Trong đó, ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng đã có những bước phát triển đáng kể: tốc độ tăng trưởng đàn lợn đạt 4,6%/năm, đến nay tổng đàn lợn là 20 triệu con, tổng sả
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Thực trạng và các giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu thịt
lợn của Việt Nam
Trang 2Mục lục
Trang
Mục lục Lời nói đầu Chương I: Khái quát thị trường thịt lợn thế giới và tình hình chăn nuôi lợn xuất khẩu ở Việt Nam
I.Tình hình thị trường thịt lợn thế giới 1
1.Tổng quan thị trường thịt thế giới 1
2.Tình hình thị trường thịt lợn thế giới 9
3.Tình hình xuất nhập khẩu thịt lợn trên thị trường thế giới 13
II Tổng quan về ngành chăn nuôi và chăn nuôi lợn ở Việt Nam 19
1.Ngành chăn nuôi lợn ở Việt Nam 19
2.Thực trạng chăn nuôi và chế biến thịt lợn 26
3.Thị trường tiêu thụ thịt lợn 33
Chương II: Thực trạng xuất khẩu thịt lợn ở Việt Nam I.Thực trạng xuất khẩu thịt lợn của Việt Nam 38
1.Các doanh nghiệp xuất khẩu thịt lợn ở Việt Nam 38
2.Quy mô xuất khẩu thịt lợn qua các giai đoạn 41
3.Thị trường xuất khẩu 45
II.Những nhân tố tác động đến hoạt động xuất khẩu thịt lợn Việt Nam 53
1.Nhân tố vĩ mô 53
Trang 32.Nhân tố vi mô 64
3.Hàng rào bảo hộ của một số nước nhập khẩu thịt lợn chính trên thế giới 67
Chương III: Định hướng và các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu thịt lợn của Việt Nam thời kỳ 2010, tầm nhìn 2020 I Dự báo về hoạt động xuất khẩu thịt lợn của Việt Nam đến năm 2010 75
1.Quy mô xuất khẩu 75
2.Thị trường thịt lợn của Việt Nam đến năm 2010 77
3.Khả năng sản xuất thịt lợn của Việt Nam thời kỳ đến năm 2010 79
II Định hướng xuất khẩu mặt hàng thịt lợn giai đoạn 2001-2010 80
1.Quan điểm chiến lược về phát triển xuất khẩu thịt lợn của Việt Nam thời kỳ đến 2010, tầm nhìn đến 2020 80
2.Định hướng chiến lược phát triển thị trường xuất khẩu thịt lợn của Việt Nam thời kỳ đến 2010, tầm nhìn đến 2020 87
III.Các giải pháp thúc đẩy kinh doanh xuất khẩu thịt lợn 89
1.Mục tiêu phát triển xuất khẩu thịt lợn của Việt Nam thời kỳ đến 2010, tầm nhìn đến 2020 89
2.Các giải pháp, chính sách khuyến khích, hỗ trợ của Nhà nước 90
3.Các giải pháp phát triển nguồn hàng thịt lợn xuất khẩu của Việt Nam 92
4 Một số giải pháp khác 101
Kết luận Danh mục Tài liệu tham khảo
Trang 4
Lời nói đầu
Thực hiện chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, kinh tế nước ta nói chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng đã có bước phát triển vượt bậc, nông nghiệp sau 15 năm đổi mới đã trở thành nền sản xuất hàng hoá với nhiều loại sản phẩm Nông nghiệp đã đóng góp vào sự tăng trưởng mạnh
mẽ của nền kinh tế và làm tăng kim ngạch xuất khẩu Trong đó, ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng đã có những bước phát triển đáng kể: tốc độ tăng trưởng đàn lợn đạt 4,6%/năm, đến nay tổng đàn lợn là 20 triệu con, tổng sản lượng thịt lợn hơi tăng 6,5%/năm, đáp ứng cơ bản nhu cầu trong nước đang tăng và mỗi năm xuất khẩu được 15-20 nghìn tấn thịt lợn sang thị trường truyền thống và khu vực
Phát triển xuất khẩu mặt hàng thịt lợn không những có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn có ý nghĩa rất to lớn về các mặt chính trị xã hội Đó là, tăng thu nhập cho quốc gia, nâng cao đời sống xã hội, tạo công ăn việc làm, đặc biệt giải quyết được một số lượng lớn lao động nông nhàn ở nông thôn Hơn nữa, đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu thịt lợn, nước ta có nhiều thuận lợi vì điều kiện tự nhiên của nước ta phù hợp phát triển chăn nuôi lợn, có
cơ sở từ ngành trồng trọt khá vững mạnh, chi phí nhân công rẻ, Có thể nói cùng với một số hàng hóa nông sản khác như gạo, cà phê, hạt điều, chè
và thuỷ sản, thịt lợn cũng là mặt hàng Việt Nam có lợi thế so sánh trên thị trường thế giới
Với ý nghĩa như trên, Đảng và Nhà nước ta đã chỉ đạo trong Quyết
định số 166/2001/QĐ/TTg về: Một số biện pháp và chính sách phát triển
chăn nuôi lợn giai đoạn 2001-2010, đó là “Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi
lợn hàng hoá nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ thịt lợn trong nước và xuất khẩu, tạo việc làm cho người lao động, tăng thêm thu nhập cho nông dân Đến năm 2005 xuất khẩu 80.000 tấn/năm, tiến tới mỗi năm xuất khẩu trên
100.000 tấn thịt lợn các loại.”
Trang 5Nhận thức được tầm quan trọng của mặt hàng thịt lợn trong cơ cấu thương mại trong nước và quốc tế, em quyết định đi sâu tìm hiểu thực trạng sản xuất và xuất khẩu thịt lợn của Việt Nam trong thời gian qua và trình bầy những hiểu biết của mình về đề tài này trong khoá luận tốt nghiệp:
“Thực trạng và các giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu thịt
lợn của Việt Nam.”
Ngoài lời nói đầu, mục lục, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, khoá luận gồm 3 chương:
Chương I : Khái quát thị trường thịt lợn thế giới và tình hình
chăn nuôi lợn xuất khẩu của Việt Nam
Chương II : Thực trạng xuất khẩu thịt lợn của Việt Nam
Chương III: Định hướng và các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu
thịt lợn ở Việt Nam thời kỳ đến 2010, tầm nhìn 2020
Khoá luận này chủ yếu trình bày tình hình sản xuất và xuất khẩu thịt lợn trên thế giới, vị trí vai trò của ngành chăn nuôi nói chung trong đó có chăn nuôi lợn, thực trạng chăn nuôi và chế biến thịt lợn ở Việt Nam, thị trường tiêu thụ trong nước và xuất khẩu, các nhân tố tác động đến mặt hàng thịt lợn xuất khẩu Qua đó, khoá luận cũng xác định phương hướng, giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu thịt lợn trong thời gian tới, đến năm 2010
Phương pháp khoa học cơ bản được sử dụng trong khoá luận này là duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp với phương pháp thống kê,
so sánh, tổng hợp và diễn giải để phân tích và trình bầy vấn đề
Do thời gian hạn hẹp và vốn hiểu biết có hạn, còn có những trang viết trong khoá luận chưa được cập nhật số liệu, mong các thầy, cô và bạn đọc thông cảm Em rất mong các thầy, cô đọc khoá luận và góp ý sửa chữa những thiếu sót không thể tránh khỏi đồng thời nâng cao kiến thức cho em trong mảng đề tài nhiều thử thách nhưng thú vị này
Trang 6Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Lê Thu Thuỷ đã tận tình hướng dẫn, các cán bộ Tổng Công ty chăn nuôi Việt Nam, các cán bộ ở những cơ quan
em tới tham khảo số liệu đã nhiệt tình giúp đỡ để em có thể hoàn thành được khoá luận này Xin cám ơn bạn bè và gia đình đã giúp đỡ và động viên em trong quá trình thực hiện khoá luận
Hà Nội, tháng 12 năm 2003
Sinh viên: Đặng Thị Ngọc Tâm
Trang 7Chương I Khái quát thị trường thịt lợn thế giới và tình hình chăn nuôi lợn xuất khẩu ở Việt Nam
I Tình hình thị trường thịt lợn thế giới
1 Tổng quan thị trường thịt thế giới
Thế kỷ XX đã chứng kiến những thành tựu vượt bậc của con người trong các lĩnh vực khoa học và kỹ thuật như thành công giải mã gien người, nhân bản
vô tính trong ngành công nghệ sinh học, tạo ra các loại năng lượng thay thế mới hiệu quả và dồi dào như năng lượng mặt trời, năng lượng nguyên tử trong ngành năng lượng, các thế hệ máy tính nối tiếp nhau ra đời ngày càng hiện đại và các ứng dụng của chúng trong ngành công nghệ thông tin, những khám phá mới trong ngành khoa học vũ trụ, chế tạo nhiều loại thuốc mới trong y học, Tất cả những tiến bộ đó đã thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống con người Đời sống con người càng được nâng cao, nhu cầu dinh dưỡng trong các bữa ăn hàng ngày-nguồn cung cấp dinh dưỡng chính cho con người càng được chú ý cải thiện Từ đó, nhu cầu đối với các thực phẩm chế biến
từ thịt ngày càng tăng, tạo nên động lực phát triển ngành sản xuất và chế biến thịt thế giới
Từ xa xưa, nhu cầu bổ sung protêin đã là nhu cầu thiết yếu đối với con người nên con người rất cần ăn thịt trong các bữa ăn Người tiền sử đã biết săn bắt thú trong rừng lấy thịt, rồi dần dần tìm cách thuần hoá các con vật hoang dại trở thành thú nuôi trong nhà, chăm sóc và nuôi chúng lớn, sau đó giết thịt dùng trong các bữa ăn Nguồn cung cấp thịt cho con người khi đó là tự cung tự cấp, không hề có trao đổi thịt trong đời sống Thời gian trôi qua, phân công lao động lớn lần thứ nhất diễn ra, chăn nuôi tách khỏi trồng trọt, kết quả của sự phân công này là năng suất lao động được nâng cao một bước, trao đổi sản phẩm trở nên thường xuyên, trong xã hội xuất hiện hàng hoá Các hoạt động trao đổi các
Trang 8loại hàng hoá bắt đầu ra đời và ngày một phát triển trong đó trao đổi thịt là một phần không thể thiếu được của các hoạt động này
Cùng với sự ra đời và phát triển của phương thức sản xuất Tư bản chủ nghĩa, ngoại thương đã hình thành và trở thành động lực phát triển chính của phương thức này Hoạt động trao đổi trong nhiều lĩnh vực được nâng lên một tầm cao mới, không chỉ bó hẹp trong phạm vi biên giới một quốc gia mà giờ đây, các hoạt động thương mại đã diễn ra trên phạm vi quốc tế Dưới hình thức xuất khẩu - bán hàng hoá và dịch vụ cho nước ngoài và nhập khẩu - mua hàng hoá và dịch vụ của nước ngoài, các quá trình thương mại quốc tế diễn ra nhộn nhịp và mang lại nhiều lợi ích cho cả người nhập khẩu và người xuất khẩu Thương mại thịt quốc tế cũng dần hình thành trong quá trình này
Trải qua quá trình phát triển lâu dài, thị trường thịt thế giới đã có nhiều bước thăng trầm Nhưng cho đến nay, thị trường thịt đã có nhiều dấu hiệu lạc quan và báo hiệu một quá trình phát triển liên tục Sản lượng thịt toàn cầu liên tục tăng, giá trị xuất nhập khẩu tăng cao, bình quân khối lượng thịt trên đầu người tăng, đặc biệt cao ở một số nước phát triển như Mỹ, Canada, Nhật, Anh, Pháp, Có được kết quả như vậy là nhờ những tiến bộ trong khoa học nông nghiệp với kết quả lai tạo những giống mới, con mới cho năng suất và chất lượng cao, chăn nuôi công nghiệp quy mô lớn, giá thức ăn chăn nuôi thấp, kinh
tế thế giới phát triển, thu nhập quốc dân và nhu cầu tiêu dùng, sinh hoạt của nhiều nước tăng, thêm vào đó một số thị trường mở cửa cho sản phẩm nhập khẩu đã thúc đẩy sản xuất, tiêu dùng, tạo đà cho sản xuất và thương mại thịt toàn cầu tăng nhanh
1.1 Sản xuất
Sự tăng trưởng mạnh mẽ của nền kinh tế toàn cầu trong thập kỷ vừa qua đã làm cho nhu cầu đối với sản phẩm thịt tăng lên, dẫn đến tăng tương ứng sản lượng thịt thế giới Theo số liệu của Tổ chức nông lương thế giới FAO, sản lượng thịt toàn cầu năm 2001 đạt 236,9 triệu tấn tăng 1,5% so với năm 2000 (sản lượng thịt bò giảm 1%, thịt gia cầm tăng 3% và thịt lợn tăng 2,2%), năm
Trang 92002 tỷ lệ tăng trưởng là 3,03% lên 244,08 triệu tấn và dự kiến năm 2003 sẽ tăng 1,2% lên 247,7 triệu tấn (trong đó sản lượng gia cầm tăng mạnh nhất với 2,2% so với năm 2002) Sản lượng thịt thế giới chủ yếu tập trung vào 3 khu vực chính là Mỹ, Liên minh Châu Âu và Trung Quốc.Trong những năm gần đây, sản lượng thịt tăng chủ yếu ở Trung Quốc, nước hiện nay chiếm gần 40% sản lượng thịt của thế giới
Một đặc điểm quan trọng của ngành sản xuất thịt thế giới là sản xuất thịt tập trung vào một số nước có nền nông nghiệp phát triển và có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho ngành chăn nuôi Đó là các nước Mỹ, Liên minh Châu Âu, Trung Quốc, Braxin, Canada, Đặc biệt là Trung Quốc, Mỹ, Liên minh Châu
âu là những nước có tốc độ tăng trưởng đàn gia súc và gia cầm và sản lượng thịt cao đáng kể
Hàng năm Trung Quốc tăng sản lượng thịt 10%, là mức tăng nhanh hơn bất cứ nơi nào trên thế giới, giai đoạn 1988-1997, sản lượng thịt của Trung Quốc đã tăng lên 3 lần đạt mức 67 triệu tấn vào năm 1997 Thành công này đã khiến Trung Quốc trở thành quốc gia sản xuất gần 1/2 sản lượng thịt của thế giới Nguyên nhân dẫn đến sự tăng trưởng mạnh mẽ của ngành sản xuất thịt của Trung Quốc là do quá trình tự do hoá thị trường, bắt đầu từ cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, cùng với tăng thu nhập người dân kết hợp với những chính sách cải cách, phát triển ngành chăn nuôi Trong cơ cấu sản xuất thịt của Trung Quốc, đáng chú ý là sự nổi lên của ngành gia cầm nhờ Trung Quốc đã hiện đại hoá phương pháp sản xuất mặc dù thịt lợn vẫn đang là sản phẩm chiếm ưu thế Đứng vị trí thứ hai thế giới về sản xuất thịt là Mỹ, hiện đang chiếm trên 20% tổng sản lượng thịt thế giới Nhờ lợi thế nguồn cung cấp tự nhiên thuận lợi, trong khi nhu cầu thế giới về thịt tăng và thị trường nội địa rộng lớn, Mỹ đã phát triển được ngành sản xuất và chế biến thịt Trong những năm 90 của thế kỷ XX, ngành thịt của Mỹ đã vượt qua EU (năm 1994) vươn lên vị trí thứ hai thế giới Mỗi năm sản lượng thịt của Mỹ tăng trung bình 3% Nhu cầu của thế giới đối
Trang 10với sản phẩm thịt của Mỹ là rất lớn Sản lượng thịt tăng lên chủ yếu là sản lượng thịt gia cầm, sản phẩm hiện nay chiếm khoảng 45% sản lượng thịt của Mỹ
Vị trí thứ ba trong ngành sản xuất thịt thế giới thuộc về Liên minh Châu
Âu, vốn là khu vực có nền kinh tế phát triển cao từ lâu đời, sức khoẻ và nhu cầu dinh dưỡng của con người luôn được các nước này đặc biệt chú ý Tỷ trọng của chăn nuôi và nghề cá, những ngành sản xuất ra thực phẩm trực tiếp ảnh hưởng đến việc bồi bổ sức khoẻ và trí tuệ của con người ngày càng cao trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp Liên minh Châu âu được đánh giá là có ngành chăn nuôi phát triển rất cao, tỷ trọng ngành chăn nuôi trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp ở Liên minh Châu Âu thường là 60-70% ở những nước như Anh, Hà Lan, Tây Đức, Đan Mạch, Aixơlen tỷ trọng này chiếm tới 70-80%, nước có tỷ trọng thấp như Italia cũng chiếm tới 50% Sản lượng thịt của Liên minh Châu
âu hiện là 45,493 triệu tấn chiếm khoảng 19% sản lượng thịt toàn thế giới Hiện nay, sản lượng thịt của Liên minh Châu Âu đang có xu hướng giảm do việc cắt giảm các chính sách trợ cấp xuất khẩu và dịch bệnh bò điên, lở mồm long móng diễn ra ở Anh, Pháp vào năm 1999, 2001 Dịch bệnh cũng dẫn đến việc các nước này mất một số thị trường xuất khẩu thịt lớn ở Châu á
Tóm lại, 3 nước và khu vực kinh tế phát triển trên đã sản xuất phần lớn sản lượng thịt thế giới Các nước đang phát triển cũng đang có xu hướng tăng dần sản lượng thịt của nước mình Sản lượng thịt của các nước đang phát triển tăng 3,5% trong năm này Sản lượng thịt của các nước phát triển giảm 1% do sản xuất thịt bò giảm 4% Năm 2001, sản xuất thịt ở Nam Mỹ, Châu á tăng 3%, trong đó sản xuất thịt của Indonexia, Philippin, Thái Lan, Việt Nam tăng lên chủ yếu là thịt gia cầm và thịt lợn
Đặc điểm thứ hai trong sản xuất thịt thế giới là xu hướng thay đổi cơ cấu sản phẩm thịt (gồm các loại thịt bò bê, thịt lợn, thịt gia cầm, thịt cừu dê, và các loại khác) theo hướng gia tăng tỷ lệ thịt lợn và thịt gia cầm Thịt gia cầm gia tăng liên tục trong suốt thập kỷ này với tốc độ 17%/năm trong khi thịt lợn duy trì ở mức độ tăng khiêm tốn hơn là 4%/năm Khối lượng thịt bò vốn chiếm ưu
Trang 11thế trước kia, giờ đây tăng chậm lại một phần do giá cả khuyến khích việc tiêu thụ các loại thịt khác Hiện nay xu hướng này đã tạm ổn định dẫn đến cơ cấu thịt thế giới hiện tương đối ổn định với 3 loại chính là thịt bò bê, thịt lợn và thịt gia cầm với có khối lượng chiếm tỷ trọng gần tương đương Mặc dù cơ cấu này
có thể thay đổi về tỷ lệ theo từng nước và khu vực
Bảng 1.1: Sản xuất thịt thế giới (đơn vị: triệu tấn)
Năm 1999 2000 2001 2002
2003 (dự báo)
1.2 Thương mại
Thịt là một loại thực phẩm động vật rất cần thiết cho con người vì tiêu dùng thực phẩm động vật có liên quan trực tiếp đến việc bồi bổ sức khoẻ và
Trang 12phát triển trí tuệ của con người Thời gian gần đây, do đời sống con người được nâng cao, nhu cầu thay đổi cơ cấu bữa ăn theo hướng tăng thực phẩm động vật phát triển, từ đó tạo điều kiện cho việc gia tăng thương mại thịt toàn cầu
Trong suốt thập kỷ 90 của thế kỷ XX, kim ngạch mậu dịch thịt thế giới đang tăng với mức trung bình 2% năm Ba năm trở lại đây, do yêu cầu khắt khe
về vệ sinh an toàn thực phẩm và mức giảm chi tiêu của người dân do mức tăng trưởng chững lại của nhiều nền kinh tế, kim ngạch trao đổi thịt tăng trưởng chậm lại Năm 2001 sản lượng thịt trao đổi là 17 triệu tấn, tăng 0,5% so với năm
2000, là mức tăng thấp nhất trong vòng 15 năm trở lại đây Năm 2002 là 18,8 triệu tấn và dự đoán năm 2003 khối lượng thịt các loại giao dịch trên thị trường thế giới có thế đạt 19,2 triệu tấn tăng 2%
Nói chung, thịt vẫn là hàng hoá ít được trao đổi với khối lượng xuất khẩu chỉ chiếm 7% tổng sản lượng, chỉ tăng nhẹ đôi chút so với cuối thập niên 80 Khả năng dễ hư hỏng cao của các sản phẩm thịt đã kìm hãm trao đổi thịt từ trước đến nay Điều này còn đi kèm với nguyên nhân thiếu các cơ sở hạ tầng thích hợp cho việc trao đổi thịt như các phương tiện của cảng biển, kho lạnh, ở các thị trường mới nổi
Bảng 1.2: Xuất khẩu thịt thế giới (đơn vị: triệu tấn)
Trang 13Tổng sản lượng 16,517 16,909 17,002 18,8 19,2
Nguồn: F.A.O
Trong cơ cấu các sản phẩm thịt được trao đổi trên thị trường thế giới, thịt gia cầm chiếm đa số, tương ứng theo các năm 1999, 2001, 2002 là 41%, 44%, 42% Năm 2002 kim ngạch xuất khẩu thịt gia cầm là 7,9 triệu tấn trong khi thịt lợn xuất khẩu là 4 triệu tấn chiếm 21,27% trong trao đổi các sản phẩm thịt, thịt
bò là 5,9 triệu tấn chiếm 31,4%
Trong 3 loại sản phẩm chính là thịt bò bê, thịt lợn và thịt gia cầm, thịt lợn được coi là ít được trao đổi trên thị trường thế giới, chỉ có 3% tổng sản lượng thịt là xuất khẩu trong khi 11% sản lượng thịt bò và thịt gia cầm được đem trao đổi trên thị trường thế giới Nguyên nhân của việc thịt lợn ít được trao đổi trên thị trường thế giới là do thịt lợn Trung Quốc ít được trao đổi trong khi Trung Quốc là nước sản xuất nhiều thịt lợn nhất thế giới Tỷ lệ thịt bò đem trao đổi quốc tế so với sản lượng thịt bò sản xuất ra là tương đối ổn định từ cuối thập niên 80 ở mức 11% Tầm quan trọng của thịt gia cầm xuất khẩu lại ngày một tăng cho đến nay đã chiếm 11% sản lượng thịt gia cầm sản xuất được
Trên thế giới, mức tiêu dùng thịt hiện nay rất chênh lệch Các nước phát triển tiêu thụ thịt nhiều nhất ở mức 76,3 kg/người/năm ở các nước đang phát triển, mức tiêu thụ thịt bình quân theo đầu người đạt 28,2 kg/người/năm; còn ở châu á mức tiêu thụ này là 27,5 kg; ở châu Phi là 14,1kg Tiêu thụ thịt bình quân đầu người trên thế giới là 38,4 kg/năm Trong đó tiêu dùng các sản phẩm thịt ở các nhóm nước phát triển và đang phát triển lại có xu hướng trái ngược nhau.Mức tiêu dùng thịt ở các nước phát triển tăng bình quân 5,53%/năm, còn ở các nước đang phát triển giảm bình quân 0,79%/năm
Các nước phát triển là nhóm nước tiêu thụ nhiều thịt nhất đồng thời cũng là nhóm nước nhập khẩu nhiều thịt nhất theo thứ tự Nga, Nhật Bản, Mỹ, EU, trong đó Nga và Nhật Bản chiếm vị trí đứng đầu kiểm soát hơn 1/2 giá trị mậu dịch thịt thế giới Nhật Bản đứng đầu về nhập khẩu thịt lợn với 1,125 triệu
Trang 14tấn năm 2002 chiếm 30% tổng kim ngạch nhập khẩu thịt lợn thế giới Mỹ nhập khẩu nhiều thịt bò nhất 1,5 triệu tấn năm 2002 chiếm 32% kim ngạch nhập khẩu thịt bò thế giới Còn Nga lại vô địch về nhập khẩu thịt gia cầm 1,22 triệu tấn gà
giò và 0,165 triệu tấn gà tây năm 2002 (theo tạp chí Ngoại thương số
11-20/5/2003)
Các nước xuất khẩu chính trên thị trường thịt thế giới hiện nay là Mỹ, EU, Australia, Brazil và cả Trung Quốc cũng đóng vai trò quan trọng Mỹ và EU là nhà cung cấp chính, xuất khẩu hơn 50% tổng lượng thịt xuất khẩu Năm 2002,
Mỹ xuất khẩu được: 1,119 triệu tấn thịt bò đứng thứ hai thế giới, chỉ sau Australia (1,42 triệu tấn); 0,709 triệu tấn thịt lợn, thứ ba thế giới (dẫn đầu là EU 1,3 triệu tấn), thứ nhất về gà giò với kim ngạch 2,208 triệu tấn và thứ 2 về gà tây với kim ngạch là 0,207 triệu tấn
Bảng 1.3: Diễn biến giá thịt thế giới (USD/Tấn)
Thịt lợn nạc
XK của EU
Thịt bò nạc Giá CIF XK của úc
Trang 16Nguồn F.A.O và tạp chí thương mại số 40/2003
Sản xuất và chăn nuôi lợn trên thế giới trong những năm gần đây liên tục
tăng trưởng và đạt được những thành tích đáng kể Sản lượng thịt lợn tăng đều ở
mức 4,05%/năm trong giai đoạn 1992-1997, sau đó tăng chậm lại nhưng vẫn ở
mức 1-2%/năm Những năm đầu của thế kỷ 21, sản xuất thịt lợn phát triển mạnh
trở lại, đạt được tốc độ 2,8%/năm vào năm 2002, và có thể đạt mức 1,53% vào
năm 2003
Thịt lợn là một loại thực phẩm được tiêu dùng nhiều trong bữa ăn của con
người.Trừ một số nước Hồi giáo như Malaysia, Brunei, khu vực Trung
Đông, tiêu dùng rất ít thịt lợn, hầu hết các nước trên thế giới đều ăn thịt lợn và
đang đẩy mạnh việc tiêu dùng thịt lợn trong bữa ăn ở một số nước như Việt
Nam, Trung Quốc, tiêu dùng thịt chủ yếu là tiêu dùng thịt lợn, chiếm tới 70%
sản phẩm thịt
Tiêu dùng thịt lợn tính trên đầu người ở một số nước đạt mức khá cao:
Cộng hoà Séc 67,9 kg/người/năm; Đan Mạch 64,8; áo 57,3; Tây Ban Nha 55,9;
Hồng Kông 55,4; Đài Loan 38,2; Trung Quốc 34,1; Mỹ 28,1 kg/người/năm Các
nước phát triển tiêu dùng nhiều thịt lợn nhất, chủ yếu để phục vụ bữa ăn hàng
ngày và chế biến sản phẩm xuất khẩu
Nước sản xuất nhiều thịt lợn nhất thế giới hiện nay là Trung Quốc Điều
này cũng rất dễ hiểu do Trung Quốc chính là nước sản xuất thịt lớn nhất thế
giới Những năm 1990, sản lượng thịt lợn Trung Quốc đã chiếm tới 49% tổng
sản lượng thịt lợn thế giới Nguyên nhân của việc phát triển chăn nuôi lợn ở
Trung Quốc là chủ yếu do dân số đông, nhu cầu về thịt đặc biệt là thịt lợn rất
lớn, nuôi lợn lại rất phù hợp với các gia đình ở nông thôn Trung Quốc Những
năm gần đây, Trung Quốc đã đưa ra những chính sách hỗ trợ và phát triển
ngành chăn nuôi, trong đó có chăn nuôi lợn khá thành công nên ngành chăn
nuôi của Trung Quốc được hiện đại hoá, ngày càng vững mạnh Năm 2003,
Trung quốc vẫn là nước sản xuất thịt lợn lớn nhất thế giới: tổng đàn lợn là
170.146.000 con, sản lượng dự đoán đạt 44,1 triệu tấn, tăng 2% so với năm
Trang 17trước và chiếm tới 50,8% tổng sản lượng thịt lợn thế giới (theo FAO) Năm nay
là năm thứ 4 liên tiếp sản xuất và tiêu thụ thịt lợn của Trung Quốc tăng Thịt lợn Trung Quốc sản xuất ra chủ yếu tiêu thụ nội địa, xuất khẩu tuy khá cao (225.000 tấn năm 2002) nhưng không đáng bao nhiêu so với tổng sản lượng Nhu cầu tiêu thụ thịt lợn của Trung quốc sẽ tiếp tục tăng khoảng 2,65% năm tới
Khu vực sản xuất thịt lợn lớn thứ hai thế giới hiện nay là Liên minh Châu
âu-khu vực nổi tiếng có nền nông nghiệp phát triển cao và sở hữu ngành chăn
nuôi hiện đại Sản lượng thịt lợn của khu vực này chiếm khoảng 20,53% tổng sản lượng thịt lợn thế giới Năm 2003, Liên minh Châu âu sản xuất được 17,82 triệu tấn, tăng 0,1% so với năm 2002, trong khi tiêu thụ thịt ước khoảng 16,55-16,56 triệu tấn
Các nước sản xuất thịt chủ yếu khác còn có Mỹ, Nga, Ba Lan và các nước Đông Nam á Tại Mỹ, sản lượng thịt lợn đến hết năm 2003 sẽ giảm 0,9% so với năm trước, còn 8,82 triệu tấn, tiêu thụ thịt lợn giảm 1,75%, còn 8,57 triệu tấn
(theo FAO).ở Nga, mấy năm 2000-2002, sản lượng thịt lợn của Nga liên tục
tăng với tốc độ 2,5-3,5%/ năm Nguyên nhân tăng trưởng là do kinh tế Nga tăng trưởng ổn định, sức mua trong dân cư tăng, khả năng sản xuất tới 41,8% Năm
2003, sản lượng thịt lợn của Nga tăng với tốc độ cao nhất, tăng 6,2% so với năm trước, đạt 1,7 triệu tấn.Tốc độ tănng trưởng thịt lợn của Nga như vậy là phù hợp với mục tiêu phát triển sản xuất thịt lợn nội địa của nước này là khoảng 7%/năm, giảm dần sự phụ thuộc vào thịt lợn nhập khẩu ở Đông Nam á, Việt Nam cũng là đất nước có sự tăng trưởng đáng kể trong ngành chăn nuôi lợn, đàn lợn đến nay đã có 20 triệu con, tổng sản lượng thịt hàng năm đạt 1,5 triệu tấn
Trang 18Sản lượng (triệu tấn) 91,7 94,3 95,8
Kim ngạch xuất khẩu (triệu tấn) 3,5 4,0 4,0
Giá cả (USD/tấn) 2.077 1.830 1.758
Nguồn: Tạp chí thương mại số 40/2003
Theo dõi tình hình thương mại thịt lợn trong những năm gần đây, ta nhận thấy những đặc điểm sau:
Sản lượng thịt lợn thế giới trong những năm qua liên tục tăng và chiếm tỷ
lệ cao nhất trong cơ cấu thịt thế giới Theo bảng 1.5, năm 2002, sản lượng thịt
đã tăng 2,6 triệu tấn so với 91,7 triệu tấn năm 2001, và ước tính sẽ tăng lên 95, 8 triệu tấn năm 2003.Thông thường, thịt lợn thường chiếm 38-39% tổng sản lượng thịt toàn thế giới, năm 2002, tổng sản lượng thịt lợn thế giới là 94,3 triệu tấn chiếm 38,52% tổng sản lượng thịt thế giới Tuy nhiên, thương mại thịt lợn không nhiều như các sản phẩm thịt khác, chỉ có 3% khối lượng thịt lợn sản xuất
ra là đem trao đổi trên thị trường thế giới, trong khi 11% thịt bò và thịt gia cầm sản xuất ra được đem trao đổi Do sản lượng thịt lợn tăng nên thương mại thịt lợn cũng tăng theo lên 4 triệu tấn năm 2002 từ 3,5 triệu tấn năm 2001, thịt bò và thịt gia cầm xuất khẩu được tương ứng là 5,9 và 7,9 triệu tấn
Theo nguồn tin từ Cơ quan Nông nghiệp quốc tế thuộc Bộ Nông nghiệp
Mỹ (USDA), đến tháng 10 năm 2003, thương mại thịt lợn thế giới tiếp tục tăng trưởng Tổng khối lượng thịt lợn xuất khẩu đến hết năm 2003 có thể đạt mức dự báo là 4 triệu tấn, tăng 2 % so với năm 2002
Cũng theo nguồn tin này, do những thay đổi trong chính sách nhập khẩu vào các thị trường chính như Nga, Nhật Bản nên dự đoán thương mại thịt lợn toàn cầu năm 2004 sẽ giảm nhẹ, khoảng 2%.Thị trường Bắc Mỹ sẽ tăng trưởng
Trang 19trong năm tới nhưng nhu cầu nhập khẩu lại giảm mạnh ở Nhật Bản, Nga và Liên minh Châu âu
Cạnh tranh giữa các nước xuất khẩu chính như Mỹ, Braxin, Canada và Liên minh Châu âu hiện diễn ra gay gắt
Sản lượng thịt lợn Mỹ trong năm 2003 tiếp tục tăng và dự đoán sẽ còn tăng trong năm 2004 gần 1%, đưa năm tới thành năm thứ 14 tăng trưởng liên tục.Xuất khẩu thịt lợn của Mỹ năm 2003 cũng tăng đạt 726.000 tấn.Tuy nhiên, Canada đã vượt Mỹ trở thành nước xuất khẩu thịt lợn lớn nhất thế giới và thực
tế Mỹ lại là thị trường nhập khẩu thịt lợn lớn nhất của Canada, chiếm tới 60%
EU sau khi xuất khẩu thịt lợn bị giảm mạnh do ảnh hưởng bệnh lở mồm long móng, thị trường năm 2003 đã được phục hồi và lượng thịt lợn xuất đi ước đạt 1,3 triệu tấn
Kim ngạch xuất khẩu thịt lợn của Braxin tiếp tục tăng trưởng Mặc dù năm qua, Braxin đã cố gắng đàm phán để thâm nhập vào thị trường Nhật Bản nhưng những lo lắng an toàn thực phẩm liên quan đến dịch bệnh xảy ra ở một số tỉnh ở Braxin vẫn khiến cho người tiêu dùng e ngại.Mặt khác, Braxin đang nỗ lực để giảm sự phụ thuộc vào thị trường Nga
Tất cả thị trường nhập khẩu lớn đều tăng cường nhập khẩu thịt lợn trong năm 2003 Mặc dù Nhật Bản đã bắt đầu áp dụng mức thuế bảo hộ, song nhập khẩu thịt lợn năm 2003 của nước này vẫn tăng lớn ở mức kỷ lục 1,2 triệu tấn Tại Nga, nền kinh tế phục hồi khiến khối lượng thịt lợn nhập khẩu tăng nhẹ, tới 710.000 tấn Đối với Mỹ, khối lượng thịt lợn nhập khẩu trong năm 2003 ước đạt 490.000 tấn, tăng 2% so với năm 2002 Tại Hồng Kông, nhu cầu nhập khẩu thịt lợn năm 2003 tăng 5%, lên mức kỷ lục 300.000 tấn, do nhu cầu tiêu thụ thịt lợn thay thế thịt gà mắc bệnh cúm và thay đổi thói quen tiêu thụ thịt tươi sang thịt lạnh của người dân
Giá thịt lợn thế giới trong những năm qua liên tiếp giảm xuống, theo FAO năm 2003 giá thịt lợn thế giới là 1.760 USD/tấn, FOB Mỹ (thịt lợn đông lạnh)
Trang 20Giá thịt hạ là kết quả cạnh tranh giữa các nước xuất khẩu thịt lợn hiện nay Các nước muốn tăng kim ngạch xuất khẩu của mình thì phải nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm của mình, từ đó tăng chất lượng và hạ giá thành Thêm vào
đó, chính sách nhập khẩu thịt lợn của một số nước nhập khẩu chủ yếu thay đổi
theo hướng chặt chẽ hơn đã tác động đến giá thịt lợn trên thị trường thế giới
3 Tình hình xuất nhập khẩu thịt lợn trên thị trường thế giới
3.1 Xuất khẩu
Nhìn chung, quy mô xuất khẩu thịt lợn còn rất nhỏ bé, xuất khẩu chỉ chiếm khoảng 3% sản lượng thịt lợn thế giới Đồng thời, xuất khẩu thịt lợn thua kém xuất khẩu thịt bò và thịt gia cầm Cơ cấu mặt hàng này cho thấy vị trí khiêm tốn của mặt hàng thịt lợn xuất khẩu trên thế giới mặc dù sản lượng thịt lợn cao hơn hẳn so với thịt bò và thịt gia cầm Nguyên nhân của tình trạng này là do các nước sản xuất thịt lợn dẫn đầu thế giới là Trung Quốc, Mỹ, EU lại là các nước dân số đông, tiêu thụ thịt lợn chủ yếu trong nước, lượng thịt xuất khẩu không cao
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp Mỹ, hiện nay trên thế giới có trên 30 nước xuất khẩu thịt lợn, trong đó, các nước EU, Canada, Mỹ, Ba Lan, Trung Quốc thường có khối lượng thịt lợn xuất khẩu lớn, chiếm tới 84% khối lượng thịt lợn xuất khẩu trên thế giới Đăc biệt, các nước EU và Mỹ thường chiếm 50% kim ngạch xuất khẩu thịt lợn của thế giới Ngoài các nước xuất khẩu thịt lợn có khối lượng lớn như trên, hàng năm Braxin, Rumani, Hungari mỗi năm các nước này xuất khẩu khoảng 20.000 tấn đến 100.000 tấn
Mỹ là nước xuất khẩu thịt lợn thứ hai trên thế giới, mỗi năm xuất khẩu vào
khoảng 700.000 tấn Nửa cuối năm 2003, sản lượng thịt lợn dự đoán sẽ giảm do lợi nhuận thấp gây chán nản cho người chăn nuôi Mặc dù vậy, xuất khẩu thịt lợn Mỹ vẫn tăng khoảng 2% trong năm nay, lên mức kỷ lục 726.000 tấn do nhu cầu tăng mạnh từ các nước nhập khẩu lớn
Trang 21Việc Nga áp dụng TRQ- hạn ngạch và thuế nhập khẩu sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới Mỹ, vì thị trường Nga tiêu thụ gần 3% thịt lợn xuất khẩu của Mỹ trong năm 2002 Việc Mêhicô điều tra chống bán phá giá cũng gây bất lợi cho xuất khẩu của Mỹ.Tuy nhiên, Mỹ và Mêhicô có lẽ sẽ tìm được một giải pháp đảm bảo cho cả hai nước theo thoả thuận NAFTA Năm 2002, Mêhicô tiêu thụ 21% thịt lợn xuất khẩu của Mỹ Trong khi mậu dịch với Mêhicô và Nga giảm xuống thì nhu cầu thịt lợn Mỹ ở Hàn Quốc có thể vẫn cao Còn Nhật tiếp tục là thị trường tiêu thụ thịt lợn lớn nhất của Mỹ (chiếm 48% lượng xuất khẩu của Mỹ)
Braxin đã thành công lớn trong xuất khẩu thịt lợn trong vài năm trở lại
đây Kể từ năm 2000, giá trị xuất khẩu thịt lợn tăng 300%, từ mức 8% tổng sản lượng lên chiếm khoảng 25% vào năm 2004 (dự báo) Dự báo, năm 2004 sản xuất thịt của Braxin sẽ tiếp tục tăng trưởng trên 2% nhưng dự đoán xuất khẩu có thể giảm so với những năm trước
Thức ăn gia súc, thường chiếm 75% tổng chi phí sản xuất thịt lợn của Braxin hiện vẫn tăng nhưng duy trì mức tăng thấp, do chương trình trợ cấp trồng ngũ cốc 2003/2004 tiếp tục trợ cấp cho ngành sản xuất ngô Mức tiêu thụ thịt trong nước của Braxin tương đối thấp, chỉ khoảng 18kg/người/năm ở miền Nam giàu có, nhưng bù lại xuất khẩu lại tăng trưởng ngoạn mục đặc biệt ở các thị trường Nga, Bulgari, Hồng Kông, Singapore và Achentina
Chi phí sản xuất thấp và tỷ giá hối đoái cực kỳ cạnh tranh là những thuận lợi cho Braxin xuất khẩu Mặc dù Braxin có khó khăn trong thương mại thịt trong 6 tháng đầu năm do bệnh dịch Aujeszky, nhưng các nhà xuất khẩu Braxin
đã cố gắng khoanh vùng và dập tắt dịch bệnh Quả thực, Braxin đang chứng tỏ khả năng không chỉ xuất khẩu được sang thị trường Nga (hiện chiếm 80% thịt lợn xuất khẩu của Braxin) mà còn nhiều thị trường khác nữa
Nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu thịt lợn là Canada, đạt khoảng
800.000 tấn Trong năm 1999, sản lượng thịt lợn của Canada tăng mạnh, trong
đó lượng thịt xuất khẩu toàn bộ lượng dư thừa Năm 2000, Canada đã vượt qua
Mỹ trở thành nước xuất khẩu thịt lợn lớn nhất thế giới Hiện nay, Mỹ là thị
Trang 22trường nhập khẩu lớn nhất của Canada, nhập gần 60% trong tổng khối lượng thịt lợn xuất khẩu của Canada Thương mại về thịt lợn giữa Canada và Mỹ dự đoán sẽ tiếp tục được đẩy mạnh Canada xuất khẩu gần 20% sản lượng thịt lợn của mình sang thị trường Mỹ
Năm 2003, lượng lợn hơi xuất khẩu của Canada sẽ không đổi so với năm
2002 ở mức 6 triệu con Dự báo, nhu cầu tiêu thụ thịt lợn của Canada sẽ tăng nhẹ trong năm 2004.Tổng đàn lợn sẽ tăng một chút dẫn đến sản lượng thịt lợn năm tới tăng khoảng 2% Xuất khẩu thịt lợn Canada, hiện chiếm trên 50% tổng sản lượng, dự tính đạt 1 triệu tấn năm 2004, củng cố vị trí số 1 thế giới về xuất khẩu thịt lợn của nước này.Ngoài thị trường Mỹ, Canada đang tăng xuất khẩu sang các thị trường khác như Ôxtrâylia và Hàn Quốc
Kim ngạch xuất khẩu thịt lợn của Liên minh Châu âu giảm mạnh kể từ
2001 do bệnh lở mồm long móng (FMD), giảm 16% năm 2002, và tiếp tục giảm trong năm 2003 khoảng 4% Đồng euro lên giá, chính sách hạn ngạch nhập khẩu của Nga đang tạo điều kiện thuận lợi cho Braxin, đồng thời đặt Liên minh Châu Âu vào thế bất lợi hoàn toàn Tuy nhiên, toàn khu vực EU vẫn xuất khẩu được 1,3 triệu tấn thịt lợn vào năm 2003, dẫn đầu thế giới về xuất khẩu thịt lợn
ở nhiều nước trong khu vực này, số lợn đang giảm đặc biệt ở Đức và Hà Lan do những hạn chế về môi trường Tuy nhiên, năng suất tăng có thể đưa sản lượng thịt lợn ở khu vực này tăng ở một vài nước Đan Mạch, hiện đang là nước xuất khẩu hơn một nửa lượng thịt lợn xuất khẩu của Liên minh Châu Âu, tiếp tục là nước dẫn đầu thế giới về lai tạo lợn giống, và đầu tư quy mô rộng hiện đại hoá dây chuyền chế biến
Vào ngày 1/5/2004, EU sẽ kết nạp thêm 10 nước và bổ xung 100 triệu người vào cơ cấu khu vực hiện tại Về lâu dài, chỉ 2 trong số các nước sắp kết nạp là Ba Lan và Hungari duy trì được năng suất cao cho xuất khẩu thịt lợn Bên cạnh những nước xuất khẩu thịt lợn chủ yếu kể trên, nhiều nước Đông
á, Đông Nam á cũng là những đối thủ cạnh tranh đáng kể trên thị trường thịt lợn
Trang 23thế giới ở các nước như Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Indonexia, Thái Lan, Việt Nam, tiềm năng của mặt hàng thịt lợn rất lớn, hứa hẹn mở rộng xuất khẩu
Đài Loan trước đây là một nước xuất khẩu thịt lợn khá mạnh trong khu vực Nước này có nền nông nghiệp trù phú, luôn chú trọng đến công tác nghiên cứu, lai tạo để có được giống cây con mới có chất lượng và sản lượng cao Năm
1995, Đài Loan xuất khẩu khoảng 330.000 tấn thịt lợn Từ tháng 3 năm 1997,
do dịch lở mồm long móng lan tràn không dập tắt được, do vậy đến nay vẫn chưa có khả năng phục hồi trở lại là nước xuất khẩu chủ yếu Đài Loan hiện chuyển hướng không đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu thịt nữa mà chuyển sang nhập khẩu thịt từ các nước Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan,
2 về xuất khẩu (sau Canada) và vị trí thứ 3 về nhập khẩu thịt lợn (sau Nhật Bản
và Nga)
Nhập khẩu thịt lợn của Mỹ có xu hướng tăng và có thể đạt mức kỷ lục vào
năm 2003, ở mức 490.000 tấn Năm 2002, lượng thịt lợn nhập khẩu vào Mỹ tăng 13% so với năm 2001 nhưng năm nay có thể chỉ tăng 2% so với năm trước Thương mại thịt lợn của Mỹ chủ yếu với Canada do thuận lợi về khoảng cách địa lý hai nước, 80% lượng thịt nhập của Mỹ là từ Canada EU tăng lượng thịt lợn xuất khẩu vào Mỹ năm 2003 sau khi giảm mạnh năm trước do ảnh hưởng của bệnh FMD
Sản phẩm Mỹ hiện đang nhập chủ yếu là thịt lợn mảnh, nhưng xu hướng nhập khẩu thịt lợn sống hiện đang tăng mạnh, nước này nhập khẩu 5,8 triệu lợn
Trang 24sống trong đó 69% là lợn giống năm 2003 Năm tới, muốn xuất khẩu thịt lợn vào Mỹ, các nước cần lưu ý phải tuân thủ quy định COOL, quy định về dán nhãn nguồn gốc xuất xứ-có hiệu lực từ 30/8/2004
Nhật Bản nhập khẩu lượng thịt hàng năm nhiều nhất thế giới vì tiêu thụ
thịt của Nhật rất mạnh, 2,2 triệu tấn mỗi năm, 10,2 kg/người/năm, tăng trưởng 9%/ năm Nhu cầu thịt lợn cao và ngày càng tăng nhưng ngành công nghiệp sản xuất thịt lợn trong nước đang gặp nhiều khó khăn Các nhà sản xuất thịt lợn chán nản dần rời bỏ ngành công nghiệp này do lợi nhuận thấp Từ 1992 đến
2001, số lượng các nhà sản xuất thịt lợn đã giảm khoảng 1/3 kéo theo sản lượng thịt lợn Nhật giảm 13% giai đoạn này Vì thế, Nhật Bản đã trở thành nước nhập khẩu thịt lợn lớn nhất thế giới, đạt 1,2 triệu tấn vào năm 2003
Mặc dù nhu cầu thịt lợn về tổng thể vẫn rất lớn nhưng chính phủ Nhật hiện đang ra sức bảo vệ các nhà sản xuất trong nước bằng hệ thống giá tối thiểu và thuế bảo hộ đánh vào thịt lợn nhập khẩu Thuế bảo hộ mà Nhật áp dụng từ 8/2002 đến 31/3/2003 đã ảnh hưởng chút ít tới lượng thịt lợn nhập khẩu, giảm sức cạnh tranh của sản phẩm nhập khẩu Theo thuế này, nhập khẩu thịt lợn tươi
có lợi hơn sản phẩm đông lạnh, song phải chịu nhiều kiểm soát hơn.Mỹ là nước cung cấp thịt lợn lớn nhất cho thị trường Nhật, tiếp đến là Đan Mạch, Canada và
Mêhicô
Thị trường Nga hàng năm có nhu cầu nhập khẩu với số lượng lớn và nhập
khẩu từ nhiều nước trong đó có Việt Nam Với số dân 150 triệu người, năm
2002, Nga đã nhập 800.000 tấn, chiếm 33% lượng tiêu thụ trong nước, năm
2003 lượng thịt lợn nhập khẩu giảm đi 25% còn khoảng 500.000 tấn , khuynh hướng này tiếp tục trong năm 2004 vì ngành sản xuất thịt lợn Nga đang nỗ lực đẩy mạnh sản xuất trong nước Dự kiến năm 2004, Nga sẽ nhập 530.000 tấn
(theo USDA) và sau đó tăng nhập khẩu bình quân 3,43%/năm
Braxin chiếm vị trí đáng kể trong số các nhà xuất khẩu thịt lợn sang Nga trong 3 năm trở lại đây, đạt 54% sản lượng thịt lợn nhập khẩu vào Nga Hiện
Trang 25nay, nước này vẫn duy trì được vị trí thế mạnh của mình ở thị trường Nga nhờ
có chi phí sản xuất thấp, marketing hiệu quả và thuận lợi từ tỷ giá hối đoái Thị phần của thịt lợn Trung Quốc cũng đang tăng mạnh mẽ trên thị trường Nga Khả năng sản xuất lớn của Trung Quốc đảm bảo cho thương mại thịt lợn của Trung quốc và Nga tăng đều trong các năm qua
Năm 2003, Nga đã đưa ra TRQ- hạn ngạch nhập khẩu 450.000 tấn thịt lợn, giảm 21% so với 2002, theo điều luật 0203, nhằm tăng 7% sản lượng trong nước, giảm sự phụ thuộc vào thịt lợn nhập khẩu Tuy nhiên các nước xuất khẩu lớn nhất cho Nga như Braxin, EU, Trung Quốc, không bị ảnh hưởng nhiều bởi quy chế này Sản lượng thịt lợn trong nước của Nga chưa thể đáp ứng đủ nhu cầu tiêu thụ, đồng thời Nga sẽ điều chỉnh chính sách thương mại quốc tế với các nước sắp kết nạp vào EU, sẽ làm giá thịt lợn ở Nga nhích lên trong thời gian tới Với dự kiến giai đoạn từ 2001 đến 2010 LB Nga vẫn là thị trường nhập khẩu thịt lợn với khối lượng lớn, giá thịt lợn tại thị trường Nga vẫn cao, nguồn thịt viện trợ của một số nước cho Nga ngày càng giảm dần do đó các nhà xuất khẩu cần phải nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm của mình
Thị trường Hồng Kông với 7 triệu dân là vùng lãnh thổ có mức tiêu thụ
thịt lợn tính theo đầu người cao nhất châu á Nguồn cung cấp chủ yếu dựa vào nhập khẩu, số lượng thịt các loại nhập khẩu tăng đều hàng năm: năm 1996-145.000 tấn, năm 1999-260.000 tấn, năm 2000-264.000 tấn Dự kiến năm 2010 Hồng Kông nhập khẩu 300.000 tấn thịt các loại Trong tổng lượng thịt nhập khẩu hàng năm của Hồng Kông có khoảng 25.000 tấn thịt lợn sữa và 20.000 tấn thịt lợn choai Hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam phấn đấu duy trì và đẩy mạnh xuất khẩu thịt lợn sang thị trường Hồng Kông
Bất chấp những bất ổn liên quan đến dịch SARS đầu năm 2003, thịt lợn nhập khẩu của Hồng Kông vẫn tăng trong năm nay và ở mức cao Năm 2004,
dự đoán lượng thịt lợn nhập khẩu của nước này đạt mức kỷ lục là 283.000 tấn, tăng 1% so với năm nay Xuất khẩu nhiều vào Hồng Kông là các nước Trung
Trang 26Quốc, Braxin, Việt Nam, nhưng đến Hồng kông, thịt lợn lại tiếp tục tái xuất sang nước khác (khoảng 19%) Khuynh hướng này hiện đang giảm dần, nhiều công ty đã xuất khẩu trực tiếp sang vùng Bắc Trung Quốc, thay vì qua Hồng Kông như trước kia
Tương đương với Hồng Kông, Mêhicô cũng nhập khẩu thịt lợn với khối
lượng 300.000 tấn/năm Mỹ là nước xuất khẩu thịt lợn chủ yếu sang Mêhicô, chiếm tới 85% nhờ những ưu đãi trong chính sách thương mại của Mêhicô với
Mỹ Từ 1/1/2003, mức thuế và hạn ngạch TRQ nhập khẩu đối với thịt lợn được bãi bỏ theo quy định của NAFTA, tạo điều kiện cho thịt lợn Canada tiếp cận vào thị trường Mêhicô bình đẳng với Mỹ Năm 2002, khối lượng thịt lợn nhập khẩu của Mêhicô (chủ yếu từ Mỹ) ước đạt 200.000 đầu con Tuy nhiên, năm
2003, lượng thịt nhập khẩu của nước này giảm 25% do giá thịt lợn Mỹ tăng cao
và ngành công nghiệp chế biến thịt lợn của Mêhicô tiếp tục phát triển mạnh
II Tổng quan về ngành chăn nuôi và chăn nuôi lợn ở Việt Nam
1 Ngành chăn nuôi lợn ở Việt Nam
1.1 Những vấn đề chung về ngành chăn nuôi
Chăn nuôi là một trong hai ngành sản xuất chủ yếu của nông nghiệp, với đối tượng sản xuất là các động vật nuôi nhằm cung cấp các sản phẩm đáp ứng nhu cầu của con người Sản phẩm của ngành chăn nuôi là thịt, trứng sữa, mật ong, là các sản phẩm có giá trị kinh tế cao và ngày càng được tiêu dùng nhiều hơn cùng với đà phát triển của xã hội Chăn nuôi là ngành ngày càng có vai trò quan trọng trong việc cung cấp các sản phẩm đặc sản tươi sống và sản phẩm chế biến có giá trị cho xuất khẩu
ở hầu hết các nền nông nghiệp, xu hướng phát triển chung là tăng tỷ trọng sản phẩm chăn nuôi so với sản phẩm trồng trọt Ngay trong ngành trồng trọt, các hoạt động trồng ngũ cốc cũng chuyển hướng sang phát triển các dạng hạt và cây trồng làm thức ăn chăn nuôi Ngành chăn nuôi đang dần phát triển trên thế giới và mang những nét đặc thù chung như sau:
Trang 27Thứ nhất, đối tượng của ngành này là các cơ thể sống động vật, luôn cần
đến một lượng tiêu tốn thức ăn tối thiểu để tồn tại, không kể các đối tượng này
có nằm trong quá trình sản xuất hay không Vì thế ngoài chi phí đầu tư cơ bản cho đàn vật nuôi, người sản xuất phải đầu tư thường xuyên về thức ăn để duy trì
và phát triển đàn vật nuôi
Thứ hai, có 3 phương thức chăn nuôi đang tồn tại trên thế giới hiện nay
Đó là: phương thức chăn nuôi tự nhiên, phương thức chăn nuôi công nghiệp và
phương thức chăn nuôi sinh thái Trong đó, phương thức chăn nuôi công
nghiệp đang phát triển rộng rãi và được chấp nhận trên toàn thế giới Phương châm cơ bản của phương thức này là phát triển tối đa khả năng tiếp nhận thức
ăn, giảm tối thiểu quá trình vận động để tiết kiệm hao phí năng lượng, nhằm rút ngắn thời gian tích luỹ năng lượng, phát triển khối lượng và năng suất sản phẩm
Thứ ba, ngành chăn nuôi là ngành sản xuất cho đồng thời nhiều sản phẩm
Do vậy, tuỳ mục đích sản xuất để quyết định sản phẩm chính, sản phẩm phụ và lựa chọn hướng đầu tư
Trong chăn nuôi, thức ăn đóng vai trò hết sức quan trọng, như là “ nguyên liệu” cho sản xuất công nghiệp Sản xuất thức ăn chăn nuôi phải đầy đủ, kịp thời
và liên tục vì đặc điểm và tính hữu hiệu của thức ăn sẽ quyết định tính chất, đặc điểm, năng suất sản phẩm ngành chăn nuôi Thức ăn chăn nuôi gồm nhiều loại,
có nguồn gốc và cơ cấu khác nhau Tuỳ theo mỗi phương thức chăn nuôi, mỗi loại vật nuôi mà cơ cấu thức ăn chăn khác nhau Nguồn cung cấp thức ăn cho chăn nuôi có thể từ nguồn tự nhiên sẵn có hoặc từ nguồn chế biến, sản xuất công nghiệp
1.2 Ngành chăn nuôi ở Việt Nam
Trong lịch sử, nền nông nghiệp nước ta vốn đã là nền nông nghiệp trồng lúa nước, chăn nuôi không được chú trọng phát triển như một ngành sản xuất độc lập mà chỉ được coi là một hoạt động sản xuất phụ nhằm hỗ trợ cho sản
Trang 28xuất của ngành trồng trọt Mục đích chính của chăn nuôi lấy thịt, trứng sữa, không được người sản xuất nhắc đến mà dường như người ta chỉ hướng tới mục tiêu về cung cấp sức kéo làm đất và cung cấp phân bón cho cây trồng
Sau ngày hoà bình lập lại và thống nhất đất nước, nền kinh tế bước vào giai đoạn phục hồi và phát triển Vị trí vai trò của ngành chăn nuôi đã được nhìn nhận và đánh giá đúng với mục tiêu phấn đấu đưa ngành chăn nuôi thành một ngành sản xuất chính trong nông nghiệp Nhờ đó, ngành chăn nuôi nước ta đã
có bước chuyển biến tích cực so với năm 1975, giá trị sản xuất ngành chăn nuôi (tính theo giá cố định năm 1994) năm 2000 tăng gấp 3,93 lần trong khi giá trị sản xuất ngành trồng trọt tăng 3,08 lần Tỷ trọng giá trị sản xuất ngành chăn nuôi trong sản xuất nông nghiệp tăng từ 14,62% năm 1975 lên 19,7% năm
2000 ở nhiều địa phương chăn nuôi chiếm tỷ trọng cao trong nông nghiệp như
Hà Tây 39% , riêng huyện Đan Phượng, Hoài Đức trên 50%, Hưng Yên là 35% Tốc độ tăng trưởng bình quân của ngành chăn nuôi đạt 5-6% năm Năm
1999, tổng sản lượng thịt hơi đạt 1,75 triệu tấn, tăng 7,7% so với năm 1998 Trong thời kỳ 1990-1999 ngành chăn nuôi luôn đạt được tốc độ tăng trưởng cao
và liên tục.Tốc độ tăng trưởng bình quân 10 năm đàn lợn là 5%/năm, đàn trâu 0,6%/năm, đàn bò 3%/năm, đàn gà 6,5%/năm, đàn vịt 7,05%/năm, đàn dê 11,5%/năm, đàn bò sữa 11,5%/năm Thịt hơi các loại tính trên đầu người tăng
từ 15,2 kg năm 1990 lên 22,43 kg đầu người năm 1999
Khác với nhiều nước trên thế giới, trong cơ cấu sản lượng thịt của Việt Nam đại bộ phận là thịt lợn, chiếm khoảng 80% tổng sản lượng thịt hàng năm trong cả nước ở nhiều nước, trong cơ cấu tổng sản lượng thịt thì thịt bò bê (thường gọi chung là động vật có sừng), thịt lợn và thịt gia cầm thường không chênh lệch nhau nhiều Đó là 3 nhóm chính của sản phẩm thịt trong cơ cấu sản xuất và buôn bán thịt trên thị trường thế giới
Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, ngành chăn nuôi Việt Nam có nhiều cơ hội để phát triển Chăn nuôi Việt Nam có lợi thế từ sự gia tăng sản lượng lương thực, tạo nguồn nguyên liệu dồi dào cho chăn nuôi, nhu cầu tiêu
Trang 29dùng sản phẩm chăn nuôi trong nước và tốc độ đô thị hoá cao, sự ra đời của các khu công nghiệp cũng như vị trí địa lý thuận lợi nằm ngay gần thị trường nhập khẩu thịt lớn nhất thế giới như Nhật Bản, Nga, đặc biệt một số nước và khu vực lãnh thổ ở Châu á đang giảm đầu tư phát triển chăn nuôi mà tăng nhu cầu nhập khẩu như Đài Loan, Hàn Quốc
Ngoài ra, ngành chăn nuôi còn phải đối mặt với không ít thách thức Năng suất, chất lượng giống vật nuôi còn thấp (chỉ bằng 60-80% so với một số nước chăn nuôi tiên tiến trong khu vực), giá thành sản phẩm cao (cao hơn 10-40%), chưa có những sản phẩm chăn nuôi đặc thù và còn hạn chế trong an toàn vệ sinh thực phẩm Đặc biệt, chăn nuôi truyền thống theo phương thức tận dụng vẫn chiếm tỷ lệ cao (70%), sản phẩm không đồng nhất về chất lượng, lại chưa có kế hoạch tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi trên thị trường
Vấn đề xây dựng thương hiệu hiện cũng đang là thách thức chung của các sản phẩm xuất khẩu Việt Nam, trong đó có sản phẩm chăn nuôi xuất khẩu Muốn có chỗ đứng trên thị trường thế giới, ngành chăn nuôi Việt Nam phải đầu
tư xây dựng thương hiệu cho mình dựa trên chất lượng, giá cả, mẫu mã và uy tín của mỗi doanh nghiệp Đây là thách thức không nhỏ đối với các doanh nghiệp xuất khẩu nói riêng và ngành chăn nuôi nói chung
1.3 Chăn nuôi lợn ở Việt Nam
Chăn nuôi lợn là ngành chăn nuôi lấy thịt chủ yếu ở nước ta Trong cơ cấu sản lượng thịt của Việt Nam, đại bộ phận là thịt lợn, chiếm khoảng 80% tổng sản lượng thịt hàng năm Cùng với sự phát triển của ngành chăn nuôi nói chung, chăn nuôi lợn cũng liên tục phát triển với tốc độ bình quân đàn lợn 10 năm 1990-1999 là 5%/năm Sản lượng thịt lợn bình quân đầu người Việt Nam hiện nay khoảng 22 kg thịt hơi/năm, tổng sản lượng là 1,5 triệu tấn
Trang 30Phát triển chăn nuôi lợn ở Việt Nam có nhiều thuận lợi vì nước ta có nhiều
tiềm năng thích hợp với đặc tính chăn nuôi lợn Thứ nhất, sản xuất nông nghiệp
ở nhiều vùng nông thôn thường mang tính chất đan xen nhiều loại cây trồng hoa màu lương thực là nguồn cung cấp thức ăn sẵn có tại chỗ cho chăn nuôi lợn Thêm vào đó điều kiện khí hậu ở hầu hết các vùng lãnh thổ nông nghiệp ở nước
ta cũng rất phù hợp với đòi hỏi sinh học phát triển của đàn lợn Do vậy, đàn lợn
có thể phát triển rộng khắp mọi vùng nông thôn nước ta Thứ hai, đàn lợn có thể
phát triển rộng rãi ở vùng đồng bằng châu thổ với kết cấu ngành trồng trọt tương đối đa dạng các loại cây màu, vừa cung cấp được các loại thức ăn tinh cho chăn nuôi vừa cung cấp thường xuyên rau xanh là loại thức ăn không thể thiếu trong chăn nuôi lợn
Nhận thấy lợi thế tự nhiên, kết hợp tận dụng ngành trồng trọt, và những ưu điểm của chăn nuôi lợn như thời gian chăn thả ngắn, sức tăng trưởng nhanh, chu
kỳ tái sản xuất ngắn, nước ta đã phát triển chăn nuôi lợn trong suốt 20 năm qua,
Sản lượng (1000 tấn)
Khối lượng (kg/con)
Khối lượng hơi/người (kg)
Tỷ lệ thịt lợn/tổng các loại thịt khác (%)
Trang 31Nguồn: Định hướng chăn nuôi 1996 - 2000,
Bộ NN - PTNT và niêm giám thống kê 1998 NXB Thống kê
Như vậy, năm 2000 sản lượng thịt lợn đã đạt 14,2 triệu tấn trong tổng số
19 triệu tấn thịt các loại; so với năm 1995 thịt lợn hơi tăng 420 ngàn tấn, tăng bình quân 7,15 ngàn tấn/năm tức là 7,15%/năm Năm 2000 so với năm 1995, đàn lợn cả nước tăng từ 16,3 triệu con lên 19,5 triệu con, tăng bình quân 3,65%/năm Năm 2003, đàn lợn Việt Nam đã tăng lên 20 triệu con, đạt con số cao nhất từ trước đến nay Sản lượng thịt lợn cả nước đạt 1,5 triệu tấn
Sau 20 năm từ 1980 đến 2000, bình quân thịt lợn hơi/người/năm tăng đều
từ mức 6,02kg/người/năm ên gấp 3 lần 18kg/người năm Điều này cho thấy nhu cầu tiêu dùng thịt ở Việt Nam đang tăng và ngành chăn nuôi lợn đã có khả năng đáp ứng nhu cầu này Đến nay, mức tiêu thụ này tiếp tục tăng nữa, đạt trên 20 kg/năm Tuy nhiên mức tiêu thụ này vẫn còn thấp so với nhiều nước trên thế giới, bằng 50% mức tiêu dùng ở một số nước có mức tiêu thụ cao về thịt lợn hiện nay
Chăn nuôi lợn ở nước ta hiện nay chủ yếu ở hộ gia đình với quy mô nhỏ (1-5 con/hộ/năm), phương thức chăn nuôi thủ công, tận dụng thức ăn tại chỗ và lao động nông nhàn theo kiểu kinh tế phụ gia đình Bước đầu đã xuất hiện một
số hộ nuôi quy mô lớn, sản xuất hàng hoá, có hộ nuôi tới 500 con/năm, doanh thu lên tới hàng tỷ đồng/năm từ việc nuôi lợn
Trang 32Bảng 1.9: Năng suất chăn nuôi lợn Việt Nam và Thế giới
Sản lượng thịt hơi/nái/năm(kg)
Khối lượng xuất chuồng (Kg)
Thời gian nuôi thịt (Tháng)
Vòng quay nuôi lợn thịt/năm
Thời gian nuôi lợn con bú sữa (ngày)
21 - 28
52 - 55
19 - 20
Nguồn: CP group (96); Pork Industry Handbook HN, 1996
Như vậy cho thấy năng suất chăn nuôi lợn của Việt nam còn rất thấp so với thế giới Sản lượng thịt hơi/nái/năm của Việt Nam là 480 - 600kg, trong khi đó trên thế giới là 1800 - 2500kg Bình quân số con xuất chuồng của Việt Nam là 8
- 10 con, trên thế giới là 19 - 20con
Về cơ cấu sản xuất thịt lợn ở Việt Nam như sau:
Bảng 1.10: Cơ cấu sản xuất thịt lợn ở Việt Nam từ 1997 đến 2002
ĐVT 1997 1998 1999 2000 2001 2002
Tổng sản lượng thịt
lợn hơi
1000 tấn
15,1 15,8 17,28 17,6 21,7 20,5
Nguồn Định hướng phát triển chăn nuôi lợn 2000 - 2010, Cục KNKL - Bộ
NN&PTNT, 2000 và tổng hợp các báo
Trong 5 năm qua cơ cấu sản xuất và tiêu thụ thịt lợn luôn luôn chiếm tỷ lệ
từ 76 - 80% trong tổng sản lượng thịt, bình quân thịt hơi trên đầu người năm
2002 đạt 23 kg/người, tương đương với 19kg thịt xẻ/người, trong đó thịt lợn hơi
là 20,5kg/người bằng 79% tổng sản lượng thịt các loại
So với các nước khu vực Đông Nam á, sản xuất và tiêu thụ thịt lợn ở Việt Nam với mức 23kg thịt hơi/người (17 kg thịt xẻ/người) là rất thấp (1997 Trung
Trang 33Quốc đạt 34,1kg thịt xẻ/người Quảng Đông - Trung Quốc đạt 48kg/người, Đài Loan đạt 38 kg/người, Hồng Kông đạt 55kg/người, Thái Lan đạt 30kg/người) Vấn đề con giống và thức ăn gia súc là hai vấn đề được quan tâm nhất hiện nay của ngành chăn nuôi lợn Đàn lợn của ta tuy đã nâng cao được tỷ lệ nạc so với thời gian trước, lợn có tỷ lệ nạc 40-50% chiếm trên 50% nhưng tỷ lệ này vẫn còn thấp so với thế giới và giống lợn thường không thuần chủng do đó cho năng suất thấp, tỷ lệ nạc thấp Nhà nước hiện đang chủ động đầu tư các cơ sở sản xuất giống, nhằm nâng cao chất lượng con giống, chủ yếu là giống lai có tỷ
lệ nạc cao, phát triển đàn lợn ngoại Nhiều nhà máy chế biến thức ăn gia súc có vốn đầu tư nước ngoài và trong nước cũng đang hưởng những chính sách ưu đãi
để phát triển, vì vậy thức ăn công nghiệp đang thay thế dần các loại thức ăn tận dụng, không đủ chất dinh dưỡng cho lợn
Dịch vụ thú y và thuốc thú y cũng là yếu tố ảnh hưởng lớn tới kết quả chăn nuôi Hoạt động thú y tuy đã được quan tâm và thực hiện nghiêm túc hơn nhưng người chăn nuôi vẫ còn lo ngại về dịch bệnh của lợn nếu dịch vụ thú y không đáp ứng được kịp thời với chất lượng thuốc thú y bảo đảm an toàn và được quản
Trang 34Ngành chăn nuôi Việt Nam những năm qua đã tìm nhiều cách để khắc phục tình trạng này và bước đầu đã đạt những kết quả nhất định Việc cải tạo giống diễn ra theo hướng tăng cường lai tạo lợn giống tốt, lợn ngoại cho năng suất cao, tỷ lệ nạc cao
Các giống lợn địa phương như lợn ỉ, lợn đại, lợn móng cái rất chiếm ưu thế trước kia do có khả năng tận dụng thức ăn dư thừa sẵn có đồng thời là nguồn cung cấp phân bón hữu cơ cho trồng trọt nay cần được cải tạo để phù hợp với phương thức chăn nuôi lợn công nghiệp ngày nay Phương thức thâm canh với mức đầu tư thức ăn nhiều đòi hỏi giống lợn phải có khả năng tiếp nhận thức ăn cao, mức tăng trọng nhanh và trọng lượng xuất chuồng cao Do vậy, các giống lợn địa phương như : Lợn Móng Cái, Ba Xuyên, Thuộc Nhiêu đã được chọn lọc tốt hơn để sử dụng làm lợn nái nền trong các chương trình lai tạo phù hợp cho từng vùng, từng địa phương nhằm không ngừng nâng cao năng suất và chất lượng đàn lợn thịt
Các giống lợn ngoại có tỷ lệ nạc cao, tăng trọng nhanh đã và đang được phát triển nhằm cải tiến nâng cao chất lượng đàn lợn giống trong nước Các tỉnh phía Bắc và Đồng bằng sông Cửu Long, nuôi lợn thịt lai 2 máu (lợn đực ngoại lai với lợn nái nội) có tỷ lệ nạc 38 - 42% Các tỉnh Đông Nam Bộ phần lớn nuôi lợn ngoại và lợn lai 2 máu ngoại có tỷ lệ nạc 50 - 52%; lợn lai 3 máu ngoại đạt
52 - 55% nạc
Tại vùng Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long đã có hàng nghìn hộ gia đình, các cơ sở chăn nuôi, các doanh nghiệp nhà nước nuôi lợn giống ngoại, trang trại nuôi lợn thịt ngoại giống yorkshire, landrace Một số doanh nghiệp nước ngoài đã đầu tư chăn nuôi lợn với hình thức nuôi mới, quy mô chăn nuôi lớn (Công ty TNHH Nông Lâm - Đài Loan, công ty TNHH Nông sản - Đài Việt ) ở các tỉnh phía Bắc, bước đầu đã có một số hộ gia đình xây dựng trang trại nuôi lợn nái giống yorkshire và Landrace với quy mô khoảng 20 nái,
Nhà nước cũng đã tập trung đầu tư trong lĩnh vực phát triển con giống Năm 1997, cả nước đã có 53 trại lợn giống và 265 trạm thụ tinh nhân tạo lợn
Trang 35(bao gồm cả Trung ương, địa phương và tư nhân) Hệ thống cơ sở này đã góp phần đưa đàn lợn lai lên trên 50% tổng đàn lợn, cải thiện các giống lai, đưa tỷ lệ nạc đàn lợn lai từ 35-38% lên 40-42% Một số cơ sở giống đã thuần hoá lợn ngoại cung cấp giống cho người sản xuất Số hộ nuôi lợn ngoại chủ yếu ở Đồng bằng sông Cửu Long (chiếm 70,5%), ở Đông Nam Bộ (chiếm 86,5%), lợn ngoại đạt tỷ lệ nạc cao 50-58%
Tuy nhiên, việc phổ biến giống lợn ngoại tỷ lệ nạc cao ra các hộ nông dân còn rất khó khăn do giá con giống ngoại cao gấp 1,5 lần so với giống nội hoặc lai trong khi giá bán thịt lợn hơi ra thị trường chênh lệch rất ít.Giá hiện tại của lợn giống ngoại là 1050 USD/ con Theo kỹ thuật chăn nuôi thì sau 6-7 năm phải thay lợn giống hoặc phải thay máu Giá con giống quá cao, khó được người dân chấp nhận trong chăn nuôi đại trrà Do đó, đàn lợn giống ngoại thuần mới chiếm khoảng 10% tổng đàn, 30-40% tổng đàn lợn đang nuôi là giống lợn nội, lợn địa phương, còn lại hầu hết là lợn lai giống F1
Như vậy, con giống trong chăn nuôi lợn còn là khâu nhiều khó khăn cần được Nhà nước quan tâm khắc phục Mục tiêu của công tác giống là phải thay đổi cơ cấu giống theo hướng phát triển đàn lợn lai có tỷ lệ nạc cao, ít mỡ, có sức phát triển nhanh, miễn dịch tốt, để hướng tới nâng cao chất lượng đàn lợn, từ
đó phát triển chất lượng sản phẩm thịt , đáp ứng được nhu cầu trong nước và quốc tế
2.2 Thức ăn gia súc
Đây là yếu tố rất quan trọng trong chăn nuôi và sản xuất thịt lợn vì thức ăn gia súc như “nguyên liệu” trong “công nghiệp” sản xuất thịt lợn Chi phí cho thức ăn gia súc chiếm tỷ lệ rất cao trong cơ cấu giá thành sản phẩm chăn nuôi lợn, ở nước ta thành phần này chiếm tới 76-77%, còn lại chi phí giống 18-25%, công lao động 2-5% Sản phẩm thịt lợn có cạnh tranh được trên thị trường về chất lượng và giá cả hay không là nhờ yếu tố này
Trang 36Vậy mà, ngành sản xuất và chăn nuôi lợn Việt Nam lại yếu kém ở khâu mấu chốt này Thức ăn gia súc cũng là nguyên nhân chủ yếu khiến giá thịt lợn của Việt Nam cao hơn thịt lợn của các nước khác 20-25% Thực tế, 50% thức
ăn cho lợn ở nước ta là thức ăn tận dụng, dinh dưỡng rất thấp, lợn nuôi bằng nguồn thức ăn này cho chất lượng thịt thấp, không thể xuất khẩu được 50% còn lại là các loại thức ăn công nghiệp nuôi lợn mau lớn, tỷ lệ nạc cao, đủ tiêu chuẩn nuôi lợn xuất khẩu 1/3 số thức ăn chăn nuôi công nghiệp hiện được sản xuất trong nước Giá thành loại thức ăn này rất cao thường cao hơn 30-40% so với giá thức ăn các nước trong khu vực Nguyên nhân chủ yếu là do chưa sử dụng được các nguồn nguyên liệu dồi dào trong nước, phải nhập khẩu các nguyên liệu chính như đỗ tương, ngô hạt, bột cá với thuế suất cao 7%, năng suất công nghiệp chế biến thấp, giá các yếu tố đầu vào khác có liên quan đến thức ăn chăn nuôi (điện, dầu cho sản xuất, cước vận tải, ) cũng cao so với nhiều nước xung quanh
Muốn đẩy mạnh hoạt động sản xuất và chăn nuôi lợn, ngành chăn nuôi cần phải loại bỏ thói quen sử dụng thức ăn tận dụng, thức ăn sẵn có trong nuôi lợn, tăng tỷ lệ thức ăn công nghiệp đầy đủ chất dinh dưỡng và yếu tố vi lượng cho lợn phát triển Để thực hiện mục đích này, gần đây, ngành Nông nghiệp đã đầu
tư vào thức ăn gia súc chế biến công nghiệp Năm 1994 cả nước mới có 154.000 tấn thức ăn gia súc chế biến công nghiệp, chiếm 0,6% lượng thức ăn và nguyên liệu thô dùng làm thức ăn, đến năm 2000 cả nước đã sản xuất được 2 triệu tấn gấp 13 lần, trong đó có 26% thức ăn đậm đặc Theo Tổng Công ty chăn nuôi Việt Nam, hiện nay, cả nước đã có 167 nhà máy sản xuất thức ăn gia súc các loại, mỗi năm xuất tiêu thụ được 3 triệu tấn
Ngành công nghiệp sản xuất thức ăn gia súc của Việt Nam phát triển mạnh khiến cho năng suất và sản lượng thịt lợn những năm qua liên tục tăng Tuy nhiên, giá thức ăn gia súc của nước ta vẫn cao hơn thế giới 30-40%, dẫn đến tình trạng giá thịt lợn Việt Nam vẫn cao, gấp 1,5-2 lần thịt lợn Trung Quốc, Braxin và bị “nốc ao” trên một số thị trường xuất khẩu quan trọng như Nga,
Trang 37Nhật Bản, Hồng Kông 2/3 thức ăn gia súc hiện nay vẫn phải nhập khẩu, số còn lại được sản xuất trong nước bởi một số công ty thức ăn gia súc có vốn đầu tư nước ngoài và liên doanh, thức ăn gia súc của doanh nghiệp Nhà nước chiếm tỷ
lệ nhỏ
Trong số các nhãn hiệu thức ăn gia súc uy tín trên thị trường Việt Nam hiện nay, Proconco nổi lên như một công ty hàng đầu Đây là một liên doanh giữa công ty SCPA thuộc tập đoàn EMC- Pháp với 5 công ty Việt Nam với tỷ lệ 53,7% vốn nước ngoài và 46,7% vốn trong nước Thành lập năm 1991 với số vốn pháp định là 1 triệu USD, vốn đầu tư là 1,7 triệu USD, sau hơn 10 năm hoạt động Proconco đã nâng số vốn pháp định lên 14 triệu USD, vốn đầu tư lên 50 triệu USD, đưa nhãn hiệu thức ăn “Con Cò” trở nên thân thuộc với nông dân Việt Nam
Công ty hiện có 4 nhà máy thức ăn gia súc ở Biên Hoà, Hà Nội, Hải Phòng
và Cần Thơ với công suất 100.000 đến 300.000 tấn Mỗi năm, công ty sản xuất được 500.000 tấn thức ăn gia súc, chiếm tới 30% thị phần thức ăn gia súc toàn quốc.Có thể nói, những thành công của Proconco đã góp phần giúp đỡ người chăn nuôi Việt Nam tăng năng suất và đẩy mạnh hoạt động chăn nuôi xuất khẩu
ở Việt Nam Công ty sẽ tiếp tục phát triển trong lĩnh vực này theo hướng tăng quy mô sản xuất và hạ giá thành sản phẩm
Bên cạnh Proconco, CP Group (Charoen Pokphand Group) là một tập đoàn nước ngoài lớn đã có mặt trên thị trường của Việt Nam với các nhãn hiệu thức
ăn gia súc Hi-Gro, CP, Star Feed, Bell Feed, DN Feed và Novo Vốn đầu tư của tập đoàn này tại Việt Nam khoảng 120 triệu USD, và có 2500 công nhân Đây là một tập đoàn lớn hoạt động đa lĩnh vực trong ngành nông nghiệp như sản xuất thức ăn gia súc, cung cấp hạt giống, chăn nuôi, chế biến thịt Năm 1992, nhận thấy tiềm năng dồi dào của thị trường Việt Nam, CP Group đã sang khảo sát và đầu tư vào thị trường Việt Nam, năm 1993, công ty khởi công xây dựng nhà máy sản xuất thức ăn gia súc đầu tiên tại Đồng Nai Thức ăn gia súc của CP đạt chất lượng tiêu chuẩn vì công ty có hệ thống kiểm tra chất lượng nghiêm ngặt từ
Trang 38khâu nhập nguyên liệu vào, thiết lập những công thức sản phẩm chất lượng cao
và quy trình sản xuất được tin học hóa
Ngoài những công ty lớn trong lĩnh vực thức ăn gia súc ở Việt Nam cũng cần kể tới một số công ty tư nhân đã hoạt động khá thành công trong lĩnh vực này Một trong số đó là thương hiệu thức ăn gia súc “Con heo vàng”, mới ra đời năm 1999 nhưng đến nay đã khá nổi tiếng Chinh phục khách hàng bằng chất lượng sản phẩm, gia súc ăn mau lớn, hạn chế ô nhiễm chất thải của gia súc Hiện nay, mỗi tháng lượng tiêu thụ của “Con heo vàng” là 4800 tấn, doanh thu mỗi ngày gần 1 tỷ đồng
Các doanh nghiệp sản xuất thức ăn gia súc nhà nước cũng đang đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất để nâng cao sức cạnh tranh cho sản phẩm của mình Năm 2001, Tổng Công ty Chăn nuôi Việt Nam đã đầu tư xây dựng nhà máy chế biến thức ăn gia súc công nghệ Hà Lan với công suất 100.000 tấn/năm
Như vậy, vấn đề đặt ra với công nghiệp sản xuất thức ăn gia súc là hạ giá thành sản phẩm càng sớm càng tốt, ít nhất là bằng giá thức ăn gia súc trên thị trường thế giới Tuy nhiên, chất lượng thức ăn vẫn phải đảm bảo để thịt lợn Việt Nam có chất lượng cao, giá thành thấp Điều này đỏi hỏi nỗ lực của không chỉ ngành công nghiệp này mà các ngành sản xuất nguyên liệu chế biến thức ăn gia
súc cũng phải phát triển và Nhà nước phối hợp đồng bộ mục tiêu của các ngành
2.3 Công tác thú y và phòng trừ dịch bệnh
Công tác thú y cũng là yếu tố ảnh hưởng lớn đến kết quả chăn nuôi ở Việt Nam, có 3 cơ quan chịu sự chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
để thực hiện công tác này là Cục thú y, Công ty vật tư thuốc thú y và Viện thú
y Trong đó, Cục thú y thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về công tác phòng chống dịch bệnh cho động vật, kiểm dịch và kiểm soát giết mổ động vật
và thuốc thú y trong phạm vi cả nước Dưới Cục thú y là các Chi cục thú y địa phương trực tiếp chịu trách nhiệm thực hiện công tác thú y ở từng địa phương,
và các Trạm kiểm dịch động vật làm nhiệm vụ kiểm dịch từng khu vực
Trang 39Hiện nay, nhà nước đã đầu tư xây dựng theo hướng từng bước hiện đại hoá những cơ sở sản xuất thuốc thú y, đồng thời nhập khẩu thuốc, đảm bảo được nhu cầu thuốc cho tiêm phòng và chữa bệnh gia súc trong nước Lực lượng cán
bộ thú y được đào tạo nhất là cán bộ thú y cơ sở xã, thông qua kênh khuyến nông, tổ chức hướng dẫn nông dân cách phòng trừ dịch bệnh
Do đặc điểm khí hậu nước ta nhiệt đới gió mùa, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho đàn lợn phát triển tăng trọng nhanh song cũng gây ra nhiều loại dịch bệnh cho đàn lợn Năm 1998, dịch lở mồm long móng lợn đã xảy ra ở 11 tỉnh làm
2268 con bị nhiễm dịch
Hoạt động thú y những năm gần đây đã được quan tâm và thực hiện nghiêm túc nhưng người chăn nuôi vẫn còn lo ngại về dịch bệnh của lợn nếu dịch vụ thú y không đáp ứng kịp thời với chất lượng thuốc thú y bảo đảm an toàn và được quản lý chặt chẽ
2.4 Thực trạng chế biến thịt lợn
Khâu chế biến đóng vai trò rất quan trọng trong việc sản xuất ra một sản phẩm thịt có chất lượng cao và đa dạng sản phẩm Nhiều nước nhờ hiện đại hoá khâu chế biến mà thu được lợi nhuận cao từ các sản phẩm chăn nuôi như EU,
Mỹ, úc, Việt Nam cũng đang học hỏi kinh nghiệm và nâng cấp dần hệ thống chế biến của mình
Hiện tại, nhìn chung, các cơ sở chế biến thịt xuất khẩu của nước ta còn thô
sơ, đơn điệu, chỉ làm được thịt mảnh, block, lợn sữa đông lạnh, vệ sinh công nghiệp kém, chưa chế biến đa dạng sản phẩm
Nếu tính cả các lò mổ tư nhân, hệ thống giết mổ chế biến thịt phục vụ cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu khá phong phú nhưng chỉ có 22 cơ sở có thể tham gia chế biến thịt xuất khẩu, trong đó có 2 nhà máy VISSAN thành phố Hồ Chí Minh và Vĩnh Niệm Hải Phòng với công suất chế biến 30.000 tấn/ca/năm
có thể đảm bảo chất lượng thịt xuất khẩu tốt nhất sang một vài thị trường (Nga, Hồng Kông) với sản phẩm chính là lợn sữa và lợn mảnh cấp đông; còn lại 20
Trang 40nhà máy ở các tỉnh tổng công suất chế biến chỉ khoảng 20.000tấn/ca/năm, tuy nói chung có thể tham gia chế biến thịt xuất khẩu, nhưng chưa đảm bảo thực hiện tốt các tiêu chuẩn thú y, vệ sinh và môi trường
Trong đó có 6 cơ sở công nhận đủ tiêu chuẩn giết mổ xuất khẩu thịt mảnh, thịt block sang thị trường Nga Số cơ sở giết mổ xuất khẩu của các tỉnh còn lại chưa được thú y Nga công nhận đủ tiêu chuẩn
Xuất khẩu lợn choai và lợn sữa vào thị trường Hồng Kông đến nay chỉ mới
có 9 cơ sở được phía Hồng Kông công nhận đủ tiêu chuẩn chế biến để bán sản phẩm vào Hồng Kông
Phần lớn thiết bị chế biến thịt ở các nhà máy của ta hiện nay đều đã cũ, lạc hậu về công nghệ (thiết bị của VISSAN đã trên 30 năm, của Vĩnh Niệm trên 10 năm) Với công suất hiện có nếu chế biến phục vụ xuất khẩu thì chỉ sử dụng khoảng 1/3 công suất vì thị trường xuất khẩu gần đây bị thu hẹp, còn chế biến phục vụ thị trường trong nước thì các nhà máy này sẽ gặp khó khăn trong việc cạnh tranh với các lò mổ tư nhân có chi phí thấp và trốn lậu thuế
Trong chế biến sâu các sản phẩm thịt, VISSAN hằng năm có sản xuất trên
2000 tấn các loại như: thịt nguội, thực phẩm đóng hộp, xúc xích tiệt trùng và các loại thịt chế biến khác dưới dạng thực phẩm Ngoài ra, còn có các cơ sở khác như công ty thực phẩm chế biến Hải Phòng Halong Canfoco, và kể cả của
tư nhân cũng chế biến sâu một số loại sản phẩm cung ứng cho thị trường nội địa Kim ngạch xuất khẩu được mặt hàng này còn chưa cao, nhưng cần xác định chế biến sâu là một hướng quan trọng trong sản xuất chế biến thịt
Hệ thống kho lạnh bảo quản thịt chế biến hiện có tại Hải Phòng 1500 tấn, thành phố Hồ Chí Minh 1500 tấn, Đà Nẵng 500 tấn và các kho lạnh 50-100 tấn của các nhà máy chế biến thịt tại các tỉnh khác Ngoài ra, các kho lạnh bảo quản rau quả, hải sản cũng được tận dụng phục vụ xuất khẩu thịt
Bên cạnh các xí nghiệp giết mổ, chế biến của Nhà nước đã xuất hiện nhiều doanh nghiệp tư nhân, HTX giết mổ, chế biến thịt xuất khẩu như Công ty chế