1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số vấn đề lý luận và giải pháp trong xây dựng nông nghiệp bền vững ở VN

67 1,1K 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số vấn đề lý luận và giải pháp trong xây dựng nông nghiệp bền vững ở VN
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Nông nghiệp
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 698,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số vấn đề lý luận và giải pháp trong xây dựng nông nghiệp bền vững ở VN.

Trang 1

LUẬN VĂN:

Một số vấn đề lý luận và giải pháp trong xây dựng nông nghiệp bền

vững ở VN

Trang 2

tự do, bình đẳng và của sự lớn mạnh, phát triển của nhiều nền kinh tế trên thế giới

Trong thế kỷ XX, những thành tựu khoa học được ứng dụng rộng rãi trong quá trình sản xuất, đem lại hiệu quả kinh tế cao, thỏa mãn nhu cầu của con người về vật chất Trong nông nghiệp, máy móc được đưa vào sử dụng, giải phóng sức lao động của con người Các loại phân hóa học được sản xuất với số lượng lớn đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh của nông nghiệp Các hệ thống thủy lợi, giao thông vận tải, công nghiệp chế biến thực phẩm phát triển mạnh mẽ đã rút ngắn thời gian vận chuyển hàng nông sản đến tay người tiêu dùng Khái niệm “nông nghiệp công nghiệp hóa” xuất hiện

Song “nông nghiệp công nghiệp hóa” cũng chứa đựng nhiều vấn đề cần được giải quyết,

mà quan trọng và cấp bách hơn cả là vấn đề môi trường Việc sử dụng quá nhiều phân hóa học, lạm dụng máy móc trong sản xuất, chủ quan trong chỉ đạo và thực hiện các kỹ thuật canh tác đã làm cho ruộng đất ngày càng xấu đi Việc chặt phá rừng lấy gỗ sản xuất, lấy đất trồng cấy gây nên những hậu quả nghiêm trọng, đã không còn là vấn đề của riêng ngành nào, của riêng quốc gia nào mà đã trở thành vấn đề chung của cả thế giới

Vậy phải phát triển nông nghiệp như thế nào để vừa đạt năng suất cao vừa bảo vệ được môi trường là câu hỏi khó giải quyết của các nhà chính sách

Thế giới đã có nhiều hội nghị thượng đỉnh bàn về vấn đề môi trường, phát triển, tương lai

của nhân loại Năm 1992, Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về môi trường và phát triển tại Rio

de Janeiro (Braxin), với 179 nước tham gia Tại Hội nghị này, khái niệm về “phát triển bền

vững” đã được chấp thuận một cách rộng rãi và các quốc gia đã thỏa thuận một chương trình

nghị sự về phát triển bền vững cho thế kỷ XXI (gọi tắt là Agenda 21) Theo đó, phát triển bền vững là khai thác tốt các tài nguyên thiên nhiên để phục vụ lợi ích của thế hệ này mà không gây trở ngại cho các thế hệ mai sau, tất cả các ngành, các lĩnh vực của các nước tham dự đều

cố gắng thực hiện đúng tinh thần của Hội nghị này Và nông nghiệp không phải là ngoai lệ Trở lại vấn đề của Việt Nam, đang trong quá trình công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH), phát triển nông nghiệp bền vững là một vấn đề rất khó khăn Bởi muốn xây dựng

Trang 3

một nền nông nghiệp hiện đại ta cần có nhiều vốn, năng suất phải cao, phải có cơ sở vật chất

kỹ thuật đầy đủ và phải có sự dư thừa lương thực thực phẩm Song trên thực tế, nước ta còn rất nhiều hộ nghèo, cơ sở vật chất kỹ thuật thiếu thốn, chất lượng nông sản còn thấp Không những thế, quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế đang là xu thế của thế giới Việt Nam không thể đứng ngoài xu thế đó Ngày 7-11-2006, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại quốc tế WTO, mở ra nhiều cơ hội phát triển đồng thời cũng chứa đựng rất nhiều khó khăn như sự cạnh tranh công bằng, hàng hóa nước ngoài giá rẻ, chất lượng tốt tràn ngập thị trường… tạo nhiều bất lợi cho sản xuất trong nước, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp

Xây dựng nền nông nghiệp phát triển bền vững, phát huy những ưu điểm và hạn chế tối

đa nhược điểm là xu thế chung của thế giới Trong hoàn cảnh của nước ta đòi hỏi Đảng và Nhà nước cần phải có định hướng và những chính sách phù hợp với yêu cầu phát triển của ngành nông nghiệp

ĐỀ TÀI: “Một số vấn đề lý luận và giải pháp trong xây dựng nông nghiệp bền vững ở

VN”

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ XÂY

DỰNG NỀN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG

I – CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.Bản chất của nền nông nghiệp bền vững:

1.1 Nông nghiệp công nghiệp hóa:

Trang 4

Với những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, ở các nước công nghiệp phát triển đã hình thành và phát triển một nền nông nghiệp mới hẳn so với trước: nền nông nghiệp công nghiệp hóa

Nông nghiệp công nghiệp hóa là nền nông nghiệp của Mỹ, của nhiều nước Tây Âu và Nhật Bản; trình độ công nghiệp hóa nông nghiệp tùy theo trình độ phát triển công nghiệp của từng nước Nông nghiệp được công nghiệp hóa ở trình độ cao nhất là ở Mỹ, nước có công nghiệp phát triển vào loại hàng đầu thế giới Mặc dù trình độ nông nghiệp công nghiệp hóa ở các nước có sự khác nhau nhưng tất cả các nền nông nghiệp công nghiệp hóa đều có một số đặc trưng chính sau đây:

1.1.1 Đặc trưng nổi bật của nông nghiệp công nghiệp hóa là sản xuất lớn Sản xuất lớn

với ưu thế của nó đã đè bẹp sản xuất nhỏ của chế độ phong kiến Sản xuất lớn được thể hiện qua nhiều chỉ tiêu về quy mô của nông trại và tính chất của hàng hóa

Ở Mỹ, trước những năm 50 của thế kỷ XX, quy mô nông trại trung bình là 100-150 acre Đến năm 1959, quy mô này đã là 220-250 acre Số lượng nông trại giảm dần theo quy luật các nông trại lớn sẽ thôn tính dần các nông trại bé hơn

Bảng 1: Số nông trại của Mỹ qua các thời kỳ

Trang 5

Pháp là một nước có nền nông nghiệp lâu đời, đất hoang hóa không nhiều, nhưng trang trại đã được mở rộng không ngừng Đầu năm 1970 có 1,5 triệu nông trại và có nhà nông nghiệp hữu cơ đã tính toán rằng cứ 10 phút thì mất đi một nông trại, nên đến năm 1985 chỉ còn 25 vạn nông trại Dân số nông nghiệp của Pháp cũng giảm từ 3 triệu xuống 60-70 vạn Đan Mạch là một nước nhỏ ở Bắc Âu, sau năm 1945 chỉ có khoảng 3,1 triệu ha đất nông nghiệp Năm 1950 có 20 vạn nông trại lớn với 20 vạn công nhân nông nghiệp Năm 1983, đất nông nghiệp chỉ còn 2,8 triệu ha với ngót 10 vạn nông trại và chỉ còn 2,4 vạn công nhân nông nghiệp Hiện nay, số nông trại chuyên ở Đan Mạch còn ít: có 25% nông trại lợn và bò (năm

1950 trên 80%), 28% nông trại trồng ngũ cốc, củ cải đường, cây công nghiệp, khoai tây, cải dầu, còn các nông trại khác kinh doanh hỗn hợp Đan Mạch sản xuất đủ cho nhu cầu nông sản trong nước và dành tới 2/3 nông sản để sản khẩu

Quy mô nông trại chỉ là một chỉ tiêu của sản xuất lớn, chỉ tiêu quan trọng hơn là tính chất hàng hóa của sản phẩm Có những trường hợp quy mô của trang trại nhỏ, chiếm ít diện tích nhưng lại là cơ sở kinh doanh rất lớn do sản phẩm có tính hàng hóa cao

Trong nền nông nghiệp công nghiệp hóa, chủ trại sản xuất ra để bán trong nước hay xuất khẩu, chứ không phải để tự túc

1.1.2.Nông nghiệp công nghiệp hóa sử dụng nhiều máy móc và vật tư nông nghiệp Vào

đầu thế kỷ XX, khi nghiên cứu về nông nghiệp tư bản chủ nghĩa ở Mỹ và một số nước châu

Âu Lênin đã phát hiện: những số liệu về chi phí, phân bón và máy móc là biểu hiện chính xác nhất của trình độ thâm canh trong nông nghiệp Đến nay, tình hình nông nghiệp công nghiệp hóa đã diễn ra đúng quy luật ấy Viện sĩ Nazarenkô (Liên Xô) đã kiểm điểm tình hình

sử dụng phân khoáng và máy móc trong nông nghiệp đến đầu những năm 80 như sau: 1000

ha đất ở Mỹ có 33 máy kéo, Anh có 61, Pháp có 84, Italia có 105, Cộng hòa Liên bang Đức

có 194, Mỹ dành 600 triệu sức ngựa cho nông nghiệp, bình quân một công nhân nông nghiệp

ở nước này có 100 sức ngựa Về phân khoáng tính theo NPK, ở Mỹ từ 42 kg năm 1960 cho một hécta đã tăng lên 120 kg/ha năm 1981, Anh và Pháp đạt 300 kg/ha, Cộng hòa Liên bang Đức 500 kg/ha, Bỉ 600 kg/ha và Hà Lan đạt hơn 800 kg/ha

Bảng 2: Số lượng máy móc sử dụng trong nông nghiệp

của Niu Dilân(chiếc)

Trang 6

đã so sánh chi phí về chuồng trại, thiết bị để nuôi một trại bò sữa ở Đức bằng chi phí để xây dựng một căn hộ đầy đủ tiện nghi cho một người Cả trồng trọt và chăn nuôi đều cần những giống tốt đã sản xuất ở những cơ sở chuyên môn hóa H.D Virieu (Pháp) tính toán rằng muốn nông nghiệp công nghiệp hóa thì vốn cần cho một lao động nông nghiệp là 100.000 frăng trong khi vốn cần cho một lao động ngành dệt, cơ khí, công nghiệp chế biến chỉ là 20.000-30.000 frăng và trong ngành dầu khí là 50.000 frăng (tính theo giá giữa những năm 70 ở Pháp)

1.1.3.Năng suất cây trồng và chăn nuôi gia súc cao Các nước công nghiệp phát triển có

nền nông nghiệp hóa đều đạt năng suất cây trồng và chăn nuôi gia súc cao hơn nhiều so với mức bình quân của thế giới

Đáng chú ý là nhiều loài cây có nguồn gốc nhiệt đới hay á nhiệt đới lại cho năng suất cao nhất ở các nước ôn đới có nền nông nghiệp công nghiệp hóa Lúa nước châu Á, nguồn gốc ở Đông Nam Á hiện chỉ có năng suất 25-30 tạ/ha, lại cho năng suất cao nhất thế giới là 80 tạ/ha

ở Australia trên diện tích 2 vạn ha hay ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ đều đã cho năng suất

55-60 tạ/ha trên diện tích hàng triệu hécta Lúa mì nguồn gốc ở Trung Đông với năng suất khoảng 20-25 tạ/ha hiện nay đã có năng suất trên duới 50 tạ/ha ở Pháp, Anh, Hà Lan và năm

1984 đã đạt 64 tạ/ha ở Pháp Khoai tây nguồn gốc ở vùng núi Andes (Nam Mỹ) cho năng suất cao nhất thế giới ở Mỹ và ở Hà Lan (28-30 tấn củ tươi/ha) Khoai lang nguồn gốc ở Trung Mỹ cho năng suất cao nhất ở Nhật Bản (22 tấn củ tươi/ha) Ngô nguồn gốc ở Mexico cho năng suất cao nhất ở Mỹ (73 tạ hạt/ha) và ở Pháp trên 60 tạ/ha Đỗ tương nguồn gốc ở Trung Quốc cho năng suất cao nhất ở Mỹ (20 tạ/ha) Đối với các loài cốc khác như: mạch,

Trang 7

1.1.4.Năng suất lao động sống cao Với việc được trang bị đầy đủ máy móc và năng

lượng, nông nghiệp công nghiệp hóa đã đạt năng suất lao động cao, hay rất cao

Năm 1954, René Dumont đã tiến hành điều tra năng suất lao động nông nghiệp ở một số vùng trên thế giới Kết quả điều tra cho thấy, một ngày công ở châu Á hay châu Phi sản xuất được từ 7-20kg hạt cốc, ở vùng Trung Âu 40-50kg hạt cốc, ở vùng Tây nước Pháp 120kg hạt cốc và ở vành đai ngô ở Mỹ 2000-4000 kg

Năng suất lao động sống cao nhất là ở Mỹ Chỉ cần 10-15 phút để sản xuất 1 tạ gạo, 15-20 phút để sản xuất 1 tạ ngô, 3 giờ để sản xuất 1 tạ thịt lợn, 2 giờ để sản xuất 1 tạ thịt bò, 1,5 giờ

để sản xuất 1 tạ gà giò Năng suất lao động cao trong nông nghiệp còn thể hiện ở tỷ lệ người tham gia lao động nông nghiệp trong nước Trước đây, tỷ lệ này ở Mỹ là 3%, nay rút xuống còn 2% Tỷ lệ lao động nông nghiệp ở Đan Mạch cũng chỉ còn 6%, ở Pháp là 5% Số lượng lao động nông nghiêp có xu thế giảm dần ở các nước có nông nghiệp công nghiệp hóa Ngay

Trang 8

1.1.5.Nông nghiệp công nghiệp hóa tiêu tốn nhiều năng lượng Máy móc, phân khoáng,

thuốc trừ sâu bệnh… đều được sản xuất trong các nhà máy và các nhà máy này đều cần năng lượng để vận hành, chủ yếu là năng lượng của than đá, dầu khí (năng lượng hóa thạch) Người ta có thể quy các “đầu vào” và “đầu ra” của nông nghiệp thành đơn vị năng lượng

để xem xét tỷ lệ giữa đầu ra với đầu vào Đơn vị năng lượng có thể biểu hiện bằng đơn vị nhiệt hay calo, hoặc bằng đơn vị công là jun Xem xét như vậy sẽ thấy rõ nhược điểm của nông nghiệp công nghiệp hóa đã sử dụng quá nhiều năng lượng, và khi sử dụng quá nhiều năng lượng sẽ không có lãi hay lãi quá thấp Theo Sozinov tính toán: nông nghiệp Pháp phải tiêu thụ tới 13,8 triệu tấn nhiên liệu quy ước để sản xuất được 12,5 triệu tấn nhiên liệu quy ước trong lương thực, thực phẩm Và muốn sản xuất 1 calo lương thực, thực phẩm đòi hỏi phải có 1,1 calo năng lượng hóa thạch

Evans so sánh năng lượng sản xuất ra được với năng lượng đầu tư vào, với các kiểu canh tác khác nhau: hái lượm cho một số sản phẩm bằng 40-50 lần năng lượng đầu tư, canh tác thủ công bằng 16-17 lần, canh tác với gia súc bằng 10 lần, và canh tác với cơ giới chỉ bằng 0,2-0,3 lần (năm 1975) Steiphart tính số calo cần thiết để sản xuất ra 1 calo lương thực, thực phẩm bằng săn bắn hái lượm cần 0,1-0,2 calo, làm rẫy cần 0,03-0,06 calo; trồng lúa quảng canh cần 0,02-0,01 calo, trồng lúa thâm canh cần 0,1-0,2 calo, trồng ngô thâm canh cần 0,5

Trang 9

-Trồng lúa kiểu trung gian (Philippin) có các số liệu tương ứng là 27 tạ thóc/ha; năng lượng đầu tư vào là 6.385 jun x 106 và tỷ lệ năng lượng sản xuất ra so với đầu tư vào là 6,2 lần

-Trồng lúa cổ truyền (Philippin), các số liệu tương ứng là 12,5 tạ/ha Năng lượng đầu tư vào là 173 jun x 106 và tỷ lệ năng lượng sản xuất ra so với đầu tư vào là 106,9 lần

Như vậy, trồng lúa cổ truyền có lãi nhất, còn trồng lúa kiểu hiện đại công nghiệp hóa không những lãng phí năng lượng nhất mà còn làm cạn kiệt dần các nguồn năng lượng hóa thạch của trái đất

1.1.6.Hệ thống trồng trọt không đất (hệ thống hydroponic) Từ lâu các phòng nghiên cứu

đã dùng những dung dịch các chất dinh dưỡng được pha chế với thành phần nhất định để trồng cây nhằm nghiên cứu về nhiều mặt, nhất là về sinh lý thực vật và đã có nhiều hiểu biết

về dinh dưỡng khoáng của cây trồng Áp dụng kinh nghiệm này vào sản xuất, các nhà khoa học đã xây dựng được phương pháp trồng cây không đất mà chỉ dùng dung dịch dinh dưỡng Hiện nay, phương pháp này đã được áp dụng ở nhiều nước có nông nghiệp công nghiệp hóa

để sản xuất hoa và rau trong các nhà kính, nhất là vào khi thời tiết bên ngoài không thích hợp (mùa đông)

Phương pháp trồng cây trong dung dịch dinh dưỡng đã phát triển ở nhiều nước Tây Âu và

Mỹ Và từ những năm 70, hệ thống trồng cây trong dung dịch dinh dưỡng đã được nâng cao thêm với hiểu biết sâu hơn về dinh dưỡng cây trồng với kỹ thuật vi điện tử

Hệ thống trồng cây trong dung dịch dinh dưỡng dựa vào hai phương pháp khác nhau: -Phương pháp thứ nhất sử dụng một số chất bám cho cây (mỗi cây từ 3-10 kg chất bám) Chất bám có thể là những mẩu vụn của vỏ cây, rơm rạ băm nhỏ, hoặc một loại hỗn hợp đất với những chất khác như len, khoáng chất, hay các sản phẩm như péclit…

Các chất bám được đựng trong bồn, chậu, túi ni-lông cách biệt với nền đất trong nhà kính

Do chất bám ít, không thể thường xuyên cung cấp đủ nước và chất dinh dưỡng cho cây, nên

Trang 10

người ta đã dùng một loại bình, hay bể để chứa dung dịch dinh dưỡng và cho chảy nhỏ giọt xuống từng cây một Phương pháp này vì vậy còn được gọi là phương pháp tưới nhỏ giọt Phương pháp tưới nhỏ giọt cũng đã được áp dụng ở nhiều nước có nông nghiệp công nghiệp hóa Ở Đức có nơi đã dùng phân hữu cơ làm chất bám, vừa kinh tế hơn vừa để đạt sản lượng cao hơn

-Phương pháp thứ hai không sử dụng chất bám mà toàn bộ rễ cây được ngâm trong dung dịch dinh dưỡng có nhiệt độ nhất định và thường xuyên lưu thông Dung dịch dinh dưỡng cho chảy trong một rãnh chứa làm bằng kim loại không gỉ hay chất dẻo Rãnh rộng khoảng 30cm, phía trên che kín, không cho ánh sáng lọt xuống, có độ dốc 1% cho dung dịch dinh dưỡng chảy đều Toàn bộ rễ cây được đặt trong rãnh và sẽ hút chất dinh dưỡng trong dung dịch dinh dưỡng chảy qua Dung dịch dinh dưỡng chưa được hấp thụ hết sẽ chảy vào một bình đặt ở đầu thấp của rãnh, rồi sẽ được bổ sung thêm nước, các chất dinh dưỡng điều chỉnh độ pH như lúc ban đầu, rồi lại đưa vào đầu rãnh trên sau khi đã làm nóng lên 250 -300 C

và lại sẽ chảy qua rãnh Phương pháp thứ hai này tiết kiệm chất dinh dưỡng nhưng đòi hỏi những thiết bị cần thiết Với thiết bị vi điện tử, người ta điều chỉnh chính xác nhiệt độ của dung dịch dinh dưỡng, thành phần dinh dưỡng của dung dịch, độ pH và các điều kiên: không khí, ánh sáng, độ ẩm, khí CO2 trong nhà kính

Bằng cách sử dụng dung dịch dinh dưỡng theo phương pháp thứ nhất hay phương pháp thứ hai, nhiều cơ sở ở Đức đã đạt sản lượng cà chua từ 180 tấn - 200 tấn/ha/năm và ngành sản xuất hoa Hà Lan đã có lãi lớn với hoa xuất khẩu trên thị trường thế giới

Ở Nhật Bản lại có kiểu trồng cây trong dung dịch dinh dưỡng kiểu Japonica Hãng KYOWA ở Nhật Bản đã hoàn thiện hệ thống này với những công thức cần thiết được giữ bí mật, và được coi là một cuộc cách mạng trong kỹ thuật trồng cây trong dung dịch dinh dưỡng Tất cả đã được trồng trong nhà kính với nhiệt độ hầu như không thay đổi, phù hợp với mỗi loài cây, theo hướng dẫn của máy tính điện tử với những dung dịch dinh dưỡng được điều chỉnh cùng với thiết bị điện tử Những kết quả của phương pháp japoniaca đã được trình bày ở triển lãm EXPO 85 và đã làm mọi người đến xem ngạc nhiên:

-Một cây cà chua trong thời gian triển lãm đã phát triển thành một cây cao tới 5m, có tán rộng 10m2 và cho 7 tạ quả, có quả nặng 1kg

Trang 11

có thể đặt trong điều kiện khác nhau từ sa mạc Gôbi ở châu Á đến sa mạc Sahara ở châu Phi Nhưng từ triển lãm đến cuộc sống còn là một quãng đường dài Thực tiễn cho thấy chất lượng nông sản của nông nghiệp công nghiệp hóa thường không cao Các sản phẩm chăn nuôi, cách đây mấy năm, ở Anh vốn là một nước chăn nuôi bò đã thấy xuất hiện ở đàn bò bệnh bò điên, bệnh Creuzfeld Jacob vì bò đã được nuôi theo kiểu công nghiệp hóa và phải ăn thức ăn tổng hợp mà thành phần chế biến có các loài cừu thải loại mà cừu đã bị nhiễm bệnh này Bệnh bò điên đã gây tác hại nghiêm trọng đến ngành chăn nuôi bò ở Anh và Chính phủ Anh đã phải ra lệnh giết hàng chục vạn bò bệnh Ở Pari, một con gà do nông dân nuôi đắt gấp đôi một con gà công nghiệp Ngay trên thị trường Hà Nội gà ri bán với giá 50.000 đồng một kilôgam gà sống trong khi gà công nghiệp chỉ bán được 25.000-26.000 đồng một kilôgam gà sống Cũng có sự chênh lệch giữa giá trứng gà ở nông thôn đem bán và trứng gà công nghiệp (1.500 đồng/trứng so với dưới 1.000 đồng/trứng)…

1.2.Nông nghiệp hữu cơ:

Trước khuynh hướng nông nghiệp công nghiệp hóa ngày càng tăng, từ cuối những năm

60 thế kỷ XX ở các nước nông nghiệp phát triển đã xuất hiện những trường phái nông nghiệp mới: nông nghiệp sinh học ở Tây Âu và Mỹ

Từ những năm 60 do những kết quả không tốt của nông nghiệp công nghiệp hóa và những nông sản chất lượng kém mà nền nông nghiệp này tạo ra, nên nhiều khuynh hướng sinh học chống lại nông nghiệp công nghiệp hóa đã nảy sinh ở ngay chính những nước phát triển như:

-Nông nghiệp sinh học ở Anh và Mỹ

-Nông nghiệp sinh động học ở Đức

-Nông nghiệp hữu cơ ở Thụy Sĩ

Trang 12

-Nông nghiệp sinh học ở Pháp

Có những biến dạng của nông nghiệp sinh học tùy theo kỹ thuật được đề nghị sử dụng, nhưng tất cả đều thống nhất ở điểm chống nông nghiệp công nghiệp hóa

Đến năm 80 của thế kỷ XX, tất cả các khuynh hướng nông nghiệp sinh học đều được gọi với tên chung là nông nghiệp hữu cơ, để đối lập với nông nghiệp công nghiệp hóa (còn được hiểu là nông nghiệp hóa học)

Các trường phái nông nghiệp mới đều phê phán những mặt tiêu cực của nông nghiệp hóa Các ý kiến này được trình bày rõ trong cuốn sách của Aubert (Pháp): “Công nghiệp hóa nông nghiệp, hạnh phúc hay sự tự sát của loài người (Pari -1970) Cuốn sách bắt đầu với câu dẫn của Mahatma Gandhi: “Không phải mọi người lầm, mà sai lầm trở thành chân lý” và tuyên

bố thẳng thừng “nông nghiệp công nghiệp hóa chỉ là một sự ngu xuẩn” Sai lầm của nông nghiệp công nghiệp hóa là đã coi những cây trồng và gia súc là những cái máy để sản xuất các nông sản và đã đối xử với chúng như những cái máy, không coi trọng các quy luật sinh học bình thường của chúng Gà muốn ăn phải mổ các hạt thóc và đi tìm bới sâu bọ chứ không thể đứng yên một chỗ rồi nhồi nhét thức ăn tổng hợp, mặc dù được chế biến có thể là khoa học, nhưng chưa hẳn đã đáp ứng yêu cầu của cơ thể Năm 1930, phải mất 4,5 tháng và 5kg hạt cốc mới nuôi được một con gà 1,5kg, nay chỉ cần 49 ngày và 2kg thức ăn tổng hợp Năm 1930, phải cần một công nhân để nuôi một vạn con gà thì nay một công nhân có thể nuôi được vài chục vạn con Nhưng những con gà đó có chất lượng thịt không giống nhau Còn cây trồng phải sinh sống tự nhiên trên đất, hút thức ăn từ đất với hoạt động của nhiều loại vi sinh vật, nó sẽ khỏe mạnh và chống chịu được với sâu bệnh Sâu bệnh cũng không nhiều khi trồng nhiều loại cây, có chế độ luân canh hợp lý, và bảo vệ môi trường trồng trọt với sự có mặt của thiên địch hại sâu bệnh cây trồng Cây trồng sử dụng phân khoáng ngày càng tăng để có năng suất ngày càng cao, nhưng sức đề kháng của cơ thể yếu, và chất lượng nông sản giảm Do đó, thuốc trừ sâu bệnh đã phải dùng ngày càng nhiều

Đất là một “vật sống” có các quy luật của nó, nhưng nông nghiệp công nghiệp hóa coi thường hoạt động sinh học của đất, đã bón quá nhiều phân hóa học dễ tiêu nhằm tăng sản lượng cây trồng nên đã làm cho nhiều loại đất chai cứng, mất hay giảm sự sống Việc rắc thuốc trừ cỏ làm chết cỏ, đồng thời cũng làm chết nhiều loài vi sinh vật và động vật nhỏ có ích trong đất trồng Dùng cày to, nặng và máy kéo lớn (có khi tới 300-500 mã lực) làm cho

Trang 13

đất mất cấu tượng tốt cần cho hoạt động tốt của rễ cây và vi sinh vật trong đất Và để đối phó lại, lại bón phân hóa học nhiều hơn

Như vậy là bắt đầu với phân khoáng, thuốc trừ sâu bệnh, trừ cỏ, mà khối lượng sử dụng

có xu hướng tăng ở tất cả các nước phát triển, sau đó là sự tràn ngập của hóa học vào nông nghiệp công nghiệp hóa Đến lúc, khi có thể thì hóa học sẽ thay thế người, thay thế máy, thay thế cây trồng hay gia súc:

-Cày hóa học: thay việc cày đất bằng phun một chất trừ cỏ, tiện hơn và rẻ hơn

-Trừ cỏ bằng thuốc hóa học, chỉ diệt cỏ và không động đến cây

-Tỉa bớt quả đi, để có quả to bằng phun thuốc hóa học

-Làm cho cây cối lùn xuống để chống đổ bằng chất hóa học CCC (Cheloro Cheline) -Hãm sự phát triển cành cây của các cây ăn quả để có nhiều quả bằng phun thuốc hóa học

-Làm rung lá bông bằng chất hóa học để dễ hái bông

-Dùng chất hóa học để cải tạo cấu tượng đất, không cần mùn mà dùng các chất nhân tạo như polyvinyl… Có thể kéo dài thêm với các chất kích thích sinh trưởng cho cây trồng hay gia súc lớn nhanh với các nguyên tố, các chất vitamin và axit amin tổng hợp Đỉnh cao của hóa học trong nông nghiệp công nghiệp hóa là trồng cây trong dung dịch dinh dưỡng để cho cây hút thẳng dung dịch và có thức ăn cần thiết, không cần sự khoáng hóa và hoạt động vi sinh vật học của đất

Nhiều sản phẩm của nông nghiệp công nghiệp hóa có hại cho sức khỏe con người do hàm lượng chất hóa học trong đó quá cao

Nông nghiệp công nghiệp hóa là một nền nông nghiệp chỉ nhằm sản xuất chạy theo số lượng lớn chứ không sản xuất ra sản phẩm chất lượng tốt, không phục vụ sức khỏe con người

Nông nghiệp sinh học xuất phát từ luận điểm: hoạt động nông nghiệp vận dụng các cơ thể sinh vật để sản xuất ra lương thực, thực phẩm và các thứ cần dung khác Sinh vật sinh trưởng

và phát triển theo những quy luật sinh học mà khoa học không ngừng tìm hiểu nhưng đến nay vẫn chưa hiểu được bao nhiêu, nên khi hành động, con người phải cân nhắc, phải có thái

độ phù hợp với thiên nhiên, với sự sống

Trang 14

Toàn bộ lý luận và kỹ thuật cụ thể của nông nghiệp sinh học dựa vào phương châm: coi trọng các quy luật sống, tạo điều kiện cho các quy luật này phát huy tác dụng, không biến cây trồng hay gia súc thành các cỗ máy, bắt sinh sống trong điều kiện nhân tạo ngày càng cao Ngoài các yếu tố vũ trụ (bức xạ mặt trời) và các yếu tố thời tiết (mưa, nắng, gió, các mùa…), đối tượng chủ yếu của sản xuất nông nghiệp là đất, cây trồng và gia súc Đối với cả

ba đối tượng này, nông nghiệp sinh học đều coi trọng tính chất sống của chúng và chủ trương bằng mọi cách tăng cường hoạt động của chúng

Với tài liệu đã tích lũy trong thổ nhưỡng học, nông hóa học, đất được coi là vật chất sống đối với bất cứ nhà nông học nào Đất có nhiều loại vi sinh vật, vi sinh vật hảo khí, kỵ khí, phần lớn là hảo khí; có thể có từ 1 đến 10 tỷ vi sinh vật trong một gam đất (sinh khối tới 500kg/ha) Các vi sinh vật có những chức năng khác nhau: khoáng hóa chất hữu cơ, cố định đạm, cộng sinh với cây họ đậu có nốt sần, công phá một số chất vô cơ, tạo ra một số chất kháng sinh Đất còn có nhiều loại nấm có những chức năng khác nhau: công phá chất hữu cơ

từ đơn giản đến phức tạp, cộng sinh với rễ một số loại cây lớn (họ thông, họ lan) Đáng chú ý

là trong bộ rễ mỗi loại cây trồng đều có hoạt động của vi sinh vật đặc hiệu với mỗi loài cây,

có ích cho cây và cho bản thân vi sinh vật Vùng gần rễ thường có hoạt động vi sinh vật mạnh, có khi rễ như bị bao bọc bởi một mạng vi sinh vật và ở đây có hiệu quả bộ rễ (rhizosphère) Ngoài ra, còn có các động vật nhỏ, côn trùng hoạt động có ích về mặt lý học, hóa học, sinh học đất, đặc biệt là giun đất

Đất tốt có hoạt động vi sinh vật tốt và hoạt động nông nghiệp phải tăng dần được tiềm năng sinh học của đất

Thornton (1940) và Virtanen (Giải thưởng Nobel) cho biết sau nhiều thí nghiệm là phân đạm cản trở việc cố định đạm của Azôtbacter hay của Rhizobiam, cộng sinh ở rễ đậu Menhinich (1962) cho biết thuốc trừ sâu ảnh hưởng sâu sắc đến quần xã vi sinh vật của một đồng cỏ, diệt mất nhiều cơ thể, nhiều loài

Cây trồng sinh sống bằng cách sử dụng ánh sáng mặt trời để quang hợp và đồng hóa C và dùng bộ rễ để hút nước và chất khoáng trong đấtt như N, P, K, Ca, Mg và các chất vi lượng Cây trồng thường hút chất khoáng ở thể vô cơ và các chất hữu cơ phải được khoáng hóa với hoạt động của các loại vi sinh vật đặc hiệu Tuy nhiên, một số nghiên cứu mới cho biết cây trồng có thể hút thẳng một số thành phần hữu cơ

Trang 15

Virtanen và Miettinen (1953) ở Phần Lan đã chứng minh rễ cây có thể hút axit amin có

C14 đánh dấu, và một số loài hòa thải có thể hút thẳng axit amin của nốt sần rễ đậu

Albrech ở Mỹ cũng có nhận xét tương tự Lại có những nghiên cứu cho biết rễ cây có thể hút các chất kháng sinh như penicilin, steptomicin, và một số anca lôit

Pottenger ở Mỹ đã chứng minh sự tồn tại khá bền vững của một số phân tử hữu cơ trong các vòng tuần hoàn sinh học Nuôi mèo trong các ô khác nhau với thức ăn khác nhau cho từng ô: sữa hộp, sữa bột, sữa sát trùng, sữa sống Sau 2 năm đưa mèo ra và cho cây tự nhiên mọc rồi trồng đậu Ô nuôi mèo bằng sữa sống có đậu phát triển cao tới 2m, còn ở các ô khác đậu thấp và hạt đậu có mùi phân mèo Từ những kết quả trên, Albrech cho rằng một số phần

tử hữu cơ như indole do súc vật và vi sinh vật tiết ra có thể được rễ cây hút thẳng HP.Rush

có một giả thuyết táo bạo hơn về sự tuần hoàn của chất hữu cơ từ các vi sinh vật, phân bón, chất phế thải trồng trọt vào rễ cây trồng, chứ không nhất thiết chất hữu cơ phải được khoáng hóa Các tài liệu trên làm đảo lộn một số luận điểm cổ điển của nông nghiệp hóa học và càng cho thấy rõ sự cần thiết của mùn và phân hữu cơ đối với nông nghiệp

Cây trồng sinh trưởng lành mạnh khi không bị cưỡng ép hút các chất dinh dưỡng quá thừa, hay không bị thiếu một số yếu tố dinh dưỡng hay thiếu nguyên tố nào đó và như vậy sẽ

có sức chống chịu với sâu bệnh Hơn nữa, chúng có thể có khả năng tiết ra các chất xua đuổi sâu bọ hay loại cây trồng xen bên cạnh về mặt đề kháng với sâu bệnh Hơn nữa, chúng lại có ích, có sự tương trợ lẫn nhau với các cách trồng xen, trồng gối của một số nền nông nghiệp bản xứ Vì vậy sử dụng phân bón phải chú ý tới sức đề kháng của cây trồng với sâu bệnh Gia súc lấy một số nông sản làm thức ăn và chỉ phát triển lành mạnh khi các nông sản này

có giá trị dinh dưỡng tốt, không còn tàn dư thuốc trừ sâu bệnh, và khi có thể chúng chỉ chọn những thức ăn phù hợp Ở đồng cỏ có nhiều loại cỏ, loại cốc hay có họ đậu, nên được chăn thả tự do, bò sẽ gặm những loại cỏ mà chúng thích, không nên bắt chúng vì đói mà phải ăn những gì chưa thật hợp với cơ thể chúng như thức ăn tổng hợp Gia súc lại cần vận động, do vậy, không nên nhốt chúng trong chuồng, nhất là những chuồng chỉ vừa cho chúng nằm mà không cọ quậy được Đối với loại gia súc không nên sử dụng thuốc y, chất kháng sinh quá nhiều, và cả các chất kích thích sinh trưởng nữa Theo nhận xét của không ít tác giả ở Mỹ, Đức, Pháp thì các con vật nuôi theo kiểu công nghiệp hóa không cho những sản phẩm tốt đối với yêu cầu thực phẩm của con người

Trang 16

Không dùng thuốc hóa học trừ sâu bệnh mà phát huy khả năng tự đề kháng, sức chống chịu của cây trồng với bón phân thích hợp va luân canh chu đáo Áp dụng phòng trừ sinh học

và làm vệ sinh đồng ruộng Nếu cần dùng thuốc trừ sâu thì dùng loại thuốc thảo mộc Còn làm đất thì phải làm cho đất có cấu tượng tốt Làm đất trên một lớp mỏng trên mặt ruộng, khoảng 0- 15cm, không cày sâu, không lật đất, không vùi phân hữu cơ xuống sâu, bón nông, thúc đẩy hoạt động của vi sinh vật Luân canh hợp lý trong các trường hợp cụ thể, chú ý giữa cây hòa thảo va cây họ đậu Về chăn nuôi thì gia súc phải nuôi tự do, bò, bê phải có bãi chăn Đồng cỏ không cày sâu, không lộn đất và gieo nhiều loại cỏ hỗn hợp Đồng cỏ thì chỉ bón phân hữu cơ, phân loãng như nước ủ phân,nước giải dùng nhiều cũng không tốt

Nhờ có kỹ thuật mà nông nghiệp sinh học sử dụng nên chất lượng nông sản của nông nghiệp hữu cơ (trồng trọt hay chăn nuôi) hơn hẳn so với nông sản của nông nghiệp công nghiệp hóa, nhất là giá trị sinh học, gía trị dinh dưỡng của sản phẩm, nên dù có bán giá cao hơn thì vẫn được ưa chuộng Nông nghiệp hữu cơ phát triển chậm, nhưng có xu hướng phát triển trong những năm gần đây ở nhiều nước công nghiệp phát triển và cả ở một số nước đang phát triển ở châu Á

Năng suất các trại nông nghiệp hữu cơ ở nhiều nơi nói chung kém năng suất của các trại công nghiệp hóa hay là trại hóa học, nhưng do giá bán cao hơn nên các trại hữu cơ vẫn tồn tại ngay ở Mỹ bên cạnh vô số các trại hóa học

Năm 1984, trường đại học Washington ở Mỹ đã điều tra 174 trại nông nghiệp hữu cơ và thấy rằng năng suất ở đây thấp hơn trại nông nghiệp công nghiệp hóa, nhưng lại ổn đinh, chi

Trang 17

phí cho một đơn vị sản phẩm lại giảm do không phải mua phân hóa học, thuốc trừ sâu, lại dùng máy kéo nhỏ, nhẹ, cần ít xăng dầu hơn Mùn trong đất các trại hữu cơ đã tăng tới 2,65%

so với 2,24% của các trại hóa học Giá bán nông sản lại cao hơn nên trại đã có lãi

Một trại hữu cơ ơ Cộng hòa liên bang Đức rộng tới 174,5 hă thực hiện chế độ luân canh 5khu, 5 năm đã đạt năng suất lúa mì 44tạ, khoai tây 25- 30 tấn một hécta và thức ăn gia súc 80- 100 tấn/ha Hệ thống sản xuất hữu cơ tiêu ít tốn năng lượng hơn

Ở Pháp có quan điểm rằng nông nghiệp hữu cơ dễ áp dụng ở các trại nhỏ, có quy mô gia đình với diện tích khoảng dăm bảy hay một chuc hecta Quy mô này thích hợp với yêu cầu hợp lý hóa tổ chức sản xuất để đạt năng suất cao với giá thành hạ Sự kết hợp nhiều trại hữu

cơ gia đình thành nhóm kinh doanh vê nhiều mặt, sản xuất ra nhiều loại sản phẩm và nối liền các cơ sở ấy với người tiêu thụ bằng kiểu hợp tác xã tiêu thụ được coi là tổ chức lý tưởng để thực hiện nông nghiệp hữu cơ

Nông nghiệp hữu cơ hiện nay đã được nhiều nhà khoa học nông nghiệp trên thế giới chú

ý tới vì nông nghiệp hữu cơ có những cơ sở khoa học nhất định

Rõ ràng là đất trồng không phải là chât tro mà là vật sống Ngay vùng rễ cây lúa nước ở môi trường yếm khí, theo tài liệu nghiên cứu của Viện lúa quốc tế cũng là vùng có hoạt động

vi sinh vật mạnh Và dinh dưỡng của cây trồng trong đất có quan hệ mật thiết với hoạt động

vi sinh vật học của đất Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô đã khái quát hóa nhiều loại công trình nghiên cứu và khẳng định: sự dinh dưỡng của cây trồng trong đất không chỉ thực hiện theo những quy luật hóa học hay lý học mà còn có những quy luật sinh vật học Tất nhiên các quy luật này cũng thể hiện bằng những hiện tượng lý học hay hóa học Nói đến các quy luật sinh vật học này là nói đến quan hệ giữa vi sinh vật đất với rễ cây trồng Trồng trọt hợp lý phải tạo điều kiện cho mối quan hệ này phát triển tốt

Vào những năm 80 của thế kỷ XX, Manxép ở nông trường “Những lời di huấn của Lênin” đề ra phương pháp cày không lật đất, cày nông và chỉ cày sâu sau 4-5 năm Cách làm đất này thuận lợi cho hoạt động của vi sinh vật ở lớp đất trên Sau đó nhiều nhà nông học ở nhiều nước trên thế giới đề ra phương pháp làm đất tối thiểu, hay không làm đất cũng nhằm mục đích trên Ở Việt Nam, vụ đông miền Bắc trồng đậu tương đông có nơi đã không làm đất và gieo ngay đậu tương vào lúa mùa sắp gặt hay đang gặt Cũng như ở Trà Vinh, để tranh

Trang 18

lá Rễ cây không phải chỉ hút nước và chất vô cơ để đưa lên trên, mà nó còn có thể có chức năng khác Salopki (Liên Xô) đã chứng minh với việc sử dụng vitamin B1 có C phóng xạ, là vitamin này cùng với nhiều vitamin B khác dễ được rễ cây kiều mạch hấp thụ Người ta cũng

đã thấy rễ cây hấp thụ cả amino axit như méthionin và cystéin do vi sinh vật trong đất tiết ra Vai trò của các loại phân hữu cơ, mùn càng được thấy rõ với quan điểm sinh học về dinh dưỡng khoáng của bộ rễ

Một thí nghiệm bón phân dài hạn cho lúa ở trại thí nghiệm đất bạc màu Bắc Giang ở Việt Nam cho biết: trong 20 vụ liền (hết chiêm đến mùa, hết mùa lại đến chiêm) quanh năm không nghỉ, ở vạt đất không bón gì năng suất mỗi vụ đạt trung bình 10 tạ/ha Mà kể cả rơm

rạ, 20 vụ lúa này đã lấy ra từ đất một số NPK khá lớn mà không có sự bón đền bù nào, theo quy luật bón trả lại của nông học cổ điển Nhiều tài liệu về bón phân dài hạn ở châu Âu cũng

đã cho kết quả như vậy Ở trại Rothamsted (Anh) sơ kết đến năm 1978, ruộng không bón phân vẫn cho thu hoạch Trong cả hai trường hợp trên, đất đã tự tái tạo độ phì nhiêu của nó bằng hoạt động của vi sinh vật

Việc bón phân hóa học dễ tiêu không hợp lý không những không kích thích được sự tiến triển tự nhiên của đất mà còn làm đảo lộn quá trình sinh học của nó Bón nhiều đạm, tỷ lệ đạm tự do trong cây sẽ cao, giảm sức chống chịu của cây với sâu bệnh, giảm năng suất và sản lượng Bệnh đạo ôn hại lúa thường gây tác hại nhiều ở ruộng lúa bón nhiều đạm

-Các giống cây trồng, kết quả của chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo từ lâu đời thường có khả năng chống chịu với sâu bệnh hay hoàn cảnh bất thuận Dễ tính, dễ trồng, chúng dễ thích nghi với lượng phân hữu cơ vừa phải và cho những năng suất tương xứng với năng lượng đầu tư Các giống gia súc cũng vậy: dễ tính, dễ nuôi, mắn đẻ và không kén ăn Trái lại, các giống mới được lai tạo với tiêu chuẩn số lượng là chủ yếu thường đòi hỏi nhiều phân hóa học và thuốc trừ sâu bệnh, nhiều thức ăn tổng hợp, nhiều thuốc thú y Không có

Trang 19

những điều kiện này, việc trồng hay nuôi giống mới ít có hiệu quả Các giống cũ cũng phản ứng chậm với những công nghệ của giống mới Giống lúa cao cây bón phân hóa học nhiều dễ

bị lốp đổ cũng như lợn ỉ sử dụng thức ăn tổng hợp không hiệu quả bằng lợn lai hay lợn ngoại

Về chất lượng sản phẩm thì có lẽ không cần phải bàn nhiều Rau cải sen muối nếu đã được bón phân đạm nhiều: cây to, cao, lá to, thì dễ nhũn và khú Các bà nội trợ có kinh nghiệm thường chọn mua những cây cải nhỏ, chắc, bón phân hữu cơ, ít bón phân đạm, giòn hơn và ngon hơn Cây cam ở nông trường bón phân hóa học nhiều thường chỉ có tuổi thọ 12-

15 năm, quả chua, dễ xốp Trái lại cam trồng ở nông thôn, trước đây mỗi nhà có một vài cây đến dăm cây, bón nông với bùn ao đắp gốc vài ba năm một lần và được tưới bằng nước khô dần hay phế thải lò sát sinh ngâm trong vại để ở gốc cây, thường có tuổi thọ 25-30 năm và về sau tuy quả có bé đi nhưng ngọt đậm

-Hiện nay trên thế giới, nông nghiệp hữu cơ vẫn tồn tại và phát triển ở nước có công nghiệp hóa Mỹ có trình độ công nghiệp hóa vào loại cao nhất thế giới nhưng vẫn có một số

ít nông trại hữu cơ cung cấp rau, hoa quả, bò, trứng, sữa… với giá cao cho những người ưa thích Ở Pháp cũng có nhiều nông trại hữu cơ sản xuất và bán những nông sản hữu cơ được

ưa chuộng ngay ở thủ đô Paris Riêng ở Cộng hòa liên bang Đức, nông nghiệp hữu cơ chiếm tới 1% sản lượng nông sản của cả nước Nông nghiệp hữu cơ đang có xu thế phát triển ở Nhật Bản Thật ra nông nghiệp Nhật Bản trước đây đã phát triển khá nhanh và thành một nền nông nghiệp hiện đại trên thế giới với phân hóa học và thuốc trừ sâu Nông nghiệp Nhật Bản

đã dùng tới 500kg chất dinh dưỡng NPK cho một hécta, nghĩa là quá mức thích hợp đến 50% Nông nghiệp Nhật Bản cũng đã sử dụng tới 8,1kg chất hữu hiệu trừ sâu bệnh cho 1 ha, trong khi Mỹ mới sử dụng 2,4kg/ha Ở Nhật Bản, các trại hữu cơ chỉ có thu nhập bằng 60-90% trại hóa học, trong khi các điều kiện khác tương đương, nhưng trại hữu cơ vẫn có lợi do nông sản bán được giá cao hơn

30-Năm 1995, ông Masamotu Fukuoka có trang trại hữu cơ từ năm 1960 đã xuất bản cuốn sách “Một cuộc cách mạng rơm rạ” cho biết từ hơn ba chục năm nay một vạt đất không hề cày lật và bón phân hóa học vẫn cho năng suất lúa mì 4 tấn/ha

Nông sản hữu cơ được ưa chuộng ở Nhật; số người tiêu dùng nông sản hữu cơ khoảng

3-5 triệu người (khoảng 3-3-5% dân số Nhật) Riêng Tokyo có 180.000-200.000 hộ được cung cấp thường xuyên nông sản hữu cơ (rau, quả, sữa, trứng, gạo, gà) không bón hay bón rất ít

Trang 20

phân hóa học Một số cửa hàng ăn và trường trung học đã chuyển sang dùng thực phẩm hữu

cơ và có xưởng rượu sakê chỉ sử dụng gạo hữu cơ nấu rượu Nông sản hữu cơ đến tay người tiêu dùng qua 3 cách phân phối

+ Qua hệ thống Teikec hay hợp tác xã bao gồm nông dân và người tiêu dùng Bắt đầu năm 1971 với 4000 hội viên Nippon Nogyeo Kenkya (Hội nông nghiệp hữu cơ Nhật Bản) Nông dân không dùng phân hóa học, người tiêu thụ phải mua hết sản phẩm

+ Gửi qua bưu điện đến tận nhà Có tổ chức có doanh thu tới nhiều tỷ yên nhận sản phẩm của 1000-3000 nông dân và cung cấp cho 10.000-30.000 hộ tiêu thụ mỗi tuần Nhóm quan trọng nhất là câu lạc bộ Shikatsa thành lập từ cách đây 20 năm, nay đã có 274.000 hội viên + Và cửa hàng bán lẻ nông sản hữu cơ Tokyo đã có 150 cửa hàng

Bộ Nông nghiệp Nhật Bản trước kia thờ ơ với nông nghiệp hữu cơ nay đã kịp thời nắm lấy phong trào và xuất bản tài liệu hướng dẫn Bộ cũng đã giúp huyện Okagama phát triển nông nghiệp hữu cơ với kế hoạch cấp những nhãn đỏ cho các sản phẩm hữu cơ và nhãn xanh đối với các sản phẩm đã dùng chất kích thích sinh trưởng (cơ quan nông nghiệp và cây ăn quả huyện phụ trách)

Hạn chế của nông nghiệp hữu cơ ở Nhật Bản là năng suất thấp Nông dân sẽ không còn lợi nữa khi nhiều người làm Có giáo sư Trường đại học Tokyo đã nhấn mạnh là nếu phân hóa học được sử dụng hợp lý, cẩn thận thì sẽ không có hại cho môi trường và tàn dư là không đáng kể ở sản phẩm

1.3.Nền nông nghiệp sinh thái học:

Bước vào thế kỷ XXI, lựa chọn con đường phát triển nông nghiệp bền vững, bảo đảm an ninh lương thực, phục vụ tốt nhất nhu cầu của con người là một đòi hỏi bức thiết của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc Xây dựng nền nông nghiệp bền vững là cơ sở đầu tiên, hết sức quan trọng để phát triển nông nghiệp một cách liên tục và lâu dài Trong sách “Nông nghiệp bền vững - Định nghĩa và quan hệ với các chính sách nông nghiệp và thương mại - FAO - Rome”, Young Burton cho biết là có tới 24 định nghĩa khác nhau, tùy theo quan điểm và chuyên ngành của tác giả, và định nghĩa nào cũng có cơ sở của nó Song định nghĩa có tính tổng hợp và khái quát là định nghĩa của Tổ chức thế giới về sinh thái và phát triển (WOED):

“Nông nghiệp bền vững là nền nông nghiệp thỏa mãn được các nhu cầu của thế hệ hiện nay

Trang 21

nhiên, cùng những thành tựu của công nghiệp và khoa học công nghệ

Sinh thái học là khoa học về quan hệ của vật sống với hoàn cảnh của chúng Đối tượng nghiên cứu của sinh thái học là hê sinh thái Hệ sinh thái là một đơn vị bao gồm các vật sống

và ngoại cảnh không sống của chúng Hệ sinh thái có 2 thành phần chủ yếu:

Một là: Các quần thể sống (thực vật, động vật, vi sinh vật) với các mối quan hệ dinh

dưỡng và vị trí của chúng

Hai là: Các nhân tố ngoại cảnh (khí hậu, đất đai, nước)

Nông nghiệp sinh thái học chủ trương:

1 Không tách rời trồng trọt và chăn nuôi, tổ chức các cơ sở sản xuất nông nghiệp tổng hợp, không chuyên canh quá sâu, có chế độ luân canh với cây thức ăn vật nuôi và phân xanh, coi trọng phân hữu cơ

2 Thực hiện “làm đất tối thiểu” ở những nơi thích hợp

3 Sử dụng những loại phân hóa học “sạch” trong cỏ một hệ thống phòng trừ sâu bệnh tổng hợp (canh tác, vệ sinh đồng ruộng, sinh học…) và chỉ dùng biện pháp hóa học khi thật cần thiết

4 Bỏ lối đốt rừng làm rẫy, có các công trình chống xói mòn ở đất dốc, thực hiện sản xuất nông lâm kết hợp, bố trí nhiều loại cây trên một địa bàn theo yêu cầu sinh thái của từng loại; đối với mỗi loại, thay đổi các giống trồng sau từng thời kỳ, đảm bảo cân bằng sinh thái

5 Thận trọng trong công tác phát triển thủy lợi, để tránh gây hủy hoại sau ít năm sử dụng (đất bị lầy, bị bốc mặn)

Trang 22

6 Có những nghiên cứu tiếp cận mới trong việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên như: phát triển nuôi trồng thủy sản, sản xuất và sử dụng khí sinh vật từ các chất phế thải của nông nghiệp, sản xuất protein từ lá cây

Sinh thái học Nông nghiệp nghiên cứu môi trường tự nhiên, khí hậu và đất trong các mối tương quan với sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng, vật nuôi và năng suất, được xem xét về cả 3 mặt: số lượng, chất lượng và truyền thống Một mặt, sinh thái học nông nghiệp tổng hợp các kết quả nghiên cứu của nông học và các môn khoa học liên quan, mặt khác nghiên cứu các hệ sinh thái nông nghiệp một cách tổng hợp, nhằm nắm được quy luật hoạt động của chúng và điều kiển sự hoạt động ấy để đạt năng suất cao nhất Cần nghiên cứu sinh thái học nông nghiệp để giải quyết một cách có cơ sở khoa học một số vấn đề tổng hợp do yêu cầu phát triển nông nghiệp đặt ra như: phân vùng sản xuất nông nghiệp, xác định hệ thống cây trồng, vật nuôi hợp lý, chế độ canh tác cho các vùng sinh thái học khác nhau, phát triển nông nghiệp trong điều kiện chi phí năng lượng ngày càng đắt Đối tượng nghiên cứu của sinh thái học nông nghiệp là các hệ sinh thái nông nghiệp, chiếm ít nhất 1/3 diện tích lục địa với các thành phần như đồng ruộng trồng cây lâu năm, vườn cây lâu năm và rừng nông nghiệp, đồng cỏ chăn nuôi,ao cá, khu vực dân cư nông nghiệp.Sinh thái học nông nghiệp ứng dụng, nhằm mục tiêu xác định cho các vùng đất đai, khí hậu khác nhau, những hệ thống cây trồng, vật nuôi thích nghi với môi trường vật lý và sinh học có khả năng sử dụng tối ưu tài nguyên trong môi trường, áp dụng một chế độ và kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi có tác dụng bảo vệ và cải thiện môi trường, không để chất phì xuất ra ngoài hệ thống, không làm cho đất

bị thoái hóa, không để nguồn nước bị cạn kiệt Có thể nói nông nghiệp sinh thái học là sự kết hợp hài hòa giữa nông nghiệp công nghiệp hóa và nông nghiệp hữu cơ

Từ xưa đến nay, mỗi dân tộc đều xây dựng sản phẩm nông nghiệp trên những điều kiện tự nhiên thích hợp và thuận lợi nhất Khi mật độ dân số còn thấp (vài trăm người/km2 ) thì sản xuất chưa yêu cầu phải thâm canh cao, lúc đó sản xuất và cuộc sống của con người thích hợp với thiên nhiên, thích nghi với các hệ sinh thái Nhưng khi mật độ dân số tăng lên và như mật

độ dân số hiện nay thì có rất nhiều vấn đề kinh tế - xã hội và môi trường đặt ra Hiện tại, dân

số thế giới mỗi năm tăng thêm hơn 80 triệu người (cứ mỗi 3 phút lại có một bé sinh ra trên thế giới), so với 58 triệu vào năm 1960 Hiện dân số thế giới đã lên tới trên 6 tỷ người, và dự

Trang 23

Theo dự báo của Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI) trong khoảng 30 năm tới, sản lượng lúa thế giới phải tăng thêm 70% so với hiện nay mới đáp ứng được nhu cầu khi dân số tăng cao trong thế kỷ XXI Xây dựng một nền nông nghiệp sinh thái bền vững là cơ sở cho

sự phát triển ổn định sản xuất lương thực, thực phẩm

2.Vị trí & vai trò của nông nghiệp

Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản có sớm nhất trong lịch sử nhân loại Nông

nghiệp giữ một vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế quốc dân của hầu hết các nước

trên thế giới bởi các vai trò cụ thể sau:

Thứ nhất, nông nghiệp là ngành sản xuất và cung cấp các sản phẩm thiết yếu nhất cho

đời sống con người Đó là lương thực thực phẩm – là loại sản phẩm có vai trò đầu tiên quyết định mọi hoạt động của con người Dù trình độ phát triển công nghệ có hiện đại như hiện nay vẫn chưa có sản phẩm nào thay thế được những sản phẩm thiết yếu do nông nghiệp tạo ra Song hiện nay do áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp, do đời sống vật chất

và tinh thần của con người ngày càng được nâng cao mà xu hướng tiêu dùng của con người cũng thay đổi theo hướng: từ hàng hóa cấp thấp (lương thực) sang hàng hóa cao cấp (trứng,

Trang 24

thịt, sữa, hải sản, hoa quả…) Chính điều này tạo điều kiện cho nông nghiệp phát triển đa dạng

Thứ hai, nông nghiệp có vai trò quan trọng trong việc cung cấp các yếu tố đầu vào cho

công nghiệp và đô thị Điều đó được thể hiện:

Nông nghiệp đặc biệt là nông nghiệp ở các nước đang phát triển là khu vực cung cấp lao động cho công nghiệp và đô thị Trong giai đoạn đầu công nghiệp hóa, phần lớn dân cư và lao động sống bằng nông nghiệp và tập trung ở khu vực nông thôn Vì thế khu vực nông nghiệp, nông thôn thực sự là nơi dự trữ dồi dào lao động cho công nghiệp và đô thị Quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa phát triển một mặt tạo ra nhu cầu lớn về lao động, mặt khác làm cho năng suất lao động nông nghiệp và năng suất lao động xã hội tăng nhanh Lực lượng lao động nông nghiệp được giải phóng nhiều đã bổ sung cho công nghiệp và đô thị Đó

là tính quy luật trong quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa diễn ra ở các nước Tuy nhiên việc chuyển dịch lao động từng bước như thế nào là vấn đề cần nghiên cứu và có giải pháp Nông nghiệp là ngành sản xuất cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp đặc biệt là công nghiệp chế biến Yêu cầu này đòi hỏi nông nghiệp phải phát triển và hình thành các vùng sản xuất tập trung Thông qua công nghiệp chế biến làm cho giá trị nông sản nâng lên nhiều lần Nhờ đó mà mở rộng thị trường, tăng thu nhập cho người lao động, thúc đẩy nông nghiệp phát triển

Nông nghiệp là nguồn cung cấp vốn lớn nhất cho sự nghiệp phát triển kinh tế trong đó có công nghiệp nhất là giai đoạn đầu Vì đây là khu vực lớn nhất xét về lao động và sản phẩm quốc dân, nguồn vốn từ nông nghiệp tạo ra bằng nhiều cách: tiết kiệm của nông dân vào lĩnh vực phi nông nghiệp, thuế nông nghiệp, thu ngoại tệ do xuất khẩu nông sản… đóng góp quan trọng cho công nghiệp và đô thị hóa

Thứ ba, nông nghiệp là thị trường tiêu thụ rộng lớn của công nghiệp Vì ở hầu hết các

nước đang phát triển, sản phẩm của công nghiệp sản xuất ra chủ yếu dựa vào thị trường trong nước, mà thị trường trong nước trước hết là thị trường khu vực nông nghiệp nông thôn Điều này là do hai nguyên nhân Nguyên nhân thứ nhất là do quá trình CNH, HĐH diễn ra, việc áp dụng máy móc công nghệ mới vào sản xuất nông nghiệp làm cho nhu cầu hàng công nghiệp của khu vực nông nghiệp và nông thôn tăng lên Nguyên nhân thứ hai là do sản phẩm của ngành công nghiệp ở các nước đang phát triển chưa có khả năng cạnh tranh với sản phẩm của

Trang 25

các nước phát triển nên chủ yếu dựa vào thị trường trong nước, mà dân cư ở nông thôn thì tập trung khá đông làm cho tiềm năng tiêu thụ sản phẩm là rất lớn

Thứ tư, phát triển nông nghiệp nông thôn có ý nghĩa rất lớn để phát triển công nghiệp

nước ta Do sản xuất nông nghiệp gắn liền trực tiếp với điều kiện tự nhiên: đất đai, khí hậu, thủy văn, thời tiết… Nếu sản xuất nông nghiệp sử dụng quá nhiều hóa chất như thuốc trừ sâu, phân hóa học… làm ô nhiễm đất đai nguồn nước, dư lượng độc tố trong sản phẩm cao, ảnh hưởng đến sức khỏe con người Nếu sản xuất nông nghiệp để rừng bị tàn phá, đất đai bị xói mòn, rửa trôi, thời tiết, khí hậu, thủy văn thay đổi theo hướng xấu đe dọa trực tiếp tới đời sống con người Vì vậy, phát triển nông nghiệp có giải pháp duy trì, tái tạo sự phát triển bền vững của môi trường

3 Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp

Sản xuất nông nghiệp có những đặc điểm mà ngành khác không thể có Để có quản lý và

phát triển nông nghiệp cần phải chú ý đến những đặc điểm đó Những đặc điểm đó là:

3.1 Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên địa bàn rộng lớn, phức tạp và mang yếu tố

khu vực rõ rệt

Đặc điểm này cho thấy ở đâu có đất, có lao động là có thể sản xuất nông nghiệp được Nhưng mỗi quốc gia, mỗi vùng đều có những điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội khác nhau

mà sản xuất nông nghiệp lại gắn liền với các yếu tố đó Vì thế, sản xuất nông nghiệp diễn ra

ở mỗi vùng, mỗi khu vực cũng khác nhau Chính vì thế đặc điểm này đòi hỏi cần phải giải quyết các vấn đề kinh tế đặt ra Đó là:

Tiến hành điều tra đánh giá các nguồn tài nguyên cả nước, của từng vùng Trên cơ sở đó thực hiện quy hoạch bố trí sản xuất cho phù hợp Song phải đòi hỏi rất tôn trọng quy luật sinh thái và đảm bảo giữ vững cân bằng sinh thái trước hết là rừng, đất và cả trên phạm vi cả nước, từng vùng Có như vậy sản xuất nông nghiệp mới phát triển bền vững

Tiến hành xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật và xác định phương hướng sản xuất kinh doanh phù hợp với từng vùng mới đảm bảo cho sản xuất nông nghiệp phát triển nhanh

Xây dựng các chính sách kinh tế nhất là chính sách ruộng đất, thuế, đầu tư… phải phù hợp với từng vùng, từng địa phương

3.2.Trong sản xuất nông nghiệp đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu không thay thế được

Trang 26

Đất đai là nguồn tài nguyên to lớn hết sức quan trọng đối với nền kinh tế và nó trở thành

tư liệu sản xuất chung cho mọi ngành Trong nông nghiệp, đất được sử dụng vào sản xuất nông nghiệp trở thành tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được Vì thế vấn đề đặt ra là:

Phải hết sức quý trọng tài nguyên đất vì nó là loại tài nguyên không thể sản xuất thêm theo ý muốn của con người, diện tích chỉ có hạn

Sử dụng hợp lý, hiệu quả cả về mặt không gian và sức sản xuất: sử dụng tiết kiệm nhất là trong xây dựng cơ bản như phát triển giao thông, thủy lợi…, cố gắng tránh lấy nông nghiệp làm mục đích khác; tích cực mở rộng diện tích bằng khai hoang và tăng vụ, đẩy mạnh đầu tư thâm canh để nhằm đạt mục tiêu 50 triệu đồng/ha; coi trọng cải tạo và bảo vệ đất làm cho đất ngày càng tốt lên

Phải thực hiện tốt công tác quản lý đất bằng luật pháp

3.3 Đối tượng sản xuất của nông nghiệp là cơ thể sống – cây trồng và vật nuôi

Đặc điểm này rất khác các ngành khác Các ngành sản xuất khác, đối tượng sản xuất là các yếu tố vật chất nên khi quá trình sản xuất gặp hỏng hóc thì có thể thay thế ngay được Nhưng sản xuất nông nghiệp, do đối tượng sản xuất là các cơ thể sống, chúng phát triển theo quy luật sinh học Vì vậy, quá trình sản xuất nếu bị rủi ro (bị hỏng) thì không thể thay thế ngay được mà phải hàng tháng, hàng vụ thậm chí hàng năm mới có thể thay thế được Điều

đó rất khó khăn cho ổn định cung cầu nông sản trên thị trường

Do đối tượng sản xuất là cơ thể sống nên rất nhạy cảm với sự tác động của môi trường: môi trường tự nhiên, môi trường tác động của chính sách, môi trường tác động của con người Vì thế, nếu môi trường thuận lợi hay không đều ảnh hưởng đến sự phát triển và kết quả sản xuất

Từ đặc điểm này đặt ra các vấn đề cần giải quyết: tổ chức sản xuất phù hợp với từng loại đối tượng sản xuât; có các biện pháp tác động phù hợp: cơ chế, kỹ thuật… vừa tạo môi trường bên ngoài thuận lợi cho cơ thể sống phát triển vừa nâng cao được sức sống bên trong của cơ thể sống, có như vậy sản xuất nông nghiệp mới đạt được năng suất hiệu quả cao; coi trọng thường xuyên nâng cao chất lượng giống , cây trồng - vật nuôi bằng cách nhập khẩu, phát triển công nghệ sinh học để tạo giống mới, năng suất chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu thị trường

Trang 27

3.4 Sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ cao

Đây là đặc tính điển hình nhất của sản xuất nông nghiệp Vì trong sản xuất nông nghiệp, quá trình tái tạo sản xuất tự nhiên và quá trình tái sản xuất xã hội kinh tế xoắn xuýt vào nhau nhưng lại không hoàn toàn trùng hợp nhau Do đó sinh ra tính thời vụ Vì vậy, tính thời vụ trong nông nghiệp là vĩnh cửu và không xóa bỏ được, là khách quan Đặc điểm này yêu cầu sản xuất nông nghiệp một mặt phải tôn trọng tính thời vụ để đảm bảo đúng thời vụ đem lại hiệu quả cao, mặt khác phải tìm cách giảm bớt tính thời vụ bằng các giải pháp sau:

- Sản xuất theo hướng chuyên môn hóa kết hợp với đa dạng hóa sản xuất

- Đẩy nhanh ứng dụng tiến bộ công nghệ mới vào sản xuất trước hết là công nghệ sinh học

- Phát triển mạnh ngành nghề phi nông nghiệp trong nông thôn

Đặc điểm này cho thấy xuất phát điểm của nền nông nghiệp nước ta khi chuyển sang sản xuất hàng hóa theo kinh tế thị trường là rất thấp so với các nước trong khu vực và thế giới

Đó là khó khăn, thách thức của nông nghiệp nước ta trong quá trình hội nhập

Ở các nước phát triển, trình độ sản xuất hàng hóa cao, nhiều khâu sản xuất được cơ giới hóa, hiện đại hóa, năng suất lao động và năng suất sản xuất cao đã góp phần đẩy mạnh phân công lao động trong nông nghiệp và trong nền kinh tế, lao động nông nghiệp giảm cả tương đối và tuyệt đối, sự phát triển của nông thôn và thành thị xích lại gần nhau

Ở Việt Nam, cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật còn nhỏ bé và trình độ thấp, cơ cấu kinh tế và trình độ sản xuất hàng hóa chưa phát triển, phân công lao động chưa phát triển: 2/3 dân số làm nông nghiệp, tình trạng lao động thiếu việc làm cao

Vì vậy, vấn đề đặt ra để đẩy nhanh nông nghiệp nước ta sang sản xuất hàng hóa theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước cần:

Trang 28

- Tạo lập và phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường cả thị trường đầu vào và đầu ra

- Nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực cán bộ để đáp ứng yêu cầu phát triển nông thôn

●Nông nghiệp nước ta là nền nông nghiệp nhiệt đới có pha trộn tính chất ôn đới, nhất là ở miền Bắc

Đặc điểm này mang lại cho nền nông nghiệp nước ta nhiều thuận lợi: nguồn ánh sáng dư thừa, nguồn nước ngọt phong phú, có thể phát triển nông nghiệp quanh năm, có thể tạo ra những năng lượng lớn, cho phép sản xuất ra nhiều sản phẩm nông nghiệp nhiệt đới và ôn đới

có giá trị kinh tế cao, có khả năng cạnh tranh và xuất khẩu lớn nhưng mới ở dạng tiềm năng Thuận lợi đó không phải nền nông nghiệp nước nào cũng có, ngay cả những nước ASEAN Đó là thuận lợi lớn cho nền nông nghiệp nước ta tham gia hội nhập kinh tế quốc tế

và khu vực

Bên cạnh những thuận lợi cơ bản trên thì những khó khăn, thách thức về tự nhiên đối với nông nghiệp nước ta không hề nhỏ: địa hình 70% là đồi núi trải dài, kề sát biển, mùa mưa thường có lũ lụt, lở đất; mùa khô thiếu nước, hạn hán nghiêm trọng, khí hậu nóng ẩm làm dịch bệnh bùng phát nhanh…

Vì vậy, trong quá trình phát triển đưa nông nghiệp lên sản xuất hàng hóa đòi hỏi phải luôn chủ động tìm cách phát huy, nâng cao thuận lợi và hạn chế khó khăn đến mức thấp nhất

để đảm bảo cho nông nghiệp phát triển nhanh và bền vững

4.Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam trong quá trình gia nhập WTO:

Qúa trình hội nhập với thế giới của Việt Nam được đánh dấu bằng những mốc thời gian:

Mở cửa nền kinh tế năm 1987; gia nhập ASEAN tháng 7/1995 và tham gia vào AFTA; trở thành thành viên chính thức của APEC tháng 11/1998 ; chính thức gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO - World Trade Organization vào ngày 7/11/2006 Đây là bước tiến quan

Trang 29

trọng đối với quá trình hội nhập và quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam Là một quốc gia có nền kinh tế đi lên từ nông nghiệp, phát triển nông nghiệp và nông thôn luôn là vấn đề được Đảng và Nhà nước ta quan tâm Việc gia nhập WTO mở ra cho nông nghiệp Việt Nam những cơ hội cũng như thách thức, từ đó tác động rất lớn đến quá trình phát triển của nông thôn

Trong những năm vừa qua, tốc độ tăng trưởng bình quân của nông nghiệp Việt Nam từ 5% năm, lao động trong lĩnh vực nông nghiệp chiếm 75% lực lượng lao động, tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu GDP chiếm 26%, giá trị xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp chiếm 34% tổng giá trị xuất khẩu, chỉ số xuất khẩu ròng trong nông nghiệp là 0,49 Việt Nam tiếp tục khẳng định vị trí thứ hai thế giới về xuất khẩu gạo, đứng thứ ba thế giới về xuất khẩu cà phê Ngoài ra, 2/3 trong số 15 mặt hàng xuất khẩu chính là các sản phẩm nông nghiệp: cà phê, thủy sản, gạo, chè, cao su, hạt tiêu, hạt điều, lạc nhân, rau, quả Trên thế giới và khu vực thì ngành nông nghiệp Việt Nam có lợi thế so sánh cao cùng một số ngành khác như: dệt may, khai thác

4-Việc gia nhập vào WTO mở ra một triển vọng xuất khẩu to lớn đối với ngành nông nghiệp Việt Nam Thứ nhất, được đối xử bình đẳng thông qua nguyên tắc tối huệ quốc MFN (Most Favoured Nation) và đối xử quốc gia NT (National Treatment) Trong đó, nguyên tắc MFN quy định việc đối xử với các nước thành viên khác trong WTO bình đẳng với nhau như

là bạn hàng được ưu đãi nhất, nguyên tắc NT quy định khi hàng hóa của các nước thành viên thâm nhập vào một thị trường thì phải được đối xử không kém ưu đãi hơn so với hàng hóa tương tự ở trong nước (liên quan đến chính sách bảo hộ và xuất xứ hàng hóa) Như vậy, đối với các thị trường truyền thống: Bắc Mỹ, EU, Nhật… thì sản phẩm nông nghiệp Việt Nam cũng sẽ được ưu đãi như đối với các quốc gia được hưởng MFN khác như Thái Lan, Indonesia, Ấn Độ… được giảm thuế, bãi bỏ hạn ngạch Tăng cường khả năng cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp Việt Nam ngay cả đối với sản phẩm nội địa của những thị trường này Thứ hai, gia nhập vào WTO, sản phẩm nông nghiệp Việt Nam có cơ hội để thâm nhập, mở rộng ra các thị trường khác như Châu Mỹ La Tinh, Châu Phi, Châu Á…là thành viên của WTO Thứ ba, Việt Nam có thể cải thiện được hệ thống giải quyết tranh chấp với các nước thông qua tổ chức WTO và nâng cao vị trí của quốc gia khi tham gia đàm phán với các cường quốc thương mại bằng các nguyên tắc công bằng, hiệu quả Ngoài ra, gia nhập WTO

Trang 30

với tư cách là một quốc gia đang phát triển Việt Nam sẽ được hưởng những ưu đãi và giúp

đỡ dành cho các quốc gia đang phát triển trong quá trình hội nhập, tự do hóa, tăng cường đầu

tư cho lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn Đặc biệt khi Việt Nam chuyển hướng từ xuất khẩu sản phẩm thô sang xuất khẩu sản phẩm chế biến sẽ có những đột biến về giá trị sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu và Việt Nam có nhiều lợi thế hơn so với những quốc gia đang được hưởn hệ thống ưu đãi chung GSP của Mỹ hay ưu đãi của EU

Tuy nhiên, việc gia nhập WTO và tự do hóa theo những Hiệp định của tổ chức này thì ngành nông nghiệp Việt Nam cũng sẽ phải gặp những thách thức: Yêu cầu cắt giảm thuế, loại

bỏ các hàng rào phi thuế quan chuyển sang hàng rào thuế quan theo lịch trình dành cho các nước đang phát triển Đòi hỏi ngành nông nghiệp Việt Nam phải nâng cao được khả năng cạnh tranh quốc tế nhờ những chính sách về thị trường, sản phẩm và những chính sách hỗ trợ do quá trình thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm nông nghiêp Duy trì sự ổn định giá cả có lợi đối với người nông dân, phát triển cơ sở hạ tầng và đầu tư nguồn nhân lực cho vùng nông thôn, nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm Đặc biệt, đầu tư cho ngành chế biến lâm sản xuất khẩu, đa dạng hóa mặt hàng tạo cơ hội thâm nhập thị trường quốc tế Có được như vậy thì “cơ hội” gia nhập WTO sẽ tạo điều kiện cho ngành nông nghiệp Việt Nam góp phần vào việc thúc đẩy và duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức độ cao Mở rộng các ngành chế biến nông sản xuất khẩu, phát triển các ngành kinh doanh nông sản, dịch vụ tạo cơ hội tăng thu nhập cho người nông dân và các hộ gia đình khu vực nông thôn trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam sẽ tăng cường được khả năng sản xuất lương thực, đảm bảo an ninh lương thực và tăng cường xuất khẩu Đây cũng là cơ hội tạo ra nhiều công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo, phân phối thu nhập công bằng hơn, đặc biệt với những chính sách phát triển nông thôn, vùng sâu, vùng xa Đồng thời, thực thu thuế

từ việc xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp của Chính phủ sẽ tăng lên nhờ vào khối lượng trao đổi buôn bán tăng, các hàng rào phi thuế quan được chuyển thành thuế quan cho dù Việt Nam có phải cắt giảm thuế suất, thực hiện quá trình tự do hóa

Việt Nam đã đạt được những thỏa thuận đối xử MFN với hơn 60 nước trên thế giới và gần đây nhất là với Nhật Bản Tuy nhiên, Việt Nam cần phải tham gia đàm phán song phương, đa phương với nhiều quốc gia và khu vực đặc biệt với Mỹ, Canada và EU… khi đưa

cả một số Hiệp định về quyên sở hữu trí tuệ TRIPs, nhãn sinh thái của sản phẩm… Việt Nam

Trang 31

cũng có những thuận lợi khi đang tham gia vào AFTA và các chương trình hành động chung của APEC Và đây là những bước đà giúp Việt Nam nhanh chóng trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới WTO, thúc đẩy phát triển nông nghiệp và nông thôn Việt Nam

II- CƠ SỞ THỰC TIỄN

Xây dựng một nền nông nghiệp bền vững là một yêu cầu tất yếu của xã hội loài người để vừa đảm bảo tính hiệu quả của sản xuất nông nghiệp vừa bảo vệ môi trường Điều này đã diễn ra ở nhiều nước phát triển trên thế giới từ những thập kỷ 80-90 của thế kỷ trước Họ đã đạt được những thành công đáng kể đồng thời cũng để lại cho chúng ta những bài học kinh nghiệm quý báu trên con đường phát triển nông nghiệp Việt Nam

1 Nông nghiệp Nhật Bản

Nhật Bản là nước phát triển nhất ở châu Á và là nền kinh tế lớn nhất nhì thế giới với nhiều lĩnh vực nổi tiếng như: điện tử, viễn thông, ôtô, máy móc, thiết bị công nghiệp, xây dựng… Song không vì thế mà Chính phủ Nhật Bản không chú trọng phát triển nền nông nghiệp nhỏ bé của đất nước

Đặc điểm của nông nghiệp Nhật Bản là đất ít, người đông, ruộng đất manh mún, quy mô các hộ nông dân nhỏ bé, lúa nước là cây trồng chính, hầu như không phù hợp với công nghệ, thiết bị của các nước Âu, Mỹ

Trước những khó khăn của điều kiện tự nhiên, Nhật Bản đã có những chính sách và giải pháp để phát triển nông nghiệp bền vững như sau:

Về giống cây trồng, vật nuôi, Nhật Bản là nước đầu tiên ở châu Á nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học, chọn lọc lai tạo ra những giống mới phù hợp với điều kiện của đất nước như giống lúa, giống rau quả, giống gà, lợn, giống chè, dâu tằm…

Về thủy nông, Nhật Bản đã xây dựng một hệ thống các công trình đầu mối, hồ đập chứa nước tưới, hệ thống các trạm bơm nước, hệ thống kênh mương nổi được kiên cố hóa bằng bê tông dùng để tưới nước, và hệ thống kênh tiêu nước với 70% số ống đặt ngầm dưới mặt ruộng Ruộng được kè đá, phủ bê tông ở bờ và lót vật liệu chống thấm ở những nơi xung yếu

để giữ nước Đến những năm 80 và 90, 62-63% diện tích gieo trồng ở Nhật Bản được tưới nước

Trang 32

Nhật Bản là nước đầu tiên sử dụng phân hóa học trên đồng ruộng với mức độ cao Những năm 80, mức độ phân bón cho 1 ha gieo trồng là 450 kg/ha Những năm gần đây, mức đó giảm dần: năm 1995, mức phân bón cho 1 ha gieo trồng còn 400 kg/ha Ở Nhật Bản, hóa chất phòng trừ sâu bệnh cũng được sử dụng với liều lượng cao Đến nay, lượng hóa chất trong nông nghiệp Nhật Bản cũng đã giảm dần Việc giảm mức phân bón và lượng hóa chất dùng trong nông nghiệp là kết quả của việc ý thức được rằng cần tránh cho đất, nước có dư lượng chất độc hại và bảo vệ môi trường Để phục vụ nhu cầu lao động cho công nghiệp, Nhật Bản

đã tích cực nghiên cứu sử dụng máy móc để cơ giới hóa nông nghiệp, sáng tạo ra những loại, kiểu máy thích hợp với đặc điểm của nông nghiệp Nhật Bản, như máy kéo nhỏ hai bánh làm việc được ở ruộng khô và ruộng nước, máy tuốt lúa, máy xay xát, máy cấy lúa, máy gặt tuốt lúa liên hợp, máy sấy lúa v.v…

Những năm 60 và 70, Nhật Bản tập trung vào cơ giới hóa riêng rẽ một số khâu canh tác chủ yếu như làm đất, tưới nước, phòng trừ sâu bệnh, đập lúa, xay xát, trên cơ sở hệ thống máy cơ khí nhỏ Đến những năm 80 và 90, nước này tiến lên cơ giới hóa đồng bộ, giảm chi phí lao động làm 1 ha lúa từ 2.000 giờ công (năm 1950) xuống còn 396 giờ công (năm 1995)

Về công nghệ sản xuất nông nghiệp, Nhật Bản đi vào công nghệ thâm canh hiện đại, điển hình là công nghiệp hóa làm mạ, đảm bảo cung cấp mạ có chất lượng tốt - điều kiện quyết định thâm canh tăng năng suất lúa và đặc biệt là đảm bảo cấy sớm, tránh được bão sớm ảnh hưởng đến mùa màng Nhật Bản cũng xây dựng một mạng lưới đường giao thông nông thôn hoàn chỉnh, tăng cường các phương tiện vận tải cơ giới và mạng lưới viễn thông nông thôn, xây dựng mạng lưới điện nông thôn rộng khắp

Công nghiệp chế biến nông sản ở Nhật Bản đặc biệt phát triển và đạt trình độ cao Tổ chức lưu thông buôn bán nông sản ở Nhật Bản cũng được hiện đại hóa cao

Ở trong nước, Nhật Bản tập trung sản xuất một số loại nông sản có giá trị kinh tế cao, sử dụng ít đất và lao động, thực hiện nông nghiệp sinh thái, phát triển nông nghiệp du lịch và các hoạt động ngoài nông nghiệp để tăng thu nhập cho nông dân Riêng sản xuất lúa gạo, Chính phủ Nhật Bản có dự án cải cách một cách cơ bản phương thức sản xuất lúa gạo theo hướng hình thành các trang trại quy mô lớn hơn, ứng dụng khoa học - công nghệ hiện đại để giảm giá thành sản phẩm, tạo ưu thế cạnh tranh về giá cả lúa gạo trên thị trường thế giới Tổng số tiền đầu tư cho dự án này là 7.200 tỷ yên

Trang 33

Nhờ vậy, tổng giá trị sản lượng nông sản tăng gần 6 lần (từ 2.000 tỷ yên lên gần 12.000 tỷ yên), trong khi lao động nông nghiệp giảm từ 11,8 triệu người (28% lao động xã hội ) xuống còn 3,35 triệu người ( 5,2% lao động xã hội), diện tích canh tác giảm từ 6 triệu ha xuống còn 4,4 triệu ha

2.Nông nghiệp Niu Dilân

Niu Dilân thuộc châu Đại Dương, nằm ở phía đông nam Thái Bình Dương, có khí hậu cận nhiệt đới hải dương, lượng mưa thay đổi theo vùng từ 400-5000mm Trong tổng số đất tự nhiên của Niu Dilân, đất nông nghiệp chiếm 14%, đồng cỏ các loại: 50%, rừng: 28%, đất khác: 8% Niu Dilân là nước công nghiệp phát triển Tuy nhiên, nông nghiệp nước này vẫn giữ một vị thế hết sức quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, với khối lượng nông sản xuất khẩu lớn, thu nhiều ngoại tệ

Bảng 5: Cơ cấu lao động và cơ cấu GNP phân theo ba khu vực (năm 1995),%

Cơ cấu sản phẩm nông nghiệp của Niu Dilân đa dạng, bao gồm nhiều loại nông sản, lâm sản, thủy hải sản Sản phẩm chăn nuôi là nguồn xuất khẩu chủ lực của Niu Dilân, vì chăn nuôi là ngành sản xuất chính, có nhiều thế mạnh của nước này

Niu Dilân chăn nuôi chủ yếu là gia súc Do có đồng cỏ tự nhiên chiếm 50% diện tích lãnh thổ, nên Niu Dilân nuôi gia súc chủ yếu theo phương thức quảng canh, có khi 2 ha đồng cỏ mới có 1 con gia súc Thức ăn chính của gia súc là cây cỏ tự nhiên sẵn có ở địa phương, vì các giống cỏ nơi khác đưa đến trồng đều không thích hợp

Trong thế kỷ XIX, cây cỏ tự nhiên ở Niu Dilân đảm bảo đủ thức ăn cho đàn gia súc, nhưng về sau cỏ ít dần đi Để tăng sản lượng cỏ, người chăn cừu thực hiện biện pháp đốt cánh đồng cỏ để khi mưa cỏ non mọc lên Biện pháp này đã làm cho đất trở lên chai cứng, độ màu mỡ bị suy kiệt Theo tính toán của các nhà khoa học, mỗi lần đốt, trên mỗi ha đồng cỏ mất đi 500kg N2 và thảm thực vật bị phá hủy Vì vậy, từ những năm 40, người ta đã phải

Ngày đăng: 14/02/2014, 17:48

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Số nông trại của Mỹ qua các thời kỳ - Một số vấn đề lý luận và giải pháp trong xây dựng nông nghiệp bền vững ở VN
Bảng 1 Số nông trại của Mỹ qua các thời kỳ (Trang 4)
Bảng 3: Năng suất một số sản phẩm nông nghiệp của Pháp (tấn/ha) - Một số vấn đề lý luận và giải pháp trong xây dựng nông nghiệp bền vững ở VN
Bảng 3 Năng suất một số sản phẩm nông nghiệp của Pháp (tấn/ha) (Trang 7)
Bảng 4: Chi phí lao động cho 1 ha gieo trồng  một số cây trồng ở Mỹ - Một số vấn đề lý luận và giải pháp trong xây dựng nông nghiệp bền vững ở VN
Bảng 4 Chi phí lao động cho 1 ha gieo trồng một số cây trồng ở Mỹ (Trang 8)
Bảng 5: Cơ cấu lao động và cơ cấu GNP phân theo ba khu vực (năm 1995),% - Một số vấn đề lý luận và giải pháp trong xây dựng nông nghiệp bền vững ở VN
Bảng 5 Cơ cấu lao động và cơ cấu GNP phân theo ba khu vực (năm 1995),% (Trang 33)
Bảng 6: Sản phẩm sữa(1000 tấn) - Một số vấn đề lý luận và giải pháp trong xây dựng nông nghiệp bền vững ở VN
Bảng 6 Sản phẩm sữa(1000 tấn) (Trang 34)
Mơ hình nơng nghiệp sinh thái cịn xuất hiện ở nhiều nơi trên thế giới: Mỹ, Pháp, CHLB Đức, Italia… tập trung chủ yếu vào sản xuất rau, quả sạch - Một số vấn đề lý luận và giải pháp trong xây dựng nông nghiệp bền vững ở VN
h ình nơng nghiệp sinh thái cịn xuất hiện ở nhiều nơi trên thế giới: Mỹ, Pháp, CHLB Đức, Italia… tập trung chủ yếu vào sản xuất rau, quả sạch (Trang 35)
Bảng 2.3: Doanh thu sản phẩm qua các năm - Một số vấn đề lý luận và giải pháp trong xây dựng nông nghiệp bền vững ở VN
Bảng 2.3 Doanh thu sản phẩm qua các năm (Trang 38)
Bảng 8: Giá trị sản xuất Nông – Lâm – Thủy sản ngoại thành Hà Nội - Một số vấn đề lý luận và giải pháp trong xây dựng nông nghiệp bền vững ở VN
Bảng 8 Giá trị sản xuất Nông – Lâm – Thủy sản ngoại thành Hà Nội (Trang 42)
trình và phương pháp hình thức đào tạo cùng với xây dựng và thực hiện các quy định, chế độ, chính sách phù hợp là hết sức cần thiết và cấp bách - Một số vấn đề lý luận và giải pháp trong xây dựng nông nghiệp bền vững ở VN
tr ình và phương pháp hình thức đào tạo cùng với xây dựng và thực hiện các quy định, chế độ, chính sách phù hợp là hết sức cần thiết và cấp bách (Trang 61)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w