Theo Tổ chức Y tế Thế giới 2018 thì chăm sóc giảm nhẹ là hoạt động nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh và gia đình người bệnh, những người đang đối mặt với những vấn đề li
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA TÂM LÝ HỌC
TRẦN NGUYỄN MINH CHÂU
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
BIỂU HIỆN LO ÂU CỦA THÂN NHÂN BỆNH NHÂN UNG THƯ
GIAI ĐOẠN CUỐI Ở KHOA CHĂM SÓC GIẢM NHẸ BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Tâm lý học
Niên học: 2018 - 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA TÂM LÝ HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
BIỂU HIỆN LO ÂU CỦA THÂN NHÂN BỆNH NHÂN UNG THƯ
GIAI ĐOẠN CUỐI Ở KHOA CHĂM SÓC GIẢM NHẸ
BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Giảng viên hướng dẫn: Ths Đoàn Bắc Việt Trân
Sinh viên thực hiện: Trần Nguyễn Minh Châu
Niên học: 2018 - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận này là công trình nghiên cứu của tôi
Các số liệu, kết quả nghiên cứu được trình bày trong khóa luận này trung thực và chưa từng được công bố dưới bất kì hình thức nào
Người thực hiện khóa luận
Trần Nguyễn Minh Châu
Trang 4Em cảm ơn quý Thầy Cô tại khoa Tâm lý học đã giảng dạy em suốt 4 năm Đại học Trong 4 năm học tại Khoa, em đã được nhận được rất nhiều những kiến thức
và tình cảm mà các Thầy Cô dành cho Đây là những điều quý giá đối với em Xin gửi lời cảm ơn đến Phòng Khoa học & Đào tạo Bệnh viện Đại học Y Dược, Trưởng Khoa Lão – Chăm sóc giảm nhẹ TS.BS Thân Hà Ngọc Thể vì cô đã quan tâm, cho con cơ hội để học tập, đồng ý cho con được thực hiện nghiên cứu trong Khoa Lão – Chăm sóc giảm nhẹ Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM
Em cũng xin được cảm ơn đến tập thể các Y – Bác sĩ tại khoa Lão – Chăm sóc giảm nhẹ đã hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình thực hiện khảo sát tại Khoa Đặc biệt là Ths.BS Lê Đại Dương và BS Đỗ Hữu Thành đã cho phép
em có cơ hội được tiếp xúc, phỏng vấn những thân nhân và bệnh nhân mà các bác sĩ đang trực tiếp điều trị tại Khoa Đây chính là những bài học và trải nghiệm đáng quý đối với em
Con cảm ơn ba mẹ và gia đình đã luôn ở bên cạnh ủng hộ, động viên con, tạo thêm động lực và sức mạnh cho con trong suốt quá trình làm khóa luận cho đến khi hoàn thành
Cảm ơn các anh chị, các bạn đã động viên, giúp đỡ, chỉ dẫn và chia sẻ kinh nghiệm cho em Sự quan tâm của mọi người chính là niềm vui và là nguồn năng lượng để em vượt qua khi gặp khó khăn
Trang 5Cuối cùng, tôi xin cảm ơn đến tất cả những thân nhân và bệnh nhân đã đồng ý tham gia vào nghiên cứu Cảm ơn quý vị đã mở lòng và chia sẻ với tôi Những chia
sẻ, những câu chuyện của quý vị là những món quà vô giá mà tôi nhận được trong quá trình làm nghiên cứu Tuy thời gian tiếp xúc ngắn ngủi nhưng đối với tôi, quý
vị là những người “bạn”, những người “thầy” đã dạy cho tôi những bài học thật đặc biệt, đầy ý nghĩa, những bài học này sẽ đồng hành và giúp ích rất nhiều cho công việc sau này của tôi Với tất cả tình cảm và lòng biết ơn của mình, tôi xin được gửi lời chúc bình an dành cho quý vị
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng
1 Bảng 1.2.4 Phân biệt lo âu bình thường và lo âu bệnh lý 18
3 Bảng 2.1.2 Đặc điểm của TNBN ung thư giai đoạn cuối 29
4 Bảng 2.2.1 Mức độ lo âu của TNBN ung thư giai đoạn cuối 30
5 Bảng 2.2.2 Biểu hiện lo âu của TNBN ung thư giai đoạn cuối 33
6 Bảng 2.2.3.1 Điểm trung bình mức độ lo âu với yếu tố giới tính 35
7 Bảng 2.2.3.2 Điểm trung bình mức độ lo âu với yếu tố tuổi 37
8 Bảng 2.2.3.3 Điểm trung bình mức độ lo âu với yếu tố công việc 39
9 Bảng 2.2.3.4 Điểm trung bình mức độ lo âu với yếu tố tôn giáo 40
10 Bảng 2.2.3.5 Điểm trung bình mức độ lo âu với yếu tố thu nhập 42
11 Bảng 2.2.3.6 Điểm trung bình mức độ lo âu với yếu tố trình độ học
Biểu đồ
1 Biểu đồ 2.2.1 Tỉ lệ lo âu của TNBN ung thư giai đoạn cuối 31
2 Biểu đồ 2.2.2 Tỉ lệ các biểu hiện lo âu TNBN ung thư giai đoạn cuối 33
3 Biểu đồ 2.2.3.1 Tỉ lệ lo âu với yếu tố giới tính 36
4 Biểu đồ 2.2.3.2 Tỉ lệ lo âu với yếu tố tuổi 38
5 Biểu đồ 2.2.3.3 Tỉ lệ lo âu với yếu tố tôn giáo 40
6 Biểu đồ 2.2.3.4 Tỉ lệ lo âu với yếu tố công việc 39
7 Biểu đồ 2.2.3.5 Tỉ lệ lo âu với yếu tố thu nhập 42
8 Biều đồ 2.2.3.6 Tỉ lệ lo âu với yếu tố trình độ học vấn 44
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN I
LỜI CẢM ƠN II
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT IV
DANH MỤC BẢNG BIỂU V
MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỂU HIỆN LO ÂU CỦA THÂN NHÂN BỆNH NHÂN UNG THƯ GIAI ĐOẠN CUỐI 6
Lịch sử nghiên cứu: 6
Biểu hiện lo âu của thân nhân bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối 12
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 24
CHƯƠNG 2 BIỂU HIỆN LO ÂU CỦA THÂN NHÂN BỆNH NHÂN UNG THƯ GIAI ĐOẠN CUỐI Ở KHOA LÃO – CHĂM SÓC GIẢM NHẸ BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH1 25
Tổ chức nghiên cứu và đạo đức nghiên cứu 25
Kết quả nghiên cứu 30
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 53
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 55
Kết luận 55
Kiến nghị 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
PHỤ LỤC 69
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Theo Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) (2018), ung thư là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 2 trên thế giới với 9,6 triệu ca tử vong trong năm 2018 Tạp chí Y học dự phòng (2013) báo cáo tình hình ung thư ở Việt Nam vào năm 2012 là khoảng 110.000 trường hợp ung thư mới và trên 73% số này tử vong, một trong những tỷ lệ cao nhất thế giới Ước tính tỷ lệ mắc bệnh ung thư tại TP.HCM sẽ tăng 5,4% mỗi năm Ít nhất 80% ung thư ở nam giới và 60% ở nữ giới hiện đang ở giai đoạn nặng không chữa trị được Tỷ lệ mắc/tử vong ở nam giới Việt Nam là 0,79 và
ở nữ giới là 0,68 Ung thư không chỉ gây ra những hậu quả nghiêm trọng trực tiếp lên cơ thể và tinh thần của bệnh nhân mà nó cũng chính là nguyên nhân gây đau khổ nặng nề cho gia đình, người thân của bệnh nhân Nhưng trong thực tế có thể thấy phần lớn sự quan tâm chỉ được dành cho các bệnh nhân, họ được đặt lên ưu tiên hàng đầu, đó cũng là một điều dễ hiểu Tuy nhiên, một bộ phận khác cũng rất cần đến sự quan tâm, hỗ trợ, đó chính là thân nhân bệnh nhân mà cụ thể hơn là người chăm sóc cho bệnh nhân Theo Bevans, việc chăm sóc là trải nghiệm gây căng thẳng mãn tính và những người chăm sóc thường gặp phải những ảnh hưởng tiêu cực về tâm lý, hành vi và sinh lý đối với cuộc sống và sức khỏe hàng ngày của họ (Bevans, 2012)
Quan tâm, cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư cũng như gia đình họ là một hoạt động đang được thực hiện trên thế giới thông qua mô hình Chăm sóc giảm nhẹ Theo Tổ chức Y tế Thế giới (2018) thì chăm sóc giảm nhẹ là hoạt động nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh và gia đình người bệnh, những người đang đối mặt với những vấn đề liên quan tới sự ốm đau đe dọa đến tính mạng, thông qua sự ngăn ngừa và làm giảm gánh nặng họ chịu đựng bằng cách nhận biết sớm, đánh giá toàn diện và điều trị đau và các vấn đề khác, thể lực,
tâm lý xã hội và tâm linh Theo Bộ Y tế Việt Nam (2006): “Chăm sóc giảm nhẹ cho bệnh nhân ung thư và AIDS là sự kết hợp nhiều biện pháp để làm giảm sự đau khổ
và cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh thông qua sự phòng ngừa, phát
Trang 10hiện sớm và điều trị đau và những vấn đề tâm lý và thực thể khác, và cung cấp sự tư vấn và hỗ trợ tập trung vào những vấn đề xã hội và tâm linh mà bệnh nhân và gia đình đang phải gánh chịu.” Như vậy, chúng ta có thể thấy đối tượng của chăm sóc
giảm nhẹ không chỉ có bệnh nhân mà còn bao gồm cả những người chăm sóc Họ cũng cần sự giúp đỡ để đương đầu với tình trạng bệnh của người thân Hiện tại ở Việt Nam, việc chăm sóc giảm nhẹ vẫn còn khá mới và tập trung chủ yếu cho đối tượng người bệnh Đến năm 2015, chỉ có hai bệnh viện chính thức có Khoa Lão - Chăm sóc giảm nhẹ là bệnh viện Ung Bướu và bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM Phòng khám tâm lý – Chăm sóc giảm nhẹ tại Bệnh viện Đại học Y Dược
TP HCM chưa có chuyên viên tâm lý cơ hữu nào để hỗ trợ bệnh nhân điều trị nội trú Như vậy, có thể thấy rằng việc chăm sóc về mặt tâm lý là rất thiếu sót, kể cả cho bệnh nhân ung thư Thân nhân bệnh nhân ung thư hầu như chưa nhận được sự quan tâm, hỗ trợ cần thiết Trong tài liệu hướng dẫn thực hành chăm sóc giảm nhẹ
cơ bản và nâng cao cho bệnh nhân HIV/AIDs và ung thư ở Việt Nam của giáo sư Eric (2007), đề cập đến những vấn đề tâm lý xã hội của người bệnh ung thư cũng như của những người nhà của họ Đó là những vấn đề gồm trầm cảm, lo âu, sợ hãi, mặc cảm, sang chấn và mất mát Các vấn đề tâm lý được đề cập đó không chỉ tồn tại ở bệnh nhân, kết hợp cùng với những vấn đề bệnh tật thực thể gây đau đớn cho
họ mà còn ảnh hưởng đến người thân của họ Ngay cả khi bệnh nhân đã qua đời thì những vấn đề đó cũng còn ảnh hưởng, để lại những mảng kí ức đau buồn qua những lần chứng kiến những người thân yêu bị bệnh tật dày vò
Chính vì vậy, tôi quyết định thực hiện đề tài khoa học “Biểu Hiện Lo Âu Của Thân Nhân Bệnh Nhân Ung Thư Giai Đoạn Cuối Ở Khoa Chăm Sóc Giảm Nhẹ Bệnh Viện Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh”, nhằm mục đích xác định
mức độ, sự biểu hiện và các yếu tố ảnh hưởng đến sự lo âu của thân nhân đang chăm sóc bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối ở Khoa Lão - Chăm sóc giảm nhẹ Qua
đó đề xuất một số kiến nghị nhằm hỗ trợ giảm thiệu sự lo âu cho họ, cũng như là giúp đỡ họ nâng cao chất lượng cuộc sống
Trang 11Tìm hiểu biểu hiện lo âu của thân nhân bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối ở Khoa Lão - Chăm sóc giảm nhẹ Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM Trên cơ sở
đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hỗ trợ giảm thiểu sự lo âu cho họ
3 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Tìm hiểu các vấn đề lý luận về lo âu
Khảo sát biểu hiện lo âu của thân nhân bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối ở Khoa Lão - Chăm sóc giảm nhẹ Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM Đưa ra một
số đề xuất, kiến nghị nhằm hỗ trợ giảm thiểu sự lo âu cho thân nhân bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối ở Khoa Lão - Chăm sóc giảm nhẹ Bệnh viện Đại học Y Dược
TP.HCM
4 Giả thuyết nghiên cứu:
Mức độ lo âu của thân nhân bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối ở Khoa Lão -
Chăm sóc giảm nhẹ Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM tương đối cao
Biểu hiện lo âu của thân nhân bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối ở Khoa Lão - Chăm sóc giảm nhẹ Bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh rõ nét nhất là về
mặt cơ thể
Biểu hiện lo âu của thân nhân bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối ở Khoa Lão - Chăm sóc giảm nhẹ Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM khác nhau giữa các nhóm:
độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp, thu nhập, tôn giáo
5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Biểu hiện lo âu của thân nhân bệnh nhân ung thư giai
đoạn cuối
Khách thể nghiên cứu: thân nhân bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối ở Khoa
Lão - Chăm sóc giảm nhẹ Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM
6 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu lý luận:
Thu thập những tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu, sách, tạp chí chuyên ngành…Đọc, phân tích, tổng hợp tài liệu, trên cơ sở đó, hệ thống hóa và khái quát
hóa các khái niệm công cụ căn bản làm cơ sở lý luận cho đề tài
Trang 12Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Phương pháp điều tra bảng hỏi:
Sử dụng thang đo lo âu Zung để khảo sát biểu hiện lo âu của thân nhân bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối, từ đó có thể phát hiện các vấn đề cần giải quyết, xác định nguyên nhân và tiến hành đề xuất kiến nghị
+ Phương pháp phỏng vấn:
Phương pháp phỏng vấn được sử dụng nhằm thu thập và làm rõ hơn những thông tin thu được từ điều tra bằng bảng hỏi
+ Phương pháp phân tích trường hợp:
Kết hợp với phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi và phân tích số liệu, đề tài phân tích một trường hợp để làm rõ cho biểu hiện lo âu thu được
+ Phương pháp thống kê số liệu:
Sử dụng các phép toán thống kê xử lý các số liệu thu thập được từ các cuộc điều tra bằng bảng hỏi để rút ra được những kết luận khoa học, chuẩn xác, phù hợp với mục đích nghiên cứu của đề tài
7 Phạm vi nghiên cứu:
Nội dung nghiên cứu: Biểu hiện lo âu của thân nhân bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối ở Khoa Lão - Chăm sóc giảm nhẹ Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM Khách thể nghiên cứu: ít nhất 30 thân nhân bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối
ở Khoa Lão - Chăm sóc giảm nhẹ Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM
Người nghiên cứu giới hạn người chăm sóc phải có quan hệ gia đình trong phạm vi ba đời với bệnh nhân, Bao gồm: ông/bà ruột của bệnh nhân; cha/mẹ ruột của bệnh nhân; anh/chị/em ruột của bệnh nhân; anh/chị/em ruột của cha mẹ bệnh nhân; cháu nội/ngoại ruột của bệnh nhân, vợ/chồng; con ruột của bệnh nhân; con dâu/con rể của bệnh nhân; quốc tịch Việt Nam
Bên cạnh đó, khách thể không có những vấn đề sức khỏe về tim mạch, suyễn, HIV/AIDS, ung thư
Địa điểm thực hiện nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành tại Khoa Lão – Chăm sóc giảm nhẹ Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM từ ngày 1/3/2019 đến
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỂU HIỆN LO ÂU CỦA THÂN NHÂN BỆNH NHÂN
UNG THƯ GIAI ĐOẠN CUỐI 1.1 Lịch sử nghiên cứu:
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu thế giới:
Từ những năm 460 – 370 trước công nguyên, lo âu đã được biết tới và nghiên cứu bởi Hypocrate Ông đã mô tả lại sự sợ hãi như là một căn bệnh của những đứa trẻ sơ sinh biểu hiện qua các triệu chứng bị đẹn miệng, ói mửa hay nỗi sợ bóng tối
2009)
Năm 1895, học thuyết của Freud đã đưa ra quan điểm đầy sức thuyết phục về chứng suy nhược thần kinh Ông đã cung cấp rằng hành vi thần kinh bắt nguồn từ việc xuất hiện những ý tưởng gợi lên lo âu không mong muốn trong sự phòng vệ của ý thức Theo Freud, rối loạn liên quan đến lo âu đại diện cho cách mà bản ngã
cố gắng tự bảo vệ mình chống lại sự lo âu đó Các khái niệm của ông được chấp nhận rộng rãi vào những năm 1900, hình thành những cơ sở căn bản trong hệ thống phân loại trong hai ấn bản đầu tiên của Sổ Tay Chẩn đoán và Thống Kê Rối Loạn Tâm Thần (The Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders, Fifth
Trang 14Có thể thấy, chủ đề lo âu đã được quan tâm và đề cập đến từ khá sớm Lo âu
đã được nghiên cứu trên nhiều đối tượng khách thể, các độ tuổi khác nhau Cho đến nay, rối loạn lo âu vẫn là một lĩnh vực mới mẻ, thu hút nhiều quan tâm và công trình nghiên cứu từ các nhà khoa học, bác sĩ, các nhà tâm lý học Qua các nghiên cứu, điều tra cho thấy rằng rối loạn lo âu không chỉ là một rối loạn thường gặp mà còn ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng cuộc sống cũng như là hoạt động của ngươi bệnh, làm tăng nguy cơ lạm dụng rượu, thuốc, ma túy và ý định tự sát (Tâm thần
học, 2005)
Như đã nói ở phần mở đầu, ung thư đang là một căn bệnh thời đại có xu hướng tăng lên và chuyển biến phức tạp Chính vì vậy, vấn đề này được giới khoa học quan tâm, nghiên cứu trên nhiều khía cạnh như: về mặt Y khoa nhằm phát triển cách thức điều trị bệnh, về mặt Tâm lý để hỗ trợ cho bệnh nhân,… Bên cạnh những nghiên cứu hướng đến bệnh nhân ung thư còn có những nghiên cứu dành cho đối tượng thân nhân bệnh nhân Những nghiên cứu này cho thấy những khó khăn mà thân nhân bệnh nhân gặp phải khi phải chăm sóc người bệnh, đặc biệt là những khó khăn về mặt tâm lý
Năm 1999, nghiên cứu “Thang đo chất lượng cuộc sống của người chăm sóc bệnh nhân ung thư (CQOLC): phát triển và xác nhận một công cụ để đo lường chất lượng cuộc sống của người chăm sóc gia đình bệnh nhân ung thư” (The Caregiver
Quality of Life Index-Cancer (CQOLC) scale: development and validation of an instrument to measure quality of life of the family caregiver of patients with cancer) Nghiên cứu được thực hiện trên hai trăm sáu mươi ba người chăm sóc
thuộc gia đình của bệnh nhân bị ung thư phổi, vú hoặc tuyến tiền liệt Kết quả đã
cho thấy có mối tương quan giữa chất lượng cuộc sống với sức khỏe tâm thần tổng thể (r = 0,64), đau khổ cảm xúc (r = -0,50 đến -0,52), gánh nặng (r = -0,65) và tình trạng hoạt động của bệnh nhân (r = -0,47) Tương quan giữa chất lượng cuộc sống với sức khỏe thể chất tổng thể (r = 0,13), hỗ trợ xã hội (r = 0,22) và nhu cầu xã hội (r = 0,08) thì thấp Những kết quả này cho thấy sức khỏe tinh thần tổng thể tăng lên
có liên quan đến sự cải thiện chất lượng cuộc sống tốt, trong khi tình trạng suy giảm
Trang 15cảm xúc và tình trạng hoạt động của bệnh nhân xấu đi thì có liên quan đến chất lượng cuộc sống kém hơn (Weitzner, 1999)
Năm 2005, nghiên cứu “Trầm cảm và lo âu giữa những người chăm sóc gia đình bệnh nhân ung thư tại một phòng khám ung bướu” (Depression and Anxiety Among Family Caregivers of Cancer Patients in an Oncology Clinic) của nhóm tác
giả Ambigga Devi K, Sherina M.S, Suthahar A đã chỉ ra rằng tỉ lệ lo âu ở thân nhân chiếm 48,6% và tỉ lệ trầm cảm chiếm 29,4% Trong đó, những yếu tố về trình độ văn hóa và thời gian điều trị bệnh có liên quan đáng kể đến với tỉ lệ trầm cảm, còn tỉ
lệ lo âu có sự liên quan đến yếu tố tuổi tác, người ta thấy rằng những thân nhân trẻ tuổi thì có xu hướng lo âu nhiều hơn bởi vì họ phải đảm đương nhiều trách nhiệm khác nhau (Ambigga, 2005)
Năm 2005, nghiên cứu “Rối loạn tâm lý tâm thần và sử dụng dịch vụ sức khỏe tâm thần trong số những người chăm sóc bệnh nhân ung thư tiến xa” (Psychiatric
Disorders and Mental Health Service Use Among Caregivers of Advanced Cancer Patients) cho thấy có 13% người chăm sóc đáp ứng tiêu chuẩn của một rối loạn tâm thần, 25% tiếp cận với biện pháp trị liệu cho các vấn đề liên quan đến sức khỏe tâm thần kể từ khi nhận được kết quả chẩn đoán ung thư của bệnh nhân Tỉ lệ rối loạn tâm lý tâm thần như sau: rối loạn hoảng loạn (8%), trầm cảm (4,5%) rối loạn stress sau sang chấn (4,0%), rối loạn lo âu lan tỏa (3,5%) Trong đó, chỉ 46% người chăm sóc bị rối loạn tâm lý tâm thần tiếp cận với các dịch vụ về sức khỏe tâm thần (Vanderwerker, 2005)
Năm 2007, Michal Braun và cộng sự nghiên cứu đề tài “Tỷ lệ mắc bệnh tiềm
ẩn trong bệnh ung thư – Người chăm sóc phối ngẫu” (.Hidden Morbidity in Cancer: Spouse Caregivers) Đây là nghiên cứu đánh giá sự đau khổ tâm lý giữa bệnh nhân ung thư tiến xa và người bạn đời chăm sóc họ Kết quả cho thấy có 38,9% người chăm sóc có triệu chứng trầm cảm đáng kể (BDI-II >= 15) so với 23% bệnh nhân ung thư Kết quả phân tích về dự đoán các mức độ ảnh hưởng đến trầm cảm ở người chăm sóc, (I) tuổi của họ và giai đoạn ung thư của bệnh nhân, (II) yếu tố khách
Trang 16quan về gánh nặng chăm sóc, (III) yếu tố chủ quan về gánh nặng chăm sóc, (IV) mức độ gắn bó của người chăm sóc và (V) mức độ hài lòng về hôn nhân của người chăm sóc (Braun, 2007)
Năm 2007, Selamat và cộng sự đã nghiên cứu về “Rối loạn lo âu ở thân nhân bệnh nhân ung thư vú đang điều trị tại Malaysia” (Anxiety Disorders in Family
Caregivers of Breast Cancer Patients Receiving Oncologic Treatment in Malaysia) Kết quả cho thấy một phần mười thân nhân bệnh nhân có rối loạn lo âu liên quan đến yếu tố loại điều trị và việc không được chia sẻ vai trò chăm sóc người bệnh Những người đang có người thân điều trị bằng phương pháp hóa trị hoặc xạ trị làm tăng tỉ lệ rối loạn lo âu so với những người đang có người thân điều trị ngoại trú Đăc biệt là đối với những người không được chia sẻ vai trò chăm sóc bệnh nhân thì
tỉ lệ này cũng tăng lên (Selamat, 2007)
Năm 2008, nghiên cứu “Trầm cảm ở những người chăm sóc gia đình bệnh nhân ung thư: Cảm giác nặng nề như một yếu tố dự báo trầm cảm” (Depression in
Family Caregivers of Cancer Patients: The Feeling of Burden As a Predictor of Depression) cho thấy 67% những người chăm sóc có số điểm trầm cảm cao (BDI > 13) và 35% đạt số điểm rất cao (BDI > 21) Trầm cảm rất phổ biến ở những người chăm sóc bệnh nhân ung thư, gánh nặng chăm sóc là yếu tố dự báo rõ nhất Các biện pháp can thiệp nhằm giảm những ảnh hưởng về mặt tâm thần không chỉ nên tập trung vào bệnh nhân mà cũng nên tập trung vào người chăm sóc (Rhee, 2008)
Năm 2012, kết quả nghiên cứu “Chăm sóc về tâm lý xã hội đối với người chăm sóc thuộc gia đình của bệnh nhân ung thư” (Psychosocial Care for Family
Caregivers of Patients With Cancer) của Northouse Nghiên cứu về biện pháp can thiệp tâm lý cung cấp cho người chăm sóc bệnh nhân ung thư hoặc các bệnh mãn tính khác cách thức có thể làm giảm các tác động tiêu cực, nâng cao kĩ năng ứng phó, kiến thức và chất lượng cuộc sống Mặc dù những biện pháp can thiệp này cũng làm giảm triệu chứng ở bệnh nhân, giảm tỉ lệ tử vong, cải thiện sức khỏe thể chất và tinh thần nhưng trong thực tế vẫn ít được thực hiện (Northouse, 2012)
Trang 17Năm 2014, Trong nghiên cứu “Ung thư: Rủi ro của một gia đình” (Cancer: a
family at risk) Wozniak K và Izycki D đã nói rằng một gia đình tập trung vào nhiệm vụ chăm sóc, có thái độ quan tâm người bệnh thì có thể thúc đẩy được hành
vi lành mạnh và ý chí chiến đấu của bệnh nhân Giai đoạn cuối đời là giai đoạn căng thẳng nhất đối với các thành viên trong gia đình Phản ứng căng thẳng mạnh mẽ có thể được gây ra bởi nỗi sợ chia ly và ở một mình, cũng như nỗi đau dự đoán mà bệnh nhân sẽ phải đối mặt, thiếu kiểm soát tình hình và thời điểm tử vong Cách các thành viên trong gia đình có thể đối phó với cái chết của người thân tùy thuộc vào tình trạng tâm lý và thể chất của chính họ và cả mạng lưới hỗ trợ của họ (Wozniak, 2014)
Năm 2017, Ullrich A và cộng sự đã thực hiện nghiên cứu “Chất lượng cuộc sống, gánh nặng tâm lý, nhu cầu và sự hài lòng của người chăm sóc thuộc gia đình của bệnh nhân ung thư giai đoạn tiến xa trong quá trình điều trị chăm sóc giảm nhẹ nội trú” (Quality of life, psychological burden, needs, and satisfaction during
specialized inpatient palliative care in family caregivers of advanced cancer
patients) Nghiên cứu nhằm điều tra chất lượng cuộc sống, gánh nặng tâm lý, nhu
cầu chưa được đáp ứng và sự hài lòngcủa những người chăm sóc trong gia đình của
bệnh nhân ung thư giai đoạn tiến xa Kết quả của nghiên cứu cho thấy rằng, ngoại
trừ nỗi đau về cơ thể thì chất lượng cuộc sống của những người chăm sóc trong gia đình suy giảm ở tất cả các mặt Có tới 96% câu trả lời có sự đau khổ đáng kể về mặt lâm sàng, trong đó nỗi buồn (sadness), sự phiền muộn (sorrow) và kiệt sức (exhausted) là những vấn đề gây đau khổ nhất (80% - 83%) Mức độ lo lắng từ trung bình đến nặng, tỉ lệ trầm cảm chiếm từ 41% - 47% Tóm lại, người chăm sóc trong gia đình của bệnh nhân ung thư giai đoạn tiến xa chịu những gánh nặng tâm lý
có liên quan, bao gồm đau khổ, lo lắng, trầm cảm Chất lượng cuộc sống của họ thấp hơn so với mặt bằng chung, đặc biệt là về mặt sức khỏe tâm thần (Ullrich, 2017)
Tóm lại, qua các nghiên cứu trên, ta thấy rằng những người chăm sóc gia đình của bệnh nhân ung thư không có nhiều sự chuẩn bị, thông tin hoặc sự hỗ trợ để thực
Trang 18hiện vai trò chăm sóc của họ Họ phải đối mặt với nhiều vấn đề, đặc biệt sự lo âu của thân nhân bệnh nhân ung thư chịu tác động của nhiều yếu tố khác nhau như: trình độ văn hóa, thời gian điều trị bệnh, mức độ gắn bó, tuổi tác, giai đoạn ung thư của bệnh nhân, phương pháp điều trị Một điều nổi bật là họ chịu nhiều gánh nặng
từ việc chăm sóc người thân của mình Điều này tác động tiêu cực đến chất lượng cuộc sống của chính bản thân họ, cả về thể chất lẫn tinh thần, cũng như là chất lượng chăm sóc bệnh nhân
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu trong nước:
Tại Việt Nam, các vấn đề về lo âu cũng được quan tâm và nghiên cứu rộng rãi Tuy nhiên, khách thể nghiên cứu phần lớn là học sinh – thanh niên, người đi làm Những năm gần đây, chăm sóc tâm lý cho thân nhân bệnh nhân cũng là một chủ đề
đã được quan tâm nhưng đa phần đều là những thông tin trên báo đề cập đến, nêu lên vai trò, ảnh hưởng của người nhà trong việc điều trị bệnh ung thư nói chung Những bài báo đó đã nêu lên phần nào sự cần thiết của việc quan tâm đến việc chăm sóc tâm lý cho thân nhân bệnh nhân Dù vậy, theo hiểu biết của tác giả, cũng chỉ có rất ít những nghiên cứu chính thức về nhóm khách thể này Dưới đây là một số
nghiên cứu đã được thực hiện:
Năm 2011, luận án tiến sĩ “Nghiên cứu rối loạn trầm cảm, lo âu ở trẻ bị ung thư và phương thức ứng phó của cha mẹ” của Nguyễn Thị Thanh Mai đã tập trung
nghiên cứu rối loạn trầm cảm, lo âu và phương thức ứng phó của cha mẹ trẻ bị ung thư, từ đó thiết kế mô hình chăm sóc, hỗ trợ tâm lý, can thiệp làm giảm thiểu rối loạn trầm cảm, lo âu cho trẻ ung thư và cha mẹ trẻ, góp phần nâng cao hiệu quả điều trị và chất lượng sống của trẻ bị ung thư ở Việt Nam (Nguyễn Thị Thanh Mai, 2011)
Năm 2013, Lương Bích Thủy nghiên cứu đề tài “Tìm hiểu nhu cầu hỗ trợ của người chăm sóc bệnh nhân ung thư (nghiên cứu trường hợp tại bệnh viện K)” cũng
đã chỉ ra thực trạng nhu cầu hỗ trợ của người chăm sóc bệnh nhân ung thư và đề ra
Trang 19một số giải pháp nhằm nâng cao hoạt động hỗ trợ người chăm sóc bệnh nhân ung thư của nhân viên công tác xã hội (Lương Bích Thủy, 2013)
Năm 2015, Nguyễn Văn Bằng, Nghiêm Thị Minh Châu, Nguyễn Hoàng
Thanh, Nguyễn Trọng Hà đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu nhu cầu tư vấn của thân nhân bệnh nhân bị bệnh lý ung thư” tại bệnh viện Quân Y 103 nhằm đáp ứng
những nhu cầu tư vấn về những thắc mắc mặt y khoa Những nghiên cứu trên chỉ đề cập một phần về các vấn đề tâm lý nói chung của thân nhân bệnh Có thể thấy, những nghiên cứu về các vấn đề tâm lý ở thân nhân bệnh nhân ung thư đang rất thiếu, đặc biệt là về tình trạng lo âu Đối tượng này chưa nhận được sự chú ý, quan tâm của cộng đồng cả về mặt lý thuyết lẫn thực tế (Nguyễn Văn Bằng, 2015)
1.2 Biểu hiện lo âu của thân nhân bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối
1.2.1 Khái niệm ung thư, ung thư giai đoạn cuối, chăm sóc giảm nhẹ 1.2.1.1 Ung thư
Theo Tổ chức Y tế thế giới WHO (2018), ung thư là một thuật ngữ chung chỉ một nhóm lớn các bệnh có thể ảnh hướng đến bất kỳ phần nào trên cơ thể Thuật ngữ khác được sử dụng là khối u ác tính Một tính chất đặc trưng của ung thư là sự hình thành và phát triển nhanh chóng của các tế bào bất thường vượt khỏi ranh giới bình thường của chúng, sau đó có thể thâm nhập vào các bộ phận liền kề của cơ thể
và lây lan sang các cơ quan khác Quá trình cuối cùng được gọi là di căn Di căn là nguyên nhân chính gây tử vong do ung thư (Cancer, 2018)
Theo Từ điển về Ung thư của Viện Ung Thư Quốc Gia (National Cancer Institute) (2015), ung thư là thuật ngữ chỉ các bệnh mà trong đó các tế bào phân chia bất thường không kiểm soát và có thể xâm nhập các mô lân cận Các tế bào ung thư cũng có thể lây lan sang các bộ phận khác của cơ thể thông qua máu và bạch huyết
Có các dạng ung thư chủ yếu khác nhau Ung thư biểu mô (carcinoma) bắt đầu ở da hoặc trong các mô có đường thẳng hoặc bao gồm cơ quan nội tạng Ung thư mô liên kết (sarcoma) là nhóm ung thư xuất phát từ mô liên liên kết, xương hay cơ Bệnh lý huyết học ác tính (hematological malignancy), như bệnh bạch cầu (leukemia) và u
Trang 20lympho bào (lymphoma), xuất phát từ máu và tủy xương Ung thư hệ thần kinh trung ương là ung thư bắt đầu từ các mô ở não và tủy sống (What is cancer, 2015) Theo PGS TS Nguyễn Bá Đức (2005) thì ung thư (được ký hiệu là K) là quá trình bệnh lý trong đó một số tế bào thoát ra khỏi sự kiểm soát, sự biệt hóa sinh lý của tế bào và tiếp tục nhân lên Những tế bào này có khả năng xâm lấn và phá hủy các tổ chức chung quanh (Nguyễn Bá Đức, 2005)
Như vậy, có nhiều định nghĩa riêng về ung thư nhưng nhìn chung ung thư là quá trình bệnh lý mà các tế bào phát triền bất bình thường, vượt khỏi sự kiểm soát
Trong nghiên cứu này, người nghiên cứu giới hạn khái niệm: “Ung thư là một nhóm bệnh lý mà các tế bào phát triển bất thường một các nhanh chóng, vượt quá tầm kiểm soát, có khả năng xâm nhập và tấn công các mô khác”
1.2.1.2 Ung thư giai đoạn cuối
Theo Viện Ung Thư Quốc Gia: National Cancer Institute (2015), ung thư di căn là khi căn bệnh ung thư lan rộng từ nơi nó bắt đầu đến một bộ phận khác trong
cơ thể Quá trình mà các tế bào ung thư lây lan được gọi là quá trình di căn Trong
di căn, các tế bào ung thư sẽ tách ra khỏi nơi chúng hình thành đầu tiên (ung thư chính), đi qua máu hoặc hệ bạch huyết và hình thành các khối u mới (khối u di căn)
ở các bộ phận khác trên cơ thể Khối u di căn là loại ung thư giống như khối u chính
Theo hệ thống phân chia giai đoạn của ung thư TNM – hệ thống được sử dụng rộng rãi trong các bệnh viện và trung tâm y tế - thì M (metastasis) là chỉ liệu ung thư có di căn hay không Tức nghĩa là ung thư đã lây lan từ khối u nguyên phát đến các bộ phận khác trong cơ thể người bệnh hay chưa Trong đó, M0: là ung thư chưa lây lan đến các bộ phận khác của cơ thể và M1: là ung thư đã lây lan đến các bộ phận khác của cơ thể (National Cancer Institute, 2015)
Hệ thống TNM giúp mô tả chi tiết về ung thư Tuy nhiên, một số loại ung thư
Trang 21giai đoạn: giai đoạn I ung thư tương đối nhỏ và chứa trong cơ quan mà nó bắt đầu Giai đoạn II khối u lớn hơn nhưng không lây lan sang các mô xung quanh Đôi khi, giai đoạn hai cũng có nghĩa là tế bào ung thư đã lan đến các hạch bạch huyết gần khối u Điều này phụ thuộc vào loại ung thư cụ thể Giai đoạn III là các giai đoạn khối u đã lớn hơn và bắt đầu lan rộng đến các mô xung quanh, có tế bào ung thư trong hạch bạch huyết ở khu vực đó Giai đoạn IV là giai đoạn ung thư đã lan rộng
từ nơi nó bắt đầu đến các cơ quan khác khác trên cơ thể Đây còn được gọi là ung thư thứ phát hoặc di căn (Cancer Research UK, 2017)
Có thể thấy, có các hệ thống phân chia giai đoạn ung thư khác nhau Tuy nhiên đều có thể thấy giai đoạn cuối cùng của các hệ thống đều là khi ung thư đã lan rộng và phát triển trên các bộ phận khác của cơ thể người bệnh Trong nghiên cứu
này, người nghiên cứu giới hạn định nghĩa: “Ung thư giai đoạn cuối là giai đoạn
mà các tế bào ung thư đã di căn, hình thành khối u mới ở các bộ phận khác trên thể người bệnh.” Trong một số tài liệu chuyên ngành y khoa, ung thư giai đoạn cuối
theo định nghĩa trên còn được gọi là ung thư giai đoạn tiến xa (Eric, 2007)
1.2.1.3 Chăm sóc giảm nhẹ
Theo Tổ chức Y tế Thế giới WHO (2018), "Chăm sóc giảm nhẹ là một tiến trình cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh và gia đình người bệnh, những người đang đối mặt với những vấn đề liên quan tới sự ốm đau đe doạ đến tính mạng, thông qua sự ngăn ngừa và làm giảm gánh nặng họ chịu đựng bằng cách nhận biết sớm, đánh giá toàn diện và điều trị đau và các vấn đề khác, thể lực, tâm
lý xã hội và tâm linh.” Đó là nhu cầu nhân đạo khẩn cấp dành cho tất cả các bệnh
nhân ung thư trên thế giới và các bệnh mãn tính gây tử vong khác Đặc biệt cấp thiết trong ở những nơi có tỷ lệ bệnh nhân cao trong giai đoạn ung thư tiến triển nhưng
có rất ít cơ hội được chữa trị (Palliative Care, 2018)
Theo Viện Ung Thư Quốc Gia: National Cancer Institute (2015), chăm sóc giảm nhẹ là chăm sóc đặc biệt nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống của những bệnh nhân có bệnh nghiêm trọng, đe dọa đến tính mạng, chẳng hạn như ung thư Chăm
Trang 22sóc giảm nhẹ là một cách tiếp cận để chăm sóc toàn diện các mặt của người bệnh, không chỉ là bệnh tật của họ Mục tiêu là để ngăn chặn hoặc điều trị càng sớm càng tốt các triệu chứng, tác dụng phụ của bệnh và của việc điều trị bệnh Thêm vào đó là các vấn đề đến tâm lý, xã hội và tâm linh có liên quan Chăm sóc giảm nhẹ còn được gọi là chăm sóc an ủi (comfort care), chăm sóc hỗ trợ (supportive care) và quản lý triệu chứng Bệnh nhân có thể được chăm sóc giảm nhẹ tại bệnh viện, phòng khám ngoại trú, cơ sở điều trị dài hạn hoặc tại nhà dưới sự hướng dẫn của bác sĩ
Theo Bộ Y tế Việt Nam (2006): “Chăm sóc giảm nhẹ cho bệnh nhân ung thư
và AIDS là sự kết hợp nhiều biện pháp để làm giảm sự đau khổ và cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh thông qua sự phòng ngừa, phát hiện sớm và điều trị đau và những vấn đề tâm lý và thực thể khác, và cung cấp sự tư vấn và hỗ trợ tập trung vào những vấn đề xã hội và tâm linh mà bệnh nhân và gia đình đang phải gánh chịu.” (Bộ Y tế, 2006)
Các định nghĩa về chăm sóc giảm nhẹ đều là việc giảm nhiều loại đau khổ, cải thiện chất lượng cuộc sống, chăm sóc các khía cạnh: thực thể, tâm lý, xã hội, tâm linh cho bệnh nhân và người nhà Do đó, người nghiên cứu giới hạn định nghĩa:
“Chăm sóc giảm nhẹ là việc xoa dịu các loại đau khổ, nâng cao chất lượng cuộc sống của bệnh nhân và người thân của họ thông qua việc quan tâm đến các mặt về thực thể, tâm lý, xã hội và tâm linh.”
hồ không có sự xác định cụ thể Theo lý thuyết học tập, phản xạ thứ cấp hoặc có
Trang 23âu thực tế: sợ hãi với một sự kiện có thể xảy ra, lo âu nhiễu tâm: sự mất cân bằng của cái tôi (ego), lo âu đạo đức Theo lý thuyết hiện sinh, lo âu là là khía cạnh cảm xúc của trạng thái không chắc chắn liên tục của những người phải tự đưa ra quyết định phản ứng như thế nào mà không có bất kì sự hướng dẫn
Theo từ điển Tâm lý học và các ngành khoa học liên quan của Bhatia M.S (2009), lo âu là trạng thái cảm xúc không thể đo lường được có liên quan đến những thay đổi tâm sinh lý để đáp ứng với một cuộc xung đột nội tâm, trái ngược với nỗi
sợ hãi, sự nguy hiểm hoặc mối đe dọa trong lo lắng là không thực tế Thay đổi tâm
lý bao gồm cảm giác khó chịu về nguy hiểm sắp xảy ra, nhận thức quá mức về sự bất lực, không có khả năng nhận thức được sự không thực tế của mối đe dọa, cảm giác căng thẳng kéo dài và sẵn sàng cho mối nguy hiểm dự kiến
Theo từ điển Tâm lý học của Vũ Dũng (2008), lo âu là trải nghiệm cảm xúc tiêu cực được quy định bởi sự chờ đợi điều gì đó nguy hiểm, có tính chất khuếch tán, không liên quan đến các sự kiện cụ thể Trạng thái cảm xúc xuất hiện trong các tình huống nguy hiểm không xác định được thể hiện trong việc chờ đợi những tiến triển không thuận lợi của sự kiện
Trong cuốn Tâm thần học (2005), thì lo âu là một tín hiệu báo động, báo trước một nguy hiểm sắp xảy ra và cho phép con người sử dụng mọi biện pháp để đương đầu với sự đe dọa
Như vậy, người nghiên cứu giới hạn định nghĩa: “Lo âu là một trạng thái có liên quan đến những thay đổi tâm lý và sinh ly khi đối mặt một sự chờ đợi điều gì đó nguy hiểm.”
1.2.2.1 Phân biệt lo âu
Theo Viện sức khỏe tâm thần quốc gia (National Institute of Mental Health) (2018), rối loạn lo âu bao gồm nhiều sự lo lắng, sợ hãi hơn bình thường Đối với người bị rối loạn lo âu, sự lo lắng không hề mất đi mà có thể còn trở nên tồi tệ hơn
Trang 24theo thời gian Các triệu chứng ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống như công việc,
học tập, mối quan hệ
Theo Tổ chức sức khỏe tâm thần đa văn hóa Úc (Multicultural mental health Australia) (2007), rối loạn lo âu không chỉ là một căn bệnh mà là một nhóm chứng bệnh, biểu hiện bằng cảm giác lo âu quá mức kéo dài, tâm trạng vô cùng bứt rứt và tinh thần cực kì căng thẳng Có thể chẩn đoán được ai đó mắc rối loạn lo âu, một khi nỗi lo âu của người ấy lên cao, đến độ nó có ảnh hưởng nặng nề đến cuộc sống hàng ngày của người ấy, khiến cho đương sự không làm được những gì họ muốn làm
Theo Từ điển Tâm lý học Cambridge (2009), rối loạn lo âu là một trong số các rối loạn tâm thần mà trong đó đặc trưng chính là sự lo lắng Bao gồm rối loạn hoảng
sợ, ám sợ xã hội, ám sợ đặc hiệu, rối loạn lo âu toàn thể,…
Theo sách Tâm thần học (2005) định nghĩa đây là một rối loạn cảm xúc đặc trưng bởi cảm giác lo sợ lan tỏa, khó chịu, mơ hồ kèm theo các triệu chứng thần kinh tự chủ như đau đầu, vã mồ hôi, hồi hộp, siết chặt ở ngực, khô miệng, khó chịu thượng vị và bứt rứt, không thể ngồi yên hoặc đứng yên một chỗ
Theo Vũ Dũng (2008), rối loạn lo âu là một rối loạn mà người bệnh không thể kiểm soát được sự sợ hãi quá mức do nguyên nhân cụ thể hoặc do chủ quan của họ
và điều đó không được giải thích bởi do bệnh thực thể hay tâm thần nào khác, biểu hiện bền vững, có tính chất lan tỏa, thậm chí có thể xảy ra ở tình trạng kịch phát
Theo Nguyễn Đại Hành (2013), “Rối loạn lo âu là một trạng thái bệnh lý, đặc trưng bởi rối loạn cảm xúc và suy nghĩ về một mối nguy hiểm nào đó không có thực, lặp đi lặp lại nhiều lần kèm theo các triệu chứng kích thích thần kinh thực vật.”
Theo Thái Quỳnh Chi (2016), rối loạn lo âu là cảm giác lo lắng quá mức, do tình trạng lo lắng kéo dài trong nhiều tuần, nhiều tháng làm cho cá nhân không thích ứng được, không thực hiện được những hoạt động họ vẫn thường hay làm, ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày của họ
Trang 25Như vậy, người nghiên cứu giới hạn: “Rối loạn lo âu là tình trạng lo âu bệnh
lý, trong đó tâm trạng lo lắng kéo dài, lặp đi lặp lại, phản ứng lo lắng quá mức so với thực tế, không thể kiểm soát được kèm theo các biểu hiện cơ thể, gây đau khổ và ảnh hưởng đến chức năng nghề nghiệp – xã hội của người bệnh”
Bảng 1.2.4: Phân biệt lo âu bình thường và lo âu bệnh lý
- Lo âu với những yếu tố có thật hoặc không có thật
Khả năng
kiểm soát
- Ở mức phù hợp và có thể kiểm soát được hoặc có thể ngăn chặn khi lo âu tăng cao
- Thường quá mức so với thực
tế, không kiểm soát được cơn
lo âu Thường có tính chất lan tỏa, dễ nhận biết và gây đau khổ cho bệnh nhân
Thời gian
- Không kéo dài, gắn với đối tượng gây sợ hãi và mất đi khi tình huống lo âu được giải quyết
- Xảy ra trong một thời gian dài và không có xu hướng giảm đi
- Triệu chứng cơ thể nhiều
Hệ quả - Thường có ích: có sự chuẩn
bị cho công việc, tránh được
- Ảnh hưởng đến hoạt động hằng ngày, gây cản trở các
Trang 26những tình huống nguy hiểm chức năng tâm lý xã hội của
Vậy có thể giới hạn “Lo âu bình thường là những lo lắng trước các yếu tố có thực, mức độ phù hợp, có thể kiểm soát được và biến mất khi tình huống gây lo âu được giải quyết”
1.2.2.2 Biểu hiện của lo âu
Mỗi cá nhân có biểu hiện khác nhau khi trải nghiệm sự lo âu, những biểu hiện này rất đa dạng và phức tạp Có thể kể đến những biểu hiện sau:
Biểu hiện ở các phương diện tâm lý:
Về mặt nhận thức: Khi lo âu khởi lên nó sẽ làm giảm khả năng tập trung, chú
ý của người đó Vì lúc này họ đang phải bận tâm suy nghĩ về nỗi lo hơn là hiện thực bên ngoài Trong khi lo âu, khả năng phán đoán, đưa ra những lựa chọn của cá nhân
đó cũng sẽ kém hơn Lo âu trường diễn ảnh hưởng nghiêm trong đến nhận thức của chủ thể, gây khó khăn trong quá trình nhận thức như là trí nhớ kém, tri giác không đúng với thực tại, ám ảnh, không thể nghỉ ngơi, thư giãn đầu óc (Tâm thần học, 2005; Leahy, 2012)
Về mặt cảm xúc: Những cảm xúc đi kèm với lo âu thường là: sợ hãi, cảm thấy bất an, bồn chồn trong lòng Những cảm xúc này kéo dài gây ra sự mất năng lượng, mệt mỏi, chán nản vì luôn phải sống trong tình trạng thần kinh căng thẳng Việc kiểm soát cảm xúc cũng sẽ khó khăn hơn, khiến cá nhân đó dễ tức giận, bốc đồng
và xung đột với người khác, có thể xuất hiện các cơn hoảng loạn cảm xúc biểu hiện qua lời nói, hành vi, cơ thể (Nguyễn Đại Hành, 2013; Leahy, 2012)
Trang 27Về mặt hành vi: Khi lo âu hành vi thường thấy nhất đó là sự tránh né, chạy trốn Con người có xu hướng sẽ cố gắng tránh không đề cập đến những điều gây ra
lo âu cho bản thân, tránh đi đến những nơi, những hoàn cảnh, tình huống có thể khiến lo âu khởi lên Cách hành xử bị kém phù hợp và điều đó lại làm tăng thêm sự
lo lắng, sợ hãi Bên cạnh đó, khi lo âu con người còn có những hành vi khác như run rẩy, lúng túng, ấp úng, nói lắp, không thể ngừng di chuyển (Vũ Dũng, 2008; Leahy, 2012) Ngoài ra, Bracha (2004) đã nêu ra chuỗi phản ứng căng thẳng cấp tính của con người gồm đóng băng (freeze), chiến đấu (fight), trốn chạy (flight), sợ hãi (fright), ngất xỉu (faint)
Biểu hiện ở phương diện sinh lý
Lo lắng kích hoạt hệ thống thần kinh giao cảm, phân bố các thần kinh ở tủy thượng thận, tạo ra một dòng hoocmon dẫn đến việc tiết catecholamine, đặc biệt norepinephrine và epinephrine, vào máu tao ra phản ứng thường gặp của con người khi đối diện với căng thẳng – chiến đấu (fight) hoặc trốn chạy (flight) (Taylor, 2000)
Về tim mạch: Khi lo lắng tim sẽ đập mạnh hơn, nhịp tim nhanh hơn, tăng huyết áp động mạch, co thắt mạch máu Lúc này con người có thể cảm thấy chóng mặt, đau, bỏng rát trước ngực hoặc có cảm giác co thắt trong lòng ngực, lo lắng quá
độ còn có thể gây ngất xỉu (Bùi Quang Huy, 2017)
Về hô hấp: Nhịp tim đập nhanh làm tăng nhịp thở, áp lực máu cao, co thắt lồng ngực tạo cảm giác thiếu không khí, khó thở, hụt hơi, thở gấp, thở ngắn, hơi thở
bị nghẽn ở ngực (Vũ Dũng, 2008)
Về dạ dày, ruột: Có người sẽ cảm thấy buồn nôn, hoặc thậm chí nôn Cảm giác cồn cào, trống rỗng trong dạ dày, chướng bụng Khô miệng, cổ họng phải uống nước liên tục dẫn đến việc mót tiểu, tiểu nhiều lần Bên cạnh đó, nhu động ruột tăng lên gây ra cảm giác đau bụng, đi tiêu liên tục (Nguyễn Thị Vân, 2018)
1.2.3 Lo âu của thân nhân bệnh nhân ung thư
Trang 28Theo Carey và cộng sự (1991), thân nhân bệnh nhân ung thư chịu trách nhiệm chăm sóc nhiều mặt khác nhau bao gồm chăm sóc triệu chứng, điều trị và bất lợi của chúng Họ hỗ trợ bệnh nhân di chuyển, chăm sóc cá nhân, vấn đề tài chính, công việc nhà, kể cả những phản ứng đau khổ về mặt tâm tâm lý của bệnh nhân Trong đó, việc hỗ trợ cảm xúc và quản lý triệu chứng cho bệnh nhân được đánh giá là nhiệm vụ khó khăn nhất đối với những người chăm sóc và giai đoạn người bệnh đang tiếp nhận điều trị là khoảng thời gian căng thẳng nhất Họ vừa chịu trách nhiệm chăm sóc bệnh nhân, vừa vẫn phải tự chăm lo cho bản thân và các thành viên khác trong gia đình Có thể thấy, vai trò và ảnh hưởng của người chăm sóc là rất lớn đối với gia đình họ nói chung và bệnh nhân nói riêng Cũng chính bởi gánh trọng trách nhưng thiếu sự chuẩn bị và giúp đỡ nên người chăm sóc phải đối
mặt với nguy cơ rối loạn tâm lý cao (Bakas cùng cộng sự, 2001)
Năm 2017, Ullrich đã chỉ ra rằng người chăm sóc trong gia đình của bệnh nhân ung thư giai đoạn tiến xa chịu những gánh nặng tâm lý có liên quan, bao gồm đau khổ, lo lắng, trầm cảm Chất lượng cuộc sống của họ thấp hơn so với mặt bằng chung, đặc biệt là về mặt sức khỏe tâm thần
Nghiên cứu của Northouse (2012) cho thấy sự căng thẳng ở những người chăm sóc có thể dẫn đến rối loạn tâm lý, giấc ngủ và làm thay đổi sức khỏe thể chất, chức năng miễn dịch và tình hình tài chính của họ
Qua các nghiên cứu trên, người nghiên cứu thấy rằng “Lo âu của thân nhân bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối là trạng thái có liên quan đến những thay đổi tâm
lý và sinh lý khi đối mặt với những gánh nặng về vấn đề chăm sóc bệnh nhân.”
1.2.4 Một số đặc điểm tâm lý của thân nhân của bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối
Theo từ điển Tiếng Việt (2004), thân nhân là những có quan hệ chặt chẽ về họ hàng, gia đình và tình cảm
Trang 29Theo từ điển Bách Khoa (2008), thân nhân là bà con thân thuộc, thân tộc, có quan hệ
Theo Bộ luật hôn nhân gia đình (2014), thân nhân là người có quan hệ hôn nhân, nuôi dưỡng, người có cùng dòng máu về trực hệ và người có họ trong phạm
vi ba đời
Thân nhân bệnh nhân là họ hàng, bạn đời, bạn bè hoặc hàng xóm – những người có mối quan hệ gắn bó quan trọng với bệnh nhân và dành nhiều sự hỗ trợ cho bệnh nhân là người già hoặc người trưởng thành mắc bệnh mãn tính hoặc có những khuyết tật Thân nhân có thể sống cùng hoặc không sống cùng người bệnh (Family Caregiver Alliance, 2014)
Trong nghiên cứu này, tác giả định nghĩa thân nhân bệnh nhân là những người
có cùng quan hệ huyết thống với bệnh nhân, hoặc mối quan hệ hôn nhân, chăm sóc
và giúp đỡ bệnh nhân trong cuộc sống thường ngày ở bệnh viện
Thân nhân bệnh nhân nói chung thường chịu ảnh hưởng về nhiều mặt như tâm
lý, xã hội, sức khỏe và kinh tế Một số vấn đề thường gặp của thân nhân bệnh nhân như sức khỏe tâm thần (trầm cảm; lo âu; căng thẳng cận lâm sàng được giải thích là mức độ cao của các ảnh hưởng tiêu cực như cảm giác tội lỗi, buồn rầu, lo âu, nỗi sợ
và tính hai chiều trong quá trình chăm sóc; chứng kiến sự chịu đựng của người bệnh), sức khỏe thể lý (sự mệt mỏi; rối loạn giấc ngủ; nguy cơ mắc bệnh, tổn thương và tử vong), giảm hoạt động chức năng, căng thẳng thứ phát (công việc; căng thẳng tài chính; căng thẳng trong mối quan hệ; hy sinh thời gian chăm sóc bản thân và giảm chất lượng cuộc sống), những quyết định về việc chăm sóc người thân (thời gian chăm sóc; sắp xếp nhà ở và kết thúc việc chăm sóc), những nguồn lực và
sự thích hợp của các dịch vụ (nhà ở; chăm sóc sức khỏe; dịch vụ cộng đồng và thời gian ngủ ngơi), áp lực từ gia đình (mâu thuẫn về việc chăm sóc bệnh nhân; thiếu sự
hỗ trợ; cân bằng nhu cầu chăm sóc sức khỏe giữa các thành viên trong gia đình; vấn
đề về hành vi và mâu thuẫn trong các mối quan hệ liên cá nhân) và sự ủng hộ trong
Trang 30quá trình chăm sóc (thiếu sự hợp tác của bệnh nhân) và thống nhất với hệ thống dịch vụ (Đinh Thị Hồng Vân, 2014)
Trong nghiên cứu của Schulz và Sherwood đã chỉ ra rằng thân nhân thường trải qua những giai đoạn stress dai dẳng: nhiều căng thẳng về mặt tâm lý và thể lý xuất hiện trong một khoảng thời gian dài Những căng thẳng liên quan đến cảm giác không thể dự đoán được về tình huống cũng như không thể kiểm soát được chúng trong quá trình chăm sóc người thân của mình Đôi khi những căng thẳng xuất hiện trong thời gian dài cũng ảnh hưởng đến công việc, những mối quan hệ gia đình khác
và trong tình huống này yêu cầu thân nhân gia tăng mức độ cảnh giác Thân nhân bệnh nhân không chỉ chịu nhiều căng thẳng và áp lực, họ còn mất khả năng chăm sóc bản thân và có chế độ ăn uống không lành mạnh (Schulz & Sherwood, 2009)
Trong nghiên cứu “Ảnh hưởng của căng thẳng đối với người chăm sóc thuộc gia đình: Công nhân và quản lý.” (Effects of Stress on Family Caregivers: Recognition and Managament) đã chỉ ra gánh nặng của thân nhân bao gồm những
vấn đề về thể lý, tâm lý, xã hội và tài chính, sự xấu hổ, tình trạng quá tải và tâm trạng bực bội Nếu người chăm sóc là vợ hoặc chồng thì nguy cơ mắc chịu gánh nặng càng cao hơn vì tính dễ tổn thương của chính họ và vì người chồng hoặc vợ mất đi sự hỗ trợ từ người hôn phối của mình Bên cạnh đó việc chăm sóc cho người đồng hôn phối với mình được xem là một lời cam kết trong hôn nhân, nhưng nếu thân nhân chăm sóc cho ba mẹ mình thì có thể xảy ra mâu thuẫn với người đồng hôn phối (Vitaliano, 2006)
Qua các nghiên cứu ở trên, có thể thấy những thân nhân chăm sóc cho bệnh nhân trong thời gian dài có thể dẫn đến một số vấn đề về cảm xúc như gánh nặng, trầm cảm, lo âu, kiệt sức, sa sút sức khỏe, thu rút xã hội và khó khăn về kinh tế, stress, xấu hổ, tội lỗi, vô dụng, sợ hãi, tức giận, mất mát, căng thẳng và mất hy vọng Tóm lại, thân nhân bệnh nhân ung thư chịu nhiều áp lực gánh nặng, có nguy
cơ cao mắc phải các vấn đề về sức khỏe thể chất lẫn tâm thần như dễ mệt mỏi, có sự thay đổi trong thói quen ăn uống và giấc ngủ, trầm cảm, lo âu,
Trang 31Tiểu kết chương 1
Ung thư là một nhóm bệnh lý mà các tế bào phát triển bất thường một các nhanh chóng, vượt quá tầm kiểm soát, có khả năng xâm nhập và tấn công các mô khác Ở giai đoạn cuối các tế bào ung thư đã di căn, hình thành khối u mới ở các bộ phận khác trên thể người bệnh
Lo âu là một trạng thái có liên quan đến những thay đổi tâm lý và sinh lý khi đối mặt với một sự chờ đợi điều gì đó nguy hiểm
Rối loạn lo âu là tình trạng lo âu bệnh lý, trong đó tâm trạng lo lắng kéo dài, lặp đi lặp lại, phản ứng lo lắng quá mức so với thực tế, không thể kiểm soát được kèm theo các biểu hiện cơ thể, gây đau khổ và ảnh hưởng đến chức năng nghề nghiệp – xã hội của người bệnh
Lo âu bình thường là những lo lắng trước các yếu tố có thực, mức độ phù hợp,
có thể kiểm soát được và biến mất khi tình huống gây lo âu được giải quyết
Lo âu biểu hiện quá mặt của tâm lý: nhận thức, cảm xúc, hành vi và mặt sinh lý: hệ thần kinh thực vật, tim mạch, hô hấp, dạ dày,…
Lo âu của thân nhân bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối là trạng thái có liên quan đến những thay đổi tâm lý và sinh lý khi đối mặt với những gánh nặng về vấn
đề chăm sóc bệnh nhân
Thân nhân bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối là những người có cùng quan hệ huyết thống với bệnh nhân, hoặc mối quan hệ hôn nhân, chăm sóc và giúp đỡ bệnh nhân trong cuộc sống thường ngày ở bệnh viện
Thân nhân bệnh nhân ung thư chịu nhiều áp lực gánh nặng, có nguy cơ cao mắc phải các vấn đề về sức khỏe thể chất lẫn tâm thần như dễ mệt mỏi, có sự thay đổi trong thói quen ăn uống và giấc ngủ, trầm cảm, lo âu,…
Trang 32Chương 2 BIỂU HIỆN LO ÂU CỦA THÂN NHÂN BỆNH NHÂN UNG THƯ GIAI ĐOẠN CUỐI Ở KHOA LÃO – CHĂM SÓC GIẢM NHẸ BỆNH VIỆN ĐẠI
HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.1 Tổ chức nghiên cứu và đạo đức nghiên cứu
2.1.1 Tổ chức nghiên cứu
Giai đoạn 1: Xây dựng bảng hỏi có 2 phần: Phần thông tin cá nhân và phần
nội dung khảo sát gồm 20 câu trong thang đo Tự đánh giá lo âu của Zung (Zung
để đo lường mức độ lo lắng, dựa trên việc ghi điểm trong 4 nhóm biểu hiện: nhận thức, hệ thần kinh thực vật, vận động và hệ thần kinh trung ương (Zung, 1971)
a Nội dung phiếu khảo sát
Nội dung phiếu khảo sát được xây dựng cho khách thể chính bao gồm:
Phần A: Thông tin thân nhân bao gồm 7 mục thu thập những thông tin cơ bản
của thân nhân bệnh nhân: giới tính, năm sinh, tôn giáo, công việc, mức thu nhập hàng tháng, trình độ học vấn, mối quan hệ với bệnh nhân
Phần B: Thang đo lo âu Zung gồm 20 câu nhằm đo lường mức độ lo âu của
thân nhân bệnh nhân, biểu hiện lo âu về mặt nhận thức và sinh lý với các mức độ
Hầu như không có hoặc không đáng kể, Thỉnh thoảng, Thường xuyên, Luôn luôn có
(từ 1 – 4)
- Lo âu biểu hiện ở mặt nhận thức ở các câu: 1, 2, 3, 5,
- Lo âu biểu hiện về mặt cơ thể (hệ thần kinh thực vật, hệ thần kinh trung ương, vận động) ở các câu: 4, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20
(Xem thêm phần phụ lục)
Trang 33Người nghiên cứu xây dựng những câu hỏi phỏng vấn để thu thập thêm những thông tin bổ sung với những thông tin thu được từ điều tra bảng hỏi Cụ thể gồm 6 câu hỏi như sau:
1 Tình trạng sức khỏe hiện tại của ông/bà như thế nào?
2 Ông/bà hiểu như thế nào về bệnh của bệnh nhân?
3 Ông/bà cảm thấy như thế nào về tình trạng hiện tại của bệnh nhân?
4 Theo ông/bà bản thân mình đang bận tâm điều gì liên quan đến việc chăm sóc bệnh nhân? Ông/bà có thể chia sẻ những trải nghiệm của bản thân khi đối diện với những điều đó?
5 Điều gì làm ông/bà quan tâm lúc này? Cảm xúc của ông/bà như thế nào khi nhắc đến chúng?
6 Ông/bà có mong muốn mình được giúp đỡ về mặt tâm lý như thế nào?
Giai đoạn 3: Điều tra chính thức
a Sử dụng phiếu khảo sát
Cách chọn mẫu:
Người nghiên cứu giới hạn người chăm sóc phải có quan hệ gia đình trong phạm vi ba đời với bệnh nhân, Bao gồm: ông/bà ruột của bệnh nhân; cha/mẹ ruột của bệnh nhân; anh/chị/em ruột của bệnh nhân; anh/ chị/em ruột của cha mẹ bệnh nhân; cháu ruột của bệnh nhân (cháu gọi BN là ông, bà); vợ/chồng; con ruột của bệnh nhân; con dâu/con rể của bệnh nhân; quốc tịch Việt Nam Bên cạnh đó, khách thể không có những vấn đề sức khỏe về tim mạch, suyễn, HIV/AIDS, ung thư vì những yếu tố này có ảnh hưởng đến sự lo âu của người chăm sóc có thể dẫn đến sai
số trong quá trình thu thập và xử lý số liệu
Cách thu thập số liệu:
Trang 34Để đảm bảo quyền được giữ bí mật riêng tư của thân nhân bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối tính theo pháp luật và tính nhân văn, đồng thời tạo sự thoải mái, khách thể chính thực hiện khảo sát và trò chuyện trực tiếp với người thực hiện khảo sát theo mô hình làm việc 1:1 Thời gian trung bình thực hiện xong 1 phiếu khảo sát
là 15 – 30 phút
Trong quá trình thực hiện khảo sát, việc thu số liệu gặp trở ngại ở các mặt như: khách thể thiếu kiên nhẫn khi thực hiện khảo sát (khách thể thực hiện cho nhanh để quay vào với bệnh nhân, đang thực hiện khảo sát thì có việc cần, ), khách thể gặp khó khăn trong việc đọc (không có mắt kính, không biết chữ,…), khách thể gặp khó khăn trong việc đánh giá mức độ lo âu theo thang 1 đến 4 Vì một số lý do trên nên đòi hỏi người thực hiện khảo sát cần phải giải thích rõ ràng, tỉ mỉ và đọc từng câu hỏi cũng như câu trả lời trong phiếu khảo sát để khách thể đưa ra lựa chọn
mà mình muốn
b Sử dụng phương pháp phỏng vấn
Phỏng vấn với người nhà bệnh nhân với những câu hỏi được chuẩn bị, để tìm hiểu về trải nghiệm của họ khi có người thân bị căn bệnh ung thư đang ở giai đoạn cuối, những suy nghĩ và cảm xúc của họ về tình trạng của bệnh nhân, những khó khăn liên quan đến việc chăm sóc người bệnh
Các buổi phỏng vấn được lưu lại bằng các biên bản phỏng vấn để làm cơ sở cho việc xử lý thông tin
Giai đoạn 4: Xử lý số liệu
Cho điểm từng câu theo mức độ mà khách thể lựa chọn: mức 1 = 1 điểm; mức
2 = 2 điểm; mức 3 = 3 điểm; mức 4 = 4 điểm
Ở các câu: 5, 9, 13, 17 và 19 cho điểm theo chiều ngược lại: mức 1 = 4 điểm; mức 2 = 3 điểm; mức 3 = 2 điểm; mức 4 = 1 điểm
Trang 35Điểm số trên bảng hỏi thu về là “Điểm số thô” (Raw Score), sau đó cần được chuyển đổi thành điểm "Chỉ số lo âu" (Index Anxiety) Điểm "Chỉ số lo âu" sau đó
có thể được sử dụng theo thang điểm trong bảng “Giải thích chỉ số lo âu” (Interpreting the Anxiety Index) dưới đây để xác định “Giải thích lâm sàng” (clinical interpretation) về mức độ lo lắng của một người:
Chỉ số lo âu Giải thích lâm sàng
Bước tiếp theo, số liệu sẽ được nhập và tính toán các phép thống kê bằng phần mềm SPSS
Đối với thông tin phỏng vấn: Dùng phương pháp phân tích dữ liệu định tính để phân tích và tổng hợp các câu trả lời của khách thể để làm cơ sở hỗ trợ cho sự đánh giá biểu hiện lo âu của thân nhân bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối Đây đồng thời cũng là cơ sở cho việc đề xuất các hành động hỗ trợ nhằm giúp thân nhân giảm bớt
áp lực của thân nhân khi chăm sóc người bệnh và giúp bệnh nhân nhận được sự chăm sóc tốt
2.1.2 Đặc điểm mẫu khách thể nghiên cứu
Mẫu khách thể gồm 30 thân nhân bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối ở khoa Lão – Chăm sóc giảm nhẹ bệnh viện Y Dược TP.HCM
Bảng 2.1.2 Đặc điểm của TNBN ung thư giai đoạn cuối
Trang 36Công việc hiện tại
Con dâu/con rể của BN 2 6.7 Anh/chị/em ruột của BN 4 13.3 Cháu nội/ngoại ruột của
2.1.3 Đạo đức trong nghiên cứu
Bài nghiên cứu được cân nhắc và tuân theo những nguyên tắc sau đây:
Trang 37Mục đích nghiên cứu tập trung vào tìm hiểu biểu hiện lo âu của thân nhân bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối, biểu hiện lo âu thể hiện rõ nét qua mặt cơ thể và
Bảng khảo sát đảm bảo tính bảo mật về thông tin cá nhân, chỉ được dùng cho mục đích nghiên cứu
Bảng khảo sát được thực hiện trong tình trạng ẩn danh, đảm bảo quyền riêng
tư và tạo cảm giác an toàn cho khách thể cũng như bệnh nhân
Khách thể có quyền yêu cầu dừng thực hiện bảng khảo sát khi không muốn tiếp tục thực hiện khảo sát
Khi khách thể xúc động, tác giả dừng khảo sát lại, nâng đỡ khách thể và hỏi xem nếu tiếp tục thực hiện khảo sát có ổn không, nếu khách thể đồng ý thì khảo sát mới được tiếp tục
2.2 Kết quả nghiên cứu
2.2.1 Mức độ lo âu của thân nhân bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối
ĐTB
Độ lệch chuẩn
10 33.3 2 40 7 23.3 1 3.3 1.97 0.85
Bảng 2.2.1 Điểm trung bình mức độ lo âu của TNBN ung thư giai đoạn cuối
Trang 38Biểu đồ 2.2.1 Tỉ lệ mức độ lo âu của TNBN ung thư giai đoạn cuối
Nhìn chung, có sự khác nhau giữa các mức độ lo âu của thân nhân bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối tại khoa Lão – Chăm sóc giảm nhẹ ở Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM Nhóm 2 mức độ lo âu thấp và trung bình chiếm tỉ lệ nhiều nhất 40%, nhóm 4 mức độ lo âu cực kỳ nghiêm trọng chiếm tỉ lệ ít nhất 3% Nhóm 1 không có lo âu chiếm 34%, nhóm 3 mức độ lo âu nghiêm trọng chiếm 23% Tổng
số lo âu ở cả 3 mức độ là 66,6% cao hơn so với tỉ lệ lo âu của TNBN trong nghiên cứu của năm 2005 của Ambigga (48,6%)
Mức độ lo âu của TNBN chủ yếu là ở mức độ lo âu thấp và trung bình Tuy nhiên qua lời chia sẻ của các khách thể thì thấy có sự lo sợ nhiều và nhiều nhất là về
sự mất mát người thân, lo sợ tình huống xấu nhất sẽ xảy đến với người thân của họ
Thân nhân nữ có điểm số lo âu cao nhất (69 điểm) đã chia sẻ rằng: “Bác sĩ giải thích giờ sức khỏe của bà cụ như một chiếc xe lao xuống dốc, không thể làm gì để chặn lại được, chỉ có thể làm giảm tốc độ phần nào thôi Bác sĩ cũng đã dặn gia đình chuẩn bị tâm lý hết rồi Nhìn mẹ mình vậy mà mình không làm được gì Chị lo lắng lắm chứ…”
Hầu hết các khách thể đều nhắc đến nỗi sợ về việc tình huống xấu nhất sẽ xảy
Trang 39sợ, cười nói để che đi chứ sợ lắm, sợ mẹ sẽ ra đi”, “lo nhiều, bệnh ông cụ nặng, bác sĩ nói cũng thôi đưa cụ về nhưng gia đình vẫn muốn ở lại viện chăm, kéo dài sự sống cho ông”, “sợ bố sẽ ra đi quá sớm, dự định, nghĩ cũng năm bảy năm nữa, vậy mà”, “Mặc dù là người nhà đã chuẩn bị tinh thần hết rồi nhưng mà chị vẫn sợ ba chị chết.”
Hay một khách thể nam chăm sóc cho mẹ bị K dạ dày, bị tắc ruột, phải đặt ống nuôi ăn chia sẻ khi được hỏi về nỗi lo liên quan đến tình trạng của bệnh nhân như
sau: “Nhìn mẹ ăn uống không được, ngày càng yếu đi, ăn vô là ói, lo lắm Nghe bác
sĩ bảo không sống được mấy tháng nữa Sợ lắm nhưng biết sao giờ”
Theo Bowly (1980), mất mát người thân là một trong những trải nghiệm đau đớn nhất mà bất kỳ con người nào cũng có thể phải trải qua, chịu đựng Điều này không chỉ đau đớn khi trải nghiệm mà còn đau khổ khi chứng kiến chỉ vì quá bất lực để giúp đỡ Đối với những cá nhân bị mất mát thì sẽ không có gì có thể mang lại
sự thoải mái thực sự ngoài việc người thân của họ quay trở lại
Còn theo Hiệp Hội Tâm Lý Hoa Kỳ: American Psychological Association (2011), mất mát được hiểu là một phần tự nhiên của cuộc sống, nhưng chúng ta vẫn
có thể bị sốc và bối rối khi mất mát xảy ra Mất mát dẫn đến thời gian buồn bã hoặc trầm cảm kéo dài Việc đối diện với sự ra đi của những người thân yêu thật sự là một thử thách rất khó
Như vậy, hầu hết các thân nhân bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối đang phải đối diện, chuẩn bị cho sự mất mát có thể diễn ra với gia đình họ vào bất kì lúc nào Đây có thể nói là một nỗi lo sợ rất lớn, một tình huống mà không có bất kì cá nhân nào muốn phải trải qua Đối với TNBN, nỗi lo này có cơ sở vì nó phụ thuộc vào tình trạng bệnh thực tế của bệnh nhân và đây là một sự mất mát mãi mãi, không thể thay thế
Trang 402.2.2 Biểu hiện lo âu của TNBN ung thư giai đoạn cuối
Bảng 2.2.2 Điểm trung bình các biểu hiện lo âu của TNBN ung thư giai đoạn cuối
Biểu đồ 2.2.2 Tỉ lệ phần trăm các biểu hiện lo âu của TNBN ung thư giai đoạn cuối