1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

039 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGHIỆP vụ THỊ TRƯỜNG mở TRONG điều HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN tệ của NGÂN HÀNG NHÀ nước VIỆT NAM,LUẬN văn THẠC sĩ KINH tế

117 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 342,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG (10)
    • 1.1.1. Khái niệm chính sách tiền tệ (10)
    • 1.1.2. Mục tiêu của chính sách tiền tệ (10)
    • 1.1.3. Các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ (11)
  • 1.2. PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ TRONG VIỆC ĐIỀU HÀNH 1. Khái niệm nghiệp vụ thị trường mở (13)
    • 1.2.2. Chủ thể tham gia nghiệp vụ thị trường mở (15)
    • 1.2.3. Hàng hóa tham gia giao dịch nghiệp vụ thị trường mở (17)
    • 1.2.4. Phương thức giao dịch của nghiệp vụ thị trường mở (19)
    • 1.2.5. Hình thức đấu thầu của nghiệp vụ thị trường mở (20)
    • 1.2.6. Vai trò của nghiệp vụ thị trường mở (22)
    • 1.2.7. Phát triển nghiệp vụ thị trường mở trong điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương (25)
  • 1.3. KINH NGHIỆM VỀ PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ TẠI MỘT SỐ NƯỚC (30)
    • 1.3.1. Nghiệp vụ thị trường mở tại Ngân hàng dự trữ liên bang Mỹ (30)
    • 1.3.2. Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc (32)
    • 1.3.3. Ngân hàng Trung ương Thái Lan (33)
    • 1.3.4. Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam (35)
  • CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ TRONG VIỆC ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM (10)
    • 2.1. KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM (38)
      • 2.1.1. Lựa chọn mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ (38)
      • 2.1.2. Sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ (40)
    • 2.2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ TRONG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT (44)
      • 2.2.1. Khái quát sự hình thành và phát triển của nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (44)
      • 2.2.5. Phương thức giao dịch (53)
      • 2.2.6. Hình thức đấu thầu (54)
      • 2.2.7. Định kỳ giao dịch (57)
      • 2.2.8. Doanh số giao dịch trên thị trường mở (59)
      • 2.2.9. Khả năng tác động của nghiệp vụ thị trường mở đối với mục tiêu chính sách tiền tệ (62)
    • 2.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ SỰ PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM (66)
      • 2.3.1. Ket quả đạt được (66)
      • 2.3.2. Hạn chế (68)
      • 2.3.3. Nguyên nhân (70)
  • CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ (38)
    • 3.1. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ TRONG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM (81)
      • 3.1.1. Định hướng phát triển điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (81)
      • 3.1.2. Định hướng phát triển nghiệp vụ thị trường mở trong điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (82)
    • 3.2. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ TRONG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚCVIỆT NAM 76 1. Phát triển quy mô nghiệp vụ thị trường mở (83)
      • 3.2.2. Phát triển công nghệ và kỹ thuật nghiệp vụ thị trường mở (88)
      • 3.2.3. Nâng cao chất lượng kinh doanh, cải thiện khả năng tài chính của cáctổchức tín dụng (92)
      • 3.2.4. Các giải pháp khác (95)
    • 3.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ (99)
      • 3.3.1. Kiến nghị với Quốc hội và Chính phủ (99)
      • 3.3.2. Kiến nghị với Bộ Tài chính (103)

Nội dung

TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG

Khái niệm chính sách tiền tệ

CSTT là chính sách kinh tế vĩ mô mà Ngân hàng Trung ương (NHTW) áp dụng các công cụ để điều tiết và kiểm soát điều kiện tiền tệ, nhằm đảm bảo ổn định giá trị tiền tệ Chính sách này không chỉ tạo nền tảng cho sự tăng trưởng kinh tế mà còn giúp duy trì các mục tiêu xã hội hợp lý.

Chính sách tiền tệ (CSTT) bao gồm việc quản lý tổng thể khối lượng tiền tệ trong nền kinh tế, nhằm phân bổ hiệu quả các nguồn lực để đạt được các mục tiêu tăng trưởng và cân đối kinh tế, từ đó ổn định giá trị đồng tiền quốc gia Trong nghĩa hẹp, CSTT đảm bảo rằng lượng tiền cung ứng tăng thêm hàng năm phù hợp với mức tăng trưởng kinh tế và chỉ số lạm phát, góp phần ổn định giá trị đồng tiền và thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô.

Mục tiêu của chính sách tiền tệ

Nội dung của chính sách tiền tệ (CSTT) được thể hiện qua việc xây dựng hệ thống mục tiêu cụ thể cho từng giai đoạn, bao gồm các mục tiêu tổng quát và các mục tiêu điều hành chi tiết.

- Mục tiêu tổng quát (mục tiêu cuối cùng)

Mục tiêu chính của chính sách tiền tệ (CSTT) ở các quốc gia thường giống nhau, nhưng được điều chỉnh theo từng giai đoạn và điều kiện kinh tế cụ thể Ngân hàng Trung ương (NHTW) cần ưu tiên những mục tiêu quan trọng trong từng thời kỳ, mặc dù ổn định giá cả vẫn là mục tiêu dài hạn Các mục tiêu tổng quát của CSTT bao gồm ổn định giá trị nội tệ thông qua kiểm soát lạm phát và duy trì giá trị ngoại tệ Để đạt được mục tiêu cuối cùng, mỗi quốc gia phát triển hệ thống mục tiêu điều hành riêng, bao gồm cả mục tiêu trung gian và mục tiêu hoạt động, nhằm đảm bảo chính sách tiền tệ đi đúng hướng.

Ngân hàng Trung ương (NHTW) không thể ngay lập tức tác động đến giá cả, sản lượng và công ăn việc làm thông qua các công cụ của chính sách tiền tệ (CSTT) Ảnh hưởng của CSTT thường xuất hiện sau một khoảng thời gian nhất định Để khắc phục hạn chế này, NHTW thường xác định các chỉ tiêu cần đạt được trước khi hoàn thành mục tiêu cuối cùng, những chỉ tiêu này trở thành mục tiêu trung gian và mục tiêu hoạt động.

Tiêu chuẩn lựa chọn mục tiêu trung gian bao gồm: đầu tiên, mục tiêu phải được đo lường một cách chính xác và nhanh chóng; thứ hai, cần có khả năng kiểm soát để điều chỉnh mục tiêu phù hợp với định hướng của chính sách tài chính; và cuối cùng, mục tiêu trung gian cần có mối liên hệ chặt chẽ với mục tiêu cuối cùng.

Tổng lượng tiền cung ứng và lãi suất đều đáp ứng tiêu chuẩn, nhưng NHTW chỉ có thể lựa chọn một trong hai chỉ tiêu Nếu đạt được mục tiêu về tổng khối lượng tiền cung ứng, lãi suất sẽ phải biến động và ngược lại.

Mục tiêu hoạt động trong chính sách tiền tệ (CSTT) là các chỉ tiêu có khả năng phản ứng nhanh chóng với sự điều chỉnh của công cụ CSTT và có ảnh hưởng đến các mục tiêu trung gian Để xác định các mục tiêu này, cần tuân thủ các tiêu chí sau: (1) phải có khả năng đo lường để tránh những suy diễn không chính xác có thể làm sai lệch dấu hiệu của CSTT; (2) phải có mối quan hệ trực tiếp và ổn định với công cụ CSTT; và (3) phải có mối quan hệ chặt chẽ và ổn định với các mục tiêu trung gian đã được lựa chọn.

Các chỉ tiêu quan trọng thường được NHTW lựa chọn làm mục tiêu hoạt động bao gồm lãi suất liên ngân hàng, dự trữ không vay và dự trữ đi vay, dựa trên các tiêu chí đã nêu.

Các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ

Các công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ mà các Ngân hàng Trung ương (NHTW) thường áp dụng bao gồm dự trữ bắt buộc, chính sách chiết khấu và nghiệp vụ thị trường mở.

Dự trữ bắt buộc (DTB B ) là công cụ chính sách tiền tệ truyền thống của

DTBB, hay dự trữ bắt buộc, là số tiền mà các ngân hàng phải giữ lại để không được sử dụng cho tín dụng hay đầu tư, thường được xác định bằng tỷ lệ phần trăm trên số tiền huy động Khi NHTW tăng tỷ lệ DTBB, ngân hàng phải tăng lượng dự trữ, dẫn đến giảm khả năng cấp tín dụng và cung tiền Ngược lại, việc giảm tỷ lệ DTBB giúp kích thích nền kinh tế trong thời kỳ suy thoái DTBB là công cụ mạnh mẽ của NHTW, vì một thay đổi nhỏ trong tỷ lệ này có thể gây ra biến động lớn trong cung tiền và có thể gây ra căng thẳng thanh khoản cho hệ thống ngân hàng Do đó, NHTW thường không điều chỉnh tỷ lệ DTBB thường xuyên, nhưng trong trường hợp lạm phát cao, họ buộc phải tăng tỷ lệ này để kiểm soát tình hình.

Chính sách chiết khấu cũng là một công cụ chính sách tiền tệ khác được

Ngân hàng Trung ương (NHTW) đã sử dụng chính sách cung ứng tín dụng từ sớm, trong đó cung cấp cho các ngân hàng khoản vay có tài sản bảo đảm là giấy tờ có giá Các điều kiện đi kèm như lãi suất, thời hạn và mục đích vay được gọi là “cửa sổ chiết khấu” của NHTW Khi NHTW mở rộng chính sách này, nó tạo ra ảnh hưởng tích cực đến hệ thống tài chính.

Cửa sổ chiết khấu là công cụ quan trọng giúp ngân hàng trung ương điều chỉnh lãi suất chiết khấu, từ đó ảnh hưởng đến khối lượng vay và dự trữ của các ngân hàng Khi lãi suất chiết khấu giảm và điều kiện vay dễ dàng hơn, khối lượng vay sẽ tăng, làm tăng dự trữ ngân hàng, giảm lãi suất thị trường và tăng cung tiền Ngược lại, nếu lãi suất chiết khấu tăng và điều kiện vay trở nên khắt khe hơn, khối lượng vay sẽ giảm, dẫn đến giảm dự trữ ngân hàng, tăng lãi suất thị trường và giảm cung tiền Qua đó, ngân hàng trung ương thực hiện vai trò người cho vay cuối cùng, hỗ trợ ngân hàng trong tình huống khó khăn thanh khoản, đặc biệt trong các cuộc khủng hoảng tài chính Tuy nhiên, chính sách chiết khấu không hoàn toàn chủ động, vì quyết định vay thuộc về các ngân hàng và ngân hàng trung ương có thể không đạt được mục tiêu đề ra trong nhiều trường hợp.

Các vấn đề về công cụ nghiệp vụ thị trường mở sẽ được trình bày chi tiết ở phần tiếp theo.

PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ TRONG VIỆC ĐIỀU HÀNH 1 Khái niệm nghiệp vụ thị trường mở

Chủ thể tham gia nghiệp vụ thị trường mở

Dựa vào mục đích giao dịch, các tác nhân trên thị trường mở được phân thành hai nhóm chính: Ngân hàng Trung ương (NHTW) và các tổ chức tín dụng (TCTD), cùng với các định chế tài chính, quỹ đầu tư, công ty và doanh nghiệp lớn.

Theo nguyên tắc của các hoạt động thị trường mở (OMO), thị trường không giới hạn người tham gia, cho phép mọi nhà đầu tư trở thành đối tác giao dịch với Ngân hàng Trung ương (NHTW) nếu đáp ứng các tiêu chuẩn cụ thể Những tiêu chuẩn này được thiết lập nhằm đạt được hai mục tiêu quan trọng.

- Các đối tác phải đảm bảo được độ tin cậy nhất định.

- Việc giao dịch với các đối tác đó có hiệu quả xét ở khía cạnh can thiệp vào thị trường tiền tệ của NHTW.

NHTW đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức, xây dựng và điều hành các hoạt động của thị trường mở (OMO) NHTW nghiên cứu các điều kiện cần thiết để hình thành và phát triển thị trường, đồng thời thực hiện các biện pháp hỗ trợ nhằm mở rộng các công cụ giao dịch và hoàn thiện cơ sở vật chất Ngoài ra, NHTW thiết lập quy định và tiêu chí cho các giao dịch, giám sát hoạt động của thị trường, và công bố thông tin liên quan đến thị trường Để đảm bảo hệ thống thanh toán an toàn và hiệu quả, NHTW dự báo các diễn biến tiền tệ và tình hình vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng, từ đó quyết định thời điểm, khối lượng, phương thức thực hiện, thời hạn và loại giấy tờ có giá trong các giao dịch mua bán.

NHTW đóng vai trò can thiệp thị trường khi cần thiết, thực hiện chức năng người cho vay cuối cùng để kiểm soát tiền tệ Điều này nhằm đảm bảo cung cấp đủ phương tiện thanh toán cho các TCTD và đáp ứng nhu cầu tín dụng của nền kinh tế.

Thông qua hoạt động của các nghiệp vụ thị trường mở (OMO), Ngân hàng Trung ương (NHTW) không chỉ điều tiết vốn khả dụng của hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) mà còn gián tiếp ảnh hưởng đến lãi suất thị trường, từ đó giúp thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ (CSTT) theo định hướng đã đề ra.

1.2.2.2 Các Ngân hàng thương mại

Các ngân hàng thương mại (NHTM) đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động thị trường mở (OMO) của ngân hàng trung ương (NHTW), thể hiện sự tin cậy và hiệu quả trong quan hệ hợp tác NHTM tham gia vào thị trường để điều hòa nguồn vốn khả dụng, đảm bảo khả năng thanh toán và phân tán rủi ro Đồng thời, họ cũng tìm kiếm cơ hội từ nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi hoặc thực hiện giao dịch mua bán chứng khoán để tối ưu hóa lợi nhuận.

Sự tham gia của các ngân hàng thương mại (NHTM) trong các giao dịch thị trường mở (OMO) rất quan trọng vì nó đảm bảo độ tin cậy và tính hiệu quả NHTM là trung gian tài chính chủ yếu, nắm giữ khối lượng lớn và đa dạng các loại chứng khoán, với mạng lưới hoạt động rộng khắp và kết nối qua trung tâm thanh toán Vai trò của NHTM không chỉ là cung ứng vốn cho nền kinh tế mà còn là người cho vay và đi vay trên thị trường tiền tệ Đồng thời, NHTM tham gia vào thị trường để điều hòa mức dự trữ ngân quỹ, đảm bảo khả năng thanh toán và cho vay khoản vốn dư thừa nhằm thu lợi từ lãi suất.

1.2.2.3 Các tổ chức tài chính phi ngân hàng

Các tổ chức như công ty bảo hiểm, công ty tài chính, quỹ đầu tư và hội tiết kiệm thường sở hữu khối lượng lớn giấy tờ có giá Để đảm bảo sinh lợi cao nhất và giảm thiểu rủi ro cho vốn đầu tư, họ thường xuyên điều chỉnh cơ cấu danh mục đầu tư của mình.

1.2.2.4 Các nhà giao dịch sơ cấp

Các giao dịch OMOs chủ yếu diễn ra thông qua vai trò của các nhà giao dịch sơ cấp, những người đóng vai trò trung gian và thu lợi từ chênh lệch giá mua bán Để tham gia, các nhà giao dịch sơ cấp cần có nguồn vốn mạnh mẽ để đáp ứng các yêu cầu của Ngân hàng Trung ương và sẵn sàng thực hiện vai trò tạo lập thị trường trong tất cả các phiên đấu thầu tín phiếu kho bạc.

1.2.2.5 Các nhà giao dịch chuyên nghiệp (Tổ chức môi giới — nhà môi giới)

Các nhà giao dịch chuyên nghiệp trong lĩnh vực môi giới tiền tệ đóng vai trò trung gian giữa người vay và người cho vay, thực hiện các giao dịch tài chính trên thị trường Họ thường hoạt động dưới hình thức công ty và nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng cũng như các vấn đề liên quan đến thanh toán và giao nhận, các Ngân hàng Trung ương (NHTW) thường áp dụng tiêu chí chọn lựa đối tác cho các giao dịch Những đối tác này phải được giám sát bởi các đơn vị có thẩm quyền hoặc là các nhà môi giới giao dịch đã đăng ký với ủy ban chứng khoán và hối đoái.

Giao dịch qua môi giới giúp người mua và người bán tiết kiệm chi phí tìm hiểu lẫn nhau, giảm thiểu tình trạng thông tin không cân xứng và đáp ứng tốt hơn các yêu cầu của họ Là người trung gian, các nhà môi giới kiếm thu nhập từ phí hoa hồng khi thực hiện giao dịch, đồng thời phải tuân thủ các tiêu chuẩn tối thiểu về vốn do các tổ chức quản lý quy định.

1.2.2.6 Các doanh nghiệp sản xuất — kinh doanh lớn

Các thành viên trên thị trường thường nắm giữ các loại giấy tờ có giá như thương phiếu, tín phiếu và trái phiếu chính phủ Họ có nhu cầu bán các giấy tờ này, có thể là bán hẳn hoặc tạm thời, nhằm thu hồi tiền mặt hoặc kiếm lời trong thời gian ngắn Đối với các doanh nghiệp lớn, khi có thặng dư vốn tiền tệ, họ thường mua các loại giấy tờ có giá ngắn hạn để gia tăng lợi nhuận Hoạt động mua bán qua thị trường mở (OMOs) có thể được thực hiện trực tiếp bởi doanh nghiệp hoặc thông qua các nhà môi giới chuyên nghiệp, bao gồm cả các ngân hàng thương mại.

Hàng hóa tham gia giao dịch nghiệp vụ thị trường mở

Hàng hóa trong nghiệp vụ thị trường mở (OMO) bao gồm các giấy tờ có giá và tính thanh khoản cao, được sử dụng trong các giao dịch của ngân hàng trung ương Những công cụ vay nợ này có kỳ hạn thanh toán ngắn hoặc dài hạn, giúp giảm thiểu rủi ro đầu tư nhờ vào mức dao động giá tối thiểu Mục tiêu chính của OMO là điều chỉnh dự trữ của hệ thống ngân hàng một cách hiệu quả Các loại hàng hóa giao dịch qua OMO có thể khác nhau giữa các quốc gia, và không bị giới hạn về chủng loại hay thời hạn của các chứng khoán Thông thường, hàng hóa chủ yếu được giao dịch qua OMO bao gồm các công cụ tài chính ngắn hạn.

Tín phiếu kho bạc là chứng từ nợ do Chính phủ phát hành nhằm bù đắp thiếu hụt tạm thời trong ngân sách hàng năm, với thời hạn thường dưới 12 tháng Đây là công cụ chính trong các hoạt động thị trường mở (OMOs) ở hầu hết các quốc gia.

NHTW các nước vì lý do:

- Có tính thanh khoản cao, dễ chuyển hóa thành tiền.

Tín phiếu kho bạc được phát hành định kỳ với khối lượng lớn, giúp đáp ứng nhu cầu can thiệp của Ngân hàng Trung ương (NHTW) ở nhiều mức độ và quy mô khác nhau Bộ Tài chính đóng vai trò quan trọng trong việc xác định khối lượng phát hành cũng như thanh toán lãi và gốc của các tín phiếu này Được phát hành hàng tuần, tín phiếu kho bạc chủ yếu nhằm chi trả các khoản nợ ngắn hạn của Chính phủ, do đó khối lượng phát hành sẽ thay đổi tùy thuộc vào nhu cầu vay mượn của Chính phủ.

Việc sử dụng TPKB trong các giao dịch OMOs mang lại nhiều lợi ích, bao gồm khả năng thay thế phát hành tín phiếu NHTW để thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, giúp giảm gánh nặng chi phí cho ngân sách Nhà nước Bên cạnh đó, trong bối cảnh thị trường tiền tệ chưa phát triển và có số dư tín phiếu kho bạc lớn, việc áp dụng tín phiếu kho bạc sẽ giúp giảm thiểu rủi ro phân tách thị trường.

1.2.3.2 Tín phiếu Ngân hàng trung ương

Tín phiếu NHTW là giấy tờ có giá ngắn hạn do Ngân hàng Trung ương phát hành, được sử dụng làm công cụ trong các hoạt động thị trường mở (OMOs) Việc sử dụng tín phiếu NHTW trong OMOs mang lại nhiều lợi ích, nhưng cũng tồn tại một số hạn chế cần xem xét.

- Tăng cường tính độc lập của NHTW trong việc thực thi CSTT

- Có tác dụng như một công cụ linh hoạt trong việc quản lý vốn khả dụng

- Làm cho chi phí hoạt động của NHTW tăng lên.

Có nguy cơ hình thành phân khúc giữa thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPKB) và thị trường tín phiếu Ngân hàng Trung ương (NHTW), khi các nhà đầu tư sẽ ưu tiên mua loại tín phiếu có lãi suất cao hơn Điều này có thể ảnh hưởng đến mục tiêu phát hành giấy tờ có giá (GTCG) và làm giảm hiệu quả tác động của hai loại hàng hóa này.

Chứng chỉ tiền gửi là tài liệu xác nhận khoản tiền đã gửi vào ngân hàng hoặc các tổ chức tài chính phi ngân hàng, kèm theo lãi suất cố định trong một khoảng thời gian nhất định Thời hạn của chứng chỉ tiền gửi thường dao động từ 7 ngày đến 3 - 5 năm, phù hợp với nhu cầu của người gửi.

Chứng chỉ tiền gửi (CD) đã đánh dấu sự chuyển biến quan trọng trong cơ chế quản lý ngân hàng, từ việc quản lý tài sản nợ sang quản lý tài sản có, cho phép ngân hàng chủ động huy động vốn thay vì phụ thuộc vào người gửi tiền CD trở nên phổ biến trên thị trường tiền tệ nhờ tính linh hoạt, cho phép các nhà đầu tư dễ dàng chuyển đổi thành tiền khi cần mà không phải rút tiền gửi trước hạn.

Thương phiếu là chứng chỉ ghi nhận yêu cầu thanh toán hoặc cam kết thanh toán không điều kiện một khoản tiền xác định, thường được phát hành bởi các công ty để bổ sung vốn ngắn hạn Thời hạn của thương phiếu thường dao động từ 1 đến 270 ngày, với phần lớn có thời hạn ngắn hơn 30 ngày Luật pháp tại nhiều quốc gia quy định các điều kiện phát hành thương phiếu nhằm đảm bảo tính an toàn cho công cụ này Lãi suất thương phiếu thường thấp hơn so với lãi suất vay ngân hàng, tạo nên sức hấp dẫn cho nhà đầu tư Ngoài ra, việc mua bán thương phiếu của Ngân hàng Trung ương trên thị trường mở có ảnh hưởng lớn đến dự trữ của các ngân hàng và tiền gửi của khách hàng tại Ngân hàng Thương mại.

Trái phiếu Chính phủ (TPCP) là loại giấy nhận nợ dài hạn do Chính phủ phát hành nhằm bù đắp thâm hụt ngân sách TPCP xác định quyền lợi hợp pháp cho người sở hữu, với lãi suất thanh toán dựa trên loại và thời hạn trái phiếu, thường kéo dài từ 10 đến 30 năm Đặc điểm nổi bật của TPCP là tính an toàn cao do Chính phủ phát hành, khiến nó trở thành lựa chọn phổ biến trong các giao dịch OMOS tại nhiều quốc gia Với khối lượng phát hành lớn, TPCP không chỉ an toàn mà còn có khả năng tác động trực tiếp đến giá cả tín phiếu kho bạc trên thị trường tài chính.

1.2.3.6 Trái phiếu chính quyền địa phương

Trái phiếu chính quyền địa phương là loại giấy nhận nợ dài hạn do chính quyền địa phương phát hành, khác với trái phiếu Chính phủ nhờ vào các ưu đãi về thuế thu nhập Thường được phát hành bởi các chính quyền địa phương lớn, loại trái phiếu này được các ngân hàng thương mại sử dụng để tái chiết khấu tại Ngân hàng Nhà nước Sự ưa chuộng của các nhà đầu tư đối với chứng khoán này một phần đến từ sự can thiệp của Ngân hàng Nhà nước thông qua việc mua bán lại trái phiếu, tương tự như tái phiếu chính phủ.

Phương thức giao dịch của nghiệp vụ thị trường mở

Có 2 loại phương thức giao dịch trên thị trường mở là giao dịch không hoàn lại (mua bán hẳn) và giao dịch (mua bán) có kỳ hạn.

1.2.4.1 Giao dịch không hoàn lại (mua bán hẳn)

Giao dịch không hoàn lại là các giao dịch mua bán giấy tờ có giá (GTCG) của Ngân hàng Trung ương (NHTW) theo phương thức mua đứt, bán đoạn dựa trên giá thị trường Phương thức này cho phép quyền sở hữu GTCG được chuyển nhượng giữa NHTW và các thành viên tham gia giao dịch, dẫn đến tác động dài hạn đối với dự trữ ngân hàng.

1.2.4.2 Giao dịch mua bán có kỳ hạn

Phương thức giao dịch tạm thời thông qua hợp đồng mua lại (Repos) và hợp đồng mua lại đảo ngược thường được sử dụng để điều tiết vốn khả dụng của các ngân hàng thương mại Repos cho phép NHTW mua GTCG với thỏa thuận người bán sẽ mua lại trong tương lai, trong khi Repos đảo ngược cho phép NHTW bán GTCG với thỏa thuận người mua sẽ bán lại sau đó Cả hai hình thức này thường được thực hiện trong khoảng thời gian ngắn và thực chất là một khoản cho vay của NHTW, được đảm bảo bằng các GTCG có tính thanh khoản cao.

Các giao dịch mua bán có kỳ hạn chủ yếu được áp dụng trong các hoạt động thị trường mở (OMO) vì chúng là công cụ hiệu quả để điều chỉnh dự trữ ngân hàng, giúp giảm thiểu chi phí giao dịch so với giao dịch mua bán hẳn Chúng cũng phù hợp khi các chính sách tiền tệ không hoàn hảo, yêu cầu các biện pháp khắc phục Hơn nữa, các giao dịch này giúp rút ngắn thời gian thông báo, từ đó giảm biến động thị trường trước các quyết định hàng ngày của Ngân hàng Trung ương.

Hình thức đấu thầu của nghiệp vụ thị trường mở

Các giao dịch nghiệp vụ thị trường mở thường được thực hiện thông qua 2 phương thức đấu thầu là đấu thầu khối lượng và đấu thầu lãi suất.

1.2.5.1 Đấu thầu khối lượng (đấu thầu với lãi suất cố định) Đấu thầu khối lượng là phương thức đấu thầu với lãi suất được NHTW công bố trước NHTW công bố khối lượng tiền cần mua hoặc cần bán bằng phương thức đấu thầu và ấn định mức lãi suất thực hiện NHTW công bố điều kiện đặt thầu để các thành viên đăng ký số tiền dự thầu trên cơ sở chấp thuận mức lãi suất đã xác định trước Sau khi mở thầu NHTW sẽ xác định tỷ lệ giá trị đạt thầu và phân bổ cho từng tổ chức tham gia đặt thầu.

Việc phân bổ thầu được thực hiện bằng cách cộng tổng số lượng đăng ký dự thầu Nếu tổng khối lượng đặt thầu nhỏ hơn hoặc bằng khối lượng NHTW chào mua/chào bán, toàn bộ đơn dự thầu sẽ được phân bổ theo khối lượng đặt thầu Ngược lại, nếu tổng khối lượng đặt thầu lớn hơn khối lượng NHTW chào mua/chào bán, khối lượng trúng thầu của từng thành viên sẽ được phân bổ tỷ lệ thuận với khối lượng đặt thầu của họ.

Tỷ lệ % phân bổ thầu: k = A/ ɪ b trong đó: i=1

- A: là khối lượng NHTW chào mua/chào bán

- n: là tổng số thành viên tham gia dự thầu

- bi là khối lượng đặt thầu của thành viên thứ i

- k là tỷ lệ phân bổ thầu

Trên cơ sở xác định được tỷ lệ k, khối lượng trúng thầu của thành viên thứ i (Wi) được xác định như sau: Wi = k x bi [3]

Theo phương thức đấu thầu lãi suất thì các thành viên tham gia tự đăng ký số tiền ứng với mỗi mức lãi suất do tự mình lựa chọn.

Khi Ngân hàng Trung ương cần cung ứng thêm tiền vào lưu thông thông qua việc mua GTCG, các đơn dự thầu sẽ được sắp xếp theo thứ tự từ lãi suất cao xuống thấp Những đơn dự thầu với lãi suất cao sẽ được ưu tiên phân bổ trước cho đến khi hết khối lượng phân phối Nếu tại mức lãi suất thấp nhất được chấp nhận, khối lượng đăng ký dự thầu vượt quá khối lượng phân phối, quá trình phân bổ sẽ diễn ra theo quy định cụ thể.

Gọi: - A: là khối lượng NHTW chào mua/chào bán

- rt : là mức lãi suất thứ t được đăng ký

- b(rt)i là khối lượng đặt thầu của thành viên thứ i ứng với mức lãi suất rt

- b(rt) là tổng khối lượng đặt thầu của các thành viên ứng với mức lãi suất r t

Mức lãi suất cuối cùng được chấp nhận là rm Trong trường hợp Ngân hàng Trung ương tiến hành đấu thầu để cung cấp thêm vốn khả dụng cho hệ thống ngân hàng, điều kiện lãi suất được thiết lập là r1≥ rt≥ rm.

- k(rm) là tỷ lệ % trúng thầu được phân bổ tại mức lãi suất cuối cùng

B(r m ) Trên cơ sở xác định được tỷ lệ k(rm), khối lượng trúng thầu của thành viên thứ i (W i ) tại mức lãi suất rm được xác định như sau:

- Trường hợp NHTW cần hút tiền từ lưu thông về thông qua việc bán GTCG thì các quy trình diễn ra ngược lại.

Trên thế giới, có hai phương thức đấu thầu lãi suất chính là kiểu Mỹ và kiểu Hà Lan Đấu thầu kiểu Mỹ cho phép thực hiện tất cả các mức lãi suất đã đăng ký trong phạm vi đặt thầu, trong khi đó, đấu thầu kiểu Hà Lan xác định toàn bộ lượng đặt thầu theo mức lãi suất đạt thầu.

Vai trò của nghiệp vụ thị trường mở

1.2.6.1 Đối với ngân hàng Trung ương Để thực hiện nhiệm vụ ổn định giá trị đồng tiền, NHTW đã xây dựng và thực thi các công cụ CSTT nhằm đưa tiền ra và rút tiền về từ lưu thông theo tín hiệu thị trường Trong đó, OMOs là công cụ CSTT gián tiếp quan trọng nhất tại nhiều quốc gia làm thay đổi cung - cầu tiền tệ dẫn đến thay đổi lãi suất trên thị trường tiền tệ. Mối quan hệ giữa lãi suất và lượng tiền cung ứng được mô tả:

Hình 1.1 : Mối quan hệ giữa lãi suất và lượng tiền cung ứng

Sự tăng lên của lượng tiền cung ứng trong điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) thông qua việc mua trái phiếu chính phủ (GTCG) và ngoại tệ trên thị trường mở đã dẫn đến sự dịch chuyển của đường cung tiền từ MS1 sang MS2 Điều này làm thay đổi điểm cân bằng từ điểm 1 xuống điểm 2, với lãi suất giảm từ i1 xuống i2 khi đường cung MS2 cắt đường cầu Md Hành động mua hoặc bán GTCG và ngoại tệ của Ngân hàng Trung ương (NHTW) ảnh hưởng trực tiếp đến lãi suất thị trường, từ đó NHTW có thể đưa ra quyết định chính xác về khối lượng GTCG và ngoại tệ cần mua hoặc bán Qua việc này, NHTW có khả năng điều chỉnh khối lượng tiền dự trữ trong hệ thống ngân hàng, ảnh hưởng tích cực đến cơ sở tiền tệ và lượng tiền cung ứng Do đó, các hoạt động mua bán trên thị trường mở (OMOs) đã giúp NHTW giảm thiểu việc sử dụng các công cụ điều hành CSTT mang tính trực tiếp.

Ngân hàng Trung ương (NHTW) không chỉ điều tiết vốn khả dụng của hệ thống ngân hàng thông qua mua bán Giấy tờ có giá (GTCG) trên thị trường mở, mà còn cung cấp tín hiệu cho thị trường về định hướng chính sách tiền tệ (CSTT) trong tương lai, như nới lỏng hay thắt chặt Việc thực hiện các hoạt động thị trường mở (OMO) thường xuyên và hiệu quả giúp lãi suất thị trường mở trở nên quan trọng trong việc định hướng và chỉ đạo lãi suất thị trường, từ đó NHTW có khả năng hạn chế những biến động của lãi suất này.

OMOs là công cụ chính sách tiền tệ chủ động, do Ngân hàng Trung ương (NHTW) khởi xướng, khác với các nghiệp vụ cho vay vốn thường do các ngân hàng có nhu cầu thực hiện NHTW có khả năng thực hiện OMOs định kỳ hoặc khi cần thiết, với tính linh hoạt về khối lượng và thời gian giao dịch Quy mô thực hiện OMOs có thể lớn hoặc nhỏ, tùy thuộc vào quyết định mua hoặc bán giấy tờ có giá của NHTW.

Các hoạt động thị trường mở (OMOs) có khả năng khắc phục những hạn chế của các công cụ kiểm soát tiền tệ trực tiếp và gián tiếp khác Với tính chất hai chiều, NHTW có thể linh hoạt bơm thêm tiền vào hoặc rút tiền ra khỏi lưu thông, trong khi công cụ tín dụng vi mô (TCV) chỉ cho phép bơm thêm tiền Hơn nữa, OMOs giúp NHTW chủ động hơn trong việc điều tiết lưu thông tiền tệ, không phụ thuộc vào ý muốn của ngân hàng thương mại như với TCV Bằng cách tính toán và dự báo vốn khả dụng cũng như lượng tiền cung ứng, NHTW có thể xác định chính xác khối lượng tiền cần thiết để điều chỉnh lưu thông.

1.2.6.2 Đối với các tổ chức tín dụng

Trong môi trường thị trường ngày càng đa dạng, hoạt động kinh doanh của các ngân hàng yêu cầu quản lý và sử dụng vốn khả dụng một cách chủ động và linh hoạt Hiện nay, tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng chiếm từ 60-70% trong cơ cấu nguồn vốn của các ngân hàng.

Hiện nay, các ngân hàng đối mặt với thách thức quan trọng là tối ưu hóa việc sử dụng vốn một cách linh hoạt và hiệu quả Họ cần giải quyết vấn đề tạm thời về vốn khả dụng trong thời gian ngắn để tránh tình trạng ách tắc trong thanh toán, đồng thời đáp ứng nhu cầu tăng trưởng tín dụng.

Thị trường mở là nơi các ngân hàng và NHTW tham gia mua bán GTCG, tạo ra lãi suất thị trường thực tế Qua đó, ngân hàng có thể sử dụng vốn tạm thời nhàn rỗi để đầu tư vào GTCG, thu lợi tức và đáp ứng nhu cầu dự trữ thứ cấp Khi cần, ngân hàng có thể bán lại GTCG để giải quyết khó khăn về nguồn vốn Giao dịch trên thị trường mở an toàn và không có rủi ro, với các GTCG được đảm bảo và tuân thủ quy định của NHTW Các thành viên tham gia thường có độ tin cậy cao, đảm bảo an toàn trong giao dịch Điều kiện về chủng loại và chất lượng GTCG trong OMOs cũng giúp cải thiện danh mục đầu tư của ngân hàng, giảm dự trữ không sinh lợi và nâng cao bảng tổng kết tài sản.

OMOs không chỉ giúp đa dạng hóa các nghiệp vụ kinh doanh của các TCTD mà còn mở rộng khả năng hoạt động của họ Các TCTD hiện nay không chỉ tập trung vào các nghiệp vụ truyền thống như cho vay và bảo lãnh, mà còn đầu tư vào các giao dịch mua bán GTCG Điều này không chỉ tạo ra nguồn vốn mới mà còn thúc đẩy mối quan hệ kinh doanh giữa các thành viên trong thị trường, góp phần tăng cường sự phát triển chung.

OMOs là hoạt động mà các ngân hàng tự nguyện tham gia theo nguyên tắc thị trường, khác với DT không mang tính bắt buộc và không có tác động như một hình thức "đánh thuế" đối với hoạt động của các ngân hàng như DTB B Lãi suất trên thị trường mở được xác định theo quy luật thị trường, không bị áp đặt như trong công cụ chiết khấu GTCG của NHTW.

Thị trường mở giúp các ngân hàng tận dụng hiệu quả nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi, đồng thời mở rộng và đa dạng hóa các nghiệp vụ kinh doanh của mình.

1.2.6.3 Đối với nền kinh tế

Mặc dù các tổ chức tín dụng, tài chính và ngân hàng trung ương là thành viên chủ yếu của các hoạt động thị trường mở (OMOs), nhưng OMOs vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.

Việc phát hành và giao dịch giấy tờ có giá (GTCG) trên thị trường mở đã nâng cao tính thanh khoản cho các GTCG, góp phần thúc đẩy sự phát triển của các thị trường tài chính Điều này không chỉ tạo điều kiện cho các trung gian tài chính thu hút vốn trong nền kinh tế mà còn ảnh hưởng đến thói quen tiết kiệm và tiêu dùng của các hộ gia đình.

Thị trường mở có mối liên hệ chặt chẽ với các thị trường tiền tệ, đặc biệt là thị trường liên ngân hàng nội tệ Sự phát triển của thị trường mở không chỉ ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động của thị trường liên ngân hàng mà còn thúc đẩy sự hoàn thiện và phát triển của nó.

Phát triển nghiệp vụ thị trường mở trong điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương

1.2.7.1 Quan niệm về phát triển và phát triển nghiệp vụ thị trường mở

Phát triển là quá trình tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, bao gồm cả những thay đổi dần dần và bước nhảy vọt, dẫn đến sự xuất hiện của yếu tố mới thay thế yếu tố cũ Quá trình này không diễn ra theo một chiều duy nhất mà có thể có những diễn biến phức tạp, bao gồm cả những bước lùi tạm thời Sự phát triển là kết quả của sự thay đổi dần dần về lượng, từ đó tạo ra sự thay đổi về chất Lượng ở đây đề cập đến các yếu tố vốn có của sự vật về mặt số lượng, quy mô, trình độ và nhịp điệu vận động.

Chất là khái niệm thể hiện những tính chất và trạng thái vốn có của sự vật, được bộc lộ qua sự tương tác với các sự vật khác Sự thay đổi về lượng và chất của sự vật diễn ra đồng thời với quá trình vận động và phát triển của nó.

Sự phát triển của sự vật diễn ra thông qua quá trình tích lũy dần về lượng cho đến khi đạt đến một giới hạn nhất định, từ đó dẫn đến sự chuyển biến về chất.

Phát triển nghiệp vụ thị trường mở là quá trình nâng cao chất lượng và hiệu quả của các hoạt động này nhằm đáp ứng tốt hơn các mục tiêu chính sách tiền tệ Điều này không chỉ liên quan đến sự gia tăng số lượng thành viên, giấy tờ có giá và phiên đấu thầu, mà còn phải cải thiện khả năng điều tiết cung tiền và lãi suất Sự gia tăng về mặt "lượng" chỉ có ý nghĩa khi nó góp phần giúp Ngân hàng Trung ương đạt được các mục tiêu chính sách một cách hiệu quả hơn.

1.2.7.2 Chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của nghiệp vụ thị trường mở Để đánh giá được sự phát triển của nghiệp vụ thị trường mở, các chỉ tiêu có thể được xem xét bao gồm những chỉ tiêu phản ánh biến đổi về “lượng” và những chỉ tiêu thể hiện sự thay đổi về “chất”.

Các giao dịch nghiệp vụ thị trường mở đóng vai trò quan trọng với sự tham gia của các thành viên Số lượng thành viên tham gia phản ánh sự phát triển của công cụ này, cho thấy nghiệp vụ thị trường mở đang ngày càng lớn mạnh Sự gia tăng số lượng thành viên không chỉ chứng tỏ sự phát triển mà còn nâng cao khả năng tác động của Ngân hàng Trung ương đến dự trữ của các ngân hàng.

MB và lãi suất thị trường càng rộng, định hướng điều hành chính sách tiền tệ của NHTW càng dễ lan tỏa.

Số lượng thành viên tham gia vào nghiệp vụ thị trường mở và các phiên đấu thầu là chỉ tiêu quan trọng để NHTW đạt được mục tiêu của mình Nếu không có đủ thành viên tham gia, NHTW sẽ gặp khó khăn trong việc thực hiện đấu thầu Khi NHTW tổ chức đấu thầu với các thành viên giao dịch sơ cấp, số lượng thành viên này đã được xác định trước Tuy nhiên, khả năng các thành viên này giao dịch lại với các thành viên khác cũng phản ánh tính hiệu quả của nghiệp vụ thị trường mở.

- Hàng hóa giao dịch trong giao dịch nghiệp vụ thị trường mở

Các Ngân hàng Trung ương (NHTW) có quy định khác nhau về giấy tờ có giá trong giao dịch thị trường mở, nhưng điều quan trọng là lượng giấy tờ này phải đủ lớn để đảm bảo hiệu quả điều tiết Nếu NHTW hoặc các thành viên không có đủ giấy tờ cần thiết, khả năng điều tiết sẽ giảm sút Ví dụ, khi NHTW muốn tăng cung tiền nhưng không thể mua đủ giấy tờ có giá do thành viên không bán, mục tiêu không đạt được Do đó, lượng giấy tờ có giá sẵn sàng giao dịch phản ánh sự phát triển của nghiệp vụ thị trường mở, ảnh hưởng đến khả năng NHTW thực hiện chính sách tiền tệ Sự dồi dào của giấy tờ có giá giúp các thành viên giao dịch thuận lợi hơn và tăng cường khả năng điều tiết của NHTW.

Định kỳ giao dịch, thể hiện qua số lượng phiên giao dịch của Ngân hàng Trung ương (NHTW) trong một khoảng thời gian nhất định, là chỉ tiêu quan trọng cho sự phát triển của nghiệp vụ thị trường mở Khi công cụ này chưa phát triển, NHTW thường chỉ tổ chức đấu thầu với số lượng phiên ít và thời gian giữa các phiên kéo dài, do hạn chế về khả năng hoặc quy mô thị trường tài chính - tiền tệ nhỏ bé Sự gia tăng số lượng phiên giao dịch và rút ngắn thời gian giữa các phiên cho thấy NHTW và các thành viên đã đủ lớn mạnh và sẵn sàng sử dụng nghiệp vụ thị trường mở như một công cụ để đạt được mục tiêu của mình.

Trong một số trường hợp, mặc dù nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Trung ương (NHTW) rất phát triển, nhưng tần suất giao dịch không cao Thị trường liên ngân hàng đã hoạt động thông suốt với quy mô giao dịch lớn, cho phép các thành viên thỏa mãn nhu cầu điều hòa vốn khả dụng mà không cần đến sự can thiệp thường xuyên của NHTW Khi thị trường tiền tệ ổn định và nền kinh tế phát triển vững chắc, NHTW chỉ cần tổ chức định kỳ một số phiên giao dịch phù hợp với lượng dự trữ cần điều chỉnh để duy trì lãi suất ổn định Đánh giá sự phát triển nghiệp vụ thị trường mở của NHTW dựa vào khả năng can thiệp kịp thời vào thị trường tiền tệ khi cần thiết Khi nghiệp vụ này phát triển, NHTW có thể nhanh chóng tăng số phiên giao dịch mà không cần thời gian chuẩn bị dài Do đó, các chỉ tiêu định kỳ giao dịch cần được xem xét một cách tổng hợp để có cái nhìn chính xác về sự phát triển của nghiệp vụ thị trường mở.

- Doanh số giao dịch và doanh số giao dịch bình quân trong một phiên đấu thầu

Doanh số giao dịch là chỉ tiêu quan trọng phản ánh sự phát triển của nghiệp vụ thị trường mở Việc đánh giá nghiệp vụ này chỉ qua số lượng thành viên hay phiên giao dịch chưa đủ toàn diện, trong khi doanh số giao dịch giúp hoàn thiện nhận định về tình hình thị trường Sự gia tăng doanh số giao dịch, cả về lượng tuyệt đối và tương đối, thể hiện sự lớn mạnh của nghiệp vụ thị trường mở và tốc độ phát triển của nó Ngoài ra, doanh số giao dịch còn có thể được so sánh với doanh số giao dịch liên ngân hàng và các công cụ khác của Ngân hàng Trung ương như chính sách chiết khấu Cùng với doanh số giao dịch, quy mô phiên giao dịch và sự tăng trưởng của nó cũng là dấu hiệu quan trọng cho sự phát triển của nghiệp vụ thị trường mở.

Phương thức giao dịch trên thị trường mở được thể hiện qua hai hình thức chính là giao dịch mua bán hẳn và giao dịch mua bán có kỳ hạn Chỉ số này phản ánh sự phát triển của thị trường mở; nếu giao dịch chủ yếu là mua bán có kỳ hạn, điều này cho thấy sự phát triển mạnh mẽ của các hoạt động của Ngân hàng Trung ương thông qua các giao dịch mua bán kỳ hạn.

Hình thức đấu thầu trong thị trường mở có thể được thực hiện qua đấu thầu lãi suất hoặc đấu thầu khối lượng, tùy thuộc vào từng thời kỳ phát triển của thị trường Sự lựa chọn giữa hai hình thức này phản ánh sự phát triển của các hoạt động giao dịch trên thị trường mở Khi các hoạt động của thị trường mở (OMOs) chưa phát triển, Ngân hàng Trung ương (NHTW) thường tổ chức đấu thầu theo hình thức lãi suất Ngược lại, khi NHTW chuyển sang sử dụng hình thức đấu thầu khối lượng, điều đó cho thấy OMOs đã bắt đầu phát triển mạnh mẽ.

- Khả năng tác động của nghiệp vụ thị trường mở đối với mục tiêu chính sách tiền tệ

Nghiệp vụ thị trường mở của NHTW phản ánh sự phát triển mạnh mẽ về mặt số lượng, tuy nhiên, điều quan trọng là khả năng tác động của nó đến mục tiêu chính sách tiền tệ Khi NHTW thực hiện nghiệp vụ này, câu hỏi đặt ra là liệu họ có thể đạt được các mục tiêu chính sách tiền tệ mong muốn hay không Ví dụ, khi NHTW điều tiết lãi suất liên ngân hàng với mục tiêu giảm 1%, các giao dịch qua nghiệp vụ thị trường mở có thực sự làm lãi suất giảm như mong đợi hay không Tương tự, khi NHTW cần tăng MS lên 10 đơn vị và thực hiện mua giấy tờ có giá, liệu MB có tăng đúng 2 đơn vị hay không Cuối cùng, việc sử dụng nghiệp vụ thị trường mở cùng với các công cụ chính sách tiền tệ khác sẽ ảnh hưởng như thế nào đến các mục tiêu kinh tế như tỷ lệ lạm phát, tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ thất nghiệp.

Khả năng tác động của nghiệp vụ thị trường mở phụ thuộc vào thời gian mà NHTW cần để đạt được mục tiêu, được gọi là độ trễ của chính sách tiền tệ So với chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ có ảnh hưởng nhanh và dễ nhận biết hơn, nhưng độ trễ của nó cũng bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, đặc biệt là trình độ phát triển của thị trường tài chính - tiền tệ Khi thị trường phát triển, các kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ trở nên thông suốt, giúp NHTW đạt được mục tiêu một cách thuận lợi và nhanh chóng hơn Do đó, sự phát triển của nghiệp vụ thị trường mở không chỉ thể hiện qua mức độ đạt được mục tiêu chính sách tiền tệ mà còn qua thời gian thực hiện.

KINH NGHIỆM VỀ PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ TẠI MỘT SỐ NƯỚC

Nghiệp vụ thị trường mở tại Ngân hàng dự trữ liên bang Mỹ

Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) đã bắt đầu áp dụng nghiệp vụ thị trường mở từ cuối những năm 1920, và hiện nay, đây được coi là công cụ chính sách tiền tệ linh hoạt và hiệu quả nhất của Fed Để quản lý nghiệp vụ này, Fed thành lập Uỷ ban nghiệp vụ thị trường mở (FOMC), một tổ chức độc lập có nhiệm vụ hoạch định chính sách và chỉ đạo các hoạt động OMOs nhằm kiểm soát lượng tiền cung ứng trong nền kinh tế.

Mục tiêu OMOs của FED mỗi giai đoạn có sự khác biệt Trong những năm

Từ năm 1980, Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC) đã thực hiện các giao dịch thị trường mở (OMOs) với mục tiêu duy trì lãi suất ổn định Bắt đầu từ năm 1994, FOMC đã thay đổi mục tiêu, xác lập lãi suất cụ thể từ năm 1995 Đến năm 2000, các điều chỉnh sau mỗi phiên họp nhằm giảm rủi ro ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế Mỹ Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế năm 2007, FED đã tăng tính thanh khoản thị trường tín dụng thông qua việc mua trái phiếu Chính phủ và áp dụng biện pháp cho vay kỳ hạn (TAF) từ ngày 12/12/2007 Biện pháp này cho phép các trung gian tài chính tham gia vay với lãi suất tự xác định, thường thấp hơn lãi suất cửa sổ chiết khấu, giúp giảm áp lực lên thị trường FOMC, bao gồm bảy thành viên Hội đồng Thống đốc và năm chủ tịch Ngân hàng Dự trữ Liên bang, tổ chức ít nhất bốn phiên họp mỗi năm để đánh giá tình hình kinh tế và lập kế hoạch cho chính sách tiền tệ FOMC thực hiện OMOs chủ yếu thông qua mua bán trái phiếu Chính phủ, với tín phiếu KBNN có tính thanh khoản cao.

Phòng kinh doanh tại Ngân hàng Dự trữ Liên bang New York là cơ quan thực hiện các hoạt động thị trường mở, hàng ngày giám đốc bộ phận này phân tích tình hình thực tế dựa trên báo cáo tổng số tiền dự trữ trong hệ thống ngân hàng, lãi suất liên bang hiện hành và thông tin từ Kho bạc Mỹ Sau khi đối chiếu với dữ liệu từ FOMC về tỷ lệ tăng trưởng tiền cung ứng và mức vốn mà Ủy ban mong muốn, giám đốc sẽ tổ chức cuộc họp qua điện thoại với các thành viên FOMC để xây dựng chiến lược hoạt động Khi kế hoạch được phê duyệt, phòng kinh doanh sẽ liên lạc với các nhà giao dịch chính để thực hiện việc bơm hoặc hút tiền cung ứng, và nếu cần thiết, FOMC sẽ can thiệp vào thị trường mở thông qua việc mua hoặc bán.

Khi thực hiện nghiệp vụ mua hoặc bán hẳn, FOMC áp dụng phương pháp đấu thầu lãi suất, trong đó các thành viên đặt giá mua hoặc bán cho từng loại GTCG FOMC sẽ lựa chọn bán GTCG cho thành viên có giá mua cao nhất (lãi suất thấp nhất) và mua GTCG từ các thành viên có giá bán thấp nhất (lãi suất cao nhất).

Khi thực hiện nghiệp vụ thỏa thuận mua lại, FOMC giao dịch với các thành viên bằng cách mua GTCG và yêu cầu họ đồng ý mua lại với giá cụ thể vào một ngày nhất định Phương thức này thường áp dụng trong ngắn hạn, không quá một tuần Trong giao dịch bán tạm thời trên thị trường mở, FOMC thực hiện nghiệp vụ mua lại đảo ngược, bán GTCG cho các thành viên và sau đó họ sẽ thỏa thuận bán lại cho FOMC trong khoảng thời gian ngắn Hai hoạt động này giúp FED điều chỉnh lượng dự trữ theo mong muốn, tăng cường hiệu quả của chính sách tiền tệ nhờ vào việc điều chỉnh lượng tiền cung ứng hàng ngày và thường xuyên hơn so với giao dịch mua hoặc bán hẳn.

Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc

Ngân hàng trung ương Hàn Quốc (BOK) đã triển khai nghiệp vụ thị trường mở từ tháng 11/1961, thông qua việc phát hành một loại giấy tờ có giá.

“trái phiếu ổn định tiền tệ” (MSB ) Hoạt động mua, bán trái phiếu chính phủ giữa

B OK bắt đầu thực hiện các nghiệp vụ thị trường mở từ tháng 2/1969, và đến năm 1977, các tổ chức tài chính phi ngân hàng cũng tham gia vào lĩnh vực này Phương pháp đấu thầu cạnh tranh và giao dịch Repos được áp dụng từ tháng 3/1993 Đến tháng 8/1997, B OK chính thức triển khai hệ thống đấu thầu điện tử qua mạng B OK-Wire và hệ thống thanh toán tổng thời gian thực (Real Time Gross Settlement) cho các giao dịch thị trường mở Năm 2009, B OK nâng cấp hệ thống OK-Wire thành BOK-Wire+ Các hoạt động OMOs của B OK được thực hiện dựa trên sự phối hợp giữa các đơn vị như Vụ CSTT và Vụ Thị trường Tài chính, trong đó Phòng Chính sách tín dụng và dự trữ lập kế hoạch OMOs, còn Phòng nghiệp vụ thị trường mở thực hiện OMOs hàng ngày.

Mục tiêu của tổ chức OMOs là điều tiết tiền dự trữ của các ngân hàng thương mại (NHTM) nhằm duy trì lãi suất trên thị trường qua đêm phù hợp với lãi suất mục tiêu của Hội đồng Chính sách Tiền tệ Sự dư thừa hoặc thiếu hụt vốn khả dụng của NHTM là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động của OMOs Khi Ngân hàng Trung ương (OK) điều chỉnh vốn khả dụng, dự trữ trên tài khoản của NHTM tại ngân hàng này sẽ thay đổi, dẫn đến sự biến động của lãi suất qua đêm Do đó, để lãi suất thị trường qua đêm luôn tương thích với lãi suất mục tiêu, cần thiết phải cân bằng cung và cầu về dự trữ.

OK cần dự báo cung cầu dự trữ càng chính xác càng tốt. về hàng hóa giao dịch trên thị trường mở, (1) Trái phiếu ổn định tiền tệ do

B OK phát hành là công cụ chính trong chính sách tiền tệ, đặc biệt khi khối lượng trái phiếu Chính phủ và trái phiếu công cộng còn hạn chế Đối với MSB, B OK sử dụng hai hình thức giao dịch là đấu thầu và bán trực tiếp Tần suất và quy mô phát hành MSB hàng tuần được xác định dựa trên các yếu tố như thanh toán MSB, điều kiện tiền tệ và dự trữ OMOs được thực hiện thông qua đấu thầu cạnh tranh trên mạng B OK-Wire, với phương pháp phân bổ dựa trên giá chào thầu từ cao đến thấp Khối lượng trúng thầu tỷ lệ thuận với khối lượng dự thầu khi các TCTD chào cùng một mức giá Sau các giao dịch OMOs, B OK sẽ xem xét kết quả và đánh giá tính phù hợp với mục tiêu đặt ra, đồng thời xác định nhu cầu thực hiện các hoạt động bổ sung.

Các thành viên tham gia thị trường mở sẽ được B OK đánh giá hàng năm vào tháng 8, dựa trên tiêu chí như kết quả đấu thầu OMOs, giao dịch MSB trên thị trường thứ cấp, khối lượng MSB nắm giữ, chất lượng tài sản và tình hình tài chính của các TCTD Những TCTD không đáp ứng tiêu chuẩn sẽ bị B OK cắt quan hệ giao dịch Hiện tại, có 35 tổ chức tài chính được chọn làm thành viên giao dịch chứng khoán chính phủ và 42 tổ chức tài chính tham gia giao dịch phát hành MSB.

Ngân hàng Trung ương Thái Lan

Ngân hàng Trung ương Thái Lan (BOT) thực hiện các hoạt động thị trường mở bằng cách mua và bán giấy tờ có giá (GTCG) cũng như ngoại tệ Các giao dịch này được thực hiện với các thành viên như ngân hàng thương mại, tổ chức tài chính phi ngân hàng và doanh nghiệp.

Hàng hóa giao dịch trên thị trường mở bao gồm trái phiếu chính phủ (TPCP) và tín phiếu của Ngân hàng Nhà nước (BOT) Khi ngân sách Nhà nước bội thu dẫn đến số dư trái phiếu giảm mạnh, trái phiếu doanh nghiệp Nhà nước được Bộ Tài chính bảo lãnh phát hành và gửi tại BOT sẽ được đưa vào thị trường mở nhằm tạo thuận lợi cho các nghiệp vụ liên quan Ngoài ra, BOT cũng thực hiện các giao dịch Swap giữa đồng Baht và USD để quản lý hiệu quả nguồn lực tài chính.

Trái phiếu chính quyền địa phương, trái phiếu doanh nghiệp Nhà nước do B ộ

Tài chính bảo lãnh phát hành gửi

Chính phủ USD USD Tín phiếu

Thời gian tổ chức đấu thầu

9h30-9h45 và thông báo kết quả 2h30-2h45

- Không theo quy luật, khoảng 2 lần/tháng

- Thời gian 10h-11h, thông báo kết quả 12h

- Trái phiếu khoảng 2 lần/tháng vào thứ ba, tư

1,2 lần/tuần vào thứ ba, năm, sáu

9h30 và thông báo kết quả 12h

11h30-1h330 và thông báo kết quả 2h30

- Không theo quy luật - Hàng ngày

16h-16h30 và thông báo kết quả trong vòng 15 phút

Các nhà giao dịch sơ cấp Các nhà giao dịch sơ cấp Thành viên đủ tiêu chuẩn NHTM trong nước NHTM trong nước+NHTM nước ngoài

NHTM, công ty tài chính, công ty chứng khoán, các TCTC đặc biệt Thời gian thanh toán

Trong ngày T+2 T+2 T+1; T+2 Trong ngày Trong ngày

6 tháng _ Giá thầu Nhiều mức giá, trừ kỳ hạn giao dịch 1 ngày áp dụng mức giá thầu cô định

Nhiều mức giá Nhiều mức giá(không cạnh tranh thầu với kỳ hạn giao dịch trên 1 năm)

Nhiều mức giá xử lý theo trường hợp cụ thể

Giá theo trường hợp cụ thể

Bảng 1.1: Hoạt động thị trường mở của Ngân hàng Trung ương Thái Lan

Nguồn: Ngân hàng Trung ương Thái Lan

Phương thức giao dịch trong nghiệp vụ thị trường mở chủ yếu là các giao dịch có kỳ hạn, đặc biệt là các giao dịch mua bán có kỳ hạn Để nâng cao khả năng quản lý trạng thái thanh khoản của thị trường, B OT thực hiện nghiệp vụ Swap giữa đồng B ath và USD.

Hoạt động nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Trung ương Thái Lan (BOT) có những đặc điểm nổi bật: BOT chưa thực hiện nghiệp vụ này một cách năng động nhằm thay đổi dự trữ của ngân hàng thương mại theo mục tiêu chính sách tiền tệ, mà chủ yếu nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường Để tăng cường quy mô hoạt động, BOT thực hiện các nghiệp vụ swap giữa đồng Baht và USD để bù đắp những biến động do các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến dự trữ của ngân hàng thương mại, nhất là khi thị trường tài chính Thái Lan chịu tác động từ nguồn vốn đầu tư nước ngoài BOT cũng tăng cường can thiệp vào thị trường mở một hoặc hai lần trong tuần, vào các ngày thứ ba, thứ năm và thứ sáu, thông qua việc bổ sung nhiều giấy tờ có giá (GTCG) vào danh mục sử dụng Danh mục này được mở rộng để bao gồm cả chứng khoán nợ có đảm bảo của các cơ quan quản lý địa phương, và BOT xem việc thiết lập hệ thống các nhà giao dịch sơ cấp như một đối tác bổ sung nhằm tăng cường ảnh hưởng của nghiệp vụ thị trường mở đến thị trường tài chính.

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ TRONG VIỆC ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ

Ngày đăng: 31/03/2022, 22:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w