Thực trạng, định hướng và giải pháp đẩy mạnh đầu tư sản xuất hàng xuất khẩu, hàng thay thế nhập khẩu đến năm 2020
Trang 1ĐỀ ÁN
CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HÓA
CỦA VIỆT NAM THỜI KỲ 2011-2020
DỰ THẢO
CHUYÊN ĐỀ
Thực trạng, định hướng và giải pháp đẩy mạnh đầu tư sản xuất hàng
xuất khẩu, hàng thay thế nhập khẩu đến năm 2020
Người thực hiện: PGS.TS Bùi Tất Thắng
Ths Nguyễn Hoàng Hà
CN Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
CN Phan Thị Sông Thương
Đơn vị công tác: Viện Chiến lược Phát triển
Hà Nội, 11 - 2010
Trang 2MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
I QUAN NIỆM CHUNG 3
1 Hàng hóa thay thế nhập khẩu 3
2 Hàng hóa hướng xuất khẩu 3
II HIỆN TRẠNG ĐẦU TƯ NHỮNG NGÀNH HÀNG THAY THẾ NHẬP KHẨU VÀ HƯỚNG VỀ XUẤT KHẨU 4
1 Hàng hóa thay thế nhập khẩu 4
1.1 Thực trạng nhập khẩu 4
1.2 Thực trạng đầu tư hàng hóa thay thế nhập khảu 8
2 Nhóm hàng hóa định hướng xuất khẩu 14
2.1 Thực trạng về xuất khẩu 14
2.2 Thực trạng đầu tư sản xuất hàng xuất khẩu 18
III ĐỊNH HƯỚNG VÀ KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 23
1 Đối với hàng hóa thay thế nhập khẩu 23
1.1 Định hướng đầu tư phát triển sản xuất hàng thay thế nhập khẩu 23
1.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư sản xuất hàng thay thế nhập khẩu 24
2 Đối với hàng hóa hướng xuất khẩu 25
2.1 Định hướng sản xuất hàng hóa hướng xuất khẩu 25
2.2 Giải pháp về đầu tư sản xuất hàng xuất khẩu 27
TÀI LIỆU THAM KHẢO 30
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Trong suốt gần hai mươi tư năm mở cửa, từ năm 1986 cho đến nay (2010), Việt Nam gần như nhập siêu tất cả các năm (trừ năm 1992 có xuất siêu với giá trị không đáng kể), đặc biệt trong 4 năm trở lại đây, mức xuất siêu đã vượt trên mức 10 tỷ USD (trong đó năm 2008 là 18 tỷ USD, gần bằng 20% GDP) Chính điều này là một trong những nguyên nhân khiến không ít nhà kinh
tế nhận định nền kinh tế Việt Nam thiếu đi tính ổn định cao, mặc dù chúng ta đã tăng trưởng liên tục trong suốt 20 năm qua với tốc độ khoảng 6% Nhập siêu trường kỳ đã làm cho cán cân thanh toán (CA) luôn rơi vào trạng thái âm và dự trữ ngoại tệ của Việt Nam đang có chiều hướng giảm dần, thậm chí cạn kiệt một khi dòng FDI và dòng ngoại hối không tăng thêm
Nguyên nhân nào khiến nhập siêu liên tục qua các năm và ở mức cao như vậy? Nếu như tình trạng nhập siêu chỉ diễn ra trong khoảng 10-15 năm thì sẽ không có gì đáng bàn nhưng nếu đó là 24 năm thì câu chuyện sẽ lại là khác Phải chăng nền sản xuất nội địa của Việt Nam chưa được cải thiện nhiều nên phải nhập khẩu lớn các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ từ bên ngoài? Câu trả lời chắc chắn là có Bài nghiên cứu này, không đi sâu tìm hiểu câu trả lời đó mà đi tìm một trong những nguyên nhân lý giải cho biết tại sao nền sản xuất nội địa của chúng ta vẫn chưa tốt – vốn đầu tư và chính sách đầu tư đối với sản xuất hàng thay thế nhập khẩu và xuất khẩu
Thật khó có thể tìm được số liệu để minh chứng cho những nhận định có phần định tính và mang tính chủ quan của nhóm tác giả bởi trên thực tế, hiện nay, chúng ta chưa xác định rõ hàng hóa nào là hàng hóa thay thế nhập khẩu và hàng hóa nào là hàng hóa xuất khẩu Bởi lẽ, một quốc gia mở cửa hội nhập kinh
tế với thế giới thì quốc gia đó chắc chắn có cả hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu
dù quốc gia đó dù có lợi thế tuyệt đối đến mấy (đã được minh chứng bằng cả lý thuyết và thực tiễn) Nhiều hàng hóa quốc gia nhập khẩu có lợi thế hơn là trong nước sản xuất và đó cũng là một nguyên nhân thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa kinh tế mà Việt Nam cũng là “một người chơi” Do vậy, không phải hàng hóa nhập khẩu nào cũng được xác định là hàng hóa cần thay thế nhập khẩu và tương
tự, không phải hàng hóa xuất khẩu nào cũng là hàng hóa mà chúng ta mong muốn xuất khẩu, đặc biệt là nguyên, nhiên liệu thô và hàng sơ cấp, ít chế biến cho giá trị thấp Một đặc điểm nữa, cần lưu ý, những hàng hóa mà ta cần thay thế nhập khẩu và hướng tới xuất khẩu trong thời gian hiện tại sẽ có thể không
Trang 4còn phù hợp trong tương lai Hay nói cách khác, chúng có tính “động” theo thời gian và trong báo cáo này là khoảng thời gian từ nay cho đến năm 2020
Mục tiêu của báo cáo chuyên đề là:
- Xác định được hàng hóa cần thay thế nhập khẩu và cần hướng xuất khẩu trong thời gian tới (đến năm 2020)
- Đánh giá khái quát hiện trạng đầu tư đối với những nhóm ngành sản phẩm hàng hóa đó
- Định hướng và kiến nghị chính sách
Đó cũng chính là những nội dung và khung kết cấu của chuyên đề “Thực
trạng, định hướng và giải pháp đẩy mạnh đầu tư sản xuất hàng xuất khẩu, hàng thay thế nhập khẩu đến năm 2020”
Nhóm tác giả
Trang 5I QUAN NIỆM CHUNG
1 Hàng hóa thay thế nhập khẩu
Hàng hóa thay thế nhập khẩu là những mặt hàng mà một quốc gia có khả năng sản xuất thay thế hàng nhập khẩu dựa trên năng lực huy động và sử dụng nguồn lực trong nước và nước ngoài Theo đó, các quốc gia xác định loại hàng hóa nào cần được đầu tư sản xuất trong nước nhằm hạn chế nhập khẩu và hướng đến cân bằng cán cân thương mại Tùy vào từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế, loại hàng hóa được lựa chọn để đầu tư sản xuất thay thế nhập khẩu cũng thay đổi cho phù hợp với trình độ phát triển của nền kinh tế ấy
Thực tế cho thấy những mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam trong thời gian qua chủ yếu là nhóm hàng nguyên vật liệu, linh kiện, phụ tùng, và máy móc thiết bị phục vụ cho hoạt động sản xuất trong nước Đây là những mặt hàng Việt Nam có khả năng đầu tư sản xuất thay vì phải nhập khẩu từ nước ngoài, nhất là trong thời kỳ thực hiện công nghiệp hóa Do vậy, hàng hóa thay thế nhập khẩu của Việt Nam trong giai đoạn này chủ yếu là những sản phẩm thuộc ngành công nghiệp phụ trợ - ngành cung cấp yếu tố đầu vào cho hoạt động sản xuất hướng đến xuất khẩu Qua đó tăng giá trị gia tăng của sản phẩm trong chuỗi giá trị toàn cầu khi tham gia vào thị trường thế giới
Để xác định nên đầu tư vào loại hàng hóa thay thế nhập khẩu cần phải dựa trên yếu tố cơ bản sau:
- Có giá trị kim ngạch tương đối lớn trong tổng giá trị kim ngạch nhập khẩu quốc gia
- Có khả năng huy động và sử dụng nguồn lực trong nước và nước ngoài
để đầu tư sản xuất bao gồm nguồn vốn, nhân lực, tài nguyên thiên nhiên, khoa học công nghệ, thông tin
- Phù hợp với định hướng chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế
2 Hàng hóa hướng xuất khẩu
Hàng xuất khẩu chủ lực là các mặt hàng chiếm vị trí quyết định trong kim ngạch xuất khẩu do có thị trường ngoài nước và điều kiện sản xuất trong nước thuận lợi Ở Việt Nam, vấn đề xây dựng các mặt hàng chủ lực đó được Nhà nước đề ra từ cuối những năm 1960 Tuy nhiên, chỉ mới gần đây, khi chúng ta tiếp xúc mạnh mẽ với nền kinh tế thị trường của thế giới thì chúng ta mới ý thức được một cách nghiêm túc tầm quan trọng của vấn đề này Mặt hàng chủ lực được hình thành trước hết qua quá trình thâm nhập vào thị trường nước ngoài, qua những cuộc cọ sát, cạnh tranh mãnh liệt trên thị trường thế giới, kéo theo
Trang 6việc tổ chức sản xuất trong nước trên qui mô lớn với chất lượng phù hợp với đòi hỏi của người tiêu dùng, đứng vững và liên tục phát triển
Một mặt hàng xuất khẩu chủ lực ra đời cần có ít nhất 3 yếu tố cơ bản: + Có thị trường tiêu thụ tương đối ổn định và luôn cạnh tranh được trên thị trường đó
+ Có nguồn lực để tổ chức sản xuất với chi phí thấp tương đối so với các sản phẩm cạnh tranh khác để có thể vừa đảm bảo khả năng cạnh tranh vừa mang lại hiệu quả cao hơn
+ Có khối lượng kim ngạch lớn trong tổng khối lượng kim ngạch xuất khẩu của quốc gia
Tuy nhiên, vị trí của mặt hàng xuất khẩu chủ lực không phải là vĩnh viễn
mà trong quá trình phát triển luôn diễn ra những vận động, biến đổi của thị trường, kéo theo nó là sự vận động và biến đổi cơ cấu các sản phẩm làm thay đổi
vị trí của các sản phẩm trên thị trường Do vậy, việc xác định và xây dựng cơ cấu các sản phẩm xuất khẩu chủ lực không chỉ căn cứ vào khả năng sẵn có và nội lực trong nước, vào nhu cầu và khả năng hiện tại trên thị trường thế giới mà còn phải tính đến những xu hướng và diễn biến thị trường trong tương lai
Tóm lại, mặt hàng xuất khẩu chủ lực là những mặt hàng có vị trí đáng kể trong tổng giá trị xuất khẩu của một đất nước và có ảnh hưởng ít nhiều trên thương trường quốc tế Ở một chừng mực nhất, định chúng phản ánh thế lực kinh tế của một nước trong nền kinh tế thị trường
II HIỆN TRẠNG ĐẦU TƯ NHỮNG NGÀNH HÀNG THAY THẾ NHẬP KHẨU VÀ HƯỚNG VỀ XUẤT KHẨU
1 Hàng hóa thay thế nhập khẩu
1.1 Thực trạng nhập khẩu
Việt Nam đang đứng trước thực trạng nhập siêu liên tiếp trong thời gian qua, kim ngạch nhập siêu của hầu hết các năm từ 2009 trở về trước đều bằng hơn 20% kim ngạch xuất khẩu Một số mặt hàng nhập khẩu do không chủ động được nguyên, phụ liệu… nhập khẩu lớn như: dệt may, đồ gỗ, da giày, thiết bị công nghệ cho một số ngành công nghiệp thiết yếu Phần lớn khoảng 90% hàng hóa nhập khẩu của nước ta là từ nhóm hàng tư liệu sản xuất (Bảng 1) Trong đó, nhập khẩu nhóm hàng nguyên, nhiên, vật liệu vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất, trên 60% tổng kim ngạch nhập khẩu giai đoạn 2000-2010
Bảng 1: Giá trị nhập khẩu hàng hóa phân theo nhóm hàng
Trang 7Máy móc, thiết bị,
dụng cụ, phụ tùng 4781.5 30.6 9285.3 25.3 22566.7 28.0 20500.8 29.3 Nguyên, nhiên, vật
liệu 9886.7 63.2 23663.9 64.4 49149.2 60.9 42621.0 60.9
Lương thực 0.3 0.0 3.8 0.0 3.8 0.0 Thực phẩm 301.8 1.9 1100.2 3.0 2190.2 2.7 Hàng y tế 333.8 2.1 527.1 1.4 890.2 1.1 1097.0 1.6 Hàng khác 332.4 2.1 1361.4 3.7 3185.7 3.9
Nguồn: Tổng cục thống kê
Nhập khẩu máy móc thiết bị và nguyên nhiên vật liệu phục vụ cho hoạt động sản xuất trong nước thời gian qua đang có xu hướng tăng (trừ năm 2009 do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu) Nếu chỉ xét trong nhóm hàng
tư liệu sản xuất, hình 1 cho thấy giá trị nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu có xu hướng tăng nhanh hơn so với mặt hàng máy móc thiết bị, dụng cụ, phụ tùng
Hình 1: Giá trị nhập khẩu hàng hóa theo hai nhóm hàng chính
Nguồn: Tổng cục thống kê
Trang 8Việt Nam được đánh giá là có điều kiện để phát triển sản xuất các mặt hàng nguyên nhiên vật liệu phục vụ cho hoạt động sản xuất trong nước hướng đến xuất khẩu Tuy nhiên, kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng kim ngạch nhập khẩu Bảng…sẽ chi tiết một số mặt hàng nhập khẩu chính giai đoạn 2000-2009
Bảng 2: Tình hình nhập khẩu một số hàng hóa chủ yếu của Việt Nam
giai đoạn 2005 -2010
ĐVT: Triệu USD
Sữa và SP sữa 311 321 462 534 515 545 Lúa mỳ 201 225 343 293 345 374 Bột mỳ 9 9 24 26
Dầu mỡ động thực vật 193 257 485 666 495 431 Đờng 22 49 10 36
Thức ăn gia súc và NPL chế
biến 594 737 1.181 1.747 1.765 1.669 NPL thuốc lá 198 161 205 246 321 227.376 Clinker 127 110 119 165 133 67.715 Xăng dầu các loại 5.024 5.97 7.71 10.966 6.255 4.770 Xăng 1.338 1.711 2.261 3.157 1.969 1.119 Dầu Do 2.715 3.188 4.096 6.039
Dầu Fo 564 624 834 1.024
Nhiên liệu bay 239 305 358 617 378 424 Dầu hoả 169 141 162 129 26 13 Hoá chất 865 1.042 1.466 1.776 1.624 1.468 Các SP hoá chất 841 1.007 1.285 1.604
Bột ngọt 1 3 1 5
NPL dợc phẩm 116 133 158 158 168 141 Tân dược 502 548 703 864 1.096 931 Phân bón các loại 641 687 1 1.473 1.414 701 Phân U rê 216 176 200 286 416 174 Phân NPK 41 36 77 99 132 68
Trang 9Phân DAP 165 226 263 379 374 147 Phân SA 90 78 137 184 156 60 Phân bón loại khác 129 171 323 524 278 189 Thuốc trừ sâu và NL 243 305 383 474 488 370 Chất dẻo NL 1.456 1.866 2.507 2.945 2.813 2.714 Cao su 216 416 379 497 409 442
Gỗ và SP gỗ 651 775 1.016 1.098 904 216 Bột giấy 71 81 85 117 Giấy các loại 362 475 600 753 770 637 Giấy in báo 10 0 34 46
Bông 167 219 267 467 392 488 Sợi 340 544 741 775 801 795 Vải 2.399 2.985 3.957 4.458 4.226 3.863 NPL dệt may, da giầy 2.282 1.951 2.152 2.355 * 1.895 Kính xây dựng 9 11 16 37
Sắt thép 2.931 2.936 5.112 6.721 5.360 4.313 Phôi thép 838 750 1.103 1.636 1.032 803 Kim loại thờng khác 797 1.46 1.885 1.785 1.624 1.813 Máy vi tính, SP điện tử 1.706 2.048 2.958 3.714 3.953 3.532 Máy móc thiết bị 5.281 6.628 11.123 13.994 12.673 9.701
ô to nguyên chiếc 285 213 579 1.04 * 683 Dưới 12 13 28 192 375
Trang 10Xe máy nguyên chiếc 66 77 145 139 132 92 Linh kiện và phụ tùng xe máy 476 481 580 625 * 563 Hàng hóa khác 0 0 11.535 15.947 7.625 7.127
Nguồn: Tổng cục hải quan
Dưới tác động của cuộc khủng hoàng tài chính ngày càng lan rộng và sự giảm giá của đồng USD, tình hình sản xuất và xuất khẩu của các nước trên thế giới gặp nhiều khó khăn Nhu cầu nhập khẩu hàng hóa phục vụ cho hoạt động sản xuất hàng xuất khẩu và tiêu dùng trong nước có phần hạn chế Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong năm 2009 chỉ đạt 68,97 tỷ USD, giảm 18,2% so với năm 2008 Bước sang năm 2010, tình hình kinh tế thế giới dần phục hồi, nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của các nước cũng tăng theo Các doanh nghiệp tiếp tục nhập khẩu hàng hóa và nguyên phụ liệu phục vụ cho sản xuất Chỉ tính riêng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong 9 tháng đầu năm 2010 của Việt Nam đã lên tới 58,69 tỷ USD, tăng 23,46% so với cùng kỳ năm 2009 Trong đó, đứng đầu là nhập khẩu máy móc thiết bị, với kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này trong 9 tháng đầu năm 2010 đạt 9,7 tỷ USD, tăng 16% so với cùng kỳ năm 2009 Tiếp đến là vải với kim ngạch nhập khẩu đạt 3,8 tỷ USD, tăng 26,8%; chất dẻo nguyên liệu với kim ngạch nhập khẩu đạt 2,7 tỷ USD tăng 35,6% Đáng chú ý, trong 9 tháng đầu năm 2010, mặt hàng bông nhập khẩu về tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2009, với lượng và kim ngạch bông nhập về đạt 276,4 triệu tấn và 488 triệu USD, tăng tương ứng 26,70% về lượng và 78,70%
về kim ngạch
1.2 Thực trạng đầu tư hàng hóa thay thế nhập khảu
Trên cơ sở đánh giá tình hình nhập khẩu trong thời gian qua, có thể thấy các mặt hàng nguyên nhiên vật liệu và linh kiện, phụ tùng phục vụ cho sản xuất
là những mặt hàng nhập khẩu có giá trị lớn và chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch nhập khẩu Theo kinh nghiệm của các nước và dựa trên các nguồn lực sẵn
có, Việt Nam có khả năng và nên đầu tư và phát triển sản xuất những ngành hàng này để hạn chế nhập khẩu Do vậy, với mong muốn hạn chế nhập siêu, Chính phủ Việt Nam đã và đang từng bước chú trọng đầu tư vào ngành công nghiệp phụ trợ1, một ngành đóng vai trò quan trọng trong việc tăng sức cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp và đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá theo hướng mở rộng và chuyên sâu Sản xuất nguyên phụ liệu, linh kiện, phụ tùng,
1
Công nghiệp phụ trợ (supporting industries) là khái niệm chỉ toàn bộ những sản phẩm công nghiệp có vai trò
hỗ trợ cho việc sản xuất các thành phẩm chính Cụ thể là những linh kiện, phụ liệu, phụ tùng, sản phẩm bao bì, nguyên liệu để sơn, nhuộm, v.v., và cũng có thể bao gồm cả những sản phẩm trung gian, những nguyên liệu sơ chế Sản phẩm công nghiệp phụ trợ thường được sản xuất với quy mô nhỏ, thực hiện bởi các doanh nghiệp nhỏ
và vừa
Trang 11máy móc là những sản phẩm chủ yếu chúng ta đang hướng đến sản xuất để thay thế hàng nhập khẩu Bài viết sẽ tập trung phân tích thực trạng đầu tư và sản xuất ngành cộng nghiệp phụ trợ trước khi đưa ra định hướng và giải pháp cho lĩnh vực này
Công nghiệp phụ trợ được xem là "chìa khóa vàng" thúc đẩy phát triển công nghiệp Thế nhưng, ngành công nghiệp phụ trợ hiện đang yếu thế bởi phần lớn sản phẩm công nghiệp phụ trợ vẫn phải nhập khẩu Theo ước tính của Bộ Công nghiệp, ngành công nghiệp phụ trợ hiện lệ thuộc đến gần 80% vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu Thực trạng này là do các doanh nghiệp Việt Nam không muốn đầu tư nhà xưởng vì lâu thu hồi vốn, họ chỉ thích nhập về bán lại thu lợi nhuận
Trong hơn 20 năm đổi mới vừa qua, Việt Nam đã tiếp cận khá thuận lợi nguồn vốn đầu tư nước ngoài Tuy nhiên các doanh nghiệp Việt Nam đang bỏ lỡ một cơ hội lớn là trong khi các nguồn vốn đầu tư nước ngoài chảy vào mạnh thì khả năng hấp thụ, tiếp thu chuyển giao công nghệ từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lại hạn chế Lý do chính là Việt Nam thiếu vắng hẳn một nền công nghiệp phụ trợ Có quá ít doanh nghiệp Việt Nam đầu tư sản xuất trong ngành công nghiệp phụ trợ, nếu có thì chủ yếu tham gia khâu đóng gói, bao bì Hiện tại, phần lớn các nhà cung cấp linh kiện phụ tùng cho các công ty nước ngoài chủ yếu là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Khoảng cách về tiêu chuẩn chất lượng giữa các nhà doanh nghiệp trong và ngoài nước khá lớn Doanh nghiệp trong nước có quy mô nhỏ và vừa nên khả năng đáp ứng về yêu cầu chất lượng kém
Các doanh nghiệp quốc doanh trong ngành công nghiệp phụ trợ vẫn duy trì phong cách làm ăn tự cung tự cấp Thực tế, Việt Nam có rất ít thông tin liên kết thầu phụ công nghiệp Vì vậy, không tìm kiếm được những thông tin về khả năng giao thầu của doanh nghiệp lớn, nhất là doanh nghiệp nước ngoài và ngược lại, các doanh nghiệp nước ngoài cũng ít thông tin về doanh nghiệp Việt Nam Thêm nữa, các doanh nghiệp nước ngoài thực sự ngần ngại khi phải ký kết hợp đồng thương mại với các nhà thầu phụ Việt Nam do môi trường pháp lý chưa thực sự thuận lợi Vấn đề chính là nỗi lo sợ khi bị phá vỡ hợp đồng Các nhà cung ứng Việt Nam thiếu hiểu biết về các khía cạnh pháp lý của hợp đồng Bên cạnh đó, việc liên kết doanh nghiệp có ý nghĩa về mặt nâng cao khả năng cạnh tranh trong nội bộ ngành, sử dụng lợi thế cạnh tranh của khu vực, khai thác chuỗi giá trị để tạo nên sản phẩm mang tính cạnh tranh cao Ở nhiều nước, việc liên kết này có thể hình thành thông qua việc phát triển các cụm công nghiệp Trên thực tế, ở Việt Nam các cụm công nghiệp được hình thành thiếu quy hoạch
Trang 12tổng thể, chủ yếu để giải quyết vấn đề mặt bằng sản xuất hơn là việc tạo nên chuỗi giá trị thông qua việc liên kết doanh nghiệp, kể cả sử dụng các dịch vụ tài chính và phi tài chính để khai thác lợi thế cạnh tranh
Nhìn chung, Việt Nam đang phải đối mặt với tình trạng nhập siêu thiết bị, máy móc, linh kiện các loại Điều này chứng tỏ các ngành công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu vẫn chủ yếu dựa trên nguyên liệu, linh kiện nhập khẩu Sản phẩm của ngành công nghiệp phụ trợ hiện nay phần lớn là những sản phẩm có chất lượng thấp và giá thành cao Hầu hết các ngành công nghiệp gần như chỉ mới phát triển ở khu vực hạ nguồn (gia công công đoạn cuối của sản phẩm), còn khu vực thượng nguồn (công nghiệp phụ trợ), bao gồm các ngành sản xuất nguyên phụ liệu, linh kiện, phụ tùng còn kém phát triển Hiện tượng này có thể thấy rõ trong một số ngành sản phẩm công nghiệp phụ trợ tiêu biểu sau:
(1) Sản phẩm công nghiệp phụ trợ ngành lắp ráp
Đối với ngành này, hiện mới chỉ có một số công ty và doanh nghiệp có công nghệ và đang sản xuất phụ tùng lắp ráp Tuy nhiên, rất ít doanh nghiệp trong nước có khả năng đáp ứng được yêu cầu (đặc biệt là cho các nhà lắp ráp nước ngoài) do chất lượng kém, độ chính xác thấp, không đảm bảo tiêu chuẩn của đối tác Theo thống kê của Bộ Công nghiệp, hiện nay có trên 230 doanh nghiệp đang sản xuất linh kiện, phụ tùng cung cấp cho các doanh nghiệp lắp ráp
xe máy, trong đó có hơn 80 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với số vốn đạt trên 260 triệu USD, nhưng so sánh thì chất lượng kém hơn nhiều so với của Nhật, Thái Lan, Đài Loan Ngoài ra hệ thống phân phối phụ tùng, chủng loại sản phẩm và dịch vụ sau bán hàng của các doanh nghiệp này cũng còn nhiều hạn chế
(2) Sản phẩm công nghiệp phụ trợ ngành nhựa
Sản phẩm nhựa ngày càng phổ biến ở thị trường nội địa Trong nước, sản phẩm nhựa cũng đã có mặt trong hầu hết các ngành, từ công nghiệp, nông nghiệp đến giao thông vận tải, xây dựng… Những sản phẩm đòi hỏi chất lượng cao như ống dẫn dầu, đồ nhựa cho ôtô hay máy vi tính cũng đã được các doanh nghiệp sản xuất thành công, thay thế hàng nhập khẩu Tuy nhiên, năng lực sản xuất và công nghệ hạn chế Phần lớn các doanh nghiệp nhựa đều phát triển từ các công ty gia đình Nguồn vốn ít, trình độ quản lý hạn chế, thiếu thông tin cập nhật nên những doanh nghiệp này thường đầu tư chủ yếu vào những mặt hàng đơn giản, thâm dụng lao động và có tỷ suất lợi nhuận thấp Do vây, ngành vẫn phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu Hiện mỗi năm ngành nhựa cần 1.5 triệu tấn nguyên phụ liệu, trong khi sản xuất nội địa mới đáp ứng khoảng 300,000 tấn Sản xuất chất dẻo trong nước hiện nay chỉ đáp ứng được khoảng 10
Trang 13– 15% nhu cầu nguyên vật liệu, và ngành nhựa vẫn còn phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu
Hiện có khoảng 200 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực đúc nhựa nhưng chủ yếu là sản xuất hàng tiêu dùng thông thường Ngành nhựa bao bì có
702 doanh nghiệp, chiếm 35.1%, nhựa gia dụng có 794 doanh nghiệp, chiếm 39.7%, trong khi nhựa kỹ thuật chỉ có 272 doanh nghiệp, chiếm 13.6%
Hầu hết các doanh nghiệp chưa chú trọng đầu tư công nghệ cho các sản phẩm nhựa kỹ thuật cao, đặc biệt là các loại bao bì tự hủy, sản phẩm phục vụ nội địa hóa ngành ôtô, xe máy, điện tử, sản phẩm phục vụ sản xuất nông nghiệp và
hạ tầng cấp thoát nước, các sản phẩm nhựa tiêu dùng… Vì thế, ngành nhựa Việt Nam vẫn phải sử dụng sản phẩm chế tạo từ nước ngoài và chưa thể trở thành ngành công nghiệp phụ trợ cho các ngành sản xuất khác
(3) Sản phẩm công nghiệp phụ trợ dệt may
Dệt may là ngành có thị trường lớn, nhưng do chưa có chính sách khuyến khích đầu tư phù hợp nên lĩnh vực công nghiệp phụ trợ vẫn chậm phát triển Hàng năm, ngành may sử dụng không dưới 500 triệu mét vuông vải để làm hàng xuất khẩu, nhưng đến 80% vải cung cấp cho ngành may xuất khẩu lại đến từ nước ngoài Hơn nữa, nguyên phụ liệu may nhập khẩu để làm hàng xuất khẩu được miễn thuế hoàn toàn Trong khi đó, Chính phủ lại chưa có chính sách ưu đãi đủ mạnh để khuyến khích các công ty may sử dụng nguyên phụ liệu trong nước, ngoại trừ một số ưu tiên về phân bổ hạn ngạch xuất khẩu
Vì vậy, ngành vẫn trong tình trạng phụ thuộc rất lớn vào việc nhập khẩu nguyên phụ liệu từ Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan Mặc dù ngành sản xuất nguyên phụ liệu trong nước trong vài năm gần đây có phát triển, song vẫn không đáp ứng được nhu cầu Hiện ngành dệt may nhập khẩu khoảng 80% sợi polyeste
và các phụ kiện như chỉ, da, nút áo, khóa
(4) Sản phẩm công nghiệp phụ trợ ngành xe máy
Ngành xe máy có thể xem là đạt được tỷ lệ nội địa hóa cao nhất trong các ngành Với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tỷ lệ nội địa hóa đạt được xấp xỉ 70-75%, các doanh nghiệp trong nước tỷ lệ đạt có thấp hơn nhưng
so với các ngành khác như ô tô, dệt may…, có thể coi đây là một tiến bộ trong việc phát triển ngành công nghiệp phụ trợ
Sau khi quy định về tỷ lệ nội địa hóa tối thiểu được bãi bỏ, nhiều ý kiến cho rằng doanh nghiệp sẽ tập trung vào lắp ráp mà không đầu tư vào sản xuất linh kiện để nâng cao tỷ lệ nội địa hóa Tuy nhiên, thực tế ngành công nghiệp xe máy Việt Nam đã chứng minh điều ngược lại Quy định tỷ lệ nội địa hóa tối
Trang 14thiểu là 20%, nhưng trên thực tế tỷ lệ nội địa hóa mà đa số doanh nghiệp đạt được cho tới nay thấp nhất là 60% Do thuế suất thuế nhập khẩu linh kiện còn ở mức tương đối cao từ 30-50% nên doanh nghiệp phải tập trung đầu tư chiều sâu, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa để giảm giá thành sản phẩm Dự kiến, tỷ lệ nội địa hóa
sẽ tăng nữa, vì nhiều doanh nghiệp FDI sẵn sàng đầu tư cho cuộc cạnh tranh mới này
Bên cạnh những thành tựu đạt được, ngành công nghiệp phụ trợ xe máy còn tồn tại nhiều vấn đề Sản phẩm của các doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp phụ trợ cho xe máy chỉ là các chi tiết linh kiện sản xuất với kỹ thuật công nghệ đơn giản như: giảm xóc, đồng hồ báo xăng, bộ dây điện, yên xe Chưa có doanh nghiệp nào đầu tư sản xuất các bộ phận chính quan trọng đòi hỏi
kỹ thuật, công nghệ cao như động cơ, hộp…
Về số lượng các nhà đầu tư sản xuất linh kiện nội địa, năm 2003, số doanh nghiệp tham gia lắp ráp và sản xuất phụ tùng là 8 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, ngoài ra có 52 doanh nghiệp sản xuất và lắp ráp xe máy trong nước (trong đó có 31 doanh nghiệp tham gia sản xuất phụ tùng), ngoài ra có khoảng gần 500 cơ sở sản xuất phụ tùng khác Đến năm 2004, Việt Nam có khoảng 230 doanh nghiệp đang sản xuất linh kiện phụ tùng cung cấp cho các doanh nghiệp lắp ráp xe máy, trong đó có hơn 80 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đã tự cung cấp được từ 40-70% nhu cầu phụ tùng lắp ráp xe máy trong nước Dự kiến đến năm 2010 có thể cung cấp 80-90% nhu cầu phụ tùng lắp ráp xe máy
(5) Sản phẩm công nghiệp phụ trợ ngành ô tô
Sau hơn 10 năm xây dựng và phát triển, đến nay Việt Nam có khoảng 70 doanh nghiệp sản xuất linh kiện, phụ tùng cho ngành công nghiệp ô tô trong nước Số doanh nghiệp này thực sự còn quá ít, quy mô còn nhỏ và thậm chí năng lực còn rất yếu
Theo Bộ Công nghiệp, công nghiệp sản xuất phụ tùng ô tô tại Việt Nam là ngành mới nổi nên khó khăn còn nhiều, đặc biệt là trong xu thế hội nhập và cạnh tranh hiện nay Trong hơn 10 năm qua, Nhà nước đã có chủ trương bảo hộ cho các liên doanh sản xuất ô tô, những hãng đưa ra cam kết ban đầu là sẽ nội địa hóa 30 - 40% sau khi đầu tư vào Việt Nam Tuy nhiên trên thực tế, công nghiệp
ô tô đạt được tỷ lệ nội địa hóa thấp nhất trong các ngành, trung bình từ 5 -10%, cao nhất như Honda Việt Nam cũng chỉ đạt 10%, kế tiếp là Toyota Việt Nam, tỷ
lệ nội địa hóa bình quân là 7% giá trị xe Tại Suzuki Việt Nam, Ford Việt Nam
tỷ lệ này dừng lại ở mức 2 - 4%
Trang 15Cũng do linh kiện, phụ tùng sản xuất trong nước khan hiếm nên hầu hết các linh kiện, phụ tùng Việt Nam đang sử dụng phải nhập khẩu trực tiếp từ Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia…Mặc dù nhập khẩu như vậy nhưng không phải điều kiện nhập hàng và chất lượng lúc nào cũng đồng đều và thuận lợi Các hãng xe như Toyota, Ford, Mazda…có nhà máy tại Việt Nam thời gian qua phải nhập khẩu phụ tùng ở nước ngoài về phục vụ cho lắp ráp cho các nhà máy ô tô của họ Hãng nào nhập ít cũng phải từ vài trăm triệu USD mỗi năm Ví dụ như hãng Toyota, năm 2002 đã nhập khẩu linh kiện trị giá 150 triệu USD, năm 2005 nhập đến 460 triệu; hãng Mazda cũng nhập giá trị linh kiện lên tới 280 triệu USD
Trong khi các doanh nghiệp lắp ráp phải đi nhập linh kiện từ nước ngoài
về thì việc sản xuất linh kiện phụ tùng trong nước lại dậm chân tại chỗ Doanh thu cả năm chưa bằng một số lẻ của các hãng nhập về, cụ thể là năm 2005 doanh thu từ sản xuất linh kiện chỉ đạt tới 2,3 triệu USD Một thực tế nữa cần phải thừa nhận là số doanh nghiệp Việt Nam đầu tư sản xuất công nghiệp phụ trợ này là rất ít Hiện nay chủ yếu là các nhà cung ứng linh kiện Nhật Bản đang đầu tư vào Việt Nam, tiếp theo là các doanh nghiệp Đài Loan, cuối cùng mới là các doanh nghiệp Việt Nam Phải thẳng thắn nhìn nhận là các doanh nghiệp Việt Nam còn yếu do thiếu sự phối hợp và liên kết trong quá trình sản xuất, vẫn mạnh ai nấy làm Trong khi đó, đối với hoạt động sản xuất này yêu cầu phải chuyên môn hoá sâu và hợp tác rộng mới đem lại hiệu quả cao nhất Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp do chưa tính toán được mức lợi nhuận so với chi phí đầu tư nên cũng chưa thực sự vào cuộc Tuy nhiên, chính việc ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam còn yếu lại đang là một cơ hội rất lớn cho các nhà sản xuất Việt Nam khai thác mà ở đây chính là các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Tóm lại, với thực trạng ngành công nghiệp phụ trợ như hiện nay, một
ngành then chốt trong chiến lược sản xuất hàng thay thế nhập khẩu, đã cho thấy mức độ đầu tư của chính phủ cũng như các doanh nghiệp chưa phát huy được hiệu quả Mặc dù ngành công nghiệp phụ trợ bước đầu đã sản xuất ra một số mặt hàng thay thế được hàng nhập khẩu như một số loại máy móc thiết bị, phụ tùng (được liệt kê theo Quyết định số 2840/QĐ-BTC ngày 25 tháng 05 năm 2010) nhưng chủ yếu là những sản phẩm giản đơn và chất lượng sản phẩm chưa đáp ứng được yêu cầu đối với các nhà sản xuất sử dụng làm yếu tố đầu vào Vì vậy, Chính phủ cần có sự định hướng và ban hành chính sách đầu tư hiệu quả cho chiến lược sản xuất hàng thay thế nhập khẩu và hướng tới sự thành công của con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trang 162 Nhóm hàng hóa định hướng xuất khẩu
2.1 Thực trạng về xuất khẩu
Kim ngạch xuất khẩu năm 2009 gấp hơn 70 lần thời điểm bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới, tăng từ 789 triệu USD năm 1986 lên khoảng 57 tỷ USD năm 2009 Kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người tăng mạnh, năm 2008 đạt
736 USD, gấp gần 20 lần năm 1990 Từ năm 2000, Việt Nam đó vượt qua mốc được công nhận là nước có nền ngoại thương bình thường, tức là có kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người trên 180 USD Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu trung bình của giai đoạn 2000 - 2008 đạt trên 20%, giảm mạnh ở năm 2009 (-8,9%) và phục hồi ngoạn mục ở năm 2010 (ước 19,1%)
Bảng 3: Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, 2001 - 2009
Dầu thô 3,175.0 3,226.0 3,777.0 5,670.6 7,373.5 8,312.0 8,487.6 10,356.8 6,194.6 Than đá 354.0 669.9 914.8 999.8 1,388.5 1,316.6 Gạo 588.0 726.0 719.0 950.3 1,408.4 1,275.9 1,490.2 2,895.9 2,663.9
Cà phê 385.0 317.0 473.0 642.0 740.3 1,217.2 1,916.7 2,113.8 1,730.6 Cao su 161.0 263.0 352.0 596.0 803.6 1,286.4 1,393.8 1,604.1 1,226.9 Thủy sản 1,816.4 2,021.8 2,199.6 2,408.1 2,732.5 3,358.0 3,763.4 4,510.1 4,251.3
Gỗ và sản phẩm
gỗ 323.7 460.2 608.9 1,101.7 1,561.4 1,943.1 2,384.6 2,767.2 2,597.6 Hàng điện tử,
máy tính và linh
kiện
709.5
605.4
854.7
1,062.4
1,427.4
1,807.8
2,165.2
2,640.3 2,763.0 Dây điện và cáp
điện 181.0 187.7 291.7 389.7 518.2 705.7 882.3 1,009.0 885.1 Giày dép 1,587.4 1,875.2 2,260.5 2,691.6 3,038.8 3,595.9 3,999.5 4,769.9 4,066.8 Hàng dệt may 1,975.4 2,732.0 3,609.1 4,429.8 4,772.4 5,854.8 7,732.0 9,120.5 9,065.6
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực có khối lượng giảm nhưng do giá thế giới tăng mạnh nên về mặt giá trị lại tăng khá so với năm 2007 như: Dầu thô tăng 23,1%, giảm 7,7% khối lượng, than đá tăng 44,3% nhưng lượng giảm 38,3%, cà phê tăng 5,8% nhưng lượng giảm 18,3%, cao su tăng 14,6% nhưng lượng giảm 9,8%, chè tăng 12,2% nhưng lượng giảm 8,8%
* Những thành tựu trong xuất khẩu những ngành hàng chính: