cấu tín dụng theo đối tượng giai đoạn 2010 - 2012
Dư nợ cho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) tại chi nhánh đã tăng đáng kể qua các năm, từ 55,4% tổng dư nợ vào năm 2008 lên 83,02% vào năm 2011 Mặc dù tỷ lệ cho vay DNVVN giảm nhẹ xuống 80,91% vào năm 2012, nhưng vẫn cho thấy tầm quan trọng của quan hệ tín dụng với các DNVVN, đóng góp chủ yếu vào thu nhập của chi nhánh.
Tỷ trọng dư nợ cho vay đối với khách hàng cá nhân đã trải qua sự biến động đáng kể trong những năm gần đây Năm 2011, tỷ trọng này giảm 3,44% do các biện pháp hạn chế cho vay phi sản xuất theo chỉ đạo của Nhà nước nhằm kiểm soát tín dụng, trong khi tín dụng cá nhân chủ yếu thuộc lĩnh vực này Tuy nhiên, đến năm 2012, tỷ trọng dư nợ đã tăng trở lại 2,04% nhờ vào việc chi nhánh triển khai nhiều gói vay hấp dẫn nhằm kích thích tín dụng.
Tỷ trọng dư nợ cho vay với các doanh nghiệp lớn giảm nhẹ tuy nhiên nhìn chung tương đối ổn định trong giai đoạn 2010 - 2012.
Chi trả kiều hối qua SWIFT2.1.3.3 Hoạt động khác U U 138 a Công tác thanh toán quốc tế:
Bảng 2.4.Công tác thanh toán quốc tế giai đoạn 2010 - 2012 Đơn vị: Tỷ đồng
(Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT Tây Đô)
- Trong giai đoạn 2010 - 2012, doanh số thanh toán hàng nhập khẩu giảm dần, tốc độ giảm từ 9 - 11% Doanh số thanh toán hàng nhập khẩu giảm do:
Năm 2011, tỷ giá gia tăng đã làm cho giá hàng nhập khẩu tăng cao, kết hợp với chính sách thắt chặt tín dụng của Ngân hàng Nhà nước, khiến nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc nhập khẩu nguyên liệu và hàng hóa để tiêu thụ trong nước, buộc họ phải thu hẹp quy mô sản xuất kinh doanh.
Năm 2012, tỷ giá đã ổn định hơn, nhưng hoạt động nhập khẩu vẫn chưa cải thiện do nhu cầu thị trường giảm mạnh Các doanh nghiệp chủ yếu tập trung vào việc giải quyết hàng tồn kho thay vì mở rộng sản xuất kinh doanh.
- Doanh số mua bán ngoại tệ trong năm 2011 giảm 104 tỷ tương đương với 25% so với năm 2010 nhưng đã có xu hướng tăng dần trở lại trong năm 2012
- Chi trả kiều hối qua SWIFT quy đổi VNĐ vẫn còn ở mức thấp so với bình quân chung với tốc độ tăng trưởng còn chậm.
Tỷ lệ thu ngoài tín dụng và dịch vụ ngoại hối hiện còn thấp, chủ yếu do kiến thức và trình độ của cán bộ nhân viên chưa đáp ứng yêu cầu chuyên nghiệp trong tiếp thị và phục vụ khách hàng Bên cạnh đó, chất lượng và tiện ích của các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt chưa đồng bộ, dẫn đến nhiều bất cập, ảnh hưởng đến sự phát triển của dịch vụ thanh toán qua ngân hàng Thói quen tiêu dùng bằng tiền mặt của người dân cũng là một yếu tố cản trở sự chuyển đổi sang các hình thức thanh toán hiện đại hơn.
Thu từ hoạt động dịch vụ _ 12.65
Thu từ kinh doanh ngoại hối
Chi phí hoạt động dịch vụ _
Chi phí kinh doanh ngoại hối _
Chi trả tiền lương nhân viên _
Chi phí bảo hiểm tiền gửi _
Thuế thu nhập doanh nghiệp _ 2.536,5 4
8.913 toán thẻ của người tiêu dùng thấp gây khó khăn cho hoạt động dịch vụ thanh toán của ngân hàng. b Sản phẩm dịch vụ thẻ:
Trong giai đoạn 2010-2012, kết quả sản phẩm dịch vụ thẻ của Chi nhánh đã đạt được những thành tích như sau:
Dịch vụ SMS Banking đã thu hút 16.952 khách hàng tham gia, trong đó có 8.760 khách hàng mới Ngoài ra, dịch vụ thu hộ cước Viettel và bán vé máy bay trực tuyến cũng được triển khai, mang lại doanh thu từ phí dịch vụ và hoa hồng lên tới 428 triệu đồng.
Chi nhánh đã phát hành tổng cộng 11.150 thẻ, với tổng số dư đạt 25,2 tỷ đồng Trong số đó, có 356 thẻ ghi nợ Quốc tế với số dư trên 1.280 triệu đồng, và 10.644 thẻ ghi nợ nội địa với số dư vượt 42 tỷ đồng.
- Thẻ tín dụng: Tính đến thời điểm 31/12/2012 đã phát hành được 800 thẻ tín dụng với tổng cấp hạn mức là 23 tỷ đồng.
2.1.3.4 Kết quả kinh doanh của NHNo&PTNT Tây Đô.
Bảng 2.5.Kết quả kinh doanh của chi nhánh giai đoạn 2010 - 2012 Đơn vị: triệu đồng
(Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT Tây Đô)
- Nhận xét chung về kết quả kinh doanh:
Hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT Tây Đô từ khi thành lập tới nay khá tốt, chi nhánh luôn nỗ lực để có được mức lợi nhuận dương.
Từ khi thành lập vào năm 2008, chi nhánh đã đạt lợi nhuận 7.516 triệu đồng Năm 2009, lợi nhuận sau thuế của chi nhánh tăng gấp đôi so với năm trước, cùng với sự tăng trưởng mạnh mẽ ở các chỉ tiêu thu nhập, trong khi chi phí chỉ tăng nhẹ.
Năm 2010, Ngân hàng ghi nhận lợi nhuận dương nhưng giảm mạnh so với năm 2009, do Chi nhánh chuyển sang trụ sở mới và mở thêm phòng giao dịch số 6, dẫn đến chi phí mua sắm tài sản và chi phí tuyển dụng tăng cao Hơn nữa, thu nhập giảm do một doanh nghiệp khách hàng trả chậm lãi hơn 8 tỷ đồng, ảnh hưởng đến doanh thu lãi của Chi nhánh, nhưng số lãi này sẽ được chuyển sang thu nhập năm 2011.
Trong giai đoạn kinh tế 2011 - 2012, mặc dù tăng trưởng tín dụng thấp và nợ xấu gia tăng, NHNo&PTNT Tây Đô vẫn ghi nhận lợi nhuận dương, với lợi nhuận sau thuế năm 2011 đạt 7.690,5 triệu đồng và tăng lên 8.913 triệu đồng vào năm 2012 Thành công này đến từ việc cân đối hiệu quả giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động, cùng với việc trang bị đầy đủ cơ sở vật chất từ năm 2010, giúp chi nhánh tiết kiệm chi phí Ngoài ra, chi nhánh cũng tập trung xử lý nợ xấu và thu hồi các khoản lãi chưa thu từ năm trước.
- Cơ cấu thu nhập của NHNo&PTNT Tây Đô:
Biêu 2.3.Cơ câu thu nhập của chi nhánh giai đoạn 2010 - 2012
■ Thu từ hoạt động dịch vụ
■ Thu từ kinh doanh ngoại hối
Chi nhánh hiện tại chủ yếu dựa vào thu nhập từ hoạt động tín dụng, chiếm hơn 80%, cho thấy vẫn là một ngân hàng kinh doanh sản phẩm truyền thống Thu ngoài tín dụng chỉ chiếm từ 3-5%, trong khi thu nhập khác chiếm từ 12-15%, nhưng đây là nguồn thu không ổn định và khó kiểm soát Để phát triển thành một ngân hàng hiện đại và đảm bảo tính ổn định của thu nhập trong tương lai, Chi nhánh đã quyết định tăng cường đầu tư vào các sản phẩm dịch vụ, nhằm giảm tỷ trọng thu từ hoạt động tín dụng và thu nhập khác.
- Cơ cấu chi phí trong giai đoạn 2010 - 2012 có 2 điểm đáng chú ý đó là:
Chi phí hoạt động dịch vụ đã tăng mạnh mẽ, hơn 65%, nhờ vào chiến lược của chi nhánh trong việc tập trung đầu tư để phát triển các hoạt động dịch vụ.
Chi phí trích lập dự phòng tăng nhanh do nợ xấu bắt đầu có sự gia tăng mạnh.
Cụ thể: năm 2011 chi phí trích lập dự phòng tăng 40,23%; năm 2012, chi phí này đã tăng 51,63%.
2.2 Thực trạng công tác phòng ngừa nợ xấu tại NHNo&PTNT Tây Đô.
2.2.1 Những biện pháp mà NHNo&PTNT Tây Đô đã thực hiện để phòng ngừa nợ xấu.
2.2.1.1 về xây dựng chiến lược quản trị rủi ro.
NHNo&PTNT Tây Đô đã xây dựng một chiến lược quản lý rủi ro linh hoạt, phù hợp với chiến lược kinh doanh của chi nhánh trong từng giai đoạn, có khả năng điều chỉnh theo diễn biến của thị trường tín dụng Một trong những biện pháp quan trọng trong chiến lược này là đa dạng hóa danh mục đầu tư, nhằm giảm thiểu rủi ro và tối ưu hóa lợi nhuận Các hình thức đa dạng hóa danh mục đầu tư được áp dụng bao gồm
Để đảm bảo an toàn trong cấp tín dụng, cần tránh tập trung vào một ngành, lĩnh vực hay khu vực kinh tế duy nhất Cần xác định rõ các ngành, lĩnh vực có độ rủi ro cao theo từng thời kỳ và áp dụng các giải pháp hạn chế cho vay, giảm dư nợ xuống mức an toàn.
Không nên dồn vốn đầu tư vào một hoặc một số khách hàng lớn, bởi vì theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, tổng dư nợ cho vay tối đa đối với một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có (VTC) của tổ chức tín dụng (TCTD) Đồng thời, tổng mức cho vay và bảo lãnh cho một khách hàng liên quan cũng không được vượt quá 25% VTC Đối với nhóm khách hàng liên quan, tổng dư nợ không được vượt quá 50% VTC của TCTD, và tổng mức cho vay cùng bảo lãnh không được vượt quá 60% VTC.