hướng tiếp cận top-down. - Tài liệu Đề tài: Phát hiện khuôn mặt trong ảnh pptx
Hình 1 Một phương pháp xác định khuơn mặt điển theo hướng tiếp cận top-down (Trang 5)
Trên hình 1, Các luật được xây dựng dựa vào tri thức của người nghiên cứu về các đặc trưng của khuơn mặt (ví dụ như cường độ phân phơi và sự khác nhau ) của các vùng trên khuơn mặt - Tài liệu Đề tài: Phát hiện khuôn mặt trong ảnh pptx
r ên hình 1, Các luật được xây dựng dựa vào tri thức của người nghiên cứu về các đặc trưng của khuơn mặt (ví dụ như cường độ phân phơi và sự khác nhau ) của các vùng trên khuơn mặt (Trang 5)
Hình 2: Phương pháp chiếu (a) Ảnh chỉ cĩ một khuơn mặt và hình nền đơn giản; - Tài liệu Đề tài: Phát hiện khuôn mặt trong ảnh pptx
Hình 2 Phương pháp chiếu (a) Ảnh chỉ cĩ một khuơn mặt và hình nền đơn giản; (Trang 6)
Hình 3: Một mẫu khuơn mặt - Tài liệu Đề tài: Phát hiện khuôn mặt trong ảnh pptx
Hình 3 Một mẫu khuơn mặt (Trang 9)
Một nghiên cứu điển hình trong các tiếp cận này đĩ là của Samaria. Samaria đã dùng năm trạng thái tương ứng năm vùng như trong hình 6 để mơ hình hĩa tiến trình xác định khuơn mặt người - Tài liệu Đề tài: Phát hiện khuôn mặt trong ảnh pptx
t nghiên cứu điển hình trong các tiếp cận này đĩ là của Samaria. Samaria đã dùng năm trạng thái tương ứng năm vùng như trong hình 6 để mơ hình hĩa tiến trình xác định khuơn mặt người (Trang 13)
= là tọa độ của hình chiếu của lên khơng gian khuơn mặt. Ta tính hai đại lượng sau : - Tài liệu Đề tài: Phát hiện khuôn mặt trong ảnh pptx
l à tọa độ của hình chiếu của lên khơng gian khuơn mặt. Ta tính hai đại lượng sau : (Trang 16)
Như ta thấy nếu bức ảnh là khuơn mặt người thì hình chiếu sẽ khá giống với ảnh gốc, cịn khi bức ảnh khơng phải là khuơn mặt thì hình chiếu sẽ khác ảnh gốc rất nhiều , do đĩ khoảng cách từ bức ảnh mặt người tới khơng gian mặt sẽ nhỏ hơn rất nhiều so với kh - Tài liệu Đề tài: Phát hiện khuôn mặt trong ảnh pptx
h ư ta thấy nếu bức ảnh là khuơn mặt người thì hình chiếu sẽ khá giống với ảnh gốc, cịn khi bức ảnh khơng phải là khuơn mặt thì hình chiếu sẽ khác ảnh gốc rất nhiều , do đĩ khoảng cách từ bức ảnh mặt người tới khơng gian mặt sẽ nhỏ hơn rất nhiều so với kh (Trang 17)
Hình trên cũng khá giống với face map ứng với khơng gian khuơn mặt nhưng tại mỗi vùng sáng hình chữ nhật thì khơng hề cĩ tâm ở giữa . - Tài liệu Đề tài: Phát hiện khuôn mặt trong ảnh pptx
Hình tr ên cũng khá giống với face map ứng với khơng gian khuơn mặt nhưng tại mỗi vùng sáng hình chữ nhật thì khơng hề cĩ tâm ở giữa (Trang 18)
Hình 9: Các đặc trưng mở rộng của các đặc trưng Haar-like cơ sở - Tài liệu Đề tài: Phát hiện khuôn mặt trong ảnh pptx
Hình 9 Các đặc trưng mở rộng của các đặc trưng Haar-like cơ sở (Trang 25)
Như vậy tổng các điểm ảnh trong một hình chữ nhật (kể cả trường hợp xoay 45º) bất kì đều cĩ thể được tính nhanh dựa trên integral image tại 4 đỉnh của nĩ : - Tài liệu Đề tài: Phát hiện khuôn mặt trong ảnh pptx
h ư vậy tổng các điểm ảnh trong một hình chữ nhật (kể cả trường hợp xoay 45º) bất kì đều cĩ thể được tính nhanh dựa trên integral image tại 4 đỉnh của nĩ : (Trang 26)
Cascade of boosting classifiers là mơ hình cascade of classifiers với mỗi classifier được xây dựng bằng Adaboost sử dụng haar-like. - Tài liệu Đề tài: Phát hiện khuôn mặt trong ảnh pptx
ascade of boosting classifiers là mơ hình cascade of classifiers với mỗi classifier được xây dựng bằng Adaboost sử dụng haar-like (Trang 28)
Hình 13 minh họa sự huấn luyện của một cascade gồm N stages. Ở mỗi stage, weak classifier tương ứng sẽ được huấn luyện sao cho độ chính xác của nĩ là h và false alarm bằng f. - Tài liệu Đề tài: Phát hiện khuôn mặt trong ảnh pptx
Hình 13 minh họa sự huấn luyện của một cascade gồm N stages. Ở mỗi stage, weak classifier tương ứng sẽ được huấn luyện sao cho độ chính xác của nĩ là h và false alarm bằng f (Trang 28)
- IMAGE_ID: ID của ảnh gốc, kiểu dữ liệu Interger, là khĩa ngoại tham chiếu đến bảng ẢNH GỐC. - Tài liệu Đề tài: Phát hiện khuôn mặt trong ảnh pptx
c ủa ảnh gốc, kiểu dữ liệu Interger, là khĩa ngoại tham chiếu đến bảng ẢNH GỐC (Trang 34)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w