1. Trang chủ
  2. » Công Nghệ Thông Tin

ỨNG DỤNG CNTT TRONG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH DU LỊCH ĐÁP ỨNG XU THẾ HỘI NHẬP

12 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 361,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, công tác đào tạo nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành Du lịch là vấn đề mang tính cấp thiết đối với sự phát triển du lịch của mỗi cơ sở đào tạo nói chung và khoa Du lịch

Trang 1

See discussions, stats, and author profiles for this publication at: https://www.researchgate.net/publication/340756722

Ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo nguồn nhân lực ngành Du lịch đáp

ứng yêu cầu hội nhập và phát triển

Conference Paper · April 2019

CITATIONS

0

READS 636

1 author:

Tran Thi Ngoc Lan

Ho Chi Minh City University of Food Industry

21PUBLICATIONS    0CITATIONS    

SEE PROFILE

Trang 2

Ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo nguồn nhân lực ngành Du lịch đáp ứng yêu

cầu hội nhập và phát triển

TS Trần Thị Ngọc Lan Trường đại học Công nghiệp Thực phẩm TP HCM

Email: ngoclantbk17@gmail.com

TÓM TẮT

Xu hướng hội nhập, hợp tác, cạnh tranh toàn cầu, giao lưu mở rộng và tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ trong nền kinh tế tri thức trên thế giới đang tạo những cơ hội to lớn đồng thời cũng

là thách thức đối với phát triển du lịch Việc đổi mới giáo dục, việc cập nhật các thông tin tiêu chuẩn ngành và đáp ứng yêu cầu nội dung chương trình đào tạo chung ASEAN (CATC) nhằm khẳng định uy tín, thương hiệu của mình trong quá trình cạnh tranh và hội nhập là việc làm hết sức cần thiết Khoa Du lịch trường đại học Công nghiệp Thực phẩm cần phải có chiến lược phát triển du lịch với quan điểm phát triển đột phá đáp ứng được những yêu cầu mới của thời đại về tính chuyên nghiệp, tính hiện đại, hội nhập, hiệu quả và bền vững tương xứng với tiềm năng của đất nước, đủ sức cạnh tranh trong khu vực và quốc tế Bài viết đề cập đến nhu cầu nguồn nhân lực

du lịch trong giai đoạn hiện nay và những yêu cầu đặt ra đối với công tác đào tạo nguồn nhân lực

du lịch khi Việt Nam tham gia AEC Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số khuyến nghị góp phần nâng cao hiệu quả công tác đào tạo nguồn nhân lực của khoa Du lịch trường đại học Công nghiệp Thực phẩm TP.HCM

Từ khóa: Du lịch, đào tạo, đáp ứng, nguồn nhân lực, AEC

1 Đặt vấn đề

Đào tạo du lịch nói chung và đào tạo nghề du lịch nói riêng ở Việt Nam đã có những tiến

bộ đáng kể cả về chất và về lượng Theo con số thống kê của Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch, hiện nay cả nước có 346 lượt cơ sở đào tạo tham gia đào tạo du lịch các cấp đào tạo từ dưới sơ cấp đến sau đại học Trong đó, 115 lượt cơ sở tham gia đào tạo đại học và cao đẳng du lịch, 144 lượt

cơ sở đào tạo trung cấp chuyên nghiệp và 87 lượt cơ sở đào tạo nghề du lịch gồm: trường cao đẳng nghề, trường trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề (Nguyễn Thị Thu Hương, 2017)

Chất lượng đào tạo phụ thuộc và nhiều yếu tố như chất lượng tuyển chọn đầu vào, khung

và trình độ đào tạo theo chuẩn, chương trình, giáo trình, nội dung đào tạo, phương pháp giảng dạy tiến tiến và phù hợp… Trong xu thế phát triển của nền kinh tế trí thức, khoa học công nghệ được ứng dụng có hiệu quả Kinh nghiệm quản lý tiên tiến, công nghệ hiện đại, nguồn nhân lực chất lượng cao được sử dụng như một công cụ cạnh tranh chủ yếu giữa các quốc gia Công nghệ mới làm thay đổi căn bản phương thức quan hệ kinh tế, đặc biệt công nghệ thông tin truyền thông được ứng dụng mạnh trong hoạt động du lịch(Phạm Trung Lương, 2016)

Trong bức tranh chung của công tác giáo dục và đào tạo du lịch vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, chất lượng giáo dục, đào tạo cải thiện chưa theo kịp với yêu cầu, chất lượng chưa cao, tính hợp lý và đồng bộ chưa còn hạn chế, thiếu tính kế thừa (Lan Hương, 2016) Công tác phân luồng

và hướng nghiệp còn bỏ ngỏ Đổi mới giáo dục đào tạo còn chậm và chưa hiệu quả, với tư cách là hoạt động “xuất khẩu tại chỗ”, du lịch đã đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn và tạo ra nhiều việc làm

có thu nhập cho xã hội mà hiện nay chưa tính toán hết được Mục tiêu phát triển của du lịch Việt Nam đến năm 2020 là trở thành một điểm đến hấp dẫn trong khu vực và trên thế giới, nằm trong những nước đứng đầu Đông Nam Á về các chỉ tiêu phát triển du lịch (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du

Trang 3

được nâng cao hơn nữa, bởi phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện cần thiết để du lịch Việt Nam xóa dần khoảng cách với du lịch của các quốc gia phát triển trên thế giới và trong khu vực Thực tế cho thấy nguồn nhân lực du lịch hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển

cả về mặt cơ cấu, chất lượng và số lượng Do đó, công tác đào tạo nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành Du lịch là vấn đề mang tính cấp thiết đối với sự phát triển du lịch của mỗi cơ sở đào tạo nói chung và khoa Du lịch trường đại học Công nghiệp thực phẩm nói riêng đáp ứng được yêu cầu hội nhập trong nước và khu vực

2 Phương pháp nghiên cứu

Trên nguồn số liệu thứ cấp thu thập được từ tạp chí, sách, Viện Nghiên cứu phát triển du lịch Việt Nam và xu hướng du lịch thông minh hiện nay, bài viết chủ yếu sử dụng phương pháp thống kê mô tả, so sánh kết hợp phân tích đánh giá

3 Kết quả nghiên cứu

3.1 Nhu cầu nguồn nhân lực ngành Du lịch Việt Nam

Ngành Du lịch hiện được đánh giá là ngành có nhu cầu nhân sự cao gấp 2-3 lần so với các ngành trọng điểm khác như giáo dục, y tế, tài chính Theo Tổng cục Du lịch (Bộ Văn hóa - Thể thao - Du lịch), mỗi năm toàn ngành cần thêm gần 40.000 lao động Tuy nhiên, lượng sinh viên chuyên ngành ra trường chỉ khoảng 15.000 người/năm, trong đó chỉ hơn 12% có trình độ cao đẳng, đại học trở lên Nhiều hướng dẫn viên du lịch dù được đào tạo chính quy ở các trường đại học, cao đẳng nhưng khi được tuyển dụng làm việc hầu hết doanh nghiệp lữ hành đều phải đào tạo lại hoặc đào tạo bổ sung về kỹ năng, ngoại ngữ Nguồn lao động trong lĩnh vực du lịch không những thiếu về mặt số lượng, mà còn yếu về chuyên môn Chất lượng nguồn nhân lực do các cơ sở đào tạo cung cấp cho thị trường lao động du lịch chưa đạt yêu cầu của doanh nghiệp Báo cáo tổng hợp

về thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam những năm qua cho thấy: lao động có trình độ đại học và trên đại học chiếm 9,7%, sơ cấp, trung cấp, cao đẳng chiếm 51%, dưới sơ cấp là 39,3% Trong

đó, chỉ có 43% được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ về các ngành nghề du lịch Ngoài ra, hơn một nửa lao động làm việc trong du lịch lại rất yếu về ngoại ngữ, đây là một hạn chế rất lớn của du lịch Việt Nam Theo nghiên cứu của ITDR về trình độ ngoại ngữ của nguồn nhân lực ngành Du lịch cho thấy, ngoại ngữ tiếng Anh hiện chiếm khoảng 42% nhân lực toàn ngành, tiếng Trung, tiếng Pháp và các tiếng khác với tỷ lệ tương ứng là 5%, 4% và 9% nhân lực Như vậy, nhu cầu về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực cho ngành Du lịch là rất lớn, trong đó đáng chú ý là nhu cầu nhân lực có trình độ cao ngày một gia tăng (Nguyễn Thị Thu Hương, 2017)

Bảng 1 Dự báo nhu cầu nhân lực ngành Du lịch đến năm 2020

(Theo vị trí làm việc và theo ngành nghề)

2 Nhân lực quản trị doanh nghiệp (trưởng, phó

phòng trở lên)

55.100

Trang 4

1 Khách sạn, nhà hàng 408.900

Nguồn: Viện Nghiên cứu phát triển du lịch

Như vậy, nhu cầu nguồn nhân lực cho ngành Du lịch là rất lớn Tuy nhiên, số lượng các cơ

sở đào tạo nguồn nhân lực của ngành còn ít, chưa đáp ứng được nhu cầu đào tạo và chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn Trong khi đó, các địa điểm du lịch, các trung tâm du lịch lại tập trung ở hầu hết các địa phương trong cả nước

3.2 Yêu cầu đặt ra đối với công tác đào tạo nguồn nhân lực du lịch

• Ngành đào tạo đặc thù

Theo Đề án đặc thù đào tạo ngành nghề du lịch của Bộ Giáo dục & Đào tạo và thực hiện Công văn số 4929/BGDĐT- GDĐH ngày 20/10/2017 của Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn cơ chế đặc thù đào tạo nhân lực ngành du lịch trình độ đại học giai đoạn 2017-2020 theo hướng đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị trường lao động và hội nhập quốc tế Các cơ sở đào tạo ngành du lịch phải khẩn trương triển khai xây dựng Đề án áp dụng cơ chế đặc thù đào tạo nhân lực du lịch trình

độ đại học (giai đoạn 2017-2020) theo một số các nội dung: Các ngành nghề được áp dụng cơ chế đào tạo đặc thù; chương trình nội dung, hình thức đào tạo; cơ chế, chính sách ưu tiên đào tạo nhân lực du lịch; hợp tác giữa cơ sở đào tạo đại học với doanh nghiệp, hiệp hội nghề nghiệp; hoạt động

hỗ trợ đào tạo nhân lực du lịch

Về Chương trình, nội dung và hình thức đào tạo: Tăng thời gian đào tạo thực hành, thực

tập tại doanh nghiệp Cơ sở đào tạo tự chủ lựa chọn doanh nghiệp đối tác; chịu trách nhiệm trong việc kiểm tra điều kiện đảm bảo chất lượng và năng lực tham gia đào tạo của doanh nghiệp đối tác trong quá trình phối hợp đào tạo và tổ chức cho sinh viên thực hành, thực tập

Về cơ chế chính sách ưu tiên đào tạo nhân lực du lịch: (1) Khuyến khích chuyên gia, cán

bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý… (gọi chung là chuyên gia) có kinh nghiệm hoạt động nghề nghiệp của doanh nghiệp tham gia đào tạo nhân lực du lịch, đặc biệt là giảng dạy, hướng dẫn các nội dung liên quan đến các kỹ năng đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp; (2) Có chính sách thu hút các nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài, chuyên gia quốc tế về du lịch tham gia công tác đào tạo ở các

cơ sở đào tạo đại học Trên cơ sở hợp đồng lao động giữa hai bên, các chuyên gia này được tính là giảng viên cơ hữu khi xác định chỉ tiêu tuyển sinh

Về hợp tác giữa cơ sở đào tạo đại học với doanh nghiệp, hiệp hội nghề nghiệp Các cơ sở

có đào tạo ngành du lịch phải gắn kết với hiệp hội nghề nghiệp, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực du lịch để dự báo nhu cầu lao động, xây dựng chuẩn đầu ra và đào tạo sinh viên có kỹ năng đáp ứng yêu cầu ngành nghề, cụ thể như sau: (1) Thoả thuận doanh nghiệp là nơi thực hành, thực tập của cơ sở đào tạo; sử dụng cơ sở vật chất, trang thiết bị, phần mềm… của doanh nghiệp để đào tạo thực hành Thời gian đào tạo tại các doanh nghiệp ít nhất bằng tổng thời gian thực hành, thực tập của chương trình đào tạo và không ít hơn 50% tổng thời gian thực hiện chương trình đào tạo, (2) Doanh nghiệp cử chuyên gia tham gia giảng dạy, hướng dẫn thực hành, thực tập, đánh giá kết quả học tập của sinh viên, (3) Phối hợp dự báo nhu cầu nhân lực của các ngành du lịch về số lượng, yêu cầu chất lượng; phối hợp đầu tư cơ sở vật chất theo hướng đẩy mạnh xã hội hóa, tăng cường hợp tác công tư, chú trọng xây dựng các cơ sở thực hành, thực tập chất lượng cao, theo chuẩn mực khu vực và quốc tế phục vụ đào tạo nhân lực du lịch

Trang 5

Về hoạt động hỗ trợ đào tạo nhân lực du lịch: (1) Tăng cường tổ chức các khóa đào tạo

ngắn hạn nhằm bổ sung, cập nhật kiến thức, kỹ năng, tăng cơ hội tìm việc làm cho sinh viên ngành

du lịch đã tốt nghiệp, (2) Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong đào tạo nguồn nhân lực du lịch; khuyến khích các cơ sở đào tạo liên kết với các trường đại học của các nước phát triển để đào tạo các ngành

du lịch

• Du lịch thông minh - xu thế của tương lai

Thị trường du lịch Việt Nam đang có nhiều thay đổi do sự phát triển của công nghệ, nhất

là du lịch trực tuyến Nhiều doanh nghiệp, địa phương lựa chọn mô hình du lịch thông minh để đón đầu xu hướng phát triển bền vững Du lịch thông minh Việt Nam đang phát triển dựa trên nền tảng công nghệ thông minh kết hợp với du lịch truyền thống Trong những năm gần đây, công nghệ thông tin phát triển một cách đáng kinh ngạc, du khách có thể tìm kiếm nhiều thông tin hấp dẫn về điểm đến chỉ trong vài thao tác nhấp chuột máy tính Điều này đã khiến nhiều doanh nghiệp lữ hành chọn lựa mạng xã hội Facebook, Instagram như một công cụ hữu hiệu để kết nối với du khách, gấp rút xây dựng các ứng dụng di động (Đào Loan, 2018)

Theo thống kê Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam, tốc độ tăng trưởng thương mại điện

tử của Việt Nam năm 2017 đạt trên 25% và con số này có thể được duy trì trong giai đoạn

2018-2020 Đáng chú ý là tốc độ tăng trưởng của du lịch trực tuyến lên lới 50%, gấp đôi tốc độ tăng trưởng chung của thương mại điện tử Một khảo sát với khách du lịch quốc tế đến Việt Nam năm

2017 cho thấy, có tới 71% du khách tham khảo thông tin điểm đến trên Internet; 64% đặt chỗ và mua dịch vụ trực tuyến trong chuyến đi đến Việt Nam Với sự phát triển chung của thương mại điện tử và du lịch, các tỷ lệ này được dự báo sẽ tiếp tục tăng mạnh trong giai đoạn tới

Trước đây, nếu doanh nghiệp muốn chào bán một tour du lịch hay muốn quảng bá hình ảnh điểm đến thì chủ yếu chọn giải pháp phát tờ rơi, tổ chức các hội thảo, chương trình giới thiệu Hiện nay, nhờ ứng dụng Internet, những hình ảnh danh lam thắng cảnh tiếp cận khách hàng dễ dàng, tiện lợi, lại tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp Mọi vấn đề du khách phản ánh sẽ được nhân viên chăm sóc khách hàng xử lý trực tuyến, tiết kiệm thời gian Hơn nữa, rất nhiều địa điểm vui chơi "ngon, bổ, rẻ" cũng được các trang Facebook tổng hợp để thôi thúc du khách sớm đưa ra quyết định đặt tour

Tại Hà Nội, việc phát triển du lịch thông minh đã được quan tâm và thể hiện rất rõ khi Trung tâm Hoạt động Văn hóa khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám đưa vào khai thác hệ thống thuyết minh tự động về di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám Chỉ với 30.000 đồng một lần sử dụng,

du khách có thể trải nghiệm hệ thống thuyết minh tự động 14 điểm trong di tích bao gồm 8 thứ tiếng gồm: tiếng Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam do chính người bản địa đọc Nội dung thuyết minh được biên soạn cẩn thận về các câu chuyện lịch sử, câu chuyện di sản giúp khách tham quan dễ dàng hình dung quá trình hình thành và phát triển các giá trị của di sản Những thông tin này được các chuyên gia văn hóa thẩm định kỹ trước khi triển khai Cùng với đó, Trung tâm Bảo tồn Di sản văn hóa Thăng Long - Hà Nội đưa vào hoạt động phần mềm hướng dẫn tham quan Hoàng thành Thăng Long Chỉ cần một điện thoại thông minh, khách tham quan có thể tải phầm mềm và thỏa sức khám phá Hoàng thành và có thể tìm kiếm những quán ăn, quán cà phê đẹp, giá cả phải chăng gần khu di sản

Nhiều quốc gia trên thế giới đã ứng dụng công nghệ triệt để phục vụ khách du lịch, từ việc đặt các dịch vụ tại khách sạn, nhà hàng, xin cấp visa, mua vé máy bay… Mới đây, Tổng cục Du lịch Hàn Quốc đã cung cấp dịch vụ di động dễ dàng sử dụng và thuận tiện mang tên “VisitKorea” cho cả khách quốc tế và nội địa Với ứng dụng này, du khách có thể du lịch khắp Hàn Quốc, được cung cấp nhiều thông tin hữu ích cho chuyến đi, các thông tin du lịch mới nhất, địa điểm ngắm cảnh nổi tiếng, các quán ăn… Những thông tin được cung cấp trong ứng dụng đều đáng tin cậy,

Trang 6

đảm bảo cho kế hoạch và hành trình của du khách sẽ chính xác hơn Nhìn từ Hàn Quốc, ngành du lịch Việt Nam cần “tăng tốc” để bắt kịp xu thế, tích cực phủ độ rộng của việc ứng dụng công nghệ thông tin để đem lại nhiều trải nghiệm hơn cho du khách Việc cung cấp thông tin đầy đủ, thuận tiện và dễ dàng tìm kiếm như “chìa khóa” để Việt Nam “mở cửa” đón du khách ghé thăm

Mặt khác, thị trường du lịch trực tuyến tại Việt Nam vẫn đang bị bỏ ngỏ Các công ty lữ hành online thương hiệu toàn cầu như Agoda.com, booking.com, Traveloka.com, Expedia.com đang độc chiếm thị trường Việt Nam, với khoảng 80% thị phần Trong khi đó, hiện chỉ có trên 10 công ty Việt Nam có kinh doanh du lịch trực tuyến như: Ivivu.com, chudu24.com, mytour.vn, tripi.vn, mytour.vn, gotadi.com, vntrip.vn… Vì vậy “mảnh đất màu mỡ” du lịch thông minh tại Việt Nam cần được những người làm du lịch quan tâm khai thác hơn nữa để đưa ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn

Nhìn một cách tổng thể, các trường hiện nay đang nỗ lực rất nhiềm nhằm bắt kịp với sự thay đổi và hội nhập với tiêu chuẩn quốc tế, song, công tác đào tạo về du lịch tại các khoa có đào tạo du lịch của các trường đại học và cao đẳng (142 trường) còn gặp khá nhiều bất cập như:

Thứ nhất, xác định đối tượng và nhu cầu đào tạo tại các cơ sở đào tạo cao đẳng và đại học

là một trong những vấn đề cần quan tâm đầu tiên trong đào tạo Về cơ bản, nghề du lịch là một nghề có rào cản nhập ngành thấp nên cách nhìn nhận về nghề này trong xã hội thường khá đơn giản Thêm nữa, định hướng trong các bậc học phổ thông trung học về việc lựa chọn nghề nghiệp trong tương lai còn chưa rõ ràng, dẫn đến tình trạng mất phương hướng của học sinh khi lựa chọn trường và ngành đăng ký Việc hướng nghiệp và làm quen với nghề nghiệp của học sinh cần được hướng dẫn cụ thể, mang tính liên tục hơn đặc biệt không chỉ dành riêng cho học sinh cuối cấp

Ngoài ra, yếu tố giới tính cũng có ảnh hưởng không nhỏ khi lựa chọn chuyên ngành du lịch Thực tế cho thấy, ở rất nhiều trường tỷ lệ nữ cao có thể chiếm tới 80-90% tổng số sinh viên, đặc biệt những lớp thuộc chuyên ngành hướng dẫn du lịch, có đến 70% sinh viên xác định không theo nghề được học do sức khỏe, do yếu tố nghề nghiệp, gia đình… Điều này dẫn tới sự lãng phí về vật chất lẫn tinh thần trong công tác đào tạo và đồng thời tạo ra một môi trường không tích cực trong nhà trường, cũng như trong việc đào tạo và sử dụng lao động sau này

Thứ hai, cơ sở vật chất, kỹ thuật trong đào tạo được coi là yếu tố hỗ trợ tích cực trong quá trình giáo dục và đào tạo trong nhà trường Hiện nay, đào tạo du lịch ở Việt Nam có sự cạnh tranh rất lớn trên nhiều lĩnh vực giữa khối các trường tư thục và công lập Sự bất cập có thể nhìn thấy rõ trong mức độ trang bị cơ sở vật chất, trường lớp và số lượng sinh viên cũng như yêu cầu trong công tác đào tạo Vì vậy, xác định vấn đề đầu tư như thế nào để vừa tiết kiệm, vừa phát huy hiệu quả cao rất cần được quan tâm đúng mức

Các giáo cụ trực quan và đồ dùng trong quá trình dạy học thiếu hoặc không đồng đều, chắp

vá do nguồn huy động vật chất tự có theo khả năng của khoa hoặc của trường Việc sử dụng tùy thuộc vào mức độ và trình độ của giáo viên và sinh viên dẫn đến tình trạng không được bảo quản đúng tiêu chuẩn, hỏng hóc, thiếu hụt thường xuyên Điều này ngoại trừ một số trường nằm trong khối một số cơ sở đào tạo chuyên về du lịch được xây dựng, mở rộng khá khang trang, nhất là các trường trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề, đặc biệt là bốn trường được thụ hưởng dự án do Luxembourg tài trợ và 14 trường thụ hưởng Dự án EU được tăng cường và các trung tâm thẩm định kỹ năng nghề du lịch được trang thiết bị hiện đại, đạt tiêu chuẩn EUi Vấn đề đặt ra ở đây là làm cách nào để có được những điều kiện tốt nhất về cơ sở vật chất để cho sinh viên được có cơ hội tiếp cận với các kỹ năng thực hành về nghiệp vụ đang học

Trang 7

Thứ ba, phần lớn số lượng giáo viên, giảng viên ở các trường có đào tạo về du lịch được đào tạo từ các ngành khác Cơ bản là từ các khối ngành văn hóa, xã hội hoặc quản trị kinh doanh Việc giảng dạy về du lịch chủ yếu dựa vào vốn kiến thức tự học, tổng hợp từ nhiều nguồn, từ nhiều kinh nghiệm của các thầy, cô Trong điều kiện hội nhập hiện nay, ngoài yếu tố tích hợp tiêu chuẩn trong nước và quốc tế đối với chuyên môn nghiệp vụ trong khuôn khổ chương trình cho phép thì khả năng sử dụng thành thạo ngoại ngữ và công nghệ thông tin để nâng tầm trong công tác giảng dạy là yêu cầu bắt buộc đối với giảng viên Tuy đã có những cải thiện đáng kể với các chương trình đào tạo bổ sung song để đạt chuẩn khu vực và quốc tế thì đây vẫn là một trong những điểm yếu đối với đội ngũ giảng viên, đặc biệt là về ngoại ngữ

Ngoài ra, sự mất cân bằng trong đào tạo giữa lý thuyết và thực hành ở các bậc học cũng cần được quan tâm thích đáng Ở hai bậc học này, việc đào tạo theo truyền thống trên giảng đường ít được gắn với thực hành Vì vậy, mặc dù ngồi trên ghế nhà trường 3-4 năm nhưng có không ít sinh viên không có kỹ năng xử lý công việc Nguyên nhân có thể do nhiều yếu tố có thể xuất phát từ cách nhìn học đại học thì không hướng vào dạy nghề, bên cạnh sự hạn chế về cơ sở vật chất và chế

độ đãi ngộ khi dạy thực hành chưa tương xứng nên giờ thực hành thường bị coi nhẹ hoặc làm lấy

lệ Nhìn chung, phần thực hành vẫn là một trong những vấn đề khó khăn rất lớn đối với việc giảng dạy du lịch ở các bậc học Hầu hết các ý kiến của doanh nghiệp cũng như các cơ sở đào tạo trong các chương trình hội thảo chuyên ngành đều thống nhất ở hai vấn đề cơ bản: đào tạo thiên về lý thuyết mà thiếu thực hành: khả năng tiếp cận thực tế và thích nghi với môi trường làm việc kém, giao tiếp cơ bản trong công việc chưa đạt yêu cầu đặc biệt là việc sử dụng ngoại ngữ

Trong tình hình hiện nay, khi thiết kế các chương trình đào tạo, các trường cũng đã cố gắng

để lồng ghép và cập nhật đổi mới chương trình, hệ thống giáo trình của mình để phù hợp với quy định chung và quá trình đổi mới trong giáo dục đào tạo Ngoài ra, việc kết hợp chặt chẽ giữa cơ sở đào tạo và cơ sở sử dụng lao động chưa thực sự thường xuyên, liên tục nên cũng hiệu quả trong việc xác định hướng ưu tiên trong giáo dục và đào tạo du lịch chưa cao Hệ thống giáo trình về du lịch còn thiếu, và chưa được cập nhật thường xuyên

Thứ tư, kiểm tra đánh giá, công nhận bằng cấp, chứng chỉ còn nhiều bất cập Công tác đánh giá chưa phản ảnh đúng năng lực thực sự của người học và quá trình học tập Việc đánh giá điểm

số còn chủ quan do nhu cầu chạy theo điểm số, bằng cấp của xã hội… Chính những yếu kém này tạo ra một bộ phận không nhỏ những sinh viên tốt nghiệp mặc dù được xếp hạng cao nhưng lại không có khả năng tác nghiệp và tìm việc làm tại các cơ sở sử dụng lao động Điều này không chỉ tạo ra những bức xúc cho doanh nghiệp mà cũng là một áp lực lớn, tạo ra tâm lý không tốt đối với người học

Nghịch lý thường được chia sẻ khi đề cập tới việc đào tạo du lịch đó là khi đào tạo thì đòi hỏi phải có thực hành, nhưng khi đi kiến tập và thực tập tại các cơ sở thì thì sinh viên khó có thể tiếp cận được với công việc thực tế bởi nhiều quy định ràng buộc dẫn tới tình trạng suốt thời gian thực tập (8 tuần), kiến tập (1-3 tuần) sinh viên vẫn không có khả năng tiếp cận với thực tế nghề

nghiệp và tích lũy được kinh nghiệm cho bản thân

Thế giới trong bối cảnh có nhiều biến động, nhiều yếu tố mới lạ vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với Việt Nam, tác động trực tiếp đến ngành Du lịch Mục tiêu quốc gia đến năm 2020, du lịch cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, thì đào tạo nguồn nhân lực của ngành Du lịch để đáp ứng những yêu cầu hội nhập đặc biệt là hội nhập khu vực AEC là thực sự cần thiết trong giai đoạn hiện nay Do đó, để công tác đào tạo nguồn nhân lực cho ngành Du lịch đáp ứng những yêu cầu đặt ra của quá trình hội nhập Với quan điểm đào tạo nguồn nhân lực ngành Du lịch theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, có trọng tâm trọng điểm, chú trọng phát triển theo chiều sâu bảo đảm chất

Trang 8

lượng và hiệu quả, khẳng định thương hiệu và khả năng cạnh tranh, chúng tôi đề xuất một số giải pháp như sau:

3.4.1 Về chương trình, nội dung và hình thức đào tạo

Chương trình đào tạo nên theo hướng mở, dễ dàng chuyển đổi, liên thông; bao gồm các học phần cốt lõi và các học phần tự chọn Các học phần cốt lõi nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng nền tảng của ngành đào tạo Các học phần tự chọn theo hướng chuyên sâu (lĩnh vực du lịch theo vùng miền, loại hình du lịch ) Tăng thời gian đào tạo thực hành, thực tập tại doanh nghiệp để sinh viên khi ra trường thích ứng và làm được việc luôn, tránh tình trạng doanh nghiệp phải đào tạo lại Nâng cao năng lực ngoại ngữ cho sinh viên, đây là vấn đề rất quan trọng với sinh viên các ngành nói chung và sinh viên ngành du lịch nói riêng

Xây dựng chương trình đào tạo phù hợp theo tiêu chuẩn chung trong khu vực và quốc tế đồng thời phù hợp với thời lượng của chương trình đào tạo theo tín chỉ Cần cân nhắc giữa yếu tố

lý thuyết và thực hành nghề ở tất cả các cấp độ đào tạo Bảo đảm ở các cấp độ cơ bản sinh viên có thể nắm được những kỹ năng nghề nghiệp nhất định để có thể tham gia hoạt động nghề nghiệp ở mức đơn giản nhất nhằm tích lũy kinh nghiệm cho bản thân và tìm ra những định hướng trong việc nghiên cứu và học tập ở những giai đoạn tiếp theo Việc xây dựng chương trình cũng cần cân nhắc tính linh hoạt để có thể tận dụng các doanh nghiệp trong công tác đào tạo thực hành chính thức và không chính thức Coi đây là cơ sở thực hành lớn nhằm khắc phục khó khăn về cơ sở vật chất cũng như giáo viên dạy thực hành Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện cần lưu ý lựa chọn các doanh nghiệp đạt chuẩn và áp dụng những tiêu chuẩn kỹ thuật đã được phổ biến trong ngành

Một trong những lĩnh vực nhận được nhiều ý kiến từ phía các nhà tuyển dụng là việc Nhà trường cần chú trọng giáo dục đạo đức và định hướng nghề nghiệp cho sinh viên Bởi lẽ, đặc thù của ngành du lịch là sự phục vụ thông qua các dịch vụ Khi sinh viên theo học ngành này, cần nhận thức và định hướng nghề nghiệp rõ ràng, từ đó có thái độ và phẩm chất đạo đức, tác phong làm việc đúng

Bên cạnh việc tìm kiếm cơ hội hợp tác các trường cũng cần chủ động tích cực hơn trong việc xây dựng năng lực đào tạo cho mình Cần bảo đảm các yếu tố cơ bản trong đào tạo như: hệ thống giáo trình, giáo án, và hệ thống thư viện trong đó bao gồm cả thư viện điện tử cần cập nhật thường xuyên nhằm phục vụ cho nhu cầu tự nghiên cứu và tự học Tận dụng tối đa hệ thống công nghệ thông tin trong dạy và học, nâng cao khả năng kết nối, hợp tác với các trường trong cả nước

và trong khu vực Bên cạnh đó, cần trang bị các phương pháp tiếp cận mới, tận dụng cơ sở vật chất

kỹ thuật của các đối tác nhằm tạo dựng các phòng học chức năng trong phạm vi có thể nhằm phát huy tính chủ động của người học, phát huy tối đa tính sáng tạo của người học

Xây dựng mô hình “Du lịch thông minh”

Nhằm giải quyết bài toán đào tạo du lịch một ngành đặc thù, đáp ứng yêu cầu của Đề án 50% đào tạo thực hành, sinh viên trong quá trình học tập phải tham gia trải nghiệm các hoạt động thực tiễn Xây dựng mô hình “thực hành du lịch thông minh” là việc ứng dụng công nghệ thông tin vào xây dựng phần mềm trải nghiệm du lịch bằng kính thực tế ảo Thông qua phần mềm và đó sinh viên được tiếp cận thông tin, tiếp cận điểm đến du lịch một cách nhanh, dễ dàng, đa dạng, tiết kiệm

và nhiều thông tin nhất Khi tham gia vào mô hình đó, sinh viên sẽ có cảm giác như đang được tham gia vào lễ hội đó Xây dựng mô hình thực hành du lịch thông minh có nghĩa là phải tạo dựng được một hệ thống hạ tầng kỹ thuật, công nghệ phục vụ chương trình đào tạo du lịch một cách đồng bộ Sinh viên có thể tìm hiểu về các khu du lịch hay được tham gia trải nghiệm khám phá điểm đến, mô hình du lịch thông minh phải luôn bên cạnh họ như một chuyên gia giàu kinh nghiệm

Trang 9

Sinh viên chỉ cần chạm tay vào ứng dụng, bấm nút trên màn hình và đeo kính thực tế ảo là có thể kết nối và ghi nhận được tất cả những điểm tham quan du lịch được tiết kế trong phần mềm

Quy hoạch đầu tư phát triển phòng thực hành có các mô hình sản phẩm du lịch đặc trưng

theo các vùng du lịch:

+ Vùng trung du, miền núi Bắc bộ, gồm các tỉnh: Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Yên Bái, Phú Thọ, Lòa cai, Tuyên Quang, Hà Giang, Bắc Kan, Thái Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn

và Bắc Giang gắn với hành lang kinh tế và các cửa khẩu quan trọng với Trung Quốc và Thượng Lào Sản phẩm du lịch đặc trưng: du dịch văn hóa, sinh thái gắn với tìm hiểu bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số

+ Vùng đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc, gồm: Thành phố Hà Nội, Hải Phòng

và các tỉnh Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định, Quảng Ninh gắn với vùng kinh tế trọng điểm phía bắc Sản phẩm du lịch đặc trưng: tham quan thắng cảnh biển, du lịch văn hóa với các giá trị của nền văn minh lúa nước và các nét sinh hoạt truyền thống đồng bằng Bắc Bộ, du lịch đô thị, du lịch MICE

+ Vùng Bắc Trung Bộ, gồm: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Ngãi, Thừa Thiên Huế gắn với hệ thống cửa khẩu quốc tế với Lào, với du lịch hành lang Đông Tây và hệ thống bãi biển, đảo Bắc Trung Bộ Sản phẩm du lịch đặc trưng: Tham quan tìm hiểu các di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, du lịch biển, du lịch sinh thái, tìm hiểu văn hóa-lịch

sử và du lịch đường biên

+ Vùng duyên hải Nam Trung Bộ, gồm: thành phố Đà Nẵng và các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận gắn với vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, với hệ thống biển đảo Nam Trung Bộ Sản phẩm du lịch đặc trưng: du lịch nghỉ dưỡng, gắn với di sản, tìm hiểu văn hóa biển, ẩm thực biển

+ Vùng Tây Nguyên, gồm: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng gắn với Tam giác phát triển Việt Nam – Lào - Campuchia Sản phẩm du lịch đặc trưng: du lịch sinh thái,

du lịch văn hóa khai thác các giá trị văn hóa độc đáo của các dân tộc thiểu sốTây Nguyên

+ Vùng Đông Nam Bộ, gồm: thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương,

Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Phước, Tây Ninh gắn với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và hành lang du lịch xuyên Á Sản phẩm du lịch đặc trưng: du lịch đô thị, du lịch MICE, tìm hiểu văn hóa lịch sử, du lịch nghỉ dưỡng và sinh thái biển, đảo

+ Vùng Đồng bằng sông Cứu Long, gồm: Long An, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Bến Tre, Trà Vinh, Tiền Giang, Hậu Giang và thành phố Cần Thơ gắn với du lịch tiểu vùng sông Mêkong Sản phẩm du lịch đặc trưng: du lịch sinh thái, văn hóa sông nước miệt vườn, nghỉ dưỡng và sinh thái biển, đảo, du lịch MICE

3.4.2 Về hợp tác đào tạo với doanh nghiệp và hiệp hội nghề nghiệp

Bản thân các khoa trong khuôn khổ của mình cần chủ động tìm cách học hỏi và các nguồn

hỗ trợ từ bên ngoài để tìm ra phương án tổ chức giảng dạy hợp lý Chương trình học không mang tính lý thuyết đơn thuần, cố gắng tìm cơ hội kết hợp với doanh nghiệp thành lập các liên minh giáo dục trong du lịch (quản lý nhà nước, cơ sở đào tạo, hiệp hội nghề nghiệp và doanh nghiệp) Việc bắt tay giữa cơ quan quản lý ngành, doanh nghiệp và cơ sở đào tạo sẽ mang lại những lợi ích hết sức to lớn trong việc tạo điều kiện tháo gỡ khó khăn cho các bên trong vấn đề phát triển nhân lực Doanh nghiệp có được đội ngũ nhân viên tốt, các trường giải tỏa được chất lượng và tiêu chuẩn đầu ra phù hợp với nhu cầu của xã hội, hiệp hội nghề nghiệp có thể tận dụng được sự sáng tạo và

Trang 10

lao động trẻ, cơ quan quản lý có thể thực hiện tốt chức năng phát triển ngành đúng hướng và bền vững

Tạo môi trường học đường mở, văn minh, thân thiện, không áp đặt và bảo đảm sự công bằng trong suốt quá trình học Đây là yếu tố hết sức quan trọng vì trong ngành du lịch, yếu tố thái

độ đóng vai trò hết sức quan trọng Nó có thể giúp bù đắp những thiếu hụt về mặt vật chất và tinh thần trong quá trình cung cấp dịch vụ Chính vì thế, sinh viên cần có thói quen ứng xử văn minh, giữ gìn vệ sinh, cẩn thận, tỷ mỷ và giao tiếp chủ động, tích cực ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường

3.4.3 Về cơ chế chính sách ưu tiên đào tạo nhân lực du lịch

Về đội ngũ giảng viên cần có sự sàng lọc và đào tạo lại theo tiêu chuẩn chung Nhìn chung, theo xu hướng giảng dạy hiện đại, giảng viên phải bảo đảm về trình độ chuyên môn, giỏi trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, đồng thời, cũng phải đảm bảo là một nhân viên giỏi tay nghề trong lĩnh vực nghiệp vụ giảng dạy, không phân biệt ở bậc đào tạo nào Cần có các cam kết trách nhiệm và

cơ chế khuyến khích giáo viên tham gia vào công tác trực tiếp của nghề du lịch để có những trải nghiệm tích cực làm phong phú nội dung trong bài giảng lý thuyết và thuận lợi cho việc hướng dẫn thực hành Hầu hết các trường đều đã thực hiện việc đánh giá giảng viên sau mỗi học phần, song việc đánh giá mới dừng lại ở góc độ phục vụ cho công tác quản lý mà chưa có yếu tố phản hồi đối với giảng viên Như vậy, cần xem xét mức độ công khai của các thông tin này đối với mỗi cá nhân

để rút kinh nghiệm trong công tác giảng dạy Điều này sẽ rất hữu ích trong việc tự nâng cao năng lực của bản thân mỗi giảng viên

Việc mỗi giảng viên phải tự hoàn thiện và nâng cao trình độ của mình là điều bắt buộc bởi

lẽ, cơ chế đào tạo mới sẽ chính là hình thức sàng lọc giảng viên một cách khách quan nhất Việc lựa chọn của doanh nghiệp với sản phẩm đầu ra của các trường, việc lựa chọn giảng viên cho mỗi

hệ thống tín chỉ đào tạo sẽ là những thách thức đồng thời cũng là cơ hội nhằm không ngừng nâng cao chất lượng giảng dạy và hoàn thiện đối với đội ngũ giảng viên Quan niệm truyền thống, các giảng viên thường ít có sự chia sẻ trao đổi mà thường giữ riêng cho mình với những nội dung, thông tin mới bởi sự ám ảnh của yếu tố cạnh tranh song cùng với sự hỗ trợ của dự án EU, với những tiền thân của hiệp hội VTOS, nhóm đào tạo viên các ngành lễ tân, buồng… nếu có thể duy trì hoạt động thường xuyên sẽ giúp cho các thầy cô chia sẻ những vấn đề thuộc nội dung và phương pháp Đây là một ý tưởng hết sức có giá trị bởi nó có thể đảm bảo được tính thống nhất và sự lan tỏa trong quá trình giảng dạy

Nâng cao trình độ tin học, ngoại ngữ và phương pháp giảng dạy để giảng viên, giáo viên

và đào tạo viên du lịch đủ khả năng giảng dạy, tự nghiên cứu, trao đổi chuyên môn trực tiếp với chuyên gia nước ngoài, tham gia hội nghị, hội thảo, diễn đàn quốc tế và học tập, tu nghiệp ở nước ngoài

3.4.4 Về hỗ trợ đào tạo nhân lực du lịch

Phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo chuyên ngành Du lịch mạnh, bảo đảm đáp ứng yêu cầu hội nhập, hợp lý giữa các cấp đào tạo, ngành nghề đào tạo và vùng miền Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, thiết bị giảng dạy đồng bộ, hiện đại, chuẩn hóa chất lượng giảng viên, chuẩn hóa giáo trình khung đào tạo Nâng cấp các cơ sở đào tạo du lịch hiện có; tập trung đầu tư một số cơ

sở đào tạo du lịch đạt chuẩn; hình thành bộ phận đào tạo du lịch ở các trường nghề ở các địa phương, đồng thời nâng cao năng lực các cơ sở khác có đào tạo về du lịch, bảo đảm yêu cầu chung

và sự thống nhất về nội dung đào tạo, trình độ đào tạo Khuyến khích đào tạo thực hành tại chỗ, đào tạo theo nhu cầu của doanh nghiệp

Ngày đăng: 31/03/2022, 22:22

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w