Thực trạng quy trình chuyển đổi từ phương thức gia công xuất khẩu sang xuất khẩu trực tiếp tại công ty sản xuất - xuất khẩu dệt may.
Trang 1
LUẬN VĂN:
Thực trạng quy trình chuyển đổi từ phương thức gia công xuất khẩu sang xuất khẩu trực tiế tại công ty sản xuất - xuất
khẩu dệt may
Trang 2
Việt Nam cũng đang trong quá trình chuyển đổi mạnh mẽ và đang dần hội nhập với nền kinh tế thế giới, thể hiện ở việc các doanh nghiệp Việt Nam đã và đang vươn ra thị trường nước ngoài một cách mạnh mẽ thông qua đẩy mạnh các hoạt động xuất khẩu hàng hoá
Tập đoàn Dệt may Việt Nam la một doanh nghiệp sản xuất, xuất nhập khẩu dệt may lớn của cả nước Vinatex Imex là một công ty trực thuộc Tập Đoàn Dệt may, công ty đã va đang đong góp lớn vào kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước, góp phần xây dựng đất nước, đưa đất nước hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nhằm đề xuất các giải pháp thích hợp và có hiệu quả để chuyển đổi phương thức kinh doanh từ gia công sang xuất khẩu trưc tiếp
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Công nghiệp dệt may là một trong những ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam hiện nay Công ty sản xuất - xuất nhập khẩu Dệt may là một đơn vị xuất khẩu Dệt may lớn trong cả nước Tuy nhiên quá trình xuất khẩu lại chủ yếu dựa trên
Trang 3
phương thức gia công Do đó Công ty cần phải dần chuyển đổi phương thức kinh doanh từ gia công sang xuất khẩu trực tiếp để có thể thich nghi được với nhiều thị trường mới
4 Phương pháp nghiên cứu
Chuyên đề sử dụng các phương pháp nghiên cứu như phân tích, tổng hợp, so sánh nhằm giải quyết vấn đề đặt ra
Nguồn thông tin thu thập được lấy từ: Báo cáo tài chính tổng kết hoạt động kinh doanh của Công ty VINATEX, các sách báo về kinh doanh và các trang web điện tử…
Trang 4
KHẨU SANG XUẤT KHẨU TRỰC TIẾP CỦA CÁC DOANH
NGHIỆP XUẤT KHẨU MAY MẶC
1.1 Các lý thuyết truyền thống về thương mại quốc tế
1.1.1 Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối của Adam Smith
Adam Smith là người đầu tiên đưa ra sự phân tích có tính hệ thống về nguồn gốc của thương mại quốc tế Trong tác phẩm nổi tiếng" của cải của các dân tộc" xuất bản năm 1776 Adam Smith đã đưa ra ý tưởng về lợi thế tuyệt đối để giải thích nguồn gốc và lợi ích của thương mại quốc tế Theo Adam Smith nếu mỗi nước tập trung vào sản xuất mặt hàng mà mình có lợi thế tuyệt đối, và xuất khẩu mặt hàng này sang nước kia để đổi lấy mặt hàng mà mình có mức bất lợi tuyệt đối, thì sản lượng của cả hai mặt hàng sẽ tăng lên và cả hai quốc gia đều có lợi
Lợi thế tuyệt đối là cơ sở để các quốc gia xác định hướng chuyên môn hoá vá trao đổi các mặt hàng, qua đó có thể giúp giải thích cho một phần nhỏ của thương mại quốc tế Tuy nhiên, mô hình của Adam Smith không giải thích được trường hợp tại sao thương mại vẫn có thể diễn ra khi một quốc gia có mức bất lợi tuyệt đối (hoặc lợi thế tuyệt đối) về tất cả các mặt hàng Do vậy lý thuyết của Adam Smith không giải thích được
1.1.2 Lý thuyết về lợi thế so sánh của David Ricardo
Vào đầu thế kỉ 19 nhà kinh tế học người Anh là David Ricardo đã chỉ ra rằng thương mại có lợi cho tất cả các bên chỉ có thể xảy ra trên cơ sở lợi thế so sánh của
Trang 5
các quốc gia: " lợi thế so sánh là lợi thế đạt được trong trao đổi quốc tế, khi mỗi quốc gia tập trung chuyên môn hoá sản xuất và trao đổi sản phẩm có lợi thế là lớn nhất hoặc bất lợi là nhỏ nhất thì tất cả các quốc gia đều cùng có lợi "
Tức là theo David Ricardo nếu một quốc gia bị bất lợi trong việc sản xuất tất
cả các mặt hàng thì quốc gia đó vẫn có thể tham gia vào thương mại quốc tế nếu họ lựa chọn mặt hàng có bất lợi là nhỏ nhất để xuất khẩu và nhập khẩu những mặt hàng
có bất lợi là lớn nhất và các quốc gia đều sẽ thu được lợi ích
1.1.3.Lý thuyết Heckscher - Ohlin
Vào đầu thế kỉ XX hai nhà kinh tế học người Thụy Điển là Eli Heckscher và Bertil Ohlin đã đề xuất quan điểm cho rằng chính mức độ sẵn có của các yếu tố sản xuất ở các quốc gia khác nhau và hàm lượng các yếu tố sản xuất sử dụng để làm ra các mặt hàng khác nhau là những nhân tố quan trọng trong thương mại
Lý thuyết H-O được xây dựng dựa trên 2 khái niệm cơ bản là hàm lượng các yếu tố và mức độ dồi dào của các yếu tố Một mặt hàng được coi là sử dụng nhiều lao động nếu tỉ lệ giữa lao động và các yếu tố khác ( vốn, đất đai ) sử dụng để sản xuất ra một đơn vị mặt hang đó lớn hơn tỉ lệ tương ứng các yếu tố đó để sản xuất ra một đơn vị mặt hàng thứ hai, tương tự nếu tỉ lệ giữa vốn và các yếu tố khác là lớn hơn thì mặt hàng được coi là có hàm lượng vốn cao Chẳng hạn mặt hàng Y được coi là có hàm lượng lao động cao nếu: Lx/Kx > Ly/Ky
Lx, Ly là lượng lao động cần thiết để sản xuất ra một đơn vị X và Y
Kx, Ky là lượng vốn cần thiết để sản xuất ra một đơn vị X và Y
Tóm lại, theo H-O "một quốc gia sẽ xuất khẩu các mặt hàng mà việc sản xuất đòi hỏi sử dụng nhièu một cách tương đối yếu tố sản xuất dồi dào của quốc gia đó"
Trang 6
Qua các lý thuyết truyền thống của thương mại quốc tế có thể giải thích được: tại sao các quốc gia lại buôn bán với nhau, các loại hàng hoá dịch vụ nào được đưa vào trao đổi buôn bán , thương mại quốc tế sẽ đem lại lợi ích gì cho các quốc gia…
Các quốc gia sẽ xuất khẩu các mặt hàng mà mình có lợi thế và nhập khẩu các mặt hàng còn thiếu, mỗi quốc gia muốn phát triển thịnh vượng thì xuất khẩu phải là một yếu tố được coi trọng hàng đầu Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó
và xuất khẩu may mặc đang là một ngành được quan tâm và phát triển
1.2 Vai trò của xuất khẩu trong các doanh nghiệp xuất khẩu may mặc Việt Nam
Xuất khẩu là một hoạt động rất cơ bản và quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, là phương tiện thúc đẩy nền kinh tế phát triển Với một nước đang phát triển như Việt Nam, việc mở rộng xuất khẩu có ý nghĩa vô cùng quan trọng đặc biệt là việc xuất khẩu những mặt hàng chúng ta có thế mạnh như hàng may mặc Vai trò của việc xuất khẩu hàng may mặc đối với nền kinh tế Việt Nam là rất to lớn thể hiện ở chỗ:
1.2.1 Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu để phát triển kinh tế
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là một bước đi tất yếu để phát triển kinh tế đất nước là một bước đi tất yếu để phát triển kinh tế đất nước, đưa đất nước
ra khỏi tình trạng đói nghèo Muốn cho sự nghiệp Công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH HĐH) đất nước diễn ra nhanh chóng và có hiệu quả thì cần một lượng vốn lớn để nhập khẩu các trang thiết bị, máy móc, công nghệ hiện đại và đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật Một trong những nguồn thu ngoại tệ đáp ứng nhu cầu là thu từ xuất khẩu
Trên thực tế, để có nguồn vốn phục vụ nhập khẩu và xây dựng cơ sở hạ tầng,
Trang 7
các nước sẽ phải huy động vốn từ các nguồn khác nhau như: đầu tư nước ngoài, vay
nợ, nhận viện trợ, thu từ xuất khẩu Nhưng các nguồn viện trợ đi vay thường rất
khó khăn và khi sử dụng cần phải gắn liền với trách nhiệm trả nợ Bởi vậy, nguồn
vốn thu từ hoạt động xuất khẩu là nguồn vốn quan trọng nhất để thoả mãn nhu cầu
nhập khẩu và phục vụ cho sự nghiệp CNH - HĐH đất nước
Xuất khẩu và nhập khẩu có quan hệ mật thiết với nhau, xuất khẩu tạo ra nguồn vốn để nhập khẩu, nhập khẩu tạo điều kiện để thúc đẩy xuất khẩu phát
triển xuất khẩu quy định quy mô và tốc độ tăng của nhập khẩu Do đó, trong kinh
doanh phải luôn kết hợp giữa xuất khẩu và nhập khẩu
Ngành dệt may nói chung và hàng may mặc nói riêng luôn là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực Việt Nam Trong những năm gần đây kim ngạch xuất
khẩu dệt may luôn đứng ở vị trí thứ hai trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả
nước, đóng góp một phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế đất nước và tạo ra
một lượng ngoại tệ lớn để đầu tư vào trang thiết bị, máy móc, cơ sở hạ tầng
Bảng 1.1 Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may
Việt Nam trong những năm gần đây
%
Lượng (trUSD)
Tỉ trọng
%
Lượng (trUSD)
Tỉ trọng
%
Lượng (trUSD)
Tỉ trọng
%
Lượng (trUSD)
Tỉ trọng
Trang 8
dệt
may
(Nguồn: Tình hình kinh tế xã hội năm 2002 - 2006)
Có thể thấy kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam trong những năm gần đây đã tăng lên khá nhanh cụ thể:
Năm 2002 tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 2.752 triệu USD, chiếm tỷ trọng 16,5% trong tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của cả nước Năm 2003 tổng kim ngạch xuất khẩu tăng lên đạt 3.630 triệu USD, tăng 31,9% so với năm 2002, chiếm
tỉ trọng 18,0% trong tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của cả nước Năm 2004, 2005 tổng kim ngạch xuất kh?u đều tăng và đến năm 2006 tổng kim ngạch đã đạt Có thể nói đây là một sự cố gắng rất lớn của ngành may mặc
1.2.2 Xuất khẩu góp phần thay đổi cơ cấu vật chất của sản phẩm thúc đẩy sản xuất phát triển
Nhu cầu của con người ngày càng cao và luôn biến đổi Ngày nay, quần áo không chỉ có ý nghĩa để mặc mà đòi hỏi phải đẹp, hợp thời trang Hay nói cách khác chức năng làm đẹp của con người ngày càng có ý nghĩa và trở thành chủ yếu trong các yêu cầu đối với sản phẩm may mặc Nhu cầu của người dân ở mỗi nước lại có sự khác biệt đáng kể, chỉ dựa vào khả năng sản xuất của một nước thì nhu cầu của người dân nước đó sẽ không được thoả mãn một cách tốt nhất và hiệu quả kinh doanh mang lại không cao
Xuất khẩu phát triển tạo điều kiện thoả mãn tốt hơn nhu cầu của người dân trên toàn thế giới Thông qua hoạt động thương mại quốc tế, một nước có thể
Trang 9
chuyên môn hoá vào việc sản xuất mặt hàng nào mà nước đó có lợi thế hơn, từ đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước theo hướng chuyên môn hoá, nhờ đó làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế
1.2.3 Xuất khẩu góp phần giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống nhân dân
Sự phát triển của hoạt động xuất khẩu có một phần đóng góp của lực lượng lao động để làm ra các sản phẩm phục vụ cho xuất khẩu Trong số các ngành Công nghiệp thì ngành Công nghiệp sản xuất hàng may mặc tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao động nhất bởi do đặc thù của ngành đòi hỏi một đội ngũ lao động khéo léo, cần cù và tỉ mỉ Điều này rất phù hợp với lao động của Việt Nam Tuy nhiên, lao động trong lĩnh vực may mặc không đòi hỏi có tay nghề cao Vì vậy để góp phần đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước thì việc đầu tư phát triển ngành CN này
là một việc làm rất cần thiết
1.2.4 xuất khẩu hàng may mặc tạo điều kiện mở rộng và thúc đẩy các quan hệkt đối ngoại và quảng bá thương hiệu của mặt hàng trên thị trường thế giới
Ngành công nghiệp may mặclà một ngành xuất khẩu mũi nhọn của cả nước,
do vậy việc thúc đẩy phát triển xuất khẩu mặt hàng này cũng đồng nghĩa với việc thúc đẩy các quan hệ kinh tế phát triển
1.3 Các phương thức kinh doanh xuất khẩu chủ yếucủa các doanh nghiệp may mặc xuất khẩu Việt Nam
Trong buôn bán quốc tế hiện nay tồn tại khá nhiều phương thức kinh doanh xuất khẩu, trong đó các doanh nghiệp Việt Nam thường áp dụng các phương pháp sau:
Trang 101.3.1.2 Đặc điểm
Gia công xuất khẩu là một phương thức uỷ thác gia công trong đó hoạt động xuất nhập khẩu gắn liền với hoạt động sản xuất Trong quá tình gia công, bên nhận gia công trong nước bỏ ra lao động, tiền chi phí gia công là thù lao lao động
Thị trường nướcngoài là nơi cung cấp nguyên vật liệu đồng thời cũng là thị trường tiêu thụ sản phẩm đó
b, Nhược đểm
Doanh nghiệp gia công thường bị động và phụ thuộc vào phía nước ngoài,
Trang 11
thường bị ép giá và không chủ động trong kinh doanh
Hiệu quả kinh doanh còn thấp, thu lợi ích
Hoạt động qua công không mở đường cho các ngnàh có liên quan phát triển vì các yếu tố đầu vào chủ yếu do bên đặt gia công cung cấp
1.3.1.3 Các loại hình gia công
a, Phân theo quyền sở hữu nguyên liệu
+ Bên đặt gia công giao nguyên liệu hoặc bán thành phẩm cho bên nhận gia công và sau thời gian sản xuất, chế tạo sẽ mua lại thành phẩm
b, Phân theo giá cả gia công
+ Hợp đồng thực thanh, thực chi
+ Hợp đồng khoán
c Phân theo số bên tham gia
+ Gia công hai bên
+ Gia công nhiều bên
1.3.1.4 Nội dung cơ bản của phương thức gia công xuất khẩu
Sơ đồ 2.1 Quy trình thực hiện hợp đồng gia công xuất khẩu
Thuê tàu
Mở L/C
Gia công chuẩn
bị hàng hoá
Cân đối
Kiểm tra hàng hoá
Nhận hàng
Làm thủ tục Hải Quan
Trang 121.3.2.1 Ưu nhược điểm
a, Ưu điểm
- Giảm được chi phí trung gian, nâng cao sức cạnh tranh cho doanh nghiệp, từ
đó tối đa được lợi nhuận
- Nâng cao hiệu quả đàm phán giao dịch dần tới nâng cao hiệu quả kinh doanh
Trang 13- Đối với thị trường mới, mặt hàng mới thường khó khăn trong việc giao dịch
do doanh nghiệp phải lo các yếu tố đầu vào và trực tiếp đối mặt với thị trường đầu
ra
- Xuất khẩu trực tiếp đòi hỏi khối lượng giao dịch hàng hoá phải lơn
- Đòi hỏi doanh nghiệp phải có đủ tiềm lực về tài chính để đứng vững được trên thị trường
1.3.2.3 Nội dung cơ bản của phương thức xuất khẩu trực tiếp phương thức kinh doanh xuất khẩu trực tiếp được thực hiện qua các bước sau:
+ Nghiên cứu thị trường
+ Lập phương án kinh doanh
+ Giao dịch đàm phán và ký hợp đồng
+ Thực hiện hợp đồng xuất khẩu
Trang 14
Sơ đồ 2.2 Quá trình giao dịch thương mại quốc tế
Sơ đồ 1.3 Quy trình thực hiện hợp đồng xuất khẩu trực tiếp
Hỏi giá
Chào hàng
Chào hàng cố định Chào hàng tự do
Hoàn
giá
Chấp nhận
Chấp nhận
Hoàn giá
Chuẩn bị hàng hoá
Mua bảo hiểm
( nếu cần)
Làm thủ tục hải quan
Kiểm tra hàng hoá
Thuê tàu ( nếu cần )
Giao hàng lên
tàu
Làm thủ tục thanh toán
Giải quyết tranh chấp ( nếu có )
Trang 15
1.4 Các điều kiện cơ bản để chuyển đổi phương thức gia công xuất khẩu sang xuất khẩu trực tiếp
1.4.1 Điều kiện về việc chủ động tìm thị trường may mặc xuất khẩu
Trong hoạt động gia công xuất khẩu, công tác chủ động tìm kiếm thị trường không được chú trọng và đầu tư nhiều Do đặc điểm và bản chất của nghiệp vụ gia công xuất khẩu là doanh nghiệp chỉ đóng vai trò của người làm thuê ăn lương, hầu hết các yếu tố đầu vào, toàn bộ sản phẩm đầu ra đều do bên đặt gia công đảm nhận, mọi rủi ro trong hoạt động gia công các doanh nghiệp không phải chịu, đổi lại doanh nghiệp luôn có môt khoản doanh thu nhất định thường rất thấp so với giá trị của toàn bộ hợp đồng
Khi doanh nghiệp tiến hành chuyển đổi phương thức từ gia công xuất khẩu sang xuất khẩu trực tiếp họ cần phải chủ động trong công việc, phải thực hiện tất cả các khâu từ việc mua nguyên vật liệu đến khâu cung ứng sản phẩm ra thị trường Điều này đưa doanh nghiệp phải đối với những khó khăn và mức độ rủi ro cao
Sản phẩm may mặc là sản phẩm có chu kì sống ngắn và đặc biệt ngày càng thay đổi hết sức nhanh chóng Nhu cầu của người tiêu dùng ngày được nâng cao, đòi hỏi khắt khe hơn, tính thẩm mỹ cao hơn cùng với hàm lượng kỹ thuật cao trong sản phẩm Do đó, buộc các doanh nghiệp may mặc trong nước phải chủ động để nắm bắt nhanh chóng, phù hợp với những nhu cầu và đòi hỏi đó Doanh nghiệp cần hiểu
rõ những đặc điểm thị trường tiêu thụ như phải quan tâm tới chất lượng của sản phẩm
Với phương thức gia công xuất khẩu: doanh nghiệp đảm nhận khâu làm ra sản phẩm Do vậy, nếu sản phẩm gia công có chất lượng tốt thì sẽ làm tăng thêm uy tín,
sự tin tưởng, tín nhiệm từ phía đối tác và có nhiều hợp đồng gia công được hợp ý
Trang 16Tuỳ vào những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của mỗi vùng, mỗi địa phương, tuỳ vào sở thích, yêu cầu của người tiêu dùng mà đáp ứng nhu cầu họ bằng các sản phẩm có chất lượng khác sản phẩm của doanh nghiệp được các thị trường chấp nhận thì đương nhiên sản phẩm làm ra sẽ được tiêu thụ và sẽ có đủ khả năng để cạnh tranh với các sản phẩm của đối thủ Nhờ vậy mà doanh nghiệp sẽ duy trì và mở rộng được thị trường Ngược lại, chất lượng sản phẩm không tốt thì sản phẩm đó sẽ
bị đào thải, mang đến những khó khăn cho doanh nghiệp
Như vậy, khi xã hội càng phát triển thì nhu cầu của con người ngày càng cao
và họ cũng đòi hỏi sản phẩm phải đẹp, chất lượng cao Trong điều kiện hiện nay khi các doanh nghiệp xuất khẩu may mặc trong nước muốn chuyển đổi phương thức kinh doanh từ gia công sang xuất khẩu trực tiếp doanh nghiệp cần phải đặc biệt chú trọng tới chất lượng sản phẩm
Chất lượng sẽ đảm bảo cho doanh nghiệp giữ vững được vị thế, uy tín, danh tiếng không ngừng tăng, tạo điều kiện thuận lợi trong công tác phát triển thị trường
1.4.2 Điều kiện về nghiên cứu mẫu mã, và phát triển sản phẩm mới
Đây là điều kiện quan trọng để các doanh nghiệp khi vận hành phương thức kinh doanh mới có thể đứng vững và phát triển Nó là một khâu góp phần để nâng cao chất lượng sản phẩm và là một trong những yếu tố tác động trực tiếp tới nhu cầu của sản phẩm
Trang 17
Hiện tại các doanh nghiệp trong nước tiến hành hoạt động theo phương thức gia công xuất khẩu do đó mọi mẫu mốt đều do khách hàng cung cấp, các doanh nghiệp thiếu chủ động trong khâu thiết kế sản phẩm mới Đây là một khó khăn rất lớn khi muốn chuyển đổi phương thức kinh doanh Đối với phương thức xuất khẩu trực tiếp các doanh nghiệp phải tự nghiên cứu thiết kế mẫu mốt và phát triển sản phẩm mới Điều đó tạo điều kiện cho các doanh nghiệp dần làm chủ được thị trường không phụ thuộc vào khách hàng nước ngoài Có như vậy thì việc chuyển đổi phương thức kinh doanh trong các doanh nghiệp đang thực hiện phương thức gia công xuất khẩu mới đem lại hiệu quả Tóm lại, việc nghiên cứu mẫu mốt phát triển sản phẩm mới kịp thời, nhanh chóng, phù hợp với thị trường là điều kiện không thể thiếu trong phương thức xuất khẩu trực tiếp Nó là điều kiện hết sức cần thiết đối với các doanh nghiệp khi muốn chuyển đổi phương thức kinh doanh
1.4.3 Điều kiện về năng lực của doanh nghiệp
Điều kiện này thực chất là xem xét điều kiện của doanh nghiệp xuất khẩu may mặc như về máy móc, thiết bị công nghệ; điều kiện về vốn; điều kiện về trình
độ lao động có thích ứng được với sự thay đổi nhanh chóng của thị trường hay không, để có thể chuyển đổi được phương thức kinh doanh
1.4.3.1 Điều kiện về máy móc, thiết bị công nghệ
Máy móc, trang thiết bị công nghệ là yếu tố vận hành hoạt động trong các doanh nghiệp Nó là một trong các yếu tố tác động trực tiếp tới chất lượng sản phẩm Vì vậy, các doanh nghiệp cần phải đầu tư mua các máy móc thiết bị tiên tiến, phù hợp với điều kiện thực tế hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.4.3.2.Điều kiện về trình độ lao động
Con người là yếu tố quan trọng nhất cần có để tiến hành bất cứ một hoạt động
Trang 18
nào, có lao động thì mới tạo ra được sản phẩm, mới có thể duy trì được hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Để tạo ra được sản phẩm có chất lượng cao người lao động phải có trình độ chuyên môn và tay nghề tinh thông Chính vì vậy, trong bất kỳ phương thức kinh doanh nào thì yếu tố lao động cũng cần được chú trọng vì nếu có được một đội ngũ cán bộ năng động, giỏi về nghiệp vụ, có trình độ và kinh nghiệm thì sẽ giúp cho doanh nghiệp phát triển ngày càng lớn mạnh
1.4.3.3 Điều kiện về vốn
Vốn là điều kiện không thể thiếu trong quá trình hoạt động kinh doanh của tất
cả các doanh nghiệp Vốn là điều kiện có tính xương sống, là “điều kiện cần” cho mọi loại hình doanh nghiệp, mọi phương thức hoạt động kinh doanh
Các doanh nghiệp muốn chuyển đổi phương thức kinh doanh từ gia công sang xuất khẩu trực tiếp cần phải có nhiều vốn để đầu tư, đổi mới thiết bị, bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ công nhân viên cho phù hợp Để có thể tự chủ trong việc mua nguyên vật liệu, các yếu tố đầu vào, cũng như tăng cường công tác nghiên cứu tiếp cận thị trường nhằm chủ động trong việc tìm nguồn tiêu thụ sản phẩm Điều đó chỉ có thực hiện được trong các doanh nghiệp có vốn
Trang 19- XUẤT NHẬP KHẨU DỆT MAY (VINATEX IMEX)
2.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty
Công ty sản xuất - xuất nhập khẩu dệt may la doanh nghiệp nhà nước, là thành viên hạch toán phụ thuộc Tổng công ty Dệt may Việt Nam Doanh nghiệp hoạt động theo luật doanh nghiệp nhà nước, các quy định hiện hành của pháp luật và các điều
lệ tổ chức và hoạt động của công ty
Công ty được thành lập theo quyết đinh số 253/TTg ngày 29 tháng 04 năm
1995 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Tổng Công ty Dệt – May Việt Nam
và Nghị định số 55/CP ngày 06 tháng 09 năm 1995 của Chính phủ phê chuẩn điều lệ
tổ chức và hoạt động của Tổng công ty Dệt may Việt Nam
Căn cứ nghị định số 180/2004/ND ngày 28/10/2004 của Thủ tướng Chính phủ
về việc thành lập mới, tổ chức lại và giai thể Công ty Nhà nước và Thông tư 04/2005 thị trường – BKH Ngày 17/08/2005 của Bộ Kế hoạch Đầu tư hướng dẫn trình tự thủ tục thành lập mới, tổ chức lại, đăng ký kinh doanh và giải thể Công ty nhà nước, thực hiện quyết định của hội đồng quản trị Tổng Công ty Dệt may Việt Nam, theo đề nghị của Tổng Giám Đốc Tổng công ty đã quyết định hợp nhất công
ty xuất nhập khẩu Dệt may và Công ty dịch vụ Thương mại số 1 thành: Công ty sản xuất - xuất nhập khẩu Dệt may, đợ vị hạch toán phụ thuộc Tập Đoàn Dệt May Việt Nam
Tên giao dịch Quốc tế:
Trang 20
The Garment - Textiles Import - Export and Prodvction Corporation
Tên viết tắt là: VINATEXIMEX
Trụ sở được đặt tại: Số 20 đường Lĩnh Nam - Quận Hoàng Mai TP Hà Nội
2.2 Chức năng và nhiệm vụ của Công ty
Theo điều lệ tổ chức và hoạt động, Công ty có các chức năng và hoạt động chính như sau:
Kinh doanh xuất nhập khẩu hàng dệt may, nguyên liệu, phụ liệu, máy móc, thiết bị, phụ tùng, sản phẩm dệt may và các hàng hoá khác liên quan đến ngành dệt may
Kinh doanh dịch vụ giao nhận vận chuyển, tư vấn và đại lý bán hàng; liên doanh, liên kết với các tổ chức kinh tế; tiến hành các hoạt động kinh doanh ngành nghề khác theo quy định của pháp luật và các nhiệm vụ khác do Tập đoàn giao Là công cụ của Tập đoàn trong tham mưu về thị trường nội địa, thị trường nước ngoài trong nước chế độ, chính sách phát triển, mở rộng thị trường xuất khẩu, giúp các nhà máy còn yếu về nghiệp vụ xuất khẩu
Thực ra, hệ thống khách hàng, quan hệ thị trường rộng lớn và các quan hệ đa dạng, lâu năm với các cơ sở sản xuất của công ty hiện nay phải biết rõ từ những năm
70, khi đó Nhà nước còn nắm độc quyền trong kinh doanh xuất nhập khẩu với các
Tổng công ty chuyên ngành, trong đó có Tổng công ty xuất nhập khẩu dệt Đầu những năm 80, khi Đảng và Nhà nước chủ trương lưu thông gắn với sản xuất thì Tổng công ty xuất nhập khẩu Dệt chuyển về trực thuộc bộ Công nghiệp nhẹ, rồi Liên hiệp Dệt Sau đó cùng Liên hiệp May sáp nhập thành Tổng Công ty Dệt may Việt Nam Các phòng xuất nhập khẩu nằm ở trong ban xuất nhập khẩu và là một
Trang 21
trong nhiều ban chức năng của Tổng công ty Dệt May Việt Nam Đến năm 2000, do
việc sắp xếp đổi mới doanh nghiệp Tổng công ty chỉ làm công tác quản lý ngành
nên Ban xuất nhập khẩu được tách thành Công ty xuất nhập khẩu dệt may và hiện nay là Công ty sản xuất nhập khẩu Dệt May Công ty là một trong những đơn vị có kim ngạch xuất khẩu lớn Đứng đầu trong hàng ngũ những thành viên làm ăn có hiệu quả của tập đoàn Dệt May Việt Nam
2.3 Cơ cấu, tổ chức bộ máy của Công ty
Điều hành hoạt động của công ty là Tổng giám đốc và Phó Tổng giám đốc,
giúp việc cho giám đốc trong quản lý và điều hành công việc của các phòng chuyên môn, nghiệp vụ như: Phòng tổ chức hành chính, phòng tài chính - kế toán Phòng kế
hoạch tổng hợp, phòng kinh doanh xuất nhập khẩu vật tư, phòng xuất nhập khẩu dệt
may, phòng kinh doanh nội địa, phòng kinh doanh xuất nhập khẩu Tổng hợp, trung tâm thiết kế mẫu, xí nghiệp sản xuất kinh doanh chỉ Mỗi phòng có 01 đồng chí cấp trưởng và từ 01 đến 02 đồng chí cấp phó giúp việc
Sơ đồ2.1.Bộ máy quản lý của công ty
Trang 22Phòng kế hoạch tổng hợp
Phòng kinh doanh xuất nhập khẩu
Phòng xuất nhập khẩu dệt may
Phòng kinh doanh nội địa
Phòng kinh doanh xuất nhập khẩu hợp
Trung tâm thiết kế mẫu
P.Tổng Giám Đốc
Tổng Giám Đốc
Trang 23
đốc công ty là một đại diện pháp nhân có quyền cao nhất trong công ty, chịu trách
nhiệm trước Tập đoàn và pháp luật về mọi hoạt động của đơn vị mình quản lý Khi vắng mặt, Tổng Giám đốc uỷ quyền cho một phó tổng giám đốc quản lý và điều hành công ty
Phó Tổng giám đốc giúp Tổng giám đốc điều hành một hoặc một số lĩnh vực của Công ty theo sự phân công của Tổng giám đốc công ty, chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc công ty và pháp luật về những công việc được giao Phó Tổng giám đốc công ty do Tổng giám đốc Tổng công ty bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng và
kỷ luật theo đề nghị của Tổng giám đốc công ty
- Phòng tổ chức hành chính:
Về tổ chức:
Tham mưu cho lãnh đạo về công tác cán bộ sắp xếp, luân chuyển cán bộ, lên
kế hoạch đào tạo cán bộ, lưu dữ hồ sơ cán bộ, lao động tiền lương, công tác thi đua khen thưởng
Về hành chính:
Luân chuyển công văn giấy tờ, công tác văn thư, điều động lái xe phục vụ lãnh đạo các Phòng đi công tác lên kế hoạch văn phòng phẩm
- Phòng Tài chính - Kế toán:
Giúp lãnh đạo về công tác tài chính, kế toán, lo vốn kịp thời để các phòng có
vốn kinh doanh, công tác phòng lên phương án kinh doanh từng mặt hàng để bảo đảm kinh doanh có lãi, lên báo cáo Tài chính Thông tin kịp thời cho các phòng về
các chủ trương mới về thuế, về chính sách hoàn thuế
Trang 24
- Phòng kế hoạch tổng hợp:
Tham mưu cho lãnh đạo về công tác kế hoạch, rà soát, đôn đốc các Phòng
thực hiện kế hoạch lên các biểu báo cáo kế hoạch Từ đó phân tích mặt khác tiến độ tăng trưởng, giảm sút để lãnh đạo kịp thời chỉ đạo điều hành Bên cạnh đó Phòng còn có nhiệm vụ tham mưu cho Ban giám đốc về chính sách thị trường của các nước, xúc tiến công tác, xúc tiến thương mại; thu thập, xử lý thông tin từ Phòng kinh doanh về khách hàng và về giá cả mặt hàng
- Phòng kinh doanh xuất khẩu vật tư:
Chuyên kinh doanh xuất nhập khẩu máy móc, nguyên phụ liệu: bông, xơ, tơ, sợi hoá chất về phục vụ các nhà máy dệt trong ngành
- Phòng xuất nhập khẩu dệt may:
Chuyên kinh doanh xuất nhập khẩu hàng dệt may như: các loại khăn bông, áo dệt kim, áo len áo sơ mi, quần
- Phòng kinh doanh nội địa:
Sáng tác, chọn mua vải trong nước để may đồng phục cho khách sạn, nhà hàng; cung cấp các quần áo bảo hộ mang thương hiệu Vinatex
- Phòng kinh doanh xuất khẩu hàng tổng hợp:
Với chức năng kinh doanh đa ngành nghề: kinh doanh hàng may mặc, các mặt hàng công nghệ cao: điều hoà, vi tính, thang máy , kinh doanh thiết bị máy móc phục vụ ngành may làm đại lý độc quyền cung cấp máy may cho các hàng nổi tiếng của Nhật như Juhi
Trang 25
- Trung tâm thiết kế mẫu
Góp phần vào việc kinh doanh, mặt hàng quần áo bảo hộ lao động, đồng phục của công ty trong vấn đề thiết kế mẫu kiểm tra, giám sát chất lượng…
2.4 Tổng quan về hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
2.4.1 Môi trường hoạt động của công ty
Môi trường kinh doanh bao gồm tất cả những điều kiện bên trong và bên
ngoài ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Đối với công ty sản
xuất xuất nhập khẩu Dệt May, môi trường kinh doanh hiện nay đã mở ra những cơ hội mới Bên cạnh những thuận lợi mới nó cũng tạo ra không ít những khó khăn, khó khăn lớn nhất là trong điều kiện hội nhập ngày nay khi mà Việt Nam đã chính thức là thành viên của WTO
2.4.1.1 Thuận lợi
Với chính sách mở cửa đa dạng hoá, đa phương hoá với các nước, Việt Nam
đã là thành viên của ASEAN, APEC, ASEM và đặc biệt Việt Nam đã gia nhập vào WTO điều này sẽ tạo điều kiện cho việc tiếp xúc với bạn hàng quốc tế và công ty
có cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu của mình
- Công ty được sự quan tâm hỗ trợ đặc biệt và sự chỉ đạo có hiệu quả của các Ban chức năng của Tổng công ty
- Ban lãnh đạo công ty đoàn kết nhất trí, chỉ đạo xuyên suốt tới các phòng, các cán bộ công nhân viên và đặc biệt là sự quan tâm hỗ trợ của lãnh đạo Tập đoàn nên công ty đã phát huy tích cực năng lực hoạt động và khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường nước ngoài
Trang 26+ Vốn lưu động ít nên số tiền vay ngân hàng để kinh doanh lớn
- Khi hợp nhất Công ty cũng gặp phải những khó khăn nhất định
Trang 27
+ Về hoạt động sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu: Có những khách kinh doanh bị trùng lặp dẫn đến làm giảm doanh thu cũng bị tác động không nhỏ ảnh hưởng tới hiệu quả công việc
+ Về văn hoá doanh nghiệp và phương pháp làm việc giữa 2 đơn vị có sự khác nhau nên phải có quá trình hoà nhập
2.4.2 Mặt hàng kinh doanh của Công ty:
Kinh doanh nguyên liệu, vật tư, thiết bị phụ tùng, phụ liệu, hoá chất, thuốc nhuộm và các sản phẩm cuối cùng của ngành dệt may; sản xuất kinh doanh hàng dệt may gồm các chủng loại xơ, sợi, vải, hàng may mặc, dệt kim, chỉ khâu, khăn bông, len, thảm đay, tơ tằm
Kinh doanh nguyên liệu bông xơ: kiểm nghiệm chất lượng bông sơ phục vụ cho sản xuất kinh doanh và nghiên cứ khoa học
- Xuất nhập khẩu:
Hàng dệt may (Gồm các chủng loại bông xơ, sợi, vải, hàng may mặc, dệt kim, chỉ khâu, khăn bông, len, thảm đay tơ tằm, nguyên liệu, dệt kim chỉ khâu, khăn bông, len, thảm, đay, tơ tằm, nguyên liệu); thiết bị phụ tùng ngành dệt may, phụ liệu hoá chất thuốc nhuộm; hàng công nghiệp thực phẩm: Nông, lâm, hải sản
Thủ công mỹ nghệ: Ôtô, xe máy và các mặt hàng tiêu dùng khác;
Trang thiết bị văn phòng, thiết bị tạo mẫu thời trang;
Phương tiện vận tải, vật liệu điện, điện tử, cao su
- Dịch vụ:
Trang 28
Thi công, lắp đặt hệ thống điện dân dụng công nghiệp phục vụ ngành dệt may Thi công lắp đặt hệ thống điện lạnh, tư vấn, thiết kế quy trình công nghệ, bố trí máy móc thiết bị cho ngành dệt may, da giầy, lắp đặt hệ thống điện lạnh: Tư vấn, thiết kế quy trình công nghệ, bố trí máy móc thiết bị cho ngành dệt may, da giầy; lắp đặt hệ thống điện công nghiệp, hệ thống cẩu, nâng hạ, thang máy; sản xuất kinh doanh sửa
chữa lắp đặt các sản phẩm cơ khí và máy móc thiết bị công nghiệp; thực hiện các
dịch vụ Thương mại và công việc có tính chất công nghiệp, dịch vụ đào tạo nghề may công nghiệp, uỷ thác mua bán xăng dầu; kinh doanh kho vận, kho ngoại quan, dịch vụ du lịch, khách sạn, nhà hàng, văn phòng, vận tải, du lịch lữ hành trong nước
- Kinh doanh thương mại: Kinh doanh hàng công nghiệp phẩm: Nông, lâm, hải sản; Thủ công mỹ nghệ; ôtô xe máy; Các mặt hàng tiêu dùng khác như thiết bị phụ tùng ngành dệt may; trang thiết bị văn phòng, văn phòng phẩm, thiết bị tạo mẫu thời trang, phương tiện vận tải, vật liệu điện - điện tử, đồ nhựa - cao su; nước uống dinh dưỡng và mỹ phẩm các loại, phụ tùng, máy móc thiết bị; dụng cụ quang học,
hệ thống kiểm tra đo lường phục vụ các công tác thí nghiệm; phế liệu và thành phẩm sắt, hép và kim loại màu
- Các ngành nghề khác theo quy định của pháp luật
2.4.3 Đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của công ty
Bảng 2.1 Đánh giá hoạt động kinh doanh của công ty trong 5 năm từ 2001 đến 2005
Trang 29Doanh thu (Tỉ VND)
Xuất khẩu (Tr USD)
Doanh thu (Tỉ VND)
Xuất khẩu (Tr USD)
Doanh thu (Tỉ VND)
Xuất khẩu (Tr USD)
Doanh thu (Tỉ VND)
Xuất khẩu (Tr USD) Xuất
( Nguồn: Báo cáo tài chính của Công ty từ năm 2001 đến 2005 )
Qua biểu đồ phân tích kết quả kinh doanh của công ty theo các phòng ban ta thấy rằng: Dệt là sản phẩm xuất khẩu chủ lực của công ty, chiếm trên 80% tổng kim ngạch xuất khẩu và luôn hoàn thành vượt mức kế hoạch cả về doanh thu và xuất khẩu
Phòng xuất khẩu may đứng thứ 2 về số lượng khách hàng và doanh thu, tuy
Trang 30
nhiên doanh số khách hàng luôn bị động không ổn định và có xu hướng mạnh trong những năm 2005 nguyên nhân là do khách mua hàng xuất khẩu sang EU giảm mạnh hạn ngạch sang Mỹ không sử dụng được hết vì một số khách hàng lớn đã chuyển hướng làm ăn sang các thị trường lớn
Tiếp đến là các phòng vật tư, đây là phòng có doanh thu cao nhất của công ty chiếm hơn 30,58% tổng doanh thu (trong đó bông là mặt hàng chủ lực)
Nhìn chung trong những năm qua công tác xã hội của công ty đã có những bước chuyển biến mạnh mẽ
Xem xét kết quả hoạt động kinh doanh của công ty trong hai năm 2004-2005
Trang 32Lợi tức sau Thuế 1.034.721.327 1.259.911.107 225.189.607 21,76
(Nguồn: Báo cáo Tài chính của Công ty 2004-2005)
Bảng trên cho thấy: Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của công ty năm
2005 tăng 235.430.089.500 đồng so với năm 2004 với tỷ lệ tăng 56,7%, tuy nhiên
do năm 2004 có một số hàng hoá bị trả lại trị giá 3.494.941.164 đồng nên doanh thu thuần đã giảm tương ứng
Trị giá vốn của công ty tăng lên (tăng 187.262.455.385) thể hiện sự phát triển,
mở rộng kinh doanh của công ty và kết quả của việc đẩy mạnh bán hàng này là
Trang 33một số ngoại tệ mạnh như EUR, JPY, GBP lên giá mạnh so với USD và so với
VND, tuy nhiên mặc dù USD liên tục mất giá so với các ngoại tệ mạnh nhưng tỉ giá giữa VNĐ và USD lại tương đối ổn định Tất cả những điều này đã làm cho các khoản thu nhập bằng ngoại tệ của công ty tăng lên do đó doanh thu từ hoạt động tài chính đã tăng 1.579.121.372 đồng so với năm 2004
Sự lên giá của EUR, JPY, GBP so với USD và lên giá càng mạnh so với VND đồng trong năm 2005, bên cạnh việc làm cho doanh thu của lao động tài chính tăng lên, nhưng nó cũng làm cho chi phí tài chính của công ty năm 2005 tăng lên 4.264
664 241 đồng so với năm 2004 Hơn nữa chi phí trong hoạt động tài chính còn tăng lênvới tỷ lệ rất cao so với sự tăng lên của doanh thu từ hoạt động tài chính (119,19%
so với 94,91%) chi phí hoạt động tài chính này tăng lên là do Chính phủ phải trả lãi vay ngoại tệ của Ngân hàng tăng lên và chi phí do sự chênh lệch tỷ giá từ các khoản phải trả bằng ngoại tệ của công ty cũng tăng lên
VD: Khi xuất khẩu hàng hoá, công ty thường thu về USD, nhưng khi nhập phải thì thường trả bằng EUR Để có tiền trả khi xuất khẩu hàng hoá, công ty sẽ vay EUR từ Ngân hàng, trong EUR tăng giá, công ty phải gánh chịu thêm phần tăng giá của lãi xuất phải trả
Với sự mở rộng kinh doanh, sự gia tăng lượng hàng bán ra và việc chi phí bán hàng tăng 823.419.690 đồng là điều tất nhiên Tuy nhiên, chi phí quản lý
Trang 34
doanh nghiệp cũng tăng 971.333.183 đồng là điều không hợp lý Trong thời gian tới để nâng cao hiệu quả kinh doanh, công ty phải chú trọng tới các biện pháp làm giảm chi phí này bởi vì chính sự gia tăng quá lớn các chi phí đã làm cho lợi nhuận của công ty giảm sút Mặc dù vậy, so với năm 2004 lợi nhuận của công ty đã tăng 21,76% tương ứng với mức tăng tuyệt đối là 225.189.780 đồng
2.4.4 Tình hình tài sản, nguồn vốn của công ty
Công ty xuất nhập khẩu dệt may (bây giờ là công ty sản xuất xuất nhập khẩu Dệt may) là đơn vị thành viên phụ thuộc Tổng công ty Dệt may Việt Nam (Bây giờ là tập đoàn Dệt may Việt Nam) được Tổng công ty giao vốn, tài sản và các nguồn lực khác Công ty có trách nhiệm sử dụng có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn được giao Công ty được phép huy động vốn theo quy định của pháp luật để hoạt động kinh doanh nhưng không làm thay đổi hình thức sở hữu của công ty, tự chịu trách nhiêm về hiệu quả hay huy động vốn và được Tập Đoàn bảo lãnh trong thương hiệu cần thiết phải vay vốn kinh doanh
Trang 35Trong đó:
Nợ phải trả 192.809.562.535 87,23 210.725.215.540 90,00 17.915.653.000 9,29 2,68 Nguồn vốn CSH 28.238.824.793 12,77 23.409.493.000 10,00 -4.892.331.490 -17,10 -2,77
(Nguồn: Báo cáo tài sản, nguồn vốn của công ty năm 2004 - 2005) Đơn vị: đồng
Bảng 2.3 Tình hình tài sản nguồn vốn của Công ty năm 2004- 2005
Trang 36
Trên thực tế, do được cấp vốn lưu động ít nên trong quá trình hoạt động kinh doanh để huy động vốn, công ty thường huy động từ 2 nguồn lực chủ yếu: Một là từ nguồn vốn bên trong công ty, từ tập thể cán bộ công nhân viên
và nguồn thứ hai là từ vay Ngân hàng Tuy nhiên nguồn vốn vay Ngân hàng
là nguồn huy động chủ yếu cho hoạt động kinh doanh trong công ty Với tình hình đó trong cơ cấu nguồn vốn của mình, nợ phải trả của công ty luốn chiếm
tỷ trọng rất lớn (tới 87,23% năm 2004 và 90% năm 2005) Điều này sẽ là một khó khăn trong hoạt động kinh doanh của công ty vì chi phí trả lãi vay sẽ lớn
và nếu hạn mức vốn vay tại các Ngân hàng hiện nay giảm mạnh, công ty sẽ gặp nhiều khó khăn trong thanh toán Vì là doanh nghiệp thương mại, chức năng chủ yếu là hoạt động xuất nhập khẩu nên ta có thể thấy trong cơ cấu tài sản nguồn vốn trong công ty tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn chiếm tỉ trọng rất lớn (98,07% năm 2004 và 98,43% năm 2005)
2.4.5 Tình hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nước của công ty
Theo "điều lệ tổ chức và hoạt động của công ty "quy định thì công ty có trách nhiệm nộp thuế và các khoản phải nộp khác theo giai đoạn của pháp luật
và quy chế tài chính của tập đoàn, chấp hành nghiên chỉnh quy định trên hàng năm Công ty luôn hoàn thành nghĩa vụ nộp tiền của mình và đã đóng góp rất lớn vào ngân sách Nhà nước
Trang 37
Bảng 2.4 Tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước
của công ty năm 2004 - 2005
Đơn vị tính: Đồng
VAT phải nộp 14.668.703.558 31.205.875.176 16.537.17.618 Trong đó:
- Thuế VAT hành xuất
khẩu
14.401.696.867 31.205.875.176 16.804.188.309
-Thuế VAT - uỷ thác 173.568.403
- Thuế DT trước năm
1999
93.438.228
Thuế tiêu thụ ĐB 2.823.201.997 2.214.732.582 -608.469.415 Thuế xuất nhập khẩu 6.233.440.613 6.977.154.898 743.714.285
Các loại thuế khác 75.388.170 139.315.954 63.927.784 Tổng 23.802.724.338 40.540.078.610 16.737.354.272
( Nguồn: Báo cáo tài chính của công ty năm 2004 và 2005 )
Như vậy, năm 2004 tổng số thuế mà công ty nộp cho Nhà nước là 23.802.724.338 đồng và năm 2005 là 40.540.078.610 đồng, thuế VAT luôn là khoản thuế phải nộp nhiều nhất, trong đó thuế VAT hàng nhập khẩu là chủ yếu (14.401.696.867 - năm 2004 và 31.205.875.176 đồng - năm 2005) việc phải đóng thuế nhập khẩu nhiều như vậy là do công ty đã thực hiên nhập khẩu rất lớn nguyên liệu bông về cung cấp cho các đơn vị trong ngành
Trang 38
2.5 Phân tích tình hình và đánh giá hiệu quả xuất khẩu của công ty sản xuất - xuất nhập khẩu Dệt may
2.5.1 Phát triển tình hình theo thị trường xuất khẩu
Xác định xuất khẩu là hoạt động kinh doanh quan trọng trong quá trình toàn cầu hoá mạnh mẽ hiện nay, công ty đã luôn chú trọng tới việc khai thác thị trường và mở rộng mặt hàng Ban lãnh đạo công ty luôn coi trọng công tác xúc tiến thương mại, tích cực trong việc tham gia hội chợ, tìm kiếm thông tin trên mọi hình thức, trao quyền chủ động cho các phòng
tự lập phương án lên khách hàng khảo sát, tìm kiếm thị trường Trong quá trình kinh doanh xuất khẩu các phòng đã năng động tìm kiếm, khai thác nhiều chủng loại hàng khác nhau; sản xuất mặt hàng mới và làm theo yêu cầu trong khách hàng để không ngừng đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng Với những cố gắng nỗ lực trên, không những duy trì được khách hàng có tiềm năng mà còn thuyết phục được những khách hàng là đối tác cũ nay không hợp tác quay trở lại làm ăn với Công ty, công ty còn thu hút được nhiều khách hàng mới trong xuất khẩu cạnh tranh gay gắt ngày nay Nhờ
đó qua các năm, thị trường xuất khẩu trong công ty ngày càng phát triển rộng lớn cả về chiều rộng lẫn chiều sâu
Trang 39
Bảng 2.5 Phân tích thị trường xuất khẩu của Công ty
Đơn vị: Triệu USD
Châu Âu
2,48 (chiếm 34,18%)
0,93 (chiếm 11,68%)
0,74 (chiếm 10,80%)
Châu Á
3,33 (chiếm 45,89%)
4,35 (chiếm 54,9%)
5,26 (chiếm 76,48%)
Châu Úc
0,015 (chiếm 0,22%)
0,082 (chiếm 1,03%)
0,002 (chiếm 0,04%)
Châu Mỹ
1,43 (chiếm 19,71%)
2,57 (chiếm 32,39%)
0,87 (chiếm 12,67%)
( Nguồn: Báo cáo tài chính của công ty năm 2003 đến 2005 )
Bảng trên cho thấy: Châu Á luôn luôn là xuất khẩu lớn nhất của công ty (chiếm 45,59%-2003 và 76,48% -2005) Tổng giá trị hàng xuất khẩu ở thị trường này năm 2005 là 61.979.556,27 nghìn đồng tăng 15.088.796,27 nghìn đồng so với năm 2004 Trong năm 2005 thị trường Châu Âu và thị trường Canada do cơ chế cấp hạn ngạch đóng mở tự động nên đã gây khó khăn cho hoạt động xuất khẩu của công ty sang những thị trường này Ở thị trường Châu
Âu đã giảm 5,4% so với năm 2004 Mặc dù luôn gặp phải những khó khăn nhất định khi xuất khẩu hàng hoá sang các thị trường, nhưng nhờ vào sự cố gắng của công ty và Tập đoàn nên thị trường xuất khẩu hàng hoá của công ty đã có những thành công nhất định Ngày nay khi Việt Nam đã là thành viên của
Trang 40
WTO, những cơ chế và hạn ngạch sẽ dần bị xoá bỏ và đây là điều kiện thuận lợi để công ty phát triển mở rộng thị trường xuất khẩu của mình
2.5.2 Phát triển tình hình xuất khẩu theo tổnh giá trị kết cấu mặt hàng
Bảng 2.6: Cơ cấu xuất khẩu theo mặt hàng
XK 12.189.387,60 11,50 11.127.246,56 8,42 -1.062.141,04 -8,70 Sợi bông 4.952,972,88 4,49 7.545.911,86 5,17 2.592.938,98 52,35 Bảo hộ LĐ 3.485.833,92 3,16 3.303.814,3 2,50 -182.019,62 -5,22 Dệt kim XK 4.886.786,16 4,43 3.118,800,7 2,36 -1.767.895,46 -36,18 Hoá chất
thước nhuộm 1.456.107,84 1,32 2.339.100,52 1,77 882.992,69 60,64
Xơ các loại 14.141,895,84 12,82 2.127.652,41 1,61
-12.014.243,43 -84,95 Vải 1.279.690,92 1,16 1.916.212,29 1,45 636.602,37 49,74 Thiết bị dệt 2.779.842,24 2,52 1.162.942.63 0,88 -1.616.899.61 -58,16
Tổng 110.311.200,00 100 132.152.572,00 100 21.821.372,00 19,77
( Nguồn: Báo cáo tài chính của công ty 2004-2005 )