1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

XÁC ĐỊNH NHỮNG MẶT HÀNG CÓ TIỀM NĂNG, LỢI THẾ XUẤT KHẨU TRONG 5 NĂM TỚI VÀ CÁC BIỆN PHÁP NHẰM KHUYẾN KHÍCH , ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU

85 533 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xác định những mặt hàng có tiềm năng, lợi thế xuất khẩu trong 5 năm tới và các biện pháp nhằm khuyến khích , đẩy mạnh xuất khẩu
Tác giả Đỗ Văn Chiến
Người hướng dẫn Giám đốc Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại
Trường học Bộ Công Thương
Chuyên ngành Xuất Nhập Khẩu
Thể loại Báo cáo chuyên đề
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 880,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

XÁC ĐỊNH NHỮNG MẶT HÀNG CÓ TIỀM NĂNG, LỢI THẾ XUẤT KHẨU TRONG 5 NĂM TỚI VÀ CÁC BIỆN PHÁP NHẰM KHUYẾN KHÍCH , ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU

Trang 1

BỘ CÔNG THƯƠNG

DỰ ÁN HỖ TRỢ THƯƠNG MẠI ĐA BIÊN

EU – VIỆT NAM HOẠT ĐỘNG CB - 2A “HỖ TRỢ BỘ CÔNG THƯƠNG

XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN XUẤT

NHẬP KHẨU THỜI KỲ 2011 - 2020”

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ

XÁC ĐỊNH NHỮNG MẶT HÀNG CÓ TIỀM NĂNG, LỢI THẾ XUẤT KHẨU TRONG 5 NĂM TỚI VÀ CÁC BIỆN PHÁP NHẰM

KHUYẾN KHÍCH , ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU

Người thực hiện: Đỗ Văn Chiến Giám đốc Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại

Hà Nội, 11- 2010

Trang 3

Chuyên đề 4:

XÁC ĐỊNH NHỮNG MẶT HÀNG CÓ TIỀM NĂNG, LỢI THẾ XUẤT KHẨU TRONG 5 NĂM TỚI VÀ CÁC BIỆN PHÁP NHẰM KHUYẾN

KHÍCH , ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU

I KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐẾN CƠ CẤU NHU CẦU ĐỐI VỚI HÀNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM TRONG 5 NĂM TỚI

1 Sự chuyển dịch giữa các nền kinh tế trên thế giới

Kinh tế thế giới đang chuyển dịch dần theo hướng tăng tỷ trọng của các nền kinh

tế mới nổi và đang phát triển trong cả hoạt động sản xuất, đầu tư và tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ trong khi các nền kinh tế phát triển như Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản đang trở nên bão hòa

Với tiềm lực tích lũy từ nhiều năm, các nền kinh tế phát triển lâu đời (nhóm 1) sẽ vẫn có khả năng hấp thụ một lượng hàng không nhỏ từ các nước có nền kinh tế đang phát triển, mới nổi (nhóm 2) và các nền kinh tế còn lại có tăng trưởng GDP thấp (nhóm 3)1 Tuy nhiên, xu hướng tiêu dùng, đầu tư, sản xuất sẽ chuyển dần sang những thị trường mới nổi và đang phát triển có khả năng sinh lời cao hơn

a) Các nền kinh tế phát triển (nhóm 1) sẽ vận động theo các xu hướng sau:

- Phát triển sản xuất các ngành đáp ứng nhu cầu nội địa, kể cả các ngành sản xuất hàng hóa trước đây chủ yếu phải nhập khẩu để tái cân bằng cán cân thương mại và tạo công ăn việc làm trong nước

- Tận dụng mọi ưu thế mà các nước khác trong nhóm các nền kinh tế mới nổi (nhóm 2) không có được, không thể sản xuất được, đặc biệt là hàng hóa công nghệ cao, hàng cơ khí phức tạp, để phát triển sản xuất những hàng hóa mới, hàng hóa “thông minh”

và xuất khẩu sang các nước thuộc nhóm 2 và nhóm các nước đang phát triển khác (nhóm 3) Đây là yếu tố rất quan trọng liên quan đến chính sách tiền tệ, sức ép về mạnh yếu, các đồng tiền, tỷ giá tiền tệ giữa nội bộ một nhóm nước và giữa các nhóm nước khác nhau hiện nay và trong 5 năm nữa

- Giảm sản xuất các ngành hàng mà đầu tư sang các nước nhóm 2 và nhóm 3 có lợi hơn

b) Các nền kinh tế thuộc nhóm 2 có những dịch chuyển trong sản xuất nội địa như sau:

1

Ở đây phân chia thành 3 nhóm nước với trình độ phát triển, triển vọng tăng trưởng kinh tế khác nhau để thuận lợi cho việc phân nhóm các nhu cầu đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam (về nhóm hàng hóa, sức mua của các nhóm thị trường)

Trang 4

- Đẩy mạnh sản xuất các hàng hóa tiêu dùng lâu bền, công nghệ cao và cơ khí nhằm đáp ứng yêu cầu trong nước và cạnh tranh với ưu thế hàng hóa từ các nước nhóm 1

- Buộc phải giảm sản xuất hàng hóa mà ở các nước nhóm 1 sẽ giảm nhập khẩu (như đã phân tích ở phần 1.3.1), thay vào đó chuyển dịch sản xuất để xuất khẩu sang các nước thuộc nhóm 2 và nhóm 3

- Tăng cường đầu tư cho các hoạt động nghiên cứu, dự báo nhu cầu thị

trường để tạo ra những dòng sản phẩm mới, những công nghệ, mô hình sản xuất mới Đây sẽ là một trong những nhân tố quan trọng quyết định sự bứt phá của các nền

kinh tế này trong tương lai

2 Sự chuyển dịch trong sản xuất, tiêu dùng của các nền kinh tế tiêu biểu và các thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam

2.1 Hoa Kỳ

a) Kết quả hồi phục của các ngành kinh tế và trong lĩnh vực xã hội quan trọng

Kết thúc năm 2009, thị trường bất động sản của Mỹ vẫn trầm lắng, tăng trưởng

kinh tế trong năm 2009 âm 2,9%, chi tiêu của các hộ gia đình giảm 0,6%, Nhưng một số tín hiệu phục hồi đã xuất hiện, nhất là khi tăng trưởng kinh tế quí IV/2009 đã đạt dương (5,6%) Tuy nhiên, các chính sách kích thích tăng trưởng đã khiến thâm hụt ngân sách của Hoa Kỳ lên tới 1,4 ngàn tỷ USD, nợ công là 12,3 ngàn tỷ USD, tương đương với 84% GDP2

b) Đánh giá kết quả so với những năm trước khủng hoảng

So sánh kết quả của năm 2009 với các năm trước khủng hoảng có thể thấy sự sụt giảm mạnh của cả GDP, xuất khẩu và nhập khẩu cũng như sản xuất công nghiệp, cho thấy nền kinh tế này cần một khoảng thời gian lớn để có thể lấy lại sức mạnh trước đây

Tăng trưởng GDP, Xuất khẩu, Nhập khẩu của Hoa Kỳ qua các năm

Tăng trưởng GDP, XK, NK của Hoa Kỳ

-20 -15 -10 -5 0 5 10

Nguồn: Bộ Lao động và Bộ Thương mại Hoa Kỳ

2

Nguồn: Số liệu thống kê của Bộ Lao động Mỹ

Trang 5

c) Đánh giá về nhu cầu hàng hóa tiêu dùng mục tiêu:

Tính đến thời điểm kết thúc năm 2009, nhu cầu đối với hàng hóa tiêu dùng của Hoa Kỳ vẫn chưa phục hồi rõ nét Doanh số bán lẻ tăng giảm không đều trong các tháng nửa đầu năm 2010 Theo thống kê của Bộ Lao động Mỹ vào ngày 13/8/2010, bảy tháng đầu năm 2010, doanh số bán lẻ hàng hóa và dịch vụ của Hoa Kỳ chỉ tăng nhẹ 6,4% so với bảy tháng đầu năm 2009, trong đó nếu không tính ô tô và thiết bị phụ tùng ô tô thì doanh

số bán lẻ chỉ tăng 5,7%

Tóm lại:

Kinh tế Hoa Kỳ đã bắt đầu có sự chuyển dịch từ những năm liền trước khủng hoảng tài chính 2008, với xu hướng bão hòa trong tiêu dùng hàng hóa dân sinh và cao cấp, trong khi sự bế tắc trong việc tìm ra những dòng sản phẩm, dịch vụ mới cũng khiến tiêu dùng và sản xuất không có đủ động lực để duy trì nhịp tăng trưởng Sự chuyển dịch càng rõ nét hơn khi khủng hoảng diễn ra, như một quy luật khó cưỡng lại được của chu kỳ kinh tế Tốc độ tăng trưởng của tiêu dùng, GDP và nhập khẩu đã liên tục giảm trong giai đoạn 2007 cho thấy khả năng đóng góp của kinh tế Hoa Kỳ và kinh tế thế giới đang giảm so với trước đây

Dự báo thời kỳ 2010-2015, kinh tế Hoa Kỳ sẽ phục hồi so với thời gian diễn ra khủng hoảng, nhưng không năng động như các giai đoạn trước, bởi hiện nay chưa thấy những động lực khả quan cho tăng trưởng kinh tế của nước này như trong các thập kỷ trước Ở tầm vĩ mô, nền kinh tế sẽ chuyển từ trạng thái nợ nần và tiêu dùng thái quá sang xuất khẩu và tiết kiệm; kéo theo những thay đổi về vi mô Những hình thức và môi trường kinh doanh mới sẽ xuất hiện trong thời gian tới

2.2 Kinh tế EU

a) Những chỉ tiêu kinh tế quan trọng tính đến nay:

+ Tăng trưởng GDP từ nửa cuối năm 2009 đã có sự cải thiện, tuy nhiên vẫn thấp

hơn nhiều so với tăng trưởng tại các thị trường mới nổi

Tăng trưởng GDP qua các quí của EU (%) Q1/2009 QII/2009 QIII/2009 Q4/2009 Q1/2010 Q2/2010

+ Doanh số bán lẻ: Tuy vẫn trong xu hướng giảm song doanh thu bán lẻ khu vực

EU đã có sự cải thiện tốt vào giai đoạn cuối năm

Trang 6

Diễn biến doanh thu bán lẻ của EU

Tháng 1/2010

Tháng 2/2010

Tháng 3/2010

Tháng 4/2010

Tháng 5/2010

+ Xuất nhập khẩu của EU với bên ngoài:

Biểu đồ: Xuất nhập khẩu của EU trong các năm 2008, 2009 (ĐV: tỷ Euro) Năm 2008 Năm 2009 Tăng giảm

Nguồn: Eurostat

+ Sản xuất công nghiệp: Sụt giảm mạnh từ năm 2008 khi khủng hoảng xảy ra

nhưng từ giai đoạn cuối năm 2009 bắt đầu khởi sắc

2.3 Trung Quốc:

Trang 7

a) Những chuyển dịch trong nền kinh tế Trung Quốc:

Cũng phải đối mặt với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu như các nước khác, nhưng với đà tăng trưởng mạnh trong những năm gần đây và quỹ dự trữ ngoại hối khổng lồ, lớn nhất thế giới, Trung Quốc vẫn dẫn đầu thế giới về mức độ phục hồi

và vươn lên trở thành một trong những cường kinh tế trên thế giới Sự phát triển của nền kinh tế Trung Quốc có những đặc điểm nổi bật sau đây:

- Tăng trưởng kinh tế cao liên tục trong 5 năm trở lại đây với động lực chủ yếu là xuất khẩu và đầu tư, trong khi tiêu dùng cũng có những cải thiện đáng kể :

Tham khảo tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc qua các quí, từ

Q1-2006-Q2-2010

11,4 11,5 10,6 10,4

13 12,6 11,5 11,2 10,6 10,1

9

9,1 10,7 11,9 10,3

6,2

0 4 8 12 16

Nguồn: Tổng cục Thống kê Trung Quốc

Năm 2009 đánh dấu sức tăng trưởng mạnh mẽ của kinh tế Trung Quốc GDP các quý trong năm 2009 của Trung Quốc tăng lần lượt 6,2% trong quý I, 7,9% trong quý II, 9,1% trong quý III và 10,7% trong quý IV Tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc tiếp tục đạt 11,9% vào quí I/2010 trước khi hạ nhiệt còn 10,3% trong quí II/2010

- Xuất khẩu và thu hút FDI tăng mạnh trong những năm gần đây, cộng với thói quen tiết kiệm trong một thời gian dài đã giúp Trung Quốc tích lũy được quỹ

dự trữ ngoại hối lớn nhất thế giới, giúp nước này chủ động hơn các nước khác trong chính sách kích thích tăng trưởng, chính sách tỷ giá và quản lí ngoại hối cũng như bình ổn thị trường trong nước và đầu tư ra nước ngoài

+ Theo số liệu từ Cơ quan thống kê quốc gia Trung Quốc, 7 tháng đầu năm

2010, xuất khẩu đạt 850,49 tỷ USD, tăng 35,6%; nhập khẩu đạt 766,56 tỷ USD, tăng 47,2%; thặng dư thương mại đạt 83,93 tỷ USD, giảm 21,2%

+ Theo thông báo của Bộ Thương mại Trung Quốc, các doanh nghiệp nước ngoài

đã đầu tư gần 66 tỷ USD vào nước này, tăng hơn 18% so với cùng giai đoạn năm ngoái

- Trung Quốc trở thành thị trường tiêu thụ một lượng hàng hóa lớn của thế giới và sức tiêu thụ ngày càng tăng:

Trang 8

Tiêu dùng trong nước cũng tăng mạnh, thể hiện qua mức tăng của doanh thu bán lẻ: Theo số liệu của Tổng cục Thống kê Trung Quốc, doanh thu bán lẻ thực tế năm

2009 tăng 16,9%, mức tăng cao nhất kể từ năm 1986 Bảy tháng đầu năm 2010, doanh số bán lẻ của Trung Quốc tăng 18,2% so với cùng kỳ năm 2009, cao gấp hơn 3 lần so với mức tăng của doanh số bán lẻ tại Hoa Kỳ trong cùng giai đoạn

Tham khảo tăng trưởng XNK của Trung Quốc từ tháng 1/2007

đến hết quí II/2010

40 60 80 100 120 140 160

Xu t kh u Nh p kh u

Nguồn: Tổng cục Thống kê Trung Quốc

- Trung Quốc đã tận dụng cuộc khủng hoảng như một cơ hội để tăng cường

nhập khẩu hàng hóa, nguyên vật liệu chiến lược trong bối cảnh giá thế giới giảm mạnh Họ cũng mua lại những nguồn tài nguyên và cổ phần của các công ty khai khoáng lớn trên thế giới, nhờ thế mà họ đang ở thế thượng phong trong ngành năng lượng toàn cầu (Điều này sẽ được lí giải cụ thể hơn trong phần 3 của báo cáo)

- Nền kinh tế Trung Quốc đang có sự chuyển dịch theo hướng gia tăng tỷ

trọng và tốc độ tăng trưởng của ngành dịch vụ và ngành công nghiệp, xây dựng

Trong năm 2009, giá trị gia tăng của ngành nông lâm ngư nghiệp: đạt 3.547,7 tỷ NDT,

tăng 4,2%; ngành công nghiệp và xây dựng đạt 15.695,8 tỷ, tăng 9,5%; ngành dịch vụ đạt 14.291,8 tỷ, tăng 8,9%

- Năm 2011 dự báo triển vọng tăng trưởng kinh tế Trung Quốc sẽ tiếp tục duy trì ở mức cao

+ Tiêu dùng nội địa của Trung Quốc cũng có triển vọng lớn nhờ mức tăng đáng kể thu nhập của người dân và lĩnh vực xuất khẩu được cải thiện

+ Thị trường ô tô diễn ra tích cực sẽ tạo đà phát triển cho đầu tư và tiêu dùng liên quan tới lĩnh vực này

Trang 9

+ Thị trường nhà đất sẽ tiếp tục được bình ổn Tháng 8/2010, so với cùng kỳ năm trước, giá bất động sản tại Trung Quốc tăng chậm nhất trong 8 tháng nhờ các biện pháp mạnh mẽ của Chính phủ Trung Quốc nhằm hạn chế đầu cơ nhà đất

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, kinh tế Trung Quốc cũng còn nhiều khó khăn thách thức phía trước, tiềm ẩn nhiều rủi ro, nguy cơ lạm phát và đổ vỡ bong bóng trên thị trường bất động sản có thể xảy ra bất cứ lúc nào nếu Chính phủ không có những điều chỉnh đúng đắn trong chính sách tài khóa và tiền tệ

b) Tình hình xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc trước và sau khủng hoảng tài chính toàn cầu:

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc liên tục tăng trưởng từ năm 2006 đến nay Năm 2009, mặc dù xuất khẩu sang nhiều thị trường lớn sụt giảm nhưng xuất khẩu sang Trung Quốc vẫn tăng trưởng 8,3%, đạt trên 4,9 tỷ USD Năm 2010, xuất khẩu sang thị trường này nhìn chung tiếp tục khả quan, dự kiến xuất khẩu cả năm sang thị trường Trung Quốc sẽ đạt trên 5 tỷ USD

Tổng kim ngạch xuất khẩu sang Trung Quốc giai đoạn 2001-8T đầu năm

2010 (Đvt: triệu USD)

2735,0 2960,0

2030,0 3357,0

4535,7 4909,0

4054,8

1770,0 1495,0 1418,0

Về các mặt hàng xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc, trong khi xuất khẩu cao

su, dầu thô và than đá sụt giảm năm 2009 (chủ yếu do việc hạn chế xuất khẩu nhiên liệu thô của Việt Nam) thì xuất khẩu một số mặt hàng khác vẫn tiếp tục tăng, như gỗ và sản phẩm từ gỗ, hải sản, hàng điện tử, hạt điều Cụ thể, kim ngạch xuất khẩu tăng 35,9% đối với mặt hàng gỗ, 10,5% đối với hạt điều, 54% đối với hải sản và 1,6% đối với máy tính linh kiện điện tử Như vậy có thể nói, sự chuyển hướng kịp thời sang thị trường Trung Quốc- với nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng, là một trong điều kiện quan trọng để duy trì kim ngạch xuất khẩu trong bối cảnh xuất khẩu sang các thị trường khác gặp khó khăn

Trang 10

Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực sang Trung Quốc

từ năm 2007-8T đầu năm 2010 (ĐVT: Triệu USD)

674,2 856,7

1056,9 838,8

603,2

935,8 724,8

650,6

229,6 462,6

603,5

197,9 145,6

167,7

0 200 400 600 800 1000

1200

Cao su Than đá Dầu thô Gỗ & Sp gỗ

Nguồn: Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại xây dựng trên cơ sở số liệu của

Tổng cục Hải quan

2.4 Một số thị trường mới nổi khác:

Tính chung cả năm 2009, trên thế giới có 12 nước có GDP tăng trưởng dương Trong đó có những quốc gia đạt được mức tăng trưởng dương ấn tượng: Trung Quốc (7,8%), Ấn Độ (ước tính khoảng 7-8%), Việt Nam (5,32%), Indonesia (4,5%), Sri Lanka (3,5%), Hàn Quốc (0,2%), Philippines (0,9%), Australia (0,68%)… Nhìn chung, các nền kinh tế tăng trưởng dương năm 2009 chủ yếu thuộc nhóm nước đang phát triển và các quốc gia thuộc khu vực châu Á Mức tăng trưởng của các quốc gia này cũng góp phần đáng kể vào sự tăng trưởng kinh tế toàn cầu

Nguyên nhân chủ yếu là nhờ các gói cứu trợ lớn và kịp thời về tài chính của Chính phủ, sự kích cầu mạnh mẽ, đầu tư tăng, thặng dư cán cân thương mại hoặc thâm hụt cán cân thương mại giảm so với năm 2008

Những nền kinh tế mới nổi đã có sự bứt phá mạnh mẽ trong tăng trưởng và tiêu dùng, trở thành khu vực phát triển năng động và có khả năng sinh lời cao Năm 2010, tăng trưởng của nhóm nền kinh tế này dự báo đạt trên 7% trong khi tăng trưởng của nhóm các nền kinh tế phát triển chỉ đạt khoảng 2,7%3 Họ đang trở thành điểm thu hút hoạt động đầu tư của thế giới và động lực tăng trưởng mới của kinh tế toàn cầu Đây là một xu hướng tất yếu khách quan trong sự vận động của kinh tế thế giới

Cùng với sự bứt phá đó, vị thế của các nền kinh tế này trên trường quốc tế đang ngày càng được cải thiện Đặc biệt là Trung Quốc, đang dần trở thành một đối trọng đối với kinh tế Hoa Kỳ và EU

3 Sự chuyển dịch trong hoạt động xuất, nhập khẩu giữa các nhóm nền kinh

tế trên thế giới và tác động đến cơ cấu nhu cầu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam

3

Dự báo của IMF vào tháng 10/2010

Trang 11

3.1 Tỏc động của sự chuyển dịch trong kinh tế thế giới đến hoạt động xuất khẩu của Việt Nam thời kỳ khủng hoảng tài chớnh toàn cầu:

Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2000-2009

Kim ngạ ch % thay đổi

Nguồn: Trung tõm Thụng tin Cụng nghiệp và Thương mại xõy dựng trờn cơ sở

số liệu của Tổng cục Hải quan

Hoạt động xuất khẩu của Việt Nam (cụ thể là kim ngạch xuất khẩu) đó tăng trưởng rất tốt trong 5 năm liền trước khủng hoảng tài chớnh toàn cầu Năm 2008, khi khủng hoảng chưa tỏc động sõu rộng đến nền kinh tế Việt Nam và cỏc nền kinh tế khỏc trờn thế giới, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vẫn đạt mức kỷ lục là 62,69 tỷ USD, tăng trưởng tới 29,1% so với năm 2007 Đến năm 2009, sức mua tại cỏc thị trường xuất khẩu chớnh suy giảm mạnh do tỏc động của cuộc khủng hoảng đó khiến kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam giảm 8,9% so với năm 2009, chỉ đạt 57,1 tỷ USD

Năm 2010, cựng với sự phục hồi của một số thị trường xuất khẩu và một số mặt hàng bỡnh dõn của Việt Nam cú lợi thế về giỏ so với hàng húa của cỏc nước đối thủ cạnh tranh đó giỳp kim ngạch xuất khẩu tăng trở lại, ước đạt khoảng 70-71 tỷ USD, tăng gần 24% so với năm 2009

Những dịch chuyển trong nền kinh tế thế giới cũng dẫn đến những thay đổi về cơ cấu thị trường xuất khẩu của Việt Nam Năm 2009, trong khi xuất khẩu sang cỏc thị trường lớn truyền thống như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản sụt giảm thỡ xuất khẩu sang Trung Quốc và ASEAN lại cú sự tăng trưởng tốt đối với nhiều mặt hàng Vớ dụ, xuất khẩu hàng dệt may sang Hoa Kỳ và EU giảm lần lượt 2,38% và 3,84% thỡ xuất khẩu sang ASEAN5 lại tăng tới 22,9% Xuất khẩu đồ gỗ sang Hoa Kỳ giảm 4,3%, sang EU giảm 13,7% nhưng xuất khẩu sang Trung Quốc lại tăng 8,24%

Năm 2010, xuất khẩu sang cỏc thị trường chủ lực nhỡn chung hồi phục khả quan; nhưng tốc độ tăng trưởng xuất khẩu sang cỏc thị trường mới nổi như Trung Quốc, Brazil,

Ấn Độ, Nga cao hơn so với tăng trưởng xuất khẩu sang Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản Vớ dụ, kim ngạch xuất khẩu sang Hoa Kỳ đạt 09 tỷ USD trong 8 thỏng đầu năm, tăng 26,4% so

Trang 12

với cùng kỳ 2009 Kim ngạch xuất khẩu sang EU đang dần hồi phục, đưa kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này 8 tháng đầu năm đạt 6,89 tỷ USD, tăng 12,4%, so với mức tăng chỉ có 7,8% của 6 tháng đầu năm Trong khi đó xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc 8 tháng đầu năm nay đã tăng rất mạnh, tăng 46%, đạt trên 04 tỷ USD Ngoài ra xuất khẩu sang một số thị trường mới nổi khác như Brazil, Ấn Độ, Nga cũng tăng rất mạnh

3.2 Dự báo những tác động đến cơ cấu nhu cầu của thế giới đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam trong giai đoạn 2011-2015:

3.2.1 Xu hướng xuất, nhập khẩu hàng hóa giữa các nhóm nền kinh tế trên thế giới Kinh tế thế giới đang chuyển dịch dần theo hướng tăng tỷ trọng của các nền kinh

tế mới nổi và đang phát triển trong cả hoạt động sản xuất, đầu tư và tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ trong khi các nền kinh tế phát triển như Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản đang trở nên bão hòa

Với tiềm lực tích lũy từ nhiều năm, các nền kinh tế phát triển lâu đời (nhóm 1) sẽ vẫn có khả năng hấp thụ một lượng hàng không nhỏ từ các nước có nền kinh tế đang phát triển, mới nổi (nhóm 2) và các nền kinh tế còn lại có tăng trưởng GDP thấp (nhóm 3) Tuy nhiên, xu hướng tiêu dùng, đầu tư, sản xuất sẽ chuyển dần sang những thị trường mới nổi và đang phát triển có khả năng sinh lời cao hơn

a)Về kim ngạch:

- Các nước phát triển sẽ đẩy mạnh xuất khẩu để tái cân bằng các cán cân vĩ mô

trong khi hạn chế nhập khẩu các mặt hàng tiêu dùng không cần thiết

- Các nền kinh tế mới nổi sẽ nhập khẩu nhiều hơn để đáp ứng nhu cầu trong nước

b) Về cơ cấu hàng xuất, nhập khẩu:

- Nhóm hàng hàng cơ khí, chế biến, chế tạo công nghệ cao, hàng hóa thông

minh sẽ là các mặt hàng xuất khẩu chủ chốt của các nước phát triển Đây cũng chính là

các hàng hóa mà các nước nhóm 2 có nhu cầu nhập khẩu để đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa của mình Các dòng sản phẩm công nghệ cao khác, với mức giá phải chăng hơn cũng sẽ được xuất khẩu với số lượng lớn sang nhóm 2 và nhóm 3 Một số nước thuộc nhóm 2 và nhóm 3 cũng sẽ có các sản phẩm thông minh xuất khẩu sang các nước cùng nhóm, thậm chí các nước phát triển; điều này phụ thuộc vào mức độ và hiệu quả đầu tư cho công tác Nghiên cứu và phát triển của từng nước

Đặc biệt thị trường hàng điện tử là thị trường có tốc độ phát triển nhanh chóng và các nhà sản xuất đang phải chịu một áp lực cạnh tranh để trở thành thị trường hàng đầu với những sản phẩm khác lạ và độc đáo Tuy nhiên, một sản phẩm thành công sẽ nhanh chóng có những sản phẩm sao nguyên bản chính từ đối thủ cạnh tranh, khiến cho sản

Trang 13

phẩm nhanh chóng bị giảm giá sau một thời gian được tung ra thị trường Để dẫn đầu trong cuộc cạnh tranh, nhà sản xuất buộc phải nâng cao chất lượng sản phẩm hoặc tạo ra những công nghệ mới Với những lý do này, vòng đời của sản phẩm đang bị rút ngắn lại đáng kể

Do vòng đời của các sản phẩm công nghệ ngày càng ngắn, vòng đời đối với các sản phẩm linh kiện điện tử phục vụ sản xuất các sản phẩm công nghệ này cũng được rút xuống Đây là một cơ hội tốt để đẩy mạnh xuất khẩu các nhóm linh kiện, điện tử của Việt Nam Tuy nhiên, cần lưu ý rằng với xu hướng mới này đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam phải nhanh chóng cải tiến chất lượng và năng suất để kịp thời đáp ứng nhu cầu thị trường

- Nhóm hàng nông, lâm, thủy sản tiếp tục là thế mạnh xuất khẩu của các nước

đang phát triển Nhập khẩu nông sản và thủy sản vào các nước nhóm 1 sẽ không suy giảm mạnh, đặc biệt là với những mặt hàng họ không thể sản xuất được (rau quả nhiệt đới, thủy sản đặc trưng của vùng), nhưng nhập khẩu hoa và một số lâm sản không thiết yếu sẽ giảm sút Các nước thuộc nhóm 2 sẽ tiêu thụ và nhập khẩu nhiều hơn các loại hàng hóa này

- Nhóm hàng công nghiệp nhẹ (dệt may, giày dép ): Nhập khẩu dệt may và

giày dép (nhóm hàng có hàm lượng lao động thủ công cao) của các nước nhóm 1 sẽ không tăng trưởng mạnh, trong khi hai thị trường mới nổi là Nga và Braxin, một số Đông

Âu và Úc có thể sẽ nhập khẩu nhiều hơn Hàng hóa thời trang cao cấp sẽ được nhập khẩu nhiều hơn vào Trung Quốc và Ấn Độ để phục vụ tầng lớp trung và thượng lưu mới

- Nhóm hàng khoáng sản và năng lượng không thể tái tạo: Nhiều nước sẽ hạn

chế các hoạt động xuất khẩu khoáng sản để bảo vệ tài nguyên cho tương lai, trong khi tìm cách nhập khẩu hoặc đầu tư khai thác nguồn khoáng sản tại các nước khác Giá của các loại khoáng sản sẽ ngày càng tăng

- Nhóm hàng năng lượng mới có thể tái tạo: Mặt hàng này sẽ xuất hiện nhiều

hơn trong thương mại quốc tế trong những năm tới, bởi nhu cầu sử dụng năng lượng mới, sạch thay thế nguồn năng lượng không thể tái tạo đang cạn kiệt dần

3.2.2 Nhu cầu của thế giới đối với hàng hóa của Việt Nam:

- Nhóm hàng nông lâm thủy sản và hàng thực phẩm, đồ uống chế biến: Nhu

cầu của thế giới đối với nhóm hàng nông, lâm, thủy sản của Việt Nam sẽ vẫn ở mức cao, đặc biệt với nhóm lương thực, thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, giúp kéo dài tuổi thọ

và thân thiện với môi trường Đối với nhóm thực phẩm và đồ uống chế biến, nhu cầu đối với nước ép rau, nước ép quả (phục vụ tiêu thụ trực tiếp hoặc sản xuất các thực phẩm chức năng) sẽ ngày càng tăng (Chi tiết các nhu cầu sẽ được phân tích ở phần II)

Trang 14

+ Phân nhóm 2: Hàng hóa có giá trị gia tăng cao (thường là hàng hóa có yếu tố FDI) (hàng điện, điện tử, hàng thông minh, cao cấp, công nghệ cao): Nhu cầu đối với nhóm hàng này sẽ tăng mạnh ở cả nhóm nước phát triển và mới nổi Trong vòng 5 năm tới, Việt Nam chưa thể xuất khẩu nhiều mặt hàng công nghệ cao nhưng có thể tận dụng

cơ hội từ nhu cầu thế giới đối với nhóm linh kiện điện tử tăng mạnh Ngoài ra, nếu đẩy mạnh đầu tư cho hoạt động Nghiên cứu phát triển để có các phát minh mới, nước ta sẽ có lợi thế hơn trong việc thu hút đầu tư, liên doanh với các nhà đầu tư ngoài để sản xuất các mặt hàng công nghệ cao; từng bước tạo nền tảng cho việc nâng cao giá trị gia tăng của hàng xuất khẩu Việt Nam

- Nhóm hàng khác: (không thuộc nhóm xuất khẩu chiến lược, cần ưu tiên, tập

trung): Nhu cầu đối với nhóm hàng khoáng sản, năng lượng trên thế giới sẽ ngày càng tăng nhưng khoáng sản, nhiêu liệu thô không thuộc diện khuyến khích xuất khẩu tại

nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam

II NHỮNG MẶT HÀNG CÓ TIỀM NĂNG VÀ LỢI THẾ XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM TRONG NĂM NĂM TỚI

1 Những lợi thế trong sản xuất hàng xuất khẩu của Việt Nam trong 5 năm tới

1.1 Về điều kiện tự nhiên và địa lí:

a) Về địa lí: Là một quốc gia nằm trên bán đảo Đông Dương, ven biển Thái Bình

Dương, Việt Nam có đường biên giới trên đất liền dài 4.550 km tiếp giáp với Trung Quốc

ở phía Bắc, với Lào và Căm-pu-chia ở phía Tây; phía Đông giáp biển Đông

Việt Nam có ba mặt Đông, Nam và Tây-Nam trông ra biển với lợi thế bờ biển có chiều dài 3.260 km, từ Móng Cái ở phía Bắc đến Hà Tiên ở phía Tây Nam Phần Biển

Trang 15

Đông thuộc chủ quyền Việt Nam mở rộng về phía Đông và Đông Nam, có thềm lục địa, các đảo và quần đảo lớn nhỏ bao bọc

Đặc biệt, do nằm ở vị trí trung tâm Đông Nam Á, có thể dễ dàng qua lại cả Trung Quốc lẫn các nước ASEAN, Việt Nam có lợi thế để trở thành một đối tác sản xuất chặt chẽ cho cả hai Miền Bắc tiếp giáp với biển Đông và có tiềm năng liên kết được với nhịp

độ phát triển của khu vực năng động này và đó là một ưu thế vượt trội của Việt Nam so với các nước ASEAN trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

Một lợi thế khác về vị trí địa lý là Việt Nam sở hữu nhiều cảng nước sâu, nếu đầu

tư khai thác tốt có thể trở thành những cảng trung chuyển lớn của khu vực

Việt Nam cũng nằm gần kề các tuyến hàng hải quốc tế quan trọng

b) Về điều kiện tự nhiên phục vụ sản xuất:

Việt Nam có điều kiện tự nhiên rất thuận lợi cho sản xuất các mặt hàng nông, lâm, thủy hải sản Lãnh thổ Việt Nam bao gồm ba phần tư là đồi núi nhưng chủ yếu là đồi núi thấp, hai đồng bằng lớn, nhiều sông, ngòi và có bờ biển dài

Về đồng bằng và lợi thế sản xuất nông sản, đặc biệt là lúa gạo và cây ăn quả: Việt Nam có hai đồng bằng chính là Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) và Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)

+ ĐBSH: Rộng khoảng 15.000km² được bồi đắp bởi phù sa của hai con sông lớn

là sông Hồng và sông Thái Bình

+ ĐBSCL: Rộng trên 40.000km², là vùng đất phì nhiêu, khí hậu thuận lợi Đây là vựa lúa lớn nhất của Việt Nam, đồng thời là nơi sản xuất nhiều cây ăn quả, hải, thủy sản

Về sông ngòi và lợi thế sản xuất thủy sản: Trên lãnh thổ Việt Nam có hàng nghìn con sông lớn, nhỏ Dọc bờ biển, cứ khoảng 20km lại có một cửa sông, do đó, hệ thống giao thông đường thủy khá thuận lợi

Hai hệ thống sông quan trọng là sông Hồng ở miền Bắc và sông Mê Kông (còn gọi là sông Cửu Long) ở miền Nam

Về tiềm năng vùng biển và lợi thế đánh bắt hải sản: Việt Nam có 3.260km bờ biển với nguồn thủy hản sản phong phú

Về tài nguyên thiên nhiên:

+ Tài nguyên đất: Đất ở Việt Nam rất đa dạng, có độ phì cao, thuận lợi cho phát

triển nông, lâm nghiệp Việt Nam có hệ thực vật phong phú, đa dạng (khoảng 14.ên 600 loài thực vật) Thảm thực vật chủ yếu là rừng rậm nhiệt đới, gồm các loại cây ưa ánh sáng, nhiệt độ lớn và độ ẩm cao Việt Nam đã giữ gìn và bảo tồn được một số vườn quốc gia đa dạng sinh học quý hiếm

Trang 16

+ Rừng và đất rừng: Rừng chiếm một diện tích lớn trên lãnh thổ Việt Nam Các

khu rừng quốc gia được nhà nước bảo vệ và có kế hoạch phát triển du lịch sinh thái bền vững

+ Nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú Dưới lòng đất có nhiều khoáng sản

quí như: thiếc, kẽm, bạc, vàng, angtimoan, đá quí, than đá Ở thềm lục địa của Việt Nam

có nhiều dầu mỏ, khí đốt

+ Tài nguyên nước, nếu tính cả lượng nước sản sinh từ nước ngoài thì mức đảm

bảo nước trung bình cho một người trong một năm cũng vào loại khá, trên mức trung bình so với khu vực châu á và thế giới Việt Nam có một mạng lưới sông ngòi dày đặc (2.360 con sông dài trên 10 km), chảy theo hai hướng chính là tây bắc- đông nam và vòng cung Hai sông lớn nhất là sông Hồng và sông Mê Công tạo nên hai vùng đồng bằng rộng lớn và phì nhiêu Hệ thống các sông suối hàng năm được bổ sung tới 310 tỷ m3 nước

1.2 Về nguồn nhân công:

Trong xu thế toàn cầu hóa, nền kinh tế dựa chủ yếu vào tri thức sẽ tạo ra nhiều cơ hội phát triển cho các quốc gia Đặc biệt là ở việc duy trì tốc độ tăng trưởng cao, sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, giải quyết tốt hơn các vấn đề xã hội, cải thiện đời sống người lao động Và trong cuộc cạnh tranh ngày càng khốc liệt, ưu thế sẽ luôn nghiêng về các quốc gia có nguồn nhân lực chất lượng cao, môi trường pháp lý thuận lợi cho đầu tư và một xã hội ổn định

Theo Viện trưởng Viện Khoa học Lao động và Xã hội cho, lực lượng lao động của Việt Nam dự kiến sẽ gia tăng khoảng 1,5%/năm (tương đương với khoảng 738.000 lao động/năm) trong giai đoạn 2010 - 2015 Mức tăng lao động của Việt Nam vẫn là nước cao nhất khu vực ASEAN, chỉ sau Indonesia và Philippins

Tuy nhiên, tỷ lệ lao động qua đào tạo, nhất là qua đào tạo nghề còn thấp, chỉ bằng 1/3 các nước và các nền kinh tế công nghiệp mới Nếu trong giai đoạn 2011-2015, việc nâng cao chất lượng lao động được đầu tư đúng mức, Việt Nam sẽ có lợi thế nguồn nhân lực cả về chất lượng và số lượng Tháng 11/2009, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề

án: “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” Đề án này được kỳ vọng sẽ

tạo nên một lực lượng lao động nông thôn chuyên nghiệp và có chất lương, đáp ứng các yêu cầu mới về phát triển sản xuất hàng xuất khẩu với chất lượng cao và các tiêu chuẩn

kỹ thuật cao hơn giai đoạn 2011-2020

1.3 Về khả năng tiếp thu và phát triển khoa học, công nghệ, kỹ thuật

Với đội ngũ công nhân trẻ, năng động, nhiệt tình, khả năng tiếp thu và phát triển khao học, công nghệ, kỹ thuật của Việt Nam trong 5 năm tới rất khả quan Không chỉ các

Trang 17

nhà quản lý mà cả những nhà sản xuất nước ngoài đều nhìn nhận và đánh giá cao trình độ

và tay nghề của lao động Việt Nam Họ đánh giá, người lao động Việt Nam là những con người nhiệt tình, ham học hỏi và tiếp cận những cái mới rất nhanh

Lực lượng lao động Việt Nam được giáo dục tốt và ham làm việc Số tuổi trung bình của một thợ máy là 24 tuổi, số lao động biết và thông thạo tiếng Anh ngày càng tăng cùng với sự xuất hiện của rất nhiều trung tâm ngoại ngữ

Lao động Việt Nam với trình độ khác nhau có thể đáp ứng yêu cầu đa dạng của nhà đầu tư và họ không phải mất nhiều chi phí cho chế độ lượng bổng, trợ cấp, như một

số nước trong khu vực

Việt Nam có tỷ lệ cao về giáo dục, xóa nạn mù chữ và biết tiếng Anh GDP bình quân đầu người năm 2010 dự báo đạt khoảng 1200USD, vượt qua ngưỡng nước đang phát triển có thu nhập thấp Đây là một điều kiện quan trọng cho sự tiếp thu và phát triển

khoa học kỹ thuật trong giai đoạn 2011-2020

1.4 Về môi trường chính trị, xã hội:

- Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong một thập kỷ trở lại đây thuộc nhóm cao trong khu vực

Tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình của Việt Nam giai đoạn 2001-2009 đạt 7,3%, thuộc nhóm nước có tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực Những năm liền trước khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009, tăng trưởng kinh tế đạt trung bình 8% và được đưa vào danh sách các quốc gia có nền kinh tế phát triển nhanh nhất trên toàn thế giới Năm 2009, Việt Nam là 1/12 nước trên thế giới có tăng trưởng dương Điều này chứng tỏ khả năng tăng trưởng của Việt Nam còn rất lớn Nhận định này dựa trên các cơ

sở sau:

+ Thị trường nội địa vẫn đang có nhu cầu rất đa dạng về hàng hoá và dịch vụ; + Nguồn vốn trong dân và năng lực sản xuất, chế tạo, thi công công trình còn nhiều, chưa được huy động hết;

+ Giá vật tư, nguyên liệu, công nghệ và máy móc, thiết bị trên thị trường thế giới đang ở mức tương đối thấp trong khi nhu cầu đầu tư phát triển của Việt Nam rất lớn, nhất

là phát triển hạ tầng, đổi mới công nghệ;

+ Các nhà đầu tư, các nhà tài trợ nước ngoài vẫn tin tưởng vào triển vọng phát triển Việt Nam, vẫn coi Việt Nam là điểm đến an toàn và hấp dẫn

- Việt Nam được đánh giá là nước có môi trường chính trị và xã hội ổn định so với các nước khác trong khu vực Sự ổn định chính trị là một trong những yếu tố không thể

thiếu, góp phần giúp Việt Nam có thể kiên trì chính sách phát triển kinh tế Nền chính trị

ổn định tạo cho Việt Nam có được một nền hoà bình và thịnh vượng Nếu nhìn sang một

Trang 18

số quốc gia trong khu vực, dễ thấy rằng, trừ Singapore, thì từ năm 1990 trở lại đây, hầu hết các nước khu vực đều trải qua các cuộc đảo chính hay khủng hoảng chính trị Trong khi đó, nền chính trị của Việt Nam luôn ổn định, đây là một đảm bảo cho sự gắn kết để thực hiện chính sách kinh tế nhất quán

So với các nước trong khu vực như Indonesia, Malaysia, Philipine, và Trung Quốc, Việt Nam có ít các vấn đề liên quan đến tôn giáo và mâu thuẫn sắc tộc hơn Sau khi đưa ra chính sách “Đổi mới”, Việt Nam đã và đang đạt được mức tăng trưởng GDP

ổn định Sự ổn định chính trị và kinh tế vĩ mô đang được duy trì Các chính sách Đổi mới nhìn chung đã nhận được sự ủng hộ của các giới chức trong cả nước Trong bối cảnh của những sự kiện diễn ra trong vài năm qua liên quan đến chủ nghĩa khủng bố, Việt Nam được biết đến như là một trong những nước an toàn nhất xét về các tội ác chống con người và quyền sở hữu Thực tế cho thấy Việt Nam được đánh giá là nơi an toàn để đầu

- Ngoài ra, các chính sách mở cửa, tăng cường hợp tác giao lưu quốc tế của Việt Nam cũng có những tiến bộ đáng kể

Tuy nhiên, bên cạnh những lợi thế trên, Việt Nam cũng đang phải đối mặt với một

số hạn chế và thách thức như: nạn tham nhũng, tội phạm hình sự và tội phạm kinh tế gia tăng, các hành vi gây ô nhiễm môi trường và một số vấn đề trong hệ thống báo chí, truyền thông

1.5 Môi trường đầu tư và hệ thống pháp luật:

So với các nước trong khu vực, Việt Nam có những lợi thế như sau về môi trường đầu tư:

- Thể chế chính trị ổn định, môi trường đầu tư và hệ thống pháp luật của Việt Nam ngày càng được cải thiện và điều chỉnh thích ứng dần với tiến trình tự do hóa thương mại trong khu vực và toàn cầu

- Môi trường đầu tư thông thoáng hơn, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp khai thác thị trường kể từ khi Việt Nam trở thành thành viên mới của WTO Tiềm năng và tốc

độ phát triển kinh tế của Việt Nam trong thời gian qua khá hấp dẫn doanh nghiệp

- Ngoài ra, Việt Nam đã chủ động đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, thiết lập quan hệ thương mại với trên 220 quốc gia và vùng lãnh thổ Cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam những năm qua phát triển mạnh mẽ cùng với sự cải thiện không ngừng trong môi trường kinh doanh Mỗi năm Việt Nam có thêm trên 50.000 doanh nghiệp mới với số vốn khoảng 30 tỷ USD Điều này thể hiện sức phát triển mạnh mẽ và môi trường kinh doanh rất sôi động với rất nhiều cơ hội tại Việt Nam

Trang 19

- Việt Nam ngày càng thực hiện bình đẳng hơn giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước Sự cam kết của Chính phủ Việt Nam về môi trường đầu tư thông thoáng, minh bạch với những ưu đãi rõ ràng thể hiện trong các cam kết với WTO là minh chứng thuyết phục về môi trường kinh doanh ổn định và đầy triển vọng của Việt Nam Vào thời điểm kinh tế có những khó khăn tạm thời hiện nay, chỉ các nhà đầu cơ mới ra đi, còn các nhà đầu tư vẫn ở lại

Do đó, Chính phủ Việt Nam khẳng định thực hiện nghiêm túc những cam kết với cộng đồng quốc tế và sẽ tiếp tục đẩy nhanh hơn việc hoàn thiện thể chế và cải cách các thủ tục hành chính, tạo thuận lợi hơn nữa cho các nhà đầu tư, các doanh nghiệp trong cộng đồng quốc tế vì lợi ích chung

Tham khảo thu hút FDI từ năm 2001 đến hết tháng 9/2010

2010

Thu hút vốn FDI 3.143 2.999 3.191 4.548 6.840 12.004 21.348 64.011 21.800 12.000

Thực hiện vốn FDI 2.451 2.591 2.650 2.853 3.309 4.100 8.030 11.600 9.800 9.000

Nguồn: Tổng cục Thống kê

* Ưu đãi thuế

Việt Nam đã áp dụng một chương trình ưu đãi thuế thu nhập rất linh hoạt Ví dụ như miễn thuế bốn năm kể từ năm đầu tiên có lãi; tính thuế thu nhập bằng 1/2 mức thuế thông thường trong vòng 7 năm Mức thuế thông thường có thể là 10%, 15%, 20% tuỳ thuộc vào lĩnh vực công nghiệp, phân loại đầu tư và vị trí địa lý Trong khi đó, mức thuế chung cho doanh nghiệp là 28%

Khi một công ty lựa chọn địa điểm đầu tư, hàng loạt khu đất, các chính sách thuế

ưu đãi và điều kiện để được hưởng ưu đãi được giới thiệu ở đây có cả những chương

trình miễn thuế cho một số loại hàng hoá nhập khẩu Theo các nhà kinh doanh nước

ngoài đánh giá, ưu đãi thuế của Chính phủ Việt Nam là một trong những chính sách thuế tốt nhất châu á Các công ty đều công nhận tầm ảnh hưởng lớn của những khuyến khích tài chính này tới nguồn thu nhập của họ

* Cơ sở hạ tầng

Cơ sở hạ tầng của Việt Nam đang phát triển nhanh chóng khi gặp làn sóng đầu tư trực tiếp từ nước ngoài Chính phủ Việt Nam đã cam kết phát triển cân bằng cơ sở hạ tầng, đặc biệt là cung cấp điện - nước, dịch vụ cảng biển và viễn thông Các khoản cho vay và tài trợ song phương vẫn tiếp tục đổ vào Việt Nam với số lượng lớn

Trang 20

Đến năm 2012, Việt Nam sẽ hoàn thành hệ thống cảng nước sâu và vận tải biển - một mốc phát triển đem lại cho đất nước lợi thế cạnh tranh to lớn và cho phép Việt Nam dành được những hỗ trợ lớn hơn với so với các nước trong khu vực, tạo điều kiện xuất khẩu thuận lợi hơn sang ASEAN, Trung Quốc và Bắc Mỹ

Hệ thống giao thông vận tải đã được tập trung đầu tư phát triển Các tuyến giao thông huyết mạch và trọng yếu được nâng cấp mở rộng và làm mới, bảo đảm thông suốt trong cả nước

+Hàng không: Hãng hàng không quốc gia Việt Nam (VietnamAirlines) có 17

đường bay quốc tế, và 16 đường bay nội địa Các sân bay lớn: Nội Bài (Hà Nội), Tân Sơn Nhất (TP.HCM), Đà Nẵng, Phú Bài (Huế), Cát bi (Hải Phòng), Điện biên (Lai châu), Vinh (Nghệ An), Nha Trang, Cần Thơ với tổng năng lực vận tải hành khách thông qua các sân bay vào khoảng trên 12 triệu hành khách/năm

+Cảng biển: Hệ thống cảng biển Việt Nam bảo đảm thông qua toàn bộ lượng

hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển theo yêu cầu tăng trưởng của nền kinh tế đất nước, dự kiến đạt khoảng 200 triệu tấn/năm vào năm 2010 Hệ thống cảng biển Việt Nam được qui hoạch phân bố trên phạm vi cả nước tại những vị trí có điều kiện và nhu cầu xây dựng cảng biển, nhằm khai thác ưu thế thiên nhiên, tận dụng khả năng vận tải biển, phục

vụ tốt các vùng kinh tế, các khu công nghiệp, tiết kiệm chi phí đầu tư và chi phí khai thác cảng Tổng năng lực thông qua cảng biển hiện vào khoảng 73 triệu tấn

* Sở hữu trí tuệ và cơ sở hạ tầng pháp luật

Nhằm tăng cường công tác bảo hộ sở hữu trí tuệ và thực thi những thủ tục pháp luật phù hợp với cam kết gia nhập WTO, chính phủ Việt Nam đã tiến hành nhiều biện pháp để bảo hộ sở hữu trí tuệ và ban hành các đạo luật bảo vệ riêng đối với nhà đầu tư

Hệ thống luật pháp có ảnh hưởng tới đầu tư nước ngoài vẫn tiếp tục được cải thiện, tạo một khuôn khổ hợp pháp và minh bạch với các hoạt động đầu tư

Quốc hội Việt Nam cũng đã thông qua nhiều luật mới nhằm tạo ra sự đồng bộ về khung luật pháp cho các nhà đầu tư như: Luật Chứng khoán, Luật chuyển giao công nghệ, Luật Sở hữu trí tuệ, bộ luật Lao động sửa đổi…

1.5 Về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước

1.5.1 Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011-2020 nhấn mạnh “Phát triển

nhanh và bền vững là quan điểm xuyên suốt trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của nước ta”4

4

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng “Phát triển nhanh và bền vững là quan điểm xuyên suốt trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của đất nước ta” Báo Nhân dân, số 20042, ngày 16 tháng 7 năm 2010

Trang 21

Đặc biệt coi trọng chất lượng, hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển… giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tốc độ và chất lượng tăng trưởng” và xác định “Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược”, với các nội dung chủ yếu là “Phải phát triển bền vững về kinh tế, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an ninh kinh tế Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh

tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, coi chất lượng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh

là ưu tiên hàng đầu, chú trọng phát triển theo chiều sâu, phát triển kinh tế tri thức Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hoà với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; nâng cao không ngừng chất lượng cuộc sống của nhân dân Phát triển kinh tế - xã hội phải luôn đi cùng với bảo vệ và cải thiện môi trường Nước ta có điều kiện phát triển nhanh và yêu cầu phát triển nhanh cũng đang đặt ra hết sức cấp thiết; phát triển bền vững là cơ sở để phát triển nhanh, phát triển nhanh để tạo nguồn lực cho phát triển bền vững Phát triển nhanh và bền vững phải luôn gắn chặt với nhau trong quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển kinh tế - xã hội Phải đặc biệt quan tâm giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ để bảo đảm cho đất nước phát triển nhanh và bền vững.”

Để hiện thực hoá quan điểm phát triển nhanh và bền vững, phải thực hiện đồng bộ các định hướng phát triển đã nêu trong dự thảo Chiến lược, trong đó cần tập trung thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp sau:

Một là, bằng các giải pháp và sức mạnh tổng hợp, kiên quyết giữ vững độc lập,

chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, tạo môi trường hoà bình và điều kiện thuận lợi cho sự phát triển đất nước Đây là điều kiện tiên quyết nhất cho sự phát triển nhanh

và bền vững và cũng là một lợi thế của đất nước ta

Hai là, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và các cân đối lớn của nền kinh tế; giữ vững an ninh lương thực, an ninh năng lượng và sự hoạt động an toàn, hiệu quả của các định chế tài chính

Thế hệ chúng ta đã từng chứng kiến những cuộc khủng hoảng lương thực, khủng hoảng năng lượng, mới đây là cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu xảy ra trong các năm 2007 - 2009 và cuộc khủng hoảng nợ công ở một số nước hiện nay Những cuộc khủng hoảng này là hậu quả của sự phát triển không bền vững, gây mất ổn định toàn cầu và tác động đến tăng trưởng của hầu hết các quốc gia, kinh tế thế giới suy giảm, thất nghiệp gia tăng, xung đột xã hội lan rộng

Ở nước ta, cùng với những bất cập, yếu kém trong quản lý vĩ mô, cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã tác động tiêu cực đến sự phát triển của

Trang 22

đất nước, lạm phát tăng cao, tốc độ tăng trưởng suy giảm, đời sống nhân dân gặp khó khăn Kinh nghiệm quốc tế cũng như của nước ta những năm qua cho thấy giữ vững an ninh lương thực, an ninh năng lượng, an ninh tài chính, kiểm soát được lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn vừa là tiền đề để tăng trưởng nhanh vừa là nội dung của tăng trưởng bền vững, trở thành nhiệm vụ quan trọng nhất trong quản lý kinh tế của bất cứ quốc gia nào

Ba là, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để bảo đảm đạt tốc độ tăng trưởng cao đồng thời nâng cao chất lượng tăng trưởng

Bảo đảm tốc độ tăng trưởng cao, ổn định và không ngừng nâng cao chất lượng tăng trưởng là yếu tố quyết định nhất để phát triển nhanh và bền vững Có đạt được tốc

độ tăng trưởng cao, đất nước mới phát triển nhanh, rút ngắn khoảng cách với các nước, mới tạo được nguồn lực để phát triển các lĩnh vực xã hội, phát triển con người, đầu tư phát triển những khu vực khó khăn, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng trong nước, mở rộng hệ thống phúc lợi và an sinh xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội

Với ưu thế về nguồn lực con người, chính trị xã hội ổn định, vị trí địa - kinh tế thuận lợi, lại là nước đi sau, chúng ta có điều kiện để phát triển nhanh Mặt khác, có nâng cao chất lượng tăng trưởng mới tăng được hiệu suất sử dụng vốn và sức cạnh tranh của nền kinh tế, mới mở rộng được thị trường tiêu thụ trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt Trên cơ sở đó, tạo ra giá trị gia tăng lớn cho đất nước, tăng khả năng tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế, bảo đảm nguồn lực cho tăng trưởng cao và ổn định trong dài hạn

Để tăng trưởng cao, đạt tốc độ bình quân 7 - 8%/năm, phải tháo gỡ mọi cản trở về thể chế và thủ tục hành chính, giải phóng và phát triển mạnh lực lượng sản xuất gắn với nâng cao trình độ khoa học, công nghệ Phải tạo mọi điều kiện phát triển kinh tế tư nhân - thành phần có tốc độ tăng trưởng cao nhất và tạo nhiều việc làm nhất

Mặt khác, phải đổi mới, cơ cấu lại và nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước, để doanh nghiệp nhà nước trở thành công cụ quan trọng trong việc thực hiện chính sách cơ cấu và định hướng tổ chức thị trường Phải thực hiện đa sở hữu, công khai minh bạch, nâng cao chất lượng quản trị doanh nghiệp và quan trọng hơn là đặt doanh nghiệp nhà nước vào môi trường cạnh tranh bình đẳng với các thành phần kinh tế khác trong cơ chế thị trường Chỉ có như vậy mới nâng cao được hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước

và sự phát triển của doanh nghiệp nhà nước mới không chèn lấn các nguồn lực để phát triển khu vực tư nhân - một động lực chủ yếu của tăng trưởng

Nâng cao hiệu quả đầu tư công là một yếu tố quan trọng bảo đảm chất lượng tăng trưởng Trong mười năm tới, cần tập trung hơn nữa đầu tư phát triến hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội đồng bộ, từng bước hiện đại, tạo điều kiện cho kinh tế tăng trưởng

Trang 23

nhanh, bền vững Hoàn thiện cơ chế giám sát và tăng cường công tác giám sát đầu tư Kiên quyết và có biện pháp mạnh mẽ chống tham nhũng, thất thoát, lãng phí trong đầu tư

Yêu cầu cấp bách trong thời kỳ chiến lược tới là thực hiện tái cấu trúc nền kinh

tế trên cả ba nội dung chính:

(1) Tái cấu trúc các ngành sản xuất, dịch vụ gắn với các vùng kinh tế, phát triển công nghiệp hỗ trợ Phải chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu theo chiều rộng, dựa vào sự gia tăng vốn đầu tư và nguồn nhân lực chất lượng thấp hiện nay sang kết hợp hợp

lý giữa tăng trưởng theo chiều rộng với tăng trưởng theo chiều sâu trên cơ sở áp dụng các tiến bộ về khoa học, công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực và kỹ năng quản lý hiện đại

Trong mười năm tới, nhất là trong những năm đầu của thời kỳ chiến lược, chúng

ta chưa thể từ bỏ hoàn toàn mô hình tăng trưởng theo chiều rộng Vì, để tăng trưởng theo chiều sâu phải sử dụng công nghệ hiện đại và phải có nguồn nhân lực chất lượng cao Đây là quá trình tích luỹ vốn và phát triển nguồn nhân lực trong từng doanh nghiệp và cả nền kinh tế Hơn nữa, phát triển bền vững phải gắn với yêu cầu giải quyết việc làm và toàn dụng lao động trong khi nguồn lao động thiếu việc làm còn nhiều, nhất là ở khu vực nông thôn

Tuy nhiên, phải hành động khẩn trương, kiên quyết tạo lập đồng bộ các tiền đề để chuyển mạnh sang tăng trưởng theo chiều sâu ngay trong những năm đầu của thời kỳ chiến lược, trước hết là ở những lĩnh vực khoa học, công nghệ phát triển nhanh và nước

ta có điều kiện Đây là con đường cơ bản nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng

(2) Tái cấu trúc các doanh nghiệp, xây dựng lực lượng doanh nghiệp trong nước với nhiều thương hiệu mạnh, hiệu quả và có sức cạnh tranh cao

(3) Điều chỉnh chiến lược thị trường, coi trọng hơn thị trường trong nước đi đôi

với việc tiếp tục đa dạng hoá, mở rộng thị trường nước ngoài Thực hiện tốt các nội dung

trên đây, chẳng những nâng cao được chất lượng tăng trưởng, khả năng độc lập tự chủ của nền kinh tế, hạn chế được các tác động tiêu cực trước những biến động từ bên ngoài, bảo đảm cho đất nước phát triển bền vững mà còn tham gia có hiệu quả vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu, một xu thế phát triển trong nền kinh tế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế

Cùng với việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, cải cách hành chính, cần phát huy có hiệu quả chức năng kiến tạo phát triển của nhà nước, nhất là trong thời kỳ đầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, thể hiện trong việc đề ra chính sách cơ cấu và định hướng phát triển vùng đúng đắn

2 Phân tích cụ thể các mặt hàng có tiềm năng, lợi thế xuất khẩu trong 5 năm tới:

Trang 24

2.1 Nhóm 1: Nhóm hàng nông lâm thủy sản và hàng thực phẩm, đồ uống chế biến

2.1.1 Mặt hàng thủy sản:

Ngành thuỷ sản là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của nước ta Trong những năm qua, toàn ngành thuỷ sản nói chung, xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam nói riêng luôn đạt được bước tăng trưởng mạnh mẽ, đưa nước ta trở thành nước đứng thứ 3 trên thế giới (sau Trung Quốc và Ấn Độ) về nuôi trồng và đứng thứ sáu về kim ngạch xuất khẩu thủy sản Giai đoạn 2006-2008, tốc độ tăng xuất khẩu hàng thuỷ sản đạt trung bình 19%/năm Sau mức giảm 5,5% của năm 2009, kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam trong 8 tháng đầu năm 2010 đạt 2,98 tỷ USD, tăng 14,1% so với cùng kỳ năm 2009

Thống kê kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam qua các tháng

a) Năng lực sản xuất theo mức độ tự nhiên, hiện tại:

Việt Nam có tiềm năng lớn để thiết lập một hệ thống nuôi trồng thủy sản thân thiện với hệ sinh thái

Là một nước có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới, Việt Nam có một số lợi thế so sánh như lượng ánh nắng mặt trời dồi dào, có nguồn thức ăn tự nhiên tốt cho cá và các loài giáp xác ở vùng duyên hải Chính điều này đã đem lại cho Việt Nam tiềm năng lớn trong việc nuôi trồng tảo biển, các loài giáp xác và các loài cá ăn thực vật, sử dụng nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng có nguồn gốc trên cạn (từ công nghiệp, từ các khu dân cư, từ nông nghiệp) và có tác dụng làm sạch môi trường nhờ loại bỏ đi lượng dưỡng chất dư thừa và các loại vi tảo

Do có nhiều lợi thế phát triển thủy sản, đặc biệt là nuôi trồng thủy sản ở cả nước ngọt, nước lợ và biển, nên phần lớn nguồn lợi tự nhiên như nguồn lợi hải sản ven bờ, diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản đã và đang được khai thác, sử dụng ở mức tối đa

Trang 25

Trong 10 năm trở lại đây, sản lượng nuôi trồng có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn

so với sản lượng khai thác tự nhiên và chiếm tỷ trọng lớn hơn trong tổng sản lượng thủy sản của cả nước, cho thấy ngành nuôi trồng thủy sản đã có những bước tiến đáng ghi

nhận (biểu đồ ) Trong giai đoạn 2011-2015 cùng với những nỗ lực cải tiến về công

nghệ và sản xuất an toàn, nguồn cung thủy sản của Việt Nam sẽ được nâng cao cả về số lượng và chất lượng

Diễn biến sản lượng thủy sản (tổng sản lượng, sản lượng khai thác, sản lượng

nuôi trồng trong 10 năm trở lại đây)

0.0 2,000.0 4,000.0 6,000.0 8,000.0 10,000.0 12,000.0

Nguồn: Dựa trên số liệu của Tổng cục Thống kê

Tham khảo sản lượng thủy sản giai đoạn 2000-2010

(ngàn tấn)

Năm

Tổng sản lượng

Khai thác

tự nhiên

Nuôi trồng

Tỷ trọng khai thác (%)

Tỷ trọng nuôi trồng (%)

Trang 26

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam, tám tháng năm 2010, sản lượng thủy sản ước tính đạt 3347,6 nghìn tấn, tăng 4,6% so với cùng kỳ năm trước (cá đạt 2557,4 nghìn tấn, tăng 4,4%; tôm đạt 348,7 nghìn tấn, tăng 5,7%), bao gồm sản lượng nuôi trồng đạt 1760,3 nghìn tấn, tăng 4,9%; sản lượng khai thác đạt 1587,3 nghìn tấn, tăng 4,2% Cả năm 2010, dự báo tổng sản lượng thủy sản sẽ đạt 5300 ngàn tấn, trong đó sản lượng khai thác tự nhiên là 2550 ngàn tấn và sản lượng nuôi trồng đạt 2750 ngàn tấn

- Một số hạn chế cần khắc phục:

Phụ thuộc vào nguyên, phụ liệu nhập khẩu

Thời gian qua, người nuôi thủy sản trong cả nước phải mua thức ăn chăn nuôi thủy sản (chiếm khoảng 70% giá thành) với giá cao hơn từ 20% - 30% so với những người nuôi thủy sản ở Thái Lan, Trung Quốc Do đó, lợi nhuận của người nuôi thủy sản đạt thấp

Thuỷ sản mặc dù đã từng bước phát triển theo chiều sâu, nhưng chưa đồng đều ở các địa phương, vùng miền, chủ yếu phát triển theo chiều rộng, qua việc tăng diện tích nuôi trồng, tăng số lượng tàu thuyền khai thác, phát huy tiềm năng nguồn lợi và điều kiện

tự nhiên là chính

Công nghệ chế biến thủy sản đã bước đầu tiếp cận được trình độ công nghệ của khu vực và một số nước tiên tiến trên thế giới, nhưng kỹ thuật, công nghệ khai thác hải sản và bảo quản sau thu hoạch còn lạc hậu so với một số nước trong khu vực như Trung Quốc, Thái Lan và Ấn Độ Nuôi trồng thủy sản, tuy có nhiều tiến bộ trong phương thức sản xuất và kỹ thuật nuôi, nhưng vẫn chưa theo kịp trình độ của các nước có ưu thế về nuôi thủy sản ở khu vực và thế giới

Mặc dù trong những năm qua, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) đã đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, tổ chức lại hệ thống quản lý thủy sản, chú trọng nâng cao năng lực của các cơ quan quản lý chuyên ngành, nhưng kết quả thực hiện ở một số địa phương còn chậm, chưa tạo ra bước đột phá mạnh mẽ trong công tác quản lý

Hệ thống cơ sở hạ tầng nghề cá chưa được đầu tư đúng mức và đồng bộ, không đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nghề cá và chưa tương xứng với tiềm năng thủy sản và yêu cầu phát triển bền vững Hiện vẫn còn gần 40% số nhà máy chế biến quy mô nhỏ với máy móc, thiết bị đã cũ và lạc hậu, công nghệ đơn điệu, chủ yếu

là sơ chế, không đáp ứng được yêu cầu về an toàn vệ sinh thực phẩm

Vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm vẫn là thách thức lớn, tạo ra nhiều khó khăn, nhất là trong xuất khẩu Ngành mới chỉ làm tốt công tác an toàn vệ sinh trong khu vực chế biến, trong khi yêu cầu về an toàn vệ sinh thực phẩm đang ngày càng khắt khe hơn,

Trang 27

đòi hỏi phải thực hiện "từ ao nuôi đến bàn ăn" và truy nguyên nguồn gốc sản phẩm, trong khi đó, sản xuất thủy sản vẫn ở quy mô nhỏ, năng lực kiểm tra, kiểm soát của địa phương còn yếu, lại thiếu cơ sở dịch vụ như chợ cá tập trung ở những vùng sản xuất nguyên liệu

Công tác xúc tiến thương mại chưa được quan tâm đúng mức so với Trung Quốc

và Thái Lan Các doanh nghiệp nhìn chung vẫn thiếu kinh nghiệm trong cạnh tranh quốc

tế, nên thường bị động và lúng túng khi có tranh chấp thương mại xảy ra Mặt khác, do khả năng liên kết ngang, dọc trong cộng đồng doanh nghiệp, người sản xuất thủy sản còn yếu, cạnh tranh không lành mạnh, nên dễ nảy sinh nguy cơ xảy ra tranh chấp thương mại quốc tế

Kinh tế tăng trưởng chậm lại ở những thị trường xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam như: Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản sẽ tác động không có lợi cho sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu của Việt Nam Hàng loạt biểu hiện bất lợi đã xuất hiện, như: sức mua giảm, thanh toán quốc tế gặp trở ngại do ngân hàng ở nhiều nước thắt chặt tín dụng, cạnh tranh khốc liệt do nhu cầu không ổn định Ngoài ra, xuất khẩu thuỷ sản cũng đang gặp phải rào cản thương mại liên quan đến tiêu chuẩn chất lượng, quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm

b) Năng lực sản xuất (tăng hoặc giảm) có thể, theo ý chí chủ quan:

+ Về sản lượng:

Do nhu cầu về thủy sản trên thế giới sẽ tiếp tục tăng cao trong thời gian tới, (theo một báo cáo của Nhật Bản, nhu cầu thủy sản của thế giới sẽ đạt khoảng 180-200 triệu tấn vào năm 2015) Việt Nam có thể tăng sản lượng thủy hải sản nuôi trồng và đánh bắt Trong giai đoạn 2011-2015, tổng sản lượng thủy sản của Việt Nam có thể đạt trung bình khoảng 6000 tấn/năm, trong đó sản lượng khai thác chiếm khoảng 30-40%, sản lượng nuôi trồng chiếm khoảng 60-70% Tỷ trọng của sản lượng khai thác sẽ ngày càng giảm xuống do điều kiện khai thác đánh bắt tự nhiên gặp khó khăn, trong khi đó tỷ trọng thủy sản nuôi trồng sẽ tăng lên nhờ những cải tiến về khoa học kỹ thuật, giúp tăng năng suất

và giảm tỷ lệ thủy sản chết do bệnh dịch và môi trường nuôi trồng không đảm bảo

+ Về chất lượng và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật:

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã ban hành Thông tư số BNN&PTNT quy định về điều kiện an toàn vệ sinh thực phẩm trong sản xuất thủy sản; kèm theo hai quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về cơ sở sản xuất thức ăn công nghiệp nuôi trồng thủy sản và cơ sở sản xuất giống thủy sản Theo quy chuẩn về cơ sở sản xuất thức

82/2009/TT-ăn công nghiệp nuôi trồng thủy sản, điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm, vệ sinh thú y

và bảo vệ môi trường, các cơ sở phải được xây dựng nằm trong quy hoạch, có vị trí đảm bảo không bị ngập, đọng nước, cách biệt với khu dân cư và nguồn gây nhiễm Nguyên liệu sản xuất thức ăn phải đảm bảo chất lượng tốt, không lẫn tạp chất lạ, không nhiễm

Trang 28

bẩn đạt chỉ tiêu về dinh dưỡng, vi sinh và độc tố Đối với nguyên liệu nhập khẩu phải

có giấy chứng nhận chất lượng đạt tiêu chuẩn nhập khẩu Về cơ sở sản xuất giống thủy sản, điều kiện an toàn thực phẩm, an toàn sinh học và môi trường phải đạt tiêu chí có vị trí xây dựng có nguồn nước sạch, nguồn điện ổn định, giao thông thuận tiện, tách biệt với khu vực dân cư, xa các nhà máy công nghiệp, hóa chất và chế biến thực phẩm

Nếu thông tư này được triển khai một cách sát sao trong thực tế, chất lượng và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật của thủy sản Việt Nam sẽ được cải thiện rõ nét trong giai đoạn 2011-2020

c) Dự báo về khối lượng sản xuất (chung và từng nhóm hàng, mặt hàng)

Trên cơ sở các phân tích ở trên, tác giả đưa ra một số dự báo về lượng sản xuất thủy sản và kim ngạch xuất khẩu bình quân trong giai đoạn 2011-2015 như sau:

Dự báo khối lượng sản xuất thủy sản giai đoạn 2011-2015

Trung bình giai đoạn 2011-2015 (tấn)

Tỷ trọng trong tổng lượng sản xuất (%)

Nguồn: Ước tính của tác giả (các số liệu được làm tròn)

Để đạt được mức sản lượng và kim ngạch như trên, ngành thủy sản Việt Nam cần

có những cải tiến vượt bậc về năng suất và chất lượng sản phẩm Hầu hết các thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, đặc biệt là EU, Nhật Bản và Hoa Kỳ đều có những yêu

Trang 29

cầu rất khắt khe về chứng nhận vệ sinh an toàn thực phẩm Để đảm bảo nguồn vốn trong quá trình đầu tư cho việc kiểm soát nguyên liệu xuất khẩu đầu vào và sản phẩm đầu, trong điều kiện năng lực tài chính nhìn chung còn ở mức độ trung bình thấp so với khu vực, các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam cần ưu tiên cho các dự án trọng điểm, có sự tính toán kỹ lượng về hiệu quả đầu tư Việc hợp tác, phối hợp về khoa học kỹ thuật giữa các doanh nghiệp cũng là một cách thức để giảm áp lực về vốn trong việc đầu tư cải tiến công nghệ và năng lực quản lí Song song với việc tái cấu trúc quy trình chế biến sản phẩm theo các tiêu chuẩn tiên tiến như ISO, HACCP… Ngoài ra, các doanh nghiệp còn phải luôn sẵn sàng việc minh bạch giấy tờ và các chứng từ đầu vào để giải trình khi có đoàn kiểm tra của các nước yêu cầu

2.1.2 Mặt hàng gạo:

Từ năm 1989 đến nay, nhờ thành công trong sản xuất lúa gạo, Việt Nam đã chuyển từ một quốc gia thiếu lương thực, phải nhập khẩu, chuyển thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ 2 thế giới, sau Thái Lan

Gạo Việt Nam đã được xuất khẩu sang hơn 70 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới Theo thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam, 8 tháng đầu năm 2010, lượng gạo xuất khẩu của nước ta đạt 4,95 triệu tấn, tăng 6,8% và kim ngạch đạt 2,33 tỷ USD, tăng 10% so với cùng kỳ năm 2009 Châu á là thị trường tiêu thụ gạo lớn nhất của Việt Nam, trong đó các nước nhập khẩu nhiều nhất là Philippines, Indonesia, Malaysia, có năm chiếm tới 74% tổng lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam 8 tháng đầu năm 2010, Philippin tiếp tục là thị trường dẫn đầu về nhập khẩu gạo của Việt Nam trong 8 tháng qua với gần 1,5 triệu tấn, giảm 7,5% so với cùng kỳ năm trước Xuất khẩu gạo giảm ở thị trường lớn nhất của Việt Nam nhưng lại tăng mạnh sang các thị trường mới như: Ăngôla: 154 nghìn tấn, tăng 99,7%; Ghana: 123 nghìn tấn, tăng 30%; Trung Quốc: 98,1 nghìn tấn, tăng gấp 13,6 lần, Hồng Kông: 87,1 nghìn tấn, tăng gấp hơn 2 lần so với cùng kỳ năm 2009 Các thị trường tiêu thụ gạo chất lượng cao và rất cao là Nhật Bản, Hoa Kỳ, EU, nhưng thị phần rất nhỏ và chưa có dấu hiệu tăng

Trong các nước xuất khẩu mặt hàng gạo, Thái Lan là một nước có các điều kiện tương đồng gần giống với Việt Nam và là đối thủ cạnh tranh gay gắt của Việt Nam trong xuất khẩu hàng hoá, đặc biệt là mặt hàng gạo sang các thị trường lớn như Mỹ, EU, Trung Quốc và trong việc thu hút vốn FDI từ các công ty Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Hồng Kông, Malaysia, Trung Quốc, Mỹ So sánh các điều kiện sản xuất giữa Việt Nam và Thái Lan sẽ làm rõ hơn các lợi thế và hạn chế trong sản xuất và xuất khẩu gạo của Việt Nam:

Trang 30

Thái Lan vốn là một nước nông nghiệp truyền thống Từ năm 1970, Thái Lan bắt đầu thực hiện chính sách “Hướng ra xuất khẩu” Mỗi năm Thái Lan xuất khẩu hơn 105 tỷ USD với các sản phẩm chính như: gạo, hàng dệt may, giày dép, hải sản, máy tính, thiết bị điện… Trong vòng 3 năm trở lại đây, Thái Lan đã ký kết các hiệp định thương mại tự do FTA với nhiều quốc gia trên thế giới như Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Australia và không ngừng tích cực đàm phán tự do hoá thương mại với các quốc gia khác, trong đó có Hoa Kỳ

Do Thái Lan có chính sách kinh tế đúng đắn và ra nhập sân chơi toàn cầu sớm hơn Việt Nam nên Thái Lan có lợi thế cạnh tranh hơn Việt Nam về chất lượng và thương hiệu hàng hoá, chiến lược nghiên cứu và phát triển thị trường chuyên nghiệp, vốn FDI tích luỹ cao hơn Tuy nhiên, Việt Nam có những lợi thế cạnh tranh so với Thái Lan như: lao động giá rẻ, chi phí sản xuất thấp, trình độ nguồn nhân lực tương đối cao, chất lượng và thương hiệu sản phẩm dần được khẳng định trên thị trường quốc tế, có tình hình chính trị ổn định Mặt khác, sau khi gia nhập WTO 11/01/2007, Việt Nam trở thành một điểm đến hấp dẫn cho các nhà đầu tư, hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam cũng tránh được những cản trở hạn ngạch

a) Năng lực sản xuất theo điều kiện tự nhiên hiện tại:

Năng suất lúa tăng giúp sản lượng lúa của Việt Nam tăng hàng năm Mặc dù diện tích gieo cấy lúa giảm hàng năm từ 7,66 triệu hécta từ năm 2000 xuống còn 7,4 triệu hécta năm 2008, do chuyển sang trồng các loại cây khác và sự thu hẹp lại của đất nông nghiệp, song nhờ tích cực áp dụng tiến bộ khoa học vào trong sản xuất, cải tiến giống lúa, phương thức canh tác, năng suất lúa bình quân tăng từ 4,24 tấn/ha năm 2000 lên 5,2 tấn/ha năm 2008 và thời gian canh tác ngắn ngày (tròng vòng 90-100 ngày), đã làm cho sản lượng lúa của Việt Nam vẫn tăng bình quân mỗi năm gần một triệu tấn, từ 32,5 triệu tấn năm 2000 lên mức 38,6 triệu tấn năm 2008 và 38,9 triệu tấn vào năm 2009 Trong khi đó, do Thái Lan tập trung chủ yếu vào sản xuất gạo có chất lượng cao, với năng suất khoảng 4-5 tấn/hecta

Sản xuất lúa gạo của Việt Nam trong giai đoạn 2000 – 2009

Trang 31

Sản lượng Nghìn

tấn

32.529,5 34.447,2 36.148,9 35.849,5 35.8675 38.600 38.900

Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt nam

Lượng và giá xuất khẩu trung bình mặt hàng gạo

từ năm 2004- giữa năm 2010 (nghìn tấn)

610

0 2000 4000 6000 8000

2004 2005 2006 2007 2008 2009 6T

2010

0 200 400 600 800

L­ î ng (ngµn tÊn) Gi¸ (USD/tÊn)

Nguồn: Dựa trên số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan

b) Năng lực sản xuất (tăng hoặc giảm) có thể, theo ý chí chủ quan:

Giai đoạn 2011-2015, gạo sẽ vẫn là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực cần được ưu tiên của Việt Nam do cơ cấu nguồn lực trong nông nghiệp (quỹ đất, nông nghiệp) cho hoạt động sản xuất lúa gạo ở Việt Nam vẫn rất cao Tuy nhiên, cần có sự điều chỉnh lớn về cơ cấu phẩm cấp của mặt hàng gạo trong giai đoạn 2011-2015 Từ trước đến nay (2010), giá gạo xuất khẩu của Việt Nam thường thấp hơn so với giá gạo xuất khẩu của Thái Lan là do phẩm cấp gạo của nước ta thấp hơn của họ Kinh nghiệm năm 2009-2010 cho thấy việc mở rộng sản xuất các loại lúa năng suất cao nhưng chất lượng thấp ở Đồng bằng Sông Cửu Long đã khiến xuất khẩu gạo của Việt Nam mất đi nhiều cơ hội trong việc tăng thị phần tại các thị trường lớn Trong khi đó, xét cả về môi trường tự nhiên và khả năng nắm bắt, phát triển khoa học kỹ thuật trong sản xuất lúa gạo của nước ta đều đủ điều kiện để nâng cao phẩm cấp gạo Việt Nam, do đó, tác giả đề xuất

cơ cấu sản lượng gạo (theo phẩm cấp) trong giai đoạn 2011-2015 cụ thể trong phần (c)

c) Dự báo về lượng sản xuất trên cơ sở năng lực sản xuất và định hướng chủ quan (chung và từng nhóm hàng, mặt hàng )

(tấn)

Tỷ trọng trong tổng lượng sản xuất (%)

Trang 32

Nhóm gạo chất lượng cao,

Phương án 1: Tỷ giá USD/VND dao động trong khoảng 19.200-19.500USD/VND

Giá xuất khẩu bình quân của nhóm gạo chất lượng cao đạt: 700USD/tấn

Lượng xuất khẩu bình quân của nhóm gạo chất lượng cao đạt: 2 triệu tấn

Giá xuất khẩu bình quân của nhóm gạo chất lượng trung bình đạt: 550USD/tấn Lượng xuất khẩu bình quân của nhóm gạo chất lượng trung bình đạt: 4,5 triệu tấn

Phương án 2: Tỷ giá USD/VND dao động trong khoảng 19.500-20.000USD/VND

Giá xuất khẩu bình quân của nhóm gạo chất lượng cao đạt: 650USD/tấn

Lượng xuất khẩu bình quân của nhóm gạo chất lượng cao đạt khoảng: 2,5 triệu tấn

Giá xuất khẩu bình quân của nhóm gạo chất lượng trung bình đạt: 500USD/tấn Lượng xuất khẩu bình quân của nhóm gạo chất lượng trung bình đạt: 5 triệu tấn

Phương án 1 Phương án 2

Giá (USD)

Lượng (triệu tấn)

Kim ngạch (triệu USD)

Giá (USD)

Lượng (triệu tấn)

Kim ngạch (triệu USD)

Gạo chất lượng cao,

* Giới thiệu chung:

Việt Nam là một trong những nước trồng và xuất khẩu cà phê nhiều nhất trên thế giới Trong nhiều năm qua, cà phê luôn là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam, năm 2009, mặc dù thị trường

Trang 33

xuất khẩu trên thế giới gặp khó khăn vì cuộc khủng hoảng nhưng xuất khẩu cà phê vẫn đạt 1183 ngàn tấn 8 tháng đầu năm 2010, xuất khẩu cà phê cũng đạt trên 855 ngàn tấn, trị giá 1,225 tỷ USD, tăng 0,5% về lượng nhưng giảm 2,8% về kim ngạch so với 8 tháng năm 2009 Ước tính cả năm 2010, cả nước sẽ xuất khẩu được 1150 ngàn tấn cà phê với mức giá trung bình khoảng 1,420-1,430 USD/tấn

Khối lượng và giá xuất khẩu cà phê từ năm 2004 đến nay

L­ î ng (ngµn tÊn) Gi¸ (USD/tÊn)

Nguồn: Dựa trên các số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan

Cà phê Việt Nam được xuất khẩu tới hơn 70 nước trên thế giới Các thị trường nhập khẩu chính của Việt Nam là các nước EU (Đức, Thuỵ Sĩ, Anh, Pháp, Hà Lan, Tây Ban Nha, Italia…), Mỹ và Châu á (Nhật Bản, Singapore, Trung Quốc, Philipin, Malaixia

và Indonesia)

a) Năng lực sản xuất theo điều kiện tự nhiện hiện tại

* Lợi thế trong sản xuất của ngành cà phê Việt Nam:

- Môi trường tự nhiên:

Việt Nam có điều kinn tự nhiên khá thuận lợi thuận lợi đối với việc trồng và sản xuất cà phê Trong đó, hai vùng khí hậu phù hợp là vùng Tây Nguyên và tỉnh Lâm Đồng

có đất đỏ bazan và các tỉnh miền Bắc, với độ cao phù hợp (khoảng 6-800 m), rất thuận lợi đối với việc trồng cây cà phê Việt Nam trồng hai loại cà phê chính: cà phê vối (Robusta)

và cà phê chè (Arabica), trong đó, diện tích cà phê vối chiếm tới hơn 95% tổng diện tích gieo trồng Đây chính là yếu tố quan trọng đưa nước ta trở thành một trong những quốc gia trồng và xuất khẩu cà phê lớn nhất thế giới Điều kiện thời tiết khí hậu Việt Nam cũng thuận lợi cho việc trồng cà phê

- Về mặt địa lý:

Việt Nam có điều kiện địa lý thuận lợi khi tiếp giáp với Trung Quốc- một thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất và nhiều tiềm năng nhất Sự thuận lợi trong giao thông đường biển cũng tạo ra lợi thế không nhỏ cho cà phê Việt Nam khi tham gia vào chuỗi cung vận toàn cầu

Trang 34

- Về văn hoá:

Việt Nam được nhìn nhận là một trong số ít các nước châu á đã có những nét cơ bản của văn hoá cà phê cùng với Hàn Quốc, Nhật Bản và Indonesia; các nước còn lại chủ yếu bị ảnh hưởng bởi văn hoá trà Đây cũng là một lợi thế để tạo nên uy tín, hình ảnh của sản phẩm cà phê trên thị trường thế giới

- Về diện tích, sản lượng sản xuất:

Diện tích cà phê của Việt Nam trong những năm qua đã tăng với tốc độ rất nhanh Đến năm 2010, cả nước đã có trên 500 nghìn hecta cà phê, tăng gấp hơn 3 lần so với năm

1994 Sản lượng cà phê Việt Nam hiện đứng thứ 2 thế giới sau Braxin và nhiều gấp 3 lần

so với quốc gia cùng khu vực Indonesia (sản lượng đứng thứ 4 thế giới) Trong đó riêng

cà phê Robusta Việt Nam hiện đứng đầu thế giới về sản lượng Vụ thu hoạch cà phê 2010/11 ở một số quốc gia bao gồm Braxin, Indonexia, Papua New Guinea và Peru đã bắt đầu Theo ước tính của Tổ chức Cà phê thế giới (ICO), tổng sản lượng cà phê toàn cầu trong niên vụ này sẽ đạt mức 133-135 triệu bao Thu hoạch của Braxin diễn ra thuận lợi nhờ thời tiết nắng và dự báo sản lượng đạt khoảng 50 triệu bao trong khi sản lượng của Colombia dự kiến đạt 10-11 triệu bao Sản lượng tại Ấn Độ và Ethiopia dự tính đạt mức 5 triệu bao.

Sản lượng cà phê của các nước xuất khẩu chủ yếu trên thế giới

ĐVT: nghìn bao (1 bao = 60 kg)

Ước năm

Trang 35

đã tạo cho cà phê Robusta có những nét đặc trưng riêng biệt và chất lượng được cả thế giới công nhận Hơn nữa, cà phê Việt Nam đã đáp ứng được yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm của những thị trường khó tính nhất như Nhật Bản, Hoa Kỳ, EU…

Cà phê Việt Nam có khả năng cạnh tranh cao nhờ mức sản lượng chiếm thị phần khá cao trên thị trường thế giới và chất lượng cà phê, đặc biệt là cà phê Robusta đã được

cả thế giới công nhận Ngay cả nước hiện đang đứng đầu về diện tích, sản lượng và xuất khẩu cà phê trên thế giới là Braxin, ngành cà phê cũng còn nhiều khó khăn vướng mắc làm giảm sản lượng trong những năm qua Cụ thể, đó là những khó khăn trong điều phối

hệ thống vận chuyển cà phê chất lượng tốt tại Braxin đến người tiêu dùng; nguồn cung cà phê tại Braxin nhiều thời điểm không thực sự ổn định; chất lượng Braxin vẫn chưa thực

sự được chứng tỏ; Việc sản xuất nhiều dẫn đến nguồn cung lớn và giá giảm đã cản trở động lực sản xuất cà phê chất lượng cao; hiệu ứng nhà kính có thể làm gia tăng hạn hán ở các vùng sản xuất, ảnh hưởng đến sản lượng cà phê

- Chính sách phát triển ngành cà phê của Việt Nam

Ngành cà phê Việt Nam có nhiều đặc điểm riêng biệt so với các ngành hàng nông lâm nghiệp khác Rất nhiều chính sách áp dụng trong một thời gian dài đối với các mặt hàng gạo, chăn nuôi, rau quả v.v nhưng gần như không được áp dụng đối với ngành hàng cà phê như qui định đầu mối xuất khẩu, hàng rào thuế quan cao, qui định hạn ngạch xuất khẩu Hơn nữa, sự phát triển của ngành hàng cà phê Việt Nam trên thực tế diễn ra chậm hơn so với nhiều mặt hàng khác nên được hưởng những chính sách đã được điều chỉnh sát với thực tế hơn và vì thế thông thoáng hơn như luật đất đai, thuế nhập khẩu phân bón và nhiều vật tư đầu vào khác

Trong những năm 1990, ngành cà phê cũng được lợi và khuyến khích phát triển nhờ các chính sách như cho phép các công ty tư nhân nhập khẩu phân bón (năm 1998), giảm thuế nhập khẩu phân bón xuống dưới 5%, luật doanh nghiệp ra đời đã khuyến khích các trang trại tư nhân tham gia sâu rộng hơn vào hoạt động kinh doanh

Trang 36

Chỉ từ năm 2000 đến nay, các chính sách của nhà nước liên tục được ban hành nhằm khắc phục những ảnh hưởng xấu của cuộc khủng hoảng giá gây ra và định hướng phát triển bền vững ngành cà phê Việt Nam Các chính sách bao gồm:

- Khuyến khích các doanh nghiệp trong nước tăng lượng hàng xuất khẩu thông qua chính sách thưởng xuất khẩu;

- Thu mua tạm trữ cà phê vào các thời điểm giá cà phê thế giới hạ nhằm hạn chế tốc độ giảm giá cà phê trên thị trường trong nước và quốc tế;

- Chính sách tín dụng ưu đãi như khoan nợ, giãn nợ, lãi suất thấp cho các đối tượng tham gia trồng, chế biến và tiêu thụ cà phê;

- Cấp đất, gạo, vải cho người trồng cà phê nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số

- Giảm thuế đất nông nghiệp cho các hộ trồng cà phê

- Cho phép công ty nước ngoài xuất khẩu cà phê

- Giảm 40.000 hecta diện tích trồng cà phê ở những vùng đất không thuận lợi

- Sắp xếp lại tổng công ty cà phê Việt Nam

- Ban hành quy định chất lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam

- Định hướng sản xuất cà phê chất lượng cao và bền vững, thay thế dần phương thức sản xuất cũ

Như vậy có thể thấy rằng trong thời gian 5 – 10 năm tới sẽ có trên 50% diện tích

cà phê của Việt Nam đã hết thời kỳ kinh doanh có hiệu quả phải cưa đốn phục hồi hoặc phải trồng lại Cùng với diện tích cà phê già cỗi tăng lên thì tổng sản lượng cà phê của cả nước sẽ giảm xuống, không còn khả năng duy trì ở con số khoảng một triệu tấn như hiện nay

Mặc dù một số năm gần đây do giá cả tăng cao, số diện tích cà phê trồng mới được tăng lên đáng kể, có năm tới gần 30.000 hecta Nhưng hầu hết những diện tích trồng mới này không nằm trong vùng quy hoạch, chủ yếu là được trồng trên những nơi không thích

Trang 37

hợp như tầng đất nông, độ dốc lớn, nơi thiếu nguồn nước tưới… và không ít trong số đó

là đất rừng Do vậy dù diện tích trồng mới có tăng lên, nhưng được trồng ở những vùng không thích hợp sẽ khó có thể đạt được hiệu quả kinh tế cao do năng suất thấp và chi phí sản xuất tăng cao Số diện tích trồng mới này không những không đủ bù đắp phần sản lượng thiếu hụt của những diện tích cà phê già cỗi phải thanh lý mà còn đe dọa trực tiếp đến tính bền vững của những diện tích cà phê còn lại do môi trường bị hủy hoại, trong đó đặc biệt là nguồn nước tưới

Cùng với việc mở rộng diện tích không theo quy hoạch, ngành cà phê Việt Nam trong những năm qua, đặc biệt là giai đoạn từ 1990 trở đây do có nhiều năm giá cà phê lên cao người trồng cà phê đã loại bỏ cây che bóng, đồng thời tăng cường bón phân hóa học, lượng nước tưới v.v… nhằm mục đích đạt được năng suất tối đa Những biện pháp thâm canh cao độ này không những đã làm cho cây cà phê nhanh chóng bị kiệt sức, sớm già cỗi mà còn làm cho môi trường đất bị ô nhiễm nghiêm trọng, làm phát sinh nhiều loại sâu, bệnh hại, trong đó đặc biệt là nấm bệnh và tuyến trùng hại rễ Thực tế trong những năm qua đã có hàng chục ngàn hecta cà phê bị bệnh không có khả năng phục hồi phải thanh lý và nhiều diện tích cà phê già cỗi sau khi thanh lý cũng không có khả năng trồng lại được cà phê

- Thiếu hụt lao động, chi phí sản xuất ngày một tăng cao

Quá trình canh tác, chăm sóc và thu hoạch cây cà phê đòi hỏi rất nhiều công lao động Để thực hiện các khâu chăm sóc làm cỏ, bón phân, tưới nước, phòng trừ sâu bệnh hại v.v… và thu hoạch trong một năm, trung bình một hecta cà phê cần từ 300 – 400 công lao động, trong đó riêng công thu hái chiếm tới trên 50% Trước đây vào thời kỳ thu hoạch cà phê thường có hàng ngàn lao động từ các tỉnh ven biển miền Trung và đồng bằng sông Cửu Long đến vùng Tây nguyên để tham gia thu hái cà phê, nhưng bắt đầu từ một hai năm trở lại đây số lao động ở các vùng này đến Tây nguyên vào mùa thu hoạch

cà phê đã giảm đi rõ rệt Do mang tính chất thời vụ rất khắt khe, trong khoảng thời gian thu hái rất ngắn chỉ khoảng hai tháng đòi hỏi số công lao động rất lớn chiếm trên 50% số công trong năm đã làm cho tình trạng thiếu hụt lao động càng trở nên trầm trọng, từ đó đẩy giá ngày công lên cao Trước sức ép về thiếu hụt lao động và chi phí ngày công tăng cao, để giảm chi phí công thu hái người nông dân có xu hướng giảm số lần thu hái xuống còn 1- 2 lần dẫn đến chất lượng cà phê bị giảm sút do thu hái quả xanh và thiếu hụt điều kiện phơi xấy

Quá trình công nghiệp hóa không những không thu hút được lực lượng lao động đến từ các vùng khác mà ngay cả một bộ phận lực lượng lao động thanh niên trẻ, khỏe từ các vùng trồng cà phê về các thành phố, khu công nghiệp làm cho lực lượng lao động

Trang 38

trong ngành cà phê ngày càng thiếu hụt trầm trọng Như vậy có thể thấy trước rằng trong những năm tới việc thiếu hụt lao động sẽ là một áp lực nặng nề cho người trồng cà phê và chi phí công lao động sẽ ngày càng chiếm một tỷ lệ lớn trong các khoản chi phí sản xuất Lợi thế cạnh tranh về giá ngày công lao động rẻ trong ngành cà phê Việt Nam so với các nước khác sẽ không còn

Cùng với sự thiếu hụt lao động và chi phí nhân công tăng cao, giá cả vật tư phân bón, xăng dầu… cũng đang có xu hướng ngày càng tăng cao sẽ làm cho chi phí sản xuất tăng lên, lợi nhuận thu được từ sản xuất cà phê sẽ ngày một giảm sút Thực tế trong năm

vụ 2007 – 2008 tuy giá cà phê có tăng cao nhưng do chí phí công lao động và vật tư phân bón v.v… tăng cao nên người trồng cà phê vẫn không thu được nhiều lợi nhuận

- Sản xuất nhỏ lẻ, phân tán

Khoảng 80% diện tích cà phê cả nước do các hộ nông dân trực tiếp quản lý, số diện tích cà phê còn lại thuộc các doanh nghiệp Nhà nước quản lý, nhưng sau khi thực hiện cơ chế giao khoán đến từng người lao động thì số diện tích này thực chất cũng do hộ nông dân quản lý

So với nhiều nước trồng cà phê trên thế giới thì các hộ nông dân trồng cà phê của Việt Nam đều thuộc dạng nhỏ, lẻ, diện tích hẹp trung bình từ 0,5 – 1 hecta và mang tính tương đối độc lập Số hộ gia đình có diện tích lớn trên 5 hecta và sản xuất dưới hình thức trang trại chiếm một tỷ lệ không đang kể Do hình thức tổ chức sản xuất dưới dạng hộ gia đình phân tán, nhỏ lẻ và tương đối độc lập dẫn đến suất đầu tư của từng hộ gia đình nói riêng và toàn ngành cà phê nói chung tăng cao do hộ gia đình nào cũng phải tự mua sắm máy bơm, phương tiện vận chuyển, máy xay xát… đầu tư xây dựng sân phơi, kho tàng… nhưng hiệu quả sử dụng thấp vì chỉ sử dụng trong một khoảng thời gian ngắn trong năm

từ đó làm tăng chí phí sản xuất dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp

Việc tiếp cận với những tiến bộ khoa học công nghệ cũng như các dịch vụ khác như vay vốn tín dụng, ngân hàng… cũng hết sức khó khăn, do diện tích nhỏ, manh mún

và khả năng tài chính hạn hẹp Nguồn tài nguyên bị khai thác cạn kiệt, trong đó đặc biệt

là nguồn nước ngầm và tài nguyên rừng

Cũng do hình thức tổ chức theo kiểu sản xuất, nhỏ lẻ, phân tán và tính độc lập tương đối của các hộ gia đình nên sản phẩm làm ra không những chất lượng không cao

mà còn không ổn định do điều kiện hiểu biết và mức độ đầu tư cho khâu thu hái chế biến khác nhau, từ đó làm cho chất lượng cà phê của toàn ngành bị ảnh hưởng nghiêm trọng Việc xây dựng thương hiệu, chứng chỉ chất lượng hàng hóa khó có thể thực hiện được

- Mối liên kết giữa “4 nhà” còn lỏng lẻo

Trang 39

Trước đây các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê trong nước hầu như chiếm độc quyền trong việc thu mua cà phê trực tiếp từ các hộ gia đình và các doanh nghiệp sản xuất cà phê để xuất khẩu, do vậy mà các doanh nghiệp này chưa thực sự quan tâm đến người sản xuất, mối liên kết giữa người sản xuất với các nhà doanh nghiệp hầu như không tồn tại

Do không có mối liên kết nên một khi giá cà phê lên cao các doanh nghiệp thường gặp khó khăn là khó có thể thu mua được số lượng lớn trong một thời gian ngắn để xuất khẩu Hơn nữa do nguồn tài chính có hạn, phần lớn phải vay ngân hàng nên dễ gặp phải rủi ro khi đến hạn giao hàng mà vẫn chưa thu mua đủ số lượng

Ngược lại khi giá cà phê xuống thấp thì người sản xuất lại gặp rất nhiều khó khăn

do chưa bán được sản phẩm, trong khi đó lại phải cần vốn để đầu tư chăm sóc vườn cây, phải đi vay ngân hàng làm tăng thêm chi phí sản xuất Chất lượng cà phê được quyết định

từ những người sản xuất, từ khâu chọn giống đến chăm sóc thu hái, chế biến, nhưng do hiện nay các doanh nghiệp vẫn còn mua bán theo kiểu “có gì mua nấy”, mức độ chênh lệch giá giữa chất lượng tốt với xấu không đủ kích thích người sản xuất đầu tư nâng cao chất lượng Chính vì vậy mà hàng chục năm qua mặc dù ngành cà phê đã rất cố gắng để nâng cao chất lượng cà phê xuất khẩu, nhưng đều không đạt được hiệu quả mong muốn

do thiếu vắng vai trò của các doanh nghiệp

Sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) nhiều doanh nghiệp nước ngoài đã từng bước trực tiếp tham gia thu mua sản phẩm cà phê từ các hộ nông dân và các doanh nghiệp sản xuất cà phê trong nước Bằng cách thông qua các tổ chức cấp chứng chỉ về chất lượng sản phẩm như UTZ Certified, Rein Fruit Alliance, Organic Coffee, 4C…để thiết lập mối liên kết trực tiếp với người sản xuất Do được hỗ trợ về mặt kỹ thuật, được đảm bảo cam kết với giá mua cao hơn, người nông dân rất dễ sẵn sàng chấp thuận tham gia vào các tổ chức này và từ đó các doanh nghiệp nước ngoài

sẽ kiểm soát được sản lượng, chất lượng cà phê cũng như chi phí sản xuất thực tế của từng vùng Với nguồn tài chính dồi dào, đến một lúc nào đó các doanh nghiệp nước ngoài

sẽ là người quyết định giá mua cà phê của người nông dân

b) Năng lực sản xuất (tăng hoặc giảm) có thể, theo ý chí chủ quan:

Về lượng: Trên cơ sở các điều kiện tự nhiên và nhu cầu trên thế giới đối với cà phê, trong giai đoạn 2011-2015, Việt Nam nên duy trì mức sản lượng khoảng 1-1,1 triệu tấn/năm với khoảng trên 500ha diện tích trồng cà phê, trong đó sản lượng dành cho xuất khẩu khoảng 0,9-1 triệu tấn

Trang 40

Về chất: Trong giai đoạn 2011-2015, để duy trì được chỗ đứng trên thị trường thế giới, Việt Nam nhất thiết phải nâng cao chất lượng cà phê, nâng cao năng lực chế biến, bảo quản

c) Dự báo kim ngạch xuất khẩu bình quân/năm giai đoạn 2011-2015

Phương án 1: Tỷ giá USD/VND dao động trong khoảng 19.200-19.500USD/VND Phương án 2: Tỷ giá USD/VND dao động trong khoảng 19.500-20.000USD/VND

Lượng (triệu tấn)

Giá (ngàn USD/tấn)

Kim ngạch (tỷ USD)

a) Năng lực và lợi thế sản xuất, xuất khẩu theo điều kiện tự nhiên hiện tại:

- Về sản xuất:

+ Về lượng: Các mặt hàng thực phẩm và đồ uống chế biến chủ yếu của Việt Nam gồm có, thủy hải sản chế biến, sữa bột, đường kính, bia, dầu thực vật, nước hoa quả, bánh kẹo và sản phẩm từ ngũ cốc Tuy nhiên đến nay nước ta mới chủ yếu xuất khẩu được một

số loại nước hoa quả nhiệt đới, hoa quả đóng hộp, bánh kẹo và sản phẩm ngũ cốc, thủy hải sản chế biến

Theo số liệu thống kê của Tổng cục thống kê Việt Nam, 7 tháng đầu năm 2010, tổng giá trị sản xuất thủy hải sản chế biến đạt 701,7 ngàn tấn, tăng 13% so với cùng kỳ năm ngoái Sữa bột đạt 29,9 ngàn tấn, tăng 35% so cùng kỳ năm ngoái Dầu thực vật tinh luyện đạt 291,3 ngàn tấn, giảm 2,8% so cùng kỳ Đường kính đạt 584,8 ngàn tấn, giảm 9,9% so với cùng kỳ năm trước

+ Về chất: Theo số liệu của tổng cục Thống kê Việt Nam hiện có gần 6000 doanh nghiệp trong lĩnh vực này, nếu tính cả các cơ sở nhỏ và hộ gia đình thì cả nước có khoảng

8000 đơn vị sản xuất thực phẩm, đồ uống chế biến.Nhưng số đơn vị cung cấp có hệ thống chế biến hiện đại, đạt tiêu chuẩn HACCP chỉ chiếm khoảng 10%

Ngày đăng: 14/02/2014, 21:07

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Dưới đõy là bảng cho ta thấy hiện trạng và tương lai gần của ngành sản xuất nguyờn liệu cho cụng nghiệp chất dẻo của nước ta: - XÁC ĐỊNH NHỮNG MẶT HÀNG CÓ TIỀM NĂNG, LỢI THẾ XUẤT KHẨU TRONG 5 NĂM TỚI VÀ CÁC BIỆN PHÁP NHẰM KHUYẾN KHÍCH , ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU
i đõy là bảng cho ta thấy hiện trạng và tương lai gần của ngành sản xuất nguyờn liệu cho cụng nghiệp chất dẻo của nước ta: (Trang 55)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w