1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Trình bày nội dung vấn đề cơ bản của triết học, phân biệt chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm , triết học nhị nguyên ; các hình thức của chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm

36 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 132,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chủ nghĩa duy tâm chủ quan : thừa nhận tính thứ nhất của ý thức con người, trong khi phủ nhận sự tồn tại khách quan của hiện thực, chủ nghĩa duy tâm chủ quan khẳng định mọi sự vật, hiện

Trang 1

Họ và tên : Vũ Lan Hương

Lớp : K61 Lưu Trữ Học & QTVP

MSSV : 16030645

ĐỀ CƯƠNG : NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA

MÁC – LÊNIN

CÂU 1 : Trình bày nội dung vấn đề cơ bản của Triết học, phân biệt Chủ nghĩa duy vật và Chủ nghĩa duy tâm , triết học nhị nguyên ; các hình thức của Chủ nghĩa duy vật và Chủ nghĩa duy tâm ?

Bài làm :

Khái niệm Triết học

Triết Học là hệ thống lý luận chung nhất của con người về thế giới, cũng như về bản thân con người và vị trí của con người trong thế giới ấy

Triết học đã có hơn 2000 năm hình thành và phát triển Ở mỗi thời kì lịch sử khác nhau, Triết học phải giải quyết các vấn đề khác nhau, nhưng tổng kết lại toàn bộ lịch sử Ph Ăngghen đã khái quát rằng : “ Vấn đề cơ bản lớn nhất của mọi Triết

Trang 2

học, đặc biệt là Triết học hiện đại là mối liên hệ giữa tư duy và tồn tại, giữa vật chất và ý thức, giữa con người với giới tự nhiên “

Vấn đề cơ bản của Triết học

Gồm hai mặt

+ mặt thứ nhất, vật chất và ý thức, cái nào có trước, cái nào có sau và cái nào sẽ quyết định cái nào

+ mặt thứ hai, con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không ?

Việc trả lời cho mặt thứ nhất đã dẫn đến sự xuất hiện của các trường phái Triết họclịch sử đó chính là Chủ nghĩa duy vật và Chủ nghĩa Duy Tâm

Chủ nghĩa duy vật thì cho rằng vật chất là cái có trước và ý thức là cái có sau, vật chất quyết định ý thức Vật chất là tính thứ nhất còn ý thức là tính hai Chủ nghĩa duy tâm thì lại cho rằng ý thức mới là cái có trước và vật chất là cái có sau, ý thức quyết định vật chất, ý thức là tính thứ nhất và vật chất là tính thứ hai

Việc trả lời cho mặt thứ hai đã làm xuất hiện các quan điểm trái chiều nhau Có quan điểm cho rằng con người hoàn toàn có khả năng nhận thức được thế giới, đó chính là quan điểm của trường phái Khả tri luận Lại có quan điểm cho rằng con người không có khả năng nhận thức được thế giới, đó chính là trường phái Bất tri luận

Các hình thức của Chủ nghĩa duy vật và Chủ nghĩa duy tâm.

Chủ nghĩa duy vật :

Có nguồn gốc từ thực tiễn và sự phát triển của khoa học Chính qua thực tiễn và khái quát hóa tri thức của nhận loại trong nhiều lĩnh vực, chủ nghĩa duy vật đã thể hiện hệ thống tri thức lý luận chung nhất gắn với lợi ích của các lực lượng xã hội

Trang 3

tiến bộ, định hướng cho các lực lượng này trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, chủ nghĩa duy vật có 3 hình thức, đó chính là Chủ nghĩa duy vật chất phác, Chủ nghĩa duy vật siêu hình và Chủ nghĩa duy vật biện chứng.

Tuy còn rất nhiều hạn chế nhưng chủ nghĩa duy vật chất phác về cơ bản là đúng vì

nó đã lấy bản thân vật chất của giới tự nhiện để giải thích về giới tự nhiên

Chủ nghĩa duy vật siêu hình :

Là hình thức cơ bản thứ hai của chủ nghĩa duy vật, thể hiện tiêu biểu trong lịch sử Triết học Tây Âu thế kỉ XVII – XVIII Đặc điểm lớn nhất của chủ nghĩa duy vật thời kì này là phương pháp tư duy siêu hình trong việc nhìn nhận về thế giới

Tuy chưa phản ánh đúng thế giới trong mối liên hệ phổ biến và sự phát triển nhưngchủ nghĩa duy vật siêu hình đã góp phần quan trọng trong việc chống lại thế giới quan duy tâm và tôn giáo, nhất là giai đoạn lịch sử chuyển tiếp từ thời Trung cổ sang thời Phục hưng ở các nước Tây Âu

Chủ nghĩa duy vật biện chứng :

Là hình thức cơ bản thứ ba của chủ nghĩa duy vật, do C Mác và Ph Ăngghen sánglập, V.I.Lênin và những người kế tục của ông bảo vệ và phát triển Với sự kế thừa những tinh hoa của các học thuyết triết học trước đó và việc sử dung triệt để nhũng

Trang 4

thành tựu khoa học tự nhiên đương thời, chủ nghĩa duy vật biên chứng ngay từ khi mới ra đời đã khắc phục được hạn chế của chủ nghĩa duy vật chất phác thời cổ đại

và chủ nghĩa duy vật siêu hình thời cận đại Tây Âu, đạt tới trình độ là hình thức phát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật trong lịch sử Trên cơ sở phản ánh đúng đắn khi thực hiện khách quan trọng mối quan hệ phổ biến và sự phát triển, chủ nghĩa duy vật biện chứng đã cung cấp công cụ vĩ đại cho hoạt động nhận thức khoahọc và thực tiễn cách mạng

Toàn bộ hệ thống quan hệ của chủ nghĩa duy vật biện chứng được xây dựng trên cơ

sở lý giải một cách khoa học về vật chất, ý thức và mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức

Chủ nghĩa duy tâm :

Có nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội, đó là : sự xem xét phiến diện, tuyệt đối hóa, thần thánh hóa một mặt, một đặc tính nào đó cảu quá trình nhận thức và thường gắn với lợi ích của các giai cấp, tầng lớp áp bức, bóc lột nhân dân lao động.Chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo cũng thường có mối liên hệ mật thiết với nhau , nương tựa vào nhau để cùng tồn tại và phát triển

Trong lịch sử, Chủ nghĩa duy tâm có hai hình thức cơ bản đó chính là : Chủ nghĩa duy tâm chủ quan và Chủ nghĩa duy tâm khách quan

Chủ nghĩa duy tâm chủ quan : thừa nhận tính thứ nhất của ý thức con người,

trong khi phủ nhận sự tồn tại khách quan của hiện thực, chủ nghĩa duy tâm chủ quan khẳng định mọi sự vật, hiện tương chỉ là “ phức hợp những cảm giác “ của cánhân

Chủ nghĩa duy tâm khách quan : cũng thừa nhận tính thứ nhất của tinh thần, ý

thức nhưng tinh thần, ý thức ấy là tinh thần khách quan, ý thức khách quan có

Trang 5

trước, tồn tại độc lập với giới tự nhiên, với con người và thể hiện dưới nhiều tên gọi khác nhau, như “ ý niệm tuyệt đối “ , ‘ tinh thần tuyệt đối “ hay “ lý tính thế giới “ ,…

CÂU 2 : Phân tích quan niệm của triết học Mác – Lênin về vật chất và các phương pháp, hình thức tồn tại của vật chất, Ý nghĩa phương pháp luận của những vấn đề trên ?

Bài làm : Vật chất :

Vật chất với tư cách là một phạm trù Triết học đã có lịch sử phát triển trên 2500 năm Ngay từ thời cổ đại, xung quanh phạm trù vật chất đã diễn ra cuộc đấu tranh không khoan nhường giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm

Trong khi chủ nghĩa duy tâm quan niệm rằng bản chất của thế giới, cơ sở đầu tiên của mọi sự tồn tại là một bản nguyên tinh thần, còn vật chất chỉ là sản phẩm của bản nguyên tinh thần ấy thì chủ nghĩa duy vật quan niệm : bản chất của thế giới, thực thể của thế giới là vật chất – cái tồn tại vĩnh viễn, tạo nên mọi sự vật, hiện tượng cùng với những thuộc tính của chúng

Trước khi chủ nghĩa duy vật biện chứng ra đời, nhìn chung, các nhà triết học duy vật quan niệm vật chất là một hay một số chất tự có, đầu tiên, được coi là những chất “ giới hạn tột cùng “ đóng vai trò là cơ sở sản sinh ra toàn bộ thế giới Từ thời

cổ đại, thuyết Ngũ hành của Triết Học Trung Quốc đã cho rằng những chất tự có, đầu tiên ấy là kim – mộc – thủy – hỏa – thổ ; ở Ấn Độ, phái Sàm-Khya lại quan niệm đấy là Prakriti hay Pradhana; ở Hy Lạp, phái Mile quan niệm là Nước

( Thales ) hay không khí ( Anaximen ) ; Hê-ra-clit quan niệm đó là lửa,… Cho

Trang 6

đến thế kỷ XVII, XVIII quan niệm về vật chất của các nhà Triết Học thời cận đại Tây Âu như Ph.Becon, R.Đềcáctơ, T.Hốpxơ, Đ.Điđơrô v.v vẫn không có những thay đổi căn bản Họ tiếp tục đi theo khuynh hướng hiểu về vật chất như các nhà triết học duy vật thời cổ đại và đi sâu tìm hiểu cấu trúc vật chất của giới tự nhiên trong sự biểu hiện cảm tính cụ thể của nó

Quan niệm về vật chất của các nhà triết học duy vật trước Mác đã đặt nền móng cho khuynh hướng lấy bản thân giới tự nhiên để giải thích về giới tự nhiên nhưng

nó cũng bộc lộ nhiều hạn chế, như đồng nhất vật chất với vật thể, không hiểu bản bản chất của ý thức cũng như mối quan hệ giữa ý thức với vật chất; không tìm được cơ sở để xác định những biểu hiện của vật chất trong đời sống xã hội nên cũng không có cơ sở để đứng trên quan điểm duy vật khi giải quyết các vấn đề về

xã hội, v.v… Những hạn chế đó tất yếu dẫn đến quan điểm duy vật không triệt để

Và chủ nghĩa duy tâm đã lợi dụng tình cảnh này để bác bỏ hay là khẳng định bản chất “ phi vật chất “ của thế giới, khẳng định vai trò của các lực lượng siêu nhiện đối với quá trình sáng tạo ra thế giới

Trong bối cảnh lịch sử đó, để chống lại sự xuyên tạc của các nhà triết học duy tâm,bảo vệ và phát triển thành tưu khoa học tự nhiên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, đồng thời kế thừa tư tưởng Mác và Ph Ăngghen, V.I.Lênin đã đưa ra định nghĩa kinh điển về vật chất :

“ Vật chất là một phạm trù Triết Học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lạicho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại , phảnánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác “

Trong định nghĩa này, cho thấy :

Thứ nhất, cần phải phân biệt khái niệm “ vật chất “ với tư cách là một phạm trù triết học ( phạm trù khái quát thuộc tính cơ bản nhất, phổ biến nhất của mọi sự tồn

Trang 7

tại vật chất và được xác định từ góc độ giải quyết các vấn đề cơ bản của triết học ) với khái niệm “ vật chất “ được sử dụng trong các khoa học chuyên ngành ( khái niệm dùng để chỉ những dạng vật chất cụ thể, cảm tính )

Thứ hai, thuộc tính cơ bản nhất, phổ biến nhất của mọi dạng vật chất là thuộc tính tồn tại khách quan, tức tồn tại ngoài ý thức, độc lập, không phụ thuộc vào ý thức của con người, cho dù con người có nhận thức hay không nhận thức được chúng.Thứ ba, vật chất, dưới những dạng cụ thể của nó là cái có thể gây nên cảm giác ở con người khi nó trức tiếp hay gián tiếp tác động đến giác quan của con người; ý thức của con người là sự phản ánh đối với vật chất ; vật chất là cái được ý thức phản ánh

Như vậy, định nghĩa về vật chất của Lênin có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của chủ nghĩa duy vật và nhận thức khoa học :

Một là, với tư cách là một phạm trù triết học với khái niệm vật chất với tư cách là một phạm trù của các khoa học chuyên ngành, từ đó khắc phục được hạn chế trongquan niệm về vật chất của chủ nghĩa duy vật cũ; cung cấp thêm căn cứ nhận thức khoa học để xác định những gì thuộc về vật chất; tạo lập cơ sở lý luận cho việc xâydựng quan điểm duy vật về lịch sử , khắc phục được những hạn chế duy tâm trong quan niệm về xã hội

Hai là, khi khẳng định vật chất là “ thực tại khách quan “, “ được đem lại cho con người trong cảm giác và được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh “ V.I.Lenin không những đã khẳng định tính thứ nhất của vật chất , tính thứ hai của

ý thức theo quan điểm duy vật mà còn khẳng định khả năng con người có thể nhận thức được thực tại khách quan

Các phương thức và hình thức tồn tại của vật chất :

Trang 8

Theo quan điểm duy vật biện chứng, vận động là phương thức tồn tại của vật chất;

không gian, thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất

Vận động là phương thức tồn tại của vật chất : Ph.Ăng-ghen đã định nghĩa “ vận

động, hiểu theo nghĩa chung nhất, tức được hiểu là một phương thức tồn tại của vậtchất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất, thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy “Theo quan điểm của Ăng-ghen, vận động không chỉ thuần túy là sự thay đổi vị trí

mà là “ mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ “ ; vật chất luôn gắn liền với vận động và chỉ thông qua vận động mà các dạng cụ thể của vật chất mới biểu hiện được sự tồn tại của mình

Dựa trên thành tự khoa học ở thời đại mình, Ph.Ăngghen đã chia vận động thành 5 hình thức cơ bản :

+ Vận động cơ học : sự di chuyển của các vật thể trong không gian

+ Vật động vật lý : sự vận động của các phân tử, điện tử, các hạt cơ bản, các quá trình nhiệt, điện v.v…

+ Vận động hóa học : sự biến đổi các chất vô cơ, hữu cơ trong những quá trình hóahợp và phân giải

+ Vận động sinh học : sự biến đổi của các cơ thể sống, biến thái cấu trúc gen v.v…+ Vận động xã hội : sự biến đổi trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, v.v…của đời sống xã hội

Các hình thức vận động cơ bản nói trên được sắp xếp theo trình độ từ thấp đến cao,tương ứng với trình độ kết cấu của vật chất Các hình thức vận động khác nhau song chúng không tồn tại biệt lập mà còn có mối quan hệ mật thiết với nhau, trong

Trang 9

đó : hình thức vận động cao xuất hiện trên cơ sở các hình thức vận động thấp và bao hàm trong nó những hình thức vận động thấp hơn Trong sự tồn tại của mình, mỗi sự vật có thể có nhiều hình thức vận động khác nhau song bản thân nó bao giờ cũng được đặc trưng bởi hình thức vận động cao nhất mà nó có.

Khi khẳng định vận động là hình thức tồn tại của vật chất, là thuộc tính cố hữu của vật chất, chủ nghĩa duy vật biện chúng cũng đã khẳng định vận động là tuyệt đối,

là vĩnh viễn Điều này không có nghĩa là chủ nghĩa duy vật biện chứng phủ nhận

đứng im Song, theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, đứng im là

trạng thái đặc biệt của vận động, đó là vận động trong thế cân bằng và đứng im là hiện tượng tương đối, tạm thời

Vận động trong thế cân bằng là vận động chưa làm thay đổi cơ bản về vị trí, hình dáng, kết cấu của sự vật, chưa làm thay đổi cơ bản chất của sự vật

Đứng im chỉ là hiện tượng tương đối vì đứng im chỉ xảy ra đối với một số hình thức vận động và trong một số quan hệ nhất định chú không xảy ra với tất cả các hình thức vận động và tới tất cả các quan hệ Đứng im là hiện tượng tạm thời vì đứng im chỉ tồn tại trong một thời gian nhất định chứ không tồn tại vĩnh viễn.Không gian, thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất

Mọi dạng cụ thể của vật chất đều tồn tại ở một vị trí nhất định, có một quảng tính ( chiều cao, chiều rộng, chiều dài ) nhất định và tồn tại trong các mối tương quan nhất định ( trước hay sau, trên hay dưới, bên phải hay bên trái v.v ) với những dạng vất chất khác Những hình thức tồn tại như vậy được gọi là không gian Mặt khác, sự tồn tại của sự vật còn được thể hiện ở quá trình biến đổi nhanh hay chậm,

kế tiếp và chuyển hóa v.v… gọi là thời gian

Tính thống nhất về vật chất của thế giới.

Trang 10

Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định : bản chất của thế giới là vật chất, thế giới thống nhất ở tính vật chất của nó.

Điều đó được thể hiện ở những điểm cơ bản sau :

Một là, chỉ có một thế giới duy nhất là thế giới vật chất, thế giới vật chất là cái có trước, tồn tại khách quan, độc lập với ý thức của con người

Hai là, thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn, vô tận, vô hạn, không được sinh ra và không bị mất đi

Ba là, mọi tồn tại của thế giới vật chất đều có mối liên hệ khách quan, thống nhất với nhau, biểu hiện ở chỗ chúng đều là những dạng cụ thể của vật chất, là những kết cấu vật chất, hoặc có nguồn gốc vật chất, do vật chất sinh ra và cùng chịu sự chi phối của những quy luật khách quan phổ biến của thế giới vật chất

CÂU 3 : Phân tích nguồn gốc và bản chất của ý thức, mối liên hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức Ý nghĩa phương pháp luận của mối quan hệ này ?

Trang 11

+ Chủ nghĩa duy vật : vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất quyết định ý thức, vật chất là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai.

Ý thức của riêng con người và do ý thức được sinh ra ở não bộ con người

Ý thức là một dạng của vật chất nhưng không phải của mọi dạng vật chất mà chỉ làmột dạng vật chất có tổ chức cao ở trong bộ óc con người, cho nên ý thức phải gắn liền với hoạt động của bộ óc con người

Như vậy, nếu chỉ riêng bộ óc con người không thôi thì vẫn chưa có ý thức, nếu không có sự tác động của thế giới bên ngoài lên các giác quan và qua đó lên não bộthì hoạt động ý thức của con người không diễn ra

Kết luận : bộ óc con người cùng với thế giới bên ngoài tác động vào ý thức con người Đó là nguồn gốc tự nhiên của ý thức

Lao động : là quá trình diễn biến giữa con người với thế giới khách quan Nhờ có

sự lao động mà từ loài vượn thành người, nhờ lao động con người tạo ra sản phẩm của tự nhiên và xã hội, là chủ thể của tự nhiên và xã hội Trong quá trình tác động vào thế giới khách quan, con người đã làm cho thế giới khách quan bộc lộ ra nhũngthuộc tính, quy định vốn có của nó, tác động vào bộ óc con người Từ đó, hình thành nên tri thức về tự nhiên và xã hội, cho nên ý thức được hình thành chủ yếu

do quá trình cải tạo hiện thực khách quan của con người , làm biển đổi thế giới đó

Trang 12

Ngôn ngữ : Trong quá trình lao động, ngay từ đầu con người đã mang tính tập thể,

tính xã hội Do vậy, họ cần trao đổi kinh nghiệm, tư tưởng cho nhau và chính nhu cầu đó đòi hỏi xuất hiện ngôn ngữ, ngôn ngữ làm cho khả năng tư duy ý thức con người ngày càng hoàn thiện hơn Đồng thời ngôn ngữ giúp ý thức trong bộ não conngười không bị mất đi

Như vậy, ta có thể kết luận : ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan,

ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào trong bộ óc của con người trên cơ sởlao động và ngôn ngữ

Bản chất và kết cấu của ý thức :

Bản chất : Coi ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con

người một cách năng động sáng tạo; ý thức là hình ảnh chủ thể của thế giới khách quan

Ý thức là của con người, mà con người là một thực thể xã hội năng động sáng tạo,

ý thức ra đời trong quá trình con người hoạt động cải tạo thế giới, cho nên ý thức con người mang tính năng động, sáng tạo lại hiện thực theo nhu cầu xã hội, thể hiện ở ba mặt :

Thứ nhất, trao đổi thông tin giữa chủ thể với đối tượng phản ánh : sự trao đổi này mang tính chất hai chiều , có định hướng, có chọn lọc các thông tin cần thiết

Thứ hai, mô hình hóa đối tượng trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh thần

VD : Khi ta nhìn thấy quả xoài và nhận ra được đặc điểm của nó, và khi vô thức chúng ta nghe ai đó nhắc đến quả xoài, chúng ta sẽ dễ nhận dạng ra hình dáng và vịcủa quả xoài

Trang 13

Thứ ba, chuyển mô hình từ tư duy hiện thực khách quan : tức là quá trình hiện thựchóa tư tưởng thông qua hoạt động thực tiễn biến cái quan niệm thành cái thực tại, biến cái ý tưởng phi vật chất trong tư duy thành các dạng vật chất ngoài hiện thực.

Về bản chất, ý thức mang bản chất xã hội Vì nó luôn gắn liền với các hoạt động thực tiễn, chịu sự chi phối không chỉ của các quy luật sịnh học mà chủ yếu là của quy luật xã hội, do nhu cầu giao tiếp xã hội và các điều kiện sinh hoạt hiện thực của con người quy định

Kết Cấu : Ý thức là một hiện tượng xã hội có kết câu phức tạp gồm nhiều thành

tố khách nhau có quan hệ chặt chẽ lẫn nhau

C.Mác và Lênin cho rằng : “ ý thức bao gồm : tri thức, tình cảm – ý chí “

Tri thức : là toàn bộ những hiểu biết của con người, là kết quả của quá trình nhận

thức của con người về thế giới hiện thực làm tái hiện trong tư tưởng Về những thuộc tính, nhũng quy luật của thế giới ấy được diễn ra dưới hình thức ngôn ngữ vàcác kí hiệu khác

Tình cảm : Là sự xúc cảm, cảm động của con người trong quan hệ giữa mình với

thực tại xung quanh đối với bản thân mình Tình cảm là một hình thái đặc biệt của

sự phản ánh hiện thực, nó phản ánh mối quan hệ của con người với nhau cũng như của thế giới khách quan Đồng thời, nó cũng giữ vị trí quan trọng trong sự điều chỉnh hoạt động của con người

Ý chí : là khả năng huy động sức mạnh bản thân để vượt qua những cản trở trong

quá trình thực hiện mục đích của con người, cho nên ý chí tạo nên sức mạnh để làm chủ tự nhiện, bản thân và xã hội

Trang 14

Mối quan hệ hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức :

- Vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức :

Vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất quyết định ý thức và tồn tại độc lập khách quan với ý thức và là nguồn gốc sinh ra ý thức Não người là dạng vật chất có tổ chức cao, là cơ quan phản ánh để hình thành ý thức, ý thức tồn tại phụ thuộc vào hoạt động thần kinh của bộ não trong quá trình phản ánh thế giới khách quan

Ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất vào não người, là hình ảnh của thế giới khách quan Thế giới khách quan là nguồn gốc của ý thức, quyết định nội dung của ý thức Ý thức có tính độc lập tương đối, tác động trở lại vào vật chất, phản ánh đúng hiện thực khách quan, có tác dụng thúc đẩy hoạt động thực tiễn của con người trong quá trình cải tạo thế giới vật chất và ngược lại Nếu như ý thức không phản ánh đúng hiện thực khách quan ở mức độ nhất định có thể gây sự kìm hãm các hoạt động thực tiễn của con người trong quá trình cải tạo tự nhiện

và xã hội

Ý nghĩa phương pháp luận :

Từ mối quan hệ biện chứng trên, ta có thể thấy rằng :

Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn phải xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan, đồng thời phát huy tinh thần năng động chủ quan

Theo nguyên tắc của phương pháp luận này, mọi hoạt động nhậ thức và thựctiễn của con người chỉ có thể đúng đắn, thành công và có hiêu jquar tối ưu khi và chỉ khi thực hiện đồng thời được việc xuất phát từ thực tế khách quan,tôn trọng khách quan với phát huy tính năng động chủ quan

Trang 15

Thực hiện nguyên tắc tôn trọng khách quan, phát huy tính năng động chủ quan trọng nhận thức và thực tiễn đòi hỏi phải phòng, chống và khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí, đó là những hành động lấy ý chí áp đặt cho thực tế,lấy ảo tưởng thay cho hiện thực… , mặt khác cũng phải chống chủ nghĩa kinh nghiệm, xem thường tri thức khoa học, xem thường lý luận, bảo thủ, thụ động… trong hoạt động nhận thức và thực tiễn.

CÂU 4 : Trình bày nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của nguyên

lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển ?

Bài làm : Nội dung của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến :

Khái niệm : mối liên hệ là khái niệm dùng để chỉ sự quy định, sự tác động vàchuyển hóa lẫn nhau, giữa các sự vật trong thế giới

Mối liên hệ phổ biến là những khái niệm dùng để chỉ mối liên hệ, tồn tại ở nhiều sự vật của thế giới, đó là mối liên hệ giữa các mặt đối lập, giữa lượng

và chất, tồn tại trong nhiều sự vật của thế giới

Mối liên hệ phổ biến ở các sự vật, hiện tượng có yếu tồ cấu thành nên sự vậthiện tượng, tồn tại trong thế giới tự nhiên, xã hội hay tư duy của con người.Theo quan điểm duy vật siêu hình :

Mọi sự vật đều tách rời và cô lập, ở chúng không có mối liên hệ với nhau, không phụ thuộc vào nhau và cái nào sẽ quy định cho mối liên hệ của cái đó.Được các thế lực siêu nhiên và ý thức, cảm giác của con người tạo ra ( gọi là

ý niệm tuyệt đối )

Theo quan điểm duy vật biện chứng :

Trang 16

Các sư vật, hiện tượng không tách rời và không cô lập nhau, giữa chúng có mối liên hệ mật thiết, ràng buộc và áp đặt nhau, phụ thuộc vào nhau.

Cơ sở mối liên hệ giữa sự vật và hiện tượng chính là tính thống nhất vật chấtcủa thế giới, vì nhờ tính thống nhất này mà các sự vật, hiện tượng không thể tồn tại biệt lập và tách rời nhau mà chúng tồn tại trong sự tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau

Tính chất của mối liên hệ :

Mối liên hệ phổ biến có những tính chất sau :

Thứ nhất, tính khách quan : mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng trong thế giới đều có tính khách quan, các mối liên hệ đó quy định lẫn nhau, tác động, chuyển hóa lẫn nhau do tính vốn có của sự vật, hiện tượng Nó tồn tại một cách độc lập, khách quan và không phụ thuộc vào ý thức, tư duy của con người

Thứ hai, tính phổ biến : Bất kì một sự vật, hiện tượng nào cũng có mối liên

hệ với một hay nhiều sự vật, hiện tượng khách Không có sự vật nào là không có mối liên hệ hoặc nằm ngoài mối liên hệ này cả

Có thể là cùng một mối liên hệ nhất định của sự vật, hiện tượng nhưng trongnhững điều kiện cụ thể khác nhau ở những giai đoạn phát triển khác nhau thìcũng có tính chất và vai trò hết sức khác nhau

Chính vì tính đa dạng, phong phú của các mối liên hệ mà chúng ta có thể chia ra các mối liên hệ theo từng cấp Đó chính là mối qua nhệ bên trọng và bên ngoài , mối liên hệ thứ yếu và chủ yếu, trực tiếp hay gián tiếp, bản chất hay không bản chất ?

Phương pháp luận :

Từ dung và tính chất của các mối liên hệ đã rút ra được một điều, trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, chúng ta cần phải quán triệt quan điểm toàn diện

Trang 17

Quan điểm toàn diện cần phải đòi hỏi trong nhận thức và xử lí các tình huống thực tiễn cần phải xem xét sự vật, hiện tượng, trong mối quan hệ biện chứng, qua lại giữa chúng, giữa các yếu tố, giữa các mặt của các sự vật, hiệntượng và trong sự tác động qua lại giữa các sự vật hiện tượng đó với sự vật hiện tượng khác Có như vậy, chúng ta mới có thể nhận thức đúng đắn về sự vật , hiện tượng và tử lí có hiệu quả các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống thực tiễn này.

Không dừng lại ở đó, trong các hoạt động nhận thức và thực tiễn, tuyệt đối phải tránh và khắc phục các quan điểm phiến diện, một chiều hay những quan điểm ngụy biện, vô căn cứ hay chỉ là những quan điểm mang tính mơ hồ

sự biến đổi dẫn tới tan rã rồi mất đi ( gọi là sự vận động đi xuống )

Vì vậy, cần phân biệt khái niệm vận động và phát triển, vì vận động là sự biến đổi nói chung không phụ thuộc vào khuynh hướng nhất định nào cả Bất kì mọi sự vật , hiện tượng nào đều có sự phát triển, là khuynh hướng chung của tất cả các sự vật, hiện tượng cái cũ mất đi thì cái mới sẽ ra đời và thay thế, kế thừa cái cũ trong quá trình hoàn thiện mình

Sự phát triển không theo con đường thẳng tấp mà nó diễn ra theo con đường xoắn ốc

Trang 18

Tính chất của sự phát triển :

Sự phát triển thường có các tính chất sau :

Thứ nhất, tính khách quan : tự bản thân sự vật, hiện tượng vận động, phát triển

Thứ hai, tính phổ biến : được diễn ra trong thế giới khách quan, xã hội, tư duy hay bất cứ sự vật, hiện tượng nào tồn tại trong thế giới khách quan đó

Có thể sự phát triển của các sự vật, hiện tượng diễn ra không giống nhau nhưng đều phản ánh quá trình phát triển của mình kể cả khái niệm phạm trù

do chính tự duy con người mang lại

Thứ ba, tính đa dạng, phong phú : Các sự vật, hiện tượng vận động và phát triển không giống nhau Nó tồn tại ở không gian và thời gian khác nhau cho nên sự phát triển cũng khác Sự phát triển phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhưng các yếu tố ấy có thể tác động tốt hoặc xấu đến sự phát triển đó

Ý nghĩa phương pháp luận :

Có thể nói, nguyên lý về sự phát triển là cơ sở lí luận khoa học để định hướng được nhận thức được thế giới và cải tạo thế giới Đồng thời, giúp chúng ta khắc phục được những tư tưởng bảo thủ, trì trệ, những định kiến trái chiều

Giúp chúng ta thấy được sự phức tạp, sự gay go của sự phát triển và qua đó, giúp phát huy những nhân tố chủ quan của con người để làm thúc đẩy sự phát triển của con người

CÂU 5 : Trình bày nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại ?

Bài làm :

Ngày đăng: 31/03/2022, 22:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w