Với mong muốn khai thác thêm những giá trị mới từ rễ cây hà thủ ô trắng, góp thêm vào danh mục các hợp chất từ cây hà thủ ô trắng, cung cấp một số thông tin đáng tin cậy về thành phần hó
Trang 1Nguyễn Hoàng Uyên Phương
GÓP PHẦN TÌM HIỂU THÀNH PHẦN HÓA HỌC CAO ETHYL ACETATE CỦA RỄ CÂY HÀ
THỦ Ô TRẮNG (Streptocaulon juventas Merr.)
THUỘC HỌ ASCLEPIADACEAE
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC VẬT CHẤT
Thành phố Hồ Chí Minh – 2019
Trang 2Nguyễn Hoàng Uyên Phương
GÓP PHẦN TÌM HIỂU THÀNH PHẦN HÓA HỌC CAO ETHYL ACETATE CỦA RỄ CÂY HÀ
THỦ Ô TRẮNG (Streptocaulon juventas Merr.)
THUỘC HỌ ASCLEPIADACEAE
Chuyên ngành : Hóa hữu cơ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC VẬT CHẤT
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS BÙI XUÂN HÀO
Thành phố Hồ Chí Minh – 2019
Trang 3cơ khóa 27
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ: “Góp phần tìm hiểu thành phần hóa học của
cao ethyl acetate từ rễ cây hà thủ ô trắng (Streptocaulon juventas Merr.), thuộc họ
Asclepiadaceae” là do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Bùi Xuân Hào Các nội dung nghiên cứu, số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và chưa được công bố trong bất cứ nghiên cứu nào khác Các thông tin tham khảo trong luận văn đều được trích dẫn từ nguồn cụ thể
Trang 4khoa Hóa học, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn Thầy Bùi Xuân Hào đã luôn nhiệt tình hướng dẫn, truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi có thể hoàn thành luận văn này Bên cạnh những bài học kinh nghiệm quý báu, là những lời động viên, khích lệ của thầy giúp tôi có thêm động lực để tiếp tục cố gắng mỗi khi gặp khó khăn trong quá trình nghiên cứu, tiếp thêm cho tôi niềm đam mê trong nghiên cứu khoa học
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến quý Thầy Cô khoa Hóa học – Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tâm trong công tác giảng dạy, truyền thụ cho tôi nhiều kiến thức khoa học hữu ích trong thời gian học tập tại trường
Tôi xin cảm ơn tất cả các anh chị, các bạn của lớp hóa hữu cơ khóa 27 và phòng thí nghiệm Hợp chất thiên nhiên- Trường đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã luôn giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Tôi cũng xin dành một lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình đã là điểm tựa vững chắc
và là nguồn động viên cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn của mình
Cuối cùng, tôi xin gửi những lời chúc tốt đẹp nhất đến quý thầy cô, các anh chị
và các bạn Xin chân thành cảm ơn tất cả mọi người!
Tp Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2019
Nguyễn Hoàng Uyên Phương
Trang 5Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các kí hiệu và chữ viết tắt
Danh mục các bảng biểu
Danh mục các hình vẽ
Danh mục các sơ đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Các nghiên cứu về đặc điểm thực vật 3
1.2 Nghiên cứu về dược tính 4
1.2.1 Dược tính theo y học cổ truyền 4
1.2.2 Dược tính theo y học hiện đại 4
1.3 Các nghiên cứu về thành phần hóa học 5
1.3.1 Các nghiên cứu trên thế giới về cây hà thủ ô trắng (Streptocaulon juventas Merr.) 5
1.3.2 Các nghiên cứu trong nước 9
1.3.3 Các nghiên cứu về cây thuộc chi Streptocaulon 11
Chương 2 THỰC NGHIỆM 15
2.1 Hóa chất, thiết bị, phương pháp 15
2.1.1 Hóa chất 15
2.1.2 Thiết bị 15
2.1.3 Phương pháp tiến hành 15
2.2 Nguyên liệu 16
2.3 Điều chế các loại cao 16
2.4 Phân lập một số hợp chất hữu cơ trong cao ethyl acetate 17
2.4.1 Sắc ký cột silica gel trên phân đoạn EA2 18
2.4.2 Sắc ký cột silica gel trên phân đoạn EA3 18
2.4.3 Sắc ký cột silica gel trên phân đoạn EA4 19
Trang 63.2 Hợp chất P24 22
3.3 Hợp chất Strep J8 25
3.4 Hợp chất Strep J6 27
3.5 Hợp chất Strep.J1 30
3.6 Hợp chất Strep J5 33
3.7 Hợp chất Strep.J3 36
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO 41 PHỤ LỤC
Trang 7d Doublet (mũi đôi)
dd Doublet of doublet (mũi đôi đôi)
DEPT Distortionless enhancemement by polarization transfer
DMSO Dimethyl sulfoxide
Ea Ethyl acetate
G Gram
HMBC Heteronuclear multiple bond corelation
(Phổ tương tác dị hạt nhân qua nhiều liên kết) HSQC Heteronuclear single quantum coherence
(Phổ tương tác dị hạt nhân qua một liên kết)
Ppm Part per million (một phần một triệu)
RP-18 Reversed Phase-18 (Pha đảo C-18)
s Singlet (mũi đơn)
SKC Sắc ký cột
SKLM Sắc ký lớp mỏng
t Triplet (mũi ba)
TLC Thin layer chromatography (Sắc kí lớp mỏng)
UV Ultra Violet (Tia cực tím)
δ Độ dịch chuyển hóa học
Trang 8Bảng 3.2 Dữ liệu phổ của P24 24
Bảng 3.3 Dữ liệu phổ của Strep J8 26
Bảng 3.4 Dữ liệu phổ của Strep J6 29
Bảng 3.5 Dữ liệu phổ của Strep.J1 31
Bảng 3.6 Dữ liệu phổ của Strep J5 35
Bảng 3.7 Dữ liệu phổ của hợp chất Strep.J3 37
Trang 9Hình 1.2 Rễ cây hà thủ ô trắng 4
Hình 3.1 Cấu trúc hợp chất P5.2 22
Hình 3.2 Tương quan HMBC của P5.2 22
Hình 3.3 Cấu trúc hợp chất P24 25
Hình 3.4 Tương quan HMBC của hợp chất P24 25
Hình 3.5 Cấu trúc hợp chất Strep.J8 27
Hình 3.6 Tương quan COSY và HMBC của Strep J8 27
Hình 3.7 Cấu trúc hợp chất Strep J6 29
Hình 3.8 Tương quan HMBC của Strep J6 30
Hình 3.9 Cấu trúc hợp chất Strep.J1 32
Hình 3.10 Tương quan HMBC của Strep.J1 33
Hình 3.11 Cấu trúc hợp chất Strep.J5 34
Hình 3.12 Tương quan HMBC của Strep.J5 35
Hình 3.13 Cấu trúc hợp chất Strep.J3 38
Hình 3.14 Tương quan HMBC và COSY của Strep.J3 38
Trang 10Sơ đồ 2.2 Quy trình cô lập các hợp chất trong cao ethyl acetate 20
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Từ lâu, con người đã biết sử dụng các loài thực vật trong tự nhiên để làm thuốc chữa bệnh, đem lại hiệu quả cao trong phục vụ đời sống Ở Việt Nam cây hà thủ ô
trắng (Streptocaulon juventas Merr.) từ xưa đã được sử dụng làm thuốc để chữa những
căn bệnh sốt nóng, sốt rét, viêm ruột…Trong y học hiện đại, các thử nghiệm cho thấy
hà thủ ô trắng có khả năng kháng khuẩn, kháng oxy hóa, ức chế tế bào ung thư
Mặc dù có nhiều giá trị sử dụng nhưng việc nghiên cứu các thành phần hóa học
và hoạt tính sinh học của rễ cây hà thủ ô ở Việt Nam chưa có nhiều Với mong muốn khai thác thêm những giá trị mới từ rễ cây hà thủ ô trắng, góp thêm vào danh mục các hợp chất từ cây hà thủ ô trắng, cung cấp một số thông tin đáng tin cậy về thành phần
hóa học cũng như hoạt tính của cây, tôi quyết định chọn đề tài “Góp phần tìm hiểu
thành phần hóa học cao ethyl acetate của rễ cây hà thủ ô trắng (Streptocaulon
juventas Merr.) thuộc họ Asclepiadaceae” để tiếp tục nghiên cứu và phân lập thêm
3 Đối tượng nghiên cứu
Cao ethyl acetate của rễ cây hà thủ ô trắng
4 Phạm vi nghiên cứu
Thành phần hóa học các hợp chất có trong cao ethyl acetate của rễ cây hà thủ ô trắng
5 Phương pháp nghiên cứu
Chiết xuất các hợp chất trong mẫu nguyên liệu bằng phương pháp đun hoàn lưu với methanol ở nhiệt độ 64 – 650 C
Chiết phân bố bằng kĩ thuật chiết lỏng – lỏng để điều chế các cao phân đoạn Các phương pháp sắc kí lớp mỏng silica gel, sắc kí cột với silica gel pha thường, hoặc pha đảo RP-18 để phân lập các hợp chất hữu cơ
Trang 12Khảo sát và xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất cô lập được bằng phương pháp phổ nghiệm hiện đại: phổ cộng hưởng từ hạt nhân 1H-NMR, 13C-NMR, phổ HSQC, phổ HMBC, phổ COSY…
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Các nghiên cứu về đặc điểm thực vật
Tên thông thường ở Việt Nam là cây hà thủ ô trắng Ngoài ra, cây hà thủ ô trắng còn có nhiều tên gọi khác tùy thuộc vào từng vùng miền như mã liên an, cây sừng bò,
củ vú bò, dây sữa bò, dây mốc, khau nước, khau cần cà (Tày), xa ú pẹ (Dao)
Tên khoa học: Streptocaulon juventas Merr
Họ: Thiên lý (Ascepiadaceae)
Hà thủ ô trắng là một loại dây leo dài từ 2 đến 5m Thân và cành màu hơi đỏ hay nâu đỏ, có nhiều lông, khi già thì nhẵn dần Lá mọc đối, hình mác dài, đầu nhọn, đáy tròn hoặc hơi hình nón cụt, có lông mịn và nhiều ở mặt dưới, mặt trên cũng có lông ngắn hơn Phiến lá dài 4 – 14cm, rộng 2 – 9cm, cuống lá dài 5 - 8cm cũng có nhiều lông Hoa màu nâu nhạt hoặc vàng tía mọc thành xim, rất nhiều lông Quả đại tách đôi ngang ra trông như sừng bò, quả hình thoi, màu xám, nhiều lông, dài 7 – 11cm, rộng 8mm Hạt dẹt, phồng ở lưng, dài 5 -7mm, rộng 2mm, có chùm lông mịn dài 2cm Toàn cây có nhựa mủ trắng Mùa hoa vào tháng 7 – 9, mùa quả vào tháng 10 -12 [1]
Hình 1.1 Cây hà thủ ô trắng
Trang 14Hình 1.2 Rễ cây hà thủ ô trắng
Loài hà thủ ô trắng phân bố chủ yếu ở 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia và một
số vùng phía nam Trung Quốc Ở Việt Nam cây hà thủ ô trắng phân bố rải rác khắp các tỉnh miền núi, trung du và đôi khi ở cả đồng bằng Thường ưa những nơi đất đồi cứng vùng Vĩnh Phúc, Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn [2]
1.2 Nghiên cứu về dược tính
1.2.1 Dược tính theo y học cổ truyền
Dựa trên những nghiên cứu về dược tính theo y học cổ truyền hà thủ ô trắng có vị ngọt đắng, tính mát, có tác dụng bổ máu, bổ gan và thận Hà thủ ô được dùng làm thuốc bổ, trị thần kinh suy nhược, các bệnh về thần kinh, khỏe gân cốt, sống lâu, làm đen râu tóc Rễ hà thủ ô trắng dùng sống thì thanh nhiệt, giải độc, chữa cảm sốt, sốt nóng, sốt rét lâu ngày, ra nhiều mồ hôi, đau vùng tâm vị, táo bón, nhuận tràng, thông tiện, bị thương, sưng đau Ngày dùng 12 - 20 g, dạng thuốc sắc, cao hoặc rượu uống Đối với phụ nữ, hà thủ ô được dùng chữa các bệnh sau sinh, các bệnh xích bạch đới, lị lâu ngày không khỏi, ít sữa Rễ hoặc lá hà thủ ô trắng nhai nuốt nước, bã đắp chữa rắn cắn Còn dùng lá và cành đun nước tắm và rửa để chữa lở ngứa Củ và thân lá chữa cảm sốt, cảm nắng, sốt rét [2]
1.2.2 Dược tính theo y học hiện đại
Trên thế giới và trong nước đã có nhiều nghiên cứu về dược tính theo y học hiện đại về cây hà thủ ô trắng
Hà thủ ô có tác dụng nâng cao tỷ lệ sống hoặc kéo dài thời gian cầm cự đối với động vật đã tiêm độc nọc rắn hổ mang và có tác dụng ức chế sự co thắt cơ trơn ruột cô lập gây bởi histamine và acetylcholine [2]
Trang 15Hà thủ ô trắng có độc tính thấp, có tác dụng kích thích nhẹ sự co bóp cơ trơn, làm
co mạch ngoại vi, kích thích hô hấp, nhưng không làm thay đổi huyết áp, kích thích nhẹ nhu đường ruột và lợi tiểu, kích thích tiêu hóa làm ăn được nhiều, tăng sức lực, hạ thân nhiệt, tiêu viêm và an thần nhẹ [2]
Năm 2003, Jun-ya Ueda sau khi phân lập các cardenolide từ rễ cây hà thủ ô trắng
như Acovenosigenin A 3-O-β-digitoxoside; acovenosigenin A… đã tiến hành kiểm tra
hoạt tính gây độc tế bào trên ba dòng tế bào có nguồn gốc từ con người là ung thư ruột kết HT-1080, ung thư biểu mô tuyến A549 phổi, ung thư tử cung HeLa và trên ba dòng tế bào ung thư biểu mô tuyến giáp 26-L5, ung thư biểu mô phổi Lewis, tế bào ác tính B16-BL6 Kết quả các cardenolide chọn lọc và ức chế mạnh mẽ sự tăng sinh của dòng tế bào HT-1080 (IC50, 0,054-1,6 µM) và A549 (IC50, 0,16-0,65 µM) [3]
Năm 2013, Jong-Bang Eun và các cộng sự đã nghiên cứu hoạt động kháng khuẩn của dịch chiết hà thủ ô và nhận thấy hầu hết các chất chiết đều có tác dụng kháng
khuẩn đối với Bacillus subtilis, Staphylococcus aureus, Lactobacillus brevis,
Escherichia coli, Pseudomonas aeruginose, Candida albicans, Saccharomyces cerevisiae, Aspergillus niger[4]
Năm 2015, từ dịch chiết methanol thân và lá hà thủ ô, nhóm nghiên cứu thuộc Đại học Cần Thơ - Đái Thị Xuân Trang và các cộng sự đã nghiên cứu thành công hoạt tính kháng khuẩn và kháng oxi hóa từ dịch chiết đó Cao methanol hà thủ ô có khả
năng kháng hai loại vi khuẩn Escherichia coli và Staphylococcus aureus cao hơn thuốc
kháng sinh thương mại ampicillin và amoxicillin [5]
1.3 Các nghiên cứu về thành phần hóa học
1.3.1 Các nghiên cứu trên thế giới về cây hà thủ ô trắng (Streptocaulon
juventas Merr.)
Năm 2003, Jun-ya Ueda và các cộng sự đã phân lập từ rễ cây hà thủ ô trắng được mười sáu cardenolide, hai hemiterpenoide, hai phenylpropanoid và một phenylethanoid Tiến hành thử nghiệm hoạt tính gây độc trên các dòng tế cho kết quả cardenolide ức chế mạnh và chọn lọc các dòng tế bào HT-1080 [3]
+ Mười sáu hợp chất cardenolide được xác định là: Acovenosigenin A
3-O-β-digitoxoside (1); acovenosigenin A (2); digitoxigenin 3-O-β-gentiobioside (3);
Trang 16digitoxigenin
glucopyranosyl-(1→4)-3-O-acetyl-β-digitoxopyranoside] (4); digitoxigenin glucopyranosyl-(1→4)-O-β-digitalopyranosyl-(1→4)-β-cymaropyranoside] (5); 17α-
3-O-[O-β-glucopyranosyl-(1→6)-O-β-digitoxigenin (6); digitoxigenin 3-O-[O-β-D-glucopyranosyl-(1→6)-O-β-D
-glucopyranosyl-(1→4)-β-D-digitoxopyranoside] (7); digitoxigenin corchrusoside (8);
echujin (9); subalpinoside (10); periplogenin
3-O-(4-O-β-glucopyranosyl-β-digitalopyranoside) (11) ; 17α-periplogenin 3-O-β-D-digitoxoside (12); periplogenin 3-O-β-D-cymaroside (13); 17α-periplogenin (14); periplogenin glucoside
Trang 17+ Hai hợp chất hemiterpenoide xác định được là:
(4R)-hydroxy-3-isopropylpentyl rutinoside (17); (R)-2-ethyl-3-methylbutylrutinoside (18)
Năm 2008, Zhihui Liu và các cộng sự đã phân lập được bảy hợp chất từ thân cây
hà thủ ô trắng thu hái ở vùng tây nam Trung Quốc, được xác định là: Syringaldehyde
(22); isofraxidin (23); ferulic acid (24); scopoletin (25); syringic acid (26);
salicylaldehyde (27) và scoparone (28) Tiến hành thử nghiệm hoạt tính gây độc tế bào
của các hợp chất, kết quả chúng có khả năng ức chế tế bào ung thư bạch cầu HL-60 ở người [6]
22 24
26 27
Trang 18
R 1 R 2 R 3
23 OCH3 OH OCH3
25 OCH3 OH H
28 OCH3 OCH3 H
Năm 2013, Jun Yin và các cộng sự đã phân lập thêm sáu hợp chất cardenolide từ
rễ cây hà thủ ô trắng là: 1α,14β-dihydroxy-5β-card-20 (22)-enolide 3-O-[O-β-D
-glucopyranosyl-(1→2)-β-D-digitalopyranoside] (29); acovenosigenin A 3-O-[O-β-D
-glucopyranosyl-(1→4)-β-D-digitalopyranoside] (30); hydroxyperiplogenin-3-O-β-D-digitoxopyranoside] (31); digitoxigenin 3-O-[O-β-D-
Năm 2015, Jun Yin và các cộng sự[9] đã phân lập được thêm 10 hợp chất
cardenolide từ rễ cây hà thủ ô trắng là: periplogenin 3-O-[O-β-D
-glucopyranosyl-(16)-O-β-D-glucopyranosyl-(14)-2-O-acetyl-β-D-digitalopyranoside] (35);
periplogenin 3-O-[O-β-D-glucopyranosyl-(14)-O-β-D-glucopyranosyl-(14)-β-D
Trang 19-digitoxopyranoside] (36); acovenosigenin A 3-O-[O-β-D-glucopyranosyl-(16)-O-β-D
-glucopyranosyl-(14)-β-D-cymaropyranoside] (37); acovenosigenin A 3-O-[O-β-D
-glucopyranosyl-(16)-O-β-D-glucopyranosyl-(14)-2-O-acetyl-β-D
-digitalopyranoside] (38); 16-O-acetyl-hydroxyacovenosigenin 3-O-[O-β-Dglucopyranosyl- (16)-O-β-D-glucopyranosyl-(14)-2-O-acetyl-β-D-
-digitalopyranoside] (39); acovenosigenin A 3-O-[O-β-D
-glucopyranosyl-(16)-O-β-D-glucopyranosyl-(14)-O-β-D-digitalopyranosyl-(14)-β-D-cymaropyranoside]
(40); Odoroside G (41); digitoxigenin 3-O-β-D-cellobioside (42);
digitoxigenin-3-O-β-D-glucosyl-(14)-3-O-acetyl-β-D-digitoxoside (43); 5β-hydroxygitoxigenin (44) [8]
1.3.2 Các nghiên cứu trong nước
Năm 2007, Nguyễn Đức Tuấn và các cộng sự đã phân lập và xác định được cấu
trúc hóa học của các hợp chất periplogenin (14); 17β-periplogenin (45);
17α-digitoxigenin (6); 16-dehydropregnenolon (46) từ rễ cây hà thủ ô trắng thu hái ở huyện
Trang 20
45 46
Năm 2009, nhóm nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoàng Yến đã phân lập các hợp
chất là periplogenin glucoside (15); 17α-periplogenin (2); acovenosigenin A
3-O-glucoside (47) từ dịch nước còn lại của cao methanol rễ cây hà thủ ô trắng sau khi
chiết cao với CHCl3 Trong đó acovenosigenin A 3-O-glucoside là một hợp chất mới,
lần đầu được tìm thấy [10]
Trang 211.3.3 Các nghiên cứu về cây thuộc chi Streptocaulon
Ngoài những nghiên cứu trên cây hà thủ ô trắng còn có một số nghiên cứu trên
các loài cùng chi như Streptocaulon griffithii; Streptocaulon tomentosum;
Streptocaulon baumii; …,
Năm 2005, Ma Chunhui và các cộng sự đã phân lập được mười ba hợp chất từ rễ
của Streptocaulon griffithii gồm: periplogenin (50); periplogenin-3β-acetate (51);
periplogenin 3-O-β-D-glucopyranoside (52); uzarigenin (53); α- amyrolacetate (54); α- amyrol tridecanoate (55); ursolic acid (56); 9,19- cyclolart-25-en-3β,24R-diol (57); 9,19- cyclolart-25-en-3β,24S-diol (58); cycloeucalenol (59); 9,19-cyclolart-23E-en- 3β,25-diol (60); 25-methoxy-9,19-cyclolart-23E-en-3β-ol (61); 11α,12α- epoxytaraxer- 14-en-3β-acetate (62); cùng với 3 hợp chất là oleanolic acid (63); β-sitosterol (64); β-
Trang 22Năm 2007, Myint Myint Khine và các cộng sự[5] đã phân lập được một
cardenolide mới 17β-H-periplogenin-3-O-β-D-digitoxoside (66) từ rễ Streptocaulon
Trang 2366
Năm 2011, Luay J Rashan và các cộng sự đã phân lập được sáu hợp chất
cardenolide từ rễ Streptocaulon tomentosum (Asclepiadaceae) được xác định là: 17α
-H-periplogenin (67); 17α-H-periplogenin-3-O-β-D-digitoxoside (68); periplogenin-3-O-β-D-cymaroside (69); 17α-H-periplogenin-β-glucopyranosyl (1→4)- 2-O-acetyl-β-digitalopyranoside (70); 17β-H-periplogenin-3-O-β-D-digitoxoside (71)
Năm 2017, Yi-Chao Ge và các cộng sự đã phân lập được thêm 3 hợp chất
triterpenoid từ rễ của cây Streptocaulon griffithii Hook 3β,4β-dihydroxyl-9,19-cycloartan-26-acid (73); 28,29-nor-3β,4β-dihydroxyl-9,19-
(Asclepiadaceae),28,29-nor-cycloartan-26-acid methylester (74); và một dẫn chất 30-nor-lupeol
30-nor-3β-acetoxy-lupan-20-one (75) Trong đó hợp chất (73) và (74) có khả năng ức chế các
dòng khối u được nuôi cấy (Hela, PC3, SMMC7721, CNE) với giá trị IC50 tương ứng
là 11.76 ~ 26.52 μg/mL [15]
Trang 24
73 74
Trang 25Chương 2 THỰC NGHIỆM 2.1 Hóa chất, thiết bị, phương pháp
2.1.1 Hóa chất
Silica gel: silica gel 40 – 63 µm, Merck và silica gel 37 – 63 µm, Himedia dùng cho sắc ký cột
Silica gel pha đảo, RP -18, Merck dùng cho sắc ký cột
Sắc ký lớp mỏng pha thường: TLC silica gel 60 F254 (250 µm, Merck, Germany)
Sắc ký lớp mỏng pha đảo: TLC RP – 18 F254 (250 µm, Merck, Germany)
Dung môi gồm: n-hexane, chloroform, ethyl acetate, acetone, methanol,
ethanol, acetic acid và nước cất
Thuốc thử hiện hình các vết chất hữu cơ trên bảng sắc ký lớp mỏng: dung dịch
Đèn soi UV: bước sóng 254/365 nm (spectroline ENF-240 C/FE, USA)
Cân phân tích (Sartorious BL 210S)
Máy cộng hưởng từ hạt nhân (Bruker Avance) một chiều (1D NMR), hai chiều (2D NMR) tần số 500 MHz tại trung tâm các phương pháp phổ ứng dụng, Viện Hóa học-Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Hà Nội
2.1.3 Phương pháp tiến hành
Sử dụng các phương pháp chiết xuất, trích ly để điều chế các loại cao
Sử dụng các kỹ thuật sắc ký gồm kỹ thuật sắc ký cột silica gel pha thường, silica gel pha đảo RP-18 và sắc ký lớp mỏng, kỹ thuật kết tinh để phân lập và tinh chế các hợp chất có trong các cao phân đoạn
Phát hiện vết chất hữu cơ trên sắc ký lớp mỏng bằng đèn tử ngoại ở bước sóng
Trang 26254 nm và 365 nm hoặc dùng thuốc thử là dung dịch H2SO4 20%, nung nóng bảng mỏng
Sử dụng các phương pháp phổ nghiệm, chủ yếu là phổ cộng hưởng từ hạt nhân
để xác định cấu trúc các hợp chất phân lập được
2.2 Nguyên liệu
Mẫu cây dùng trong nghiên cứu đề tài này là rễ cây hà thủ ô trắng (Streptocaulon
juventas Merr.) được thu hái ở Tịnh Biên tỉnh An Giang vào tháng 10 năm 2016
Mẫu cây đã được Th.S Hoàng Việt, trường Đại học Khoa học Tự nhiên thành
phố Hồ Chí Minh nhận danh tên khoa học là “Streptocaulon juventas”, họ Thiên lý
(Asclepiadaceae)
Mẫu nguyên liệu được rửa sạch, loại bỏ phần sâu bệnh, phơi khô rồi xay thành bột mịn (20 kg bột khô) Sau đó tiến hành chiết xuất và phân lập các hợp chất
2.3 Điều chế các loại cao
Đun hoàn lưu 20 kg bột khô rễ cây hà thủ ô trắng với dung môi methanol (3 giờ/lần x 3 lần) ở nhiệt độ 64 - 650 C Dịch chiết đem lọc, cô quay thu hồi dung môi ở
áp suất thấp thu được cao methanol ở dạng sệt (2,02 kg)
Cao thô methanol được phân tán vào nước, sau đó chiết lỏng – lỏng với dung môi chloroform, dịch chiết được làm khan, cô quay dưới áp suất thấp thu hồi dung môi thu được cao chloroform (400 g) và cao nước
Phần cao còn lại tiếp tục chiết lỏng – lỏng với dung môi ethyl acetate, dịch chiết được làm khan, cô quay dưới áp suất thấp thu hồi dung môi thu được cao ethyl acetate (29 g)
Quá trình thực hiện được tóm tắt theo sơ đồ 2.1
Trang 27
Sơ đồ 2.1 Quy trình điều chế cao ethyl acetate từ rễ cây hà thủ ô trắng
2.4 Phân lập một số hợp chất hữu cơ trong cao ethyl acetate
Phân đoạn cao ethyl acetate (29 g) được sắc ký cột (SKC) silica gel, giải ly với
hệ dung môi C: Me có độ phân cực tăng dần, sau đó giải ly với hệ dung môi EA:Me có
độ phân cực tăng dần Dịch giải ly qua cột được hứng vào các lọ theo thứ tự Theo dõi
quá trình sắc ký cột bằng sắc ký lớp mỏng (SKLM), soi đèn UV, hiện vết bằng dung
dịch H2SO4 20% và nung nóng Những lọ cho kết quả SKLM giống nhau gộp chung
thành một phân đoạn Kết quả thu được 9 phân đoạn được đánh số từ EA1 đến EA9
Các kết quả được trình bày cụ thể trong bảng 2.1
Bột rễ cây hà thủ ô trắng (20 kg)
Bã khô
Dịch còn lại Cao ethyl acetate
(29 g)
Dịch còn lại Cao chloroform
400g
Cao methanol (2,02 g)
- Chiết lỏng – lỏng với dung môi chloroform
- Cô quay thu hồi dung môi
- Cô quay, thu hồi dung môi
- Chiết lỏng – lỏng với dung môi ethyl acetate
- Lọc, cô quay , thu hồi dung môi
Trang 28Bảng 2.1 Kết quả sắc ký cột silica gel trên phân đoạn cao ethyl acetate
đoạn Dung môi giải ly lượng (g) Khối Sắc ký lớp mỏng Ghi chú
1 EA1 C 1,20 Vệt dài Chưa khảo sát
5 EA5 C:Me 85:15 2,26 Nhiều vết Chưa khảo sát
6 EA6 C:Me 8:2 1,70 Nhiều vết Chưa khảo sát
7 EA7 C:Me:H2O 20:6:1 2,08 Vệt dài Chưa khảo sát
8 EA8 C:Me:H2O 14:6:1 1,15 Vệt dài Chưa khảo sát
9 EA9 C:Me:H2O 6:4:1 1,32 Vệt dài Chưa khảo sát
2.4.1 Sắc ký cột silica gel trên phân đoạn EA2
Thực hiện SKC silica gel trên phân đoạn EA2 (2,88g) với hệ dung môi giải ly H:C:EA có độ phân cực tăng dần thu được 5 phân đoạn EA2.1-EA2.5 ( Bảng 2.2) Thực hiện SKC silica gel trên phân đoạn EA2.4 (139,20 mg) với hệ dung môi H:Ac (98:2) có độ phân cực tăng dần thu được hợp chất P5.2 (14,2 mg) và P24 (30,2
Sắc ký lớp
1 EA2.1 H:C:EA 9:1:0,5 30,21 Nhiều vết Chưa khảo sát
2 EA2.2 H:C:EA 8:1:1 126,25 Nhiều vết Chưa khảo sát
3 EA2.3 H:C:EA 5:1:1 230,86 Nhiều vết Chưa khảo sát
Khảo sát thu được P5.2 và P24
5 EA2.5 H:C:EA 2:1:1 105,60 Nhiều vết Chưa khảo sát
2.4.2 Sắc ký cột silica gel trên phân đoạn EA3
Thực hiện SKC silica gel trên phân đoạn EA3 (7,42 g) với hệ dung môi giải ly
C:Me có độ phân cực tăng dần thu được 4 phân đoạn EA3.1-EA3.4 (bảng 2.3)
Thực hiện SKC silica gel trên phân đoạn EA3.2 với hệ dung môi Me: H2O (15:1)
có độ phân cực tăng dần thu được hợp chất Strep.J6 (3,2 mg) và Strep.J8 (1,5 mg)
Trang 29Bảng 2.3 Kết quả sắc ký cột silica gel trên phân đoạn EA3
đoạn Dung môi giải ly Khối lượng (mg)
Sắc ký lớp
1 EA3.1 C:Me (9:1) 1428 Nhiều vết Chưa khảo sát
2 EA3.2 C:Me (4:1) 2110 Nhiều vết Khảo sát thu được Strep.J8
được Strep.J6
4 EA3.4 C:Me (6:4) 1358 Nhiều vết Chưa khảo sát
2.4.3 Sắc ký cột silica gel trên phân đoạn EA4
Thực hiện SKC silica gel trên phân đoạn EA4 với hệ dung môi giải ly Ea: Me (9:1) có độ phân cực tăng dần thu được 5 phân đoạn EA4.1-EA4.5 (bảng 2.4)
Thực hiện SKC silica gel RP-18 trên phân đoạn EA4.3 với hệ dung môi Me:H2O
(9:1) thu được hợp chất Strep.J1 (2,0 mg), Strep.J5 (3,5 mg), Strep.J3 (2,4 mg)
Bảng 2.4 Kết quả sắc ký cột silica gel trên phân đoạn EA4
đoạn Dung môi giải ly
Khối lượng (mg)
Sắc ký lớp
1 EA4.1 EA:Me 9:1 1105 Nhiều vết Chưa khảo sát
2 EA4.2 EA:Me 85:15 158 Nhiều vết Chưa khảo sát
Khảo sát thu được Strep.J1 Strep.J5 và Strep.J3
4 EA4.4 EA:Me 6:4 1676 Nhiều vết Chưa khảo sát
5 EA4.5 EA:Me:H2O 20:1:1 423 Nhiều vết Chưa khảo sát
Trang 30Sơ đồ 2.2 Quy trình cô lập các hợp chất trong cao ethyl acetate
Cao ethyl acetate (29 g)
EA1
(1,20 g)
G)
EA2 (2,88 g) G)
EA3 (7,42 g) G)
EA4 (5,70 g)
EA5 (2,26 g)
EA6 (1,70 g)
EA7 (2,08 g)
EA8 (1,15 g)
EA9 (1,32 g)
Strep.J8 (1,5 mg)
P24 (30,2 mg)
Strep.J6 (3,2 mg)
Strep.J1 (2,0 mg)
Strep.J5 3,5 mg)
P5.2
(14,2 mg)
Strep.J3 (2,4 mg)
Trang 31Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Hợp chất P5.2
Đặc điểm chung
Hợp chất P5.2 được cô lập từ phân đoạn EA2.4 (sơ đồ 2.2) kết tinh ở dạng tinh
thể hình kim, không màu (H:Ac = 7:3) tan tốt trong dung môi acetone
Phổ 1H-NMR (Acetone-d6) ( phụ lục 1a và bảng 3.1)
Phổ 13C-NMR (Acetone-d6) (phụ lục 1b và bảng 3.1)
Phổ HSQC, HMBC (Acetone-d6) (phụ lục 1c và bảng 3.1)
Biện luận cấu trúc
Phổ 1H-NMR của hợp chất P5.2 cho thấy sự hiện diện của một mũi đơn methyl ở
δH 2.42 (3H, s, H-1’), bốn proton olefin ở δH 6.07 (2H, d, H-3); δH 6.74 (2H, d, H-8);
δH 6.86 (2H, dd, H-6); δH 7.61 (2H, d, H-5)
Phổ 13C-NMR của hợp chất P5.2 cho thấy các tín hiệu cộng hưởng của 10
carbon, gồm một carbon methyl ở δC 18.4 (C-1’), bốn carbon methine trong đó có ba carbon vòng thơm δC 127.2 (C-5); δC 113.4 (C-6) δC 111.7 (C-8) và một carbon ở δC
111.7 (C-3), năm carbon tứ cấp trong đó có một carbon carbonyl ở δC 161.9 (C-2); một carbon vòng thơm ở δC 160.9 (C-7) gắn với nhóm rút điện tử
Phổ HMBC của hợp chất P5.2 cho thấy proton methyl H-1’ ở δH 2.42 tương quan đến carbon olefin ở δC 111.7 (C-3); δC 153.7 (C-4) và carbon vòng thơm ở δC 113.6 (C-10), proton olefin H-3 ở δH 6.07 tương quan đến carbon carbonyl ở δC 161.9 (C-2), các proton vòng thơm H-5 ở δH 7.61 tương quan đến các tín hiệu ở δC 153.7 (C-4);
δC 156.3 (C-9); δC 160.9 (C-7), và H-6 ở δH 6.86 tương quan đến các tín hiệu ở δC
103.3 (C-8); δC 113.6 (C-10)
Từ các phân tích dữ liệu phổ một chiều và hai chiều của hợp chất P5.2 như trên
và so sánh với dữ liệu phổ của hymecromone (trình bày trong bảng 3.1) [16] cho thấy
có sự tương đồng Vì vậy cấu trúc hợp chất P5.2 được đề nghị là
7-hydroxy-4-methylcoumarin (hay hymecromone)
Trang 32Hợp chất P24 được cô lập từ phân đoạn EA2.4 (sơ đồ 2.2) là tinh thể hình kim,
không màu, tan tốt trong dung môi acetone
Phổ 1H-NMR (Acetone – d6): (phụ lục 2a và bảng 2.2)
Phổ 13C-NMR (Acetone – d6): (phụ lục 2b và bảng 2.2)
Phổ HSQC, HMBC (Acetone – d6): (phụ lục 2c và bảng 2.2)
Trang 33Biện luận cấu trúc
Phổ 1H-NMR của hợp chất P24 cho thấy sự hiện diện tín hiệu cộng hưởng của
hai proton olefin ở δH 5.33 (1H, dt, J = 2.5Hz, H-6) và δH 6.83 (1H, dd, J = 2.0, 1.5 Hz,
H-16) Trên phổ cho thấy sự hiện diện của hai proton nhóm methyl ở δH 0.91 (3H, s,
H-18); δH 1.06 (3H, s, H-19); một proton nhóm methyl gắn với nhóm rút điện tử ở δH
2.21 (3H, s, H-21); proton carbinol ở δH 3.39 Ngoài ra, phổ còn có sự hiện diện của một số tín hiệu cộng hưởng của các proton methylene và methine ở vùng từ trường cao
Phổ 13C-NMR của hợp chất P24 cho thấy sự hiện diện tín hiệu cộng hưởng của
21 carbon, gồm ba carbon methyl ở δC 16.0 (C-18); 19.6 (C-19) và 27.1 (C-21), bảy carbon methylene, năm carbon methine trong đó có một carbon gắn oxygen ở δC 71.6 (C-3), hai carbon olefin ở δC 121.1 (C-6) và 144.8 (C-16), năm carbon tứ cấp và một carbon carbonyl liên hợp ở δC 196.4 (C-20)
Từ các dữ kiện của phổ NMR trên hợp chất P24 được dự đoán là steroide khung
sườn pregnane có hai liên kết đôi, một nhóm hydroxyl và một nhóm ketone
Phổ HMBC của hợp chất P24 cho thấy sự tương quan của proton của nhóm
methyl ketone ở δH 2.21 (3H, s, H-21) với carbon carbonyl ở δC 196.4 (C-20) và
carbon olefin ở δC 155.9 (C-17); 144.8 (C -16) giúp xác định sự hiện diện của nhóm methyl ketone gắn ở vị trí C-17 Tương quan HMBC từ proton methyl ở δH 0.91 (3H,
s, H-18) với carbon olefin ở δC 155.9 (C-17), carbon δC 46.8 (C-13); δC 57.3 (C-14)và
tương quan giữa proton olefin δH 6.83 (1H, dd, H-16) với carbon carbonyl ở δC
196.42 (C-20), carbon δC 46.8 (C-13); δC 57.3 (C-14), δC 32.7(C-15) chứng minh sự hiện diện của nối đôi ở vị trí C16-C17 Tương quan HMBC từ proton methylene ở δH
3.39 (2H, dd, H-4) với carbon olefin ở δC 121.17 (C-6); 142.8 (C-5) và tương quan giữa proton olefin δH 5.33 (2H, dd, H-6) với carbon δC 31.0 (C-8) chứng minh sự hiện diện của nối đôi ở vị trí C5-C6 Các tương quan HMBC khác được thể hiện trong hình 3.4 và bảng 3.2
Từ các số liệu của phổ trên và so sánh với tài liệu tham khảo (bảng 3.2)[17],[18]
cho thấy sự tương đồng nên cấu trúc P24 được đề nghị là
3β-3-hydroxypregna-5,16-dien-20-one
Trang 343β-3- 5,16-dien-20- one.[18]
hydroxypregna-δ H ppm
(J-Hz)
δ C (ppm)
HMBC ( 1 H→ 13 C)
Trang 35Hình 3.3 Cấu trúc hợp chất P24
Hình 3.4 Tương quan HMBC của hợp chất P24 3.3 Hợp chất Strep J8
Đặc điểm chung
Hợp chất Strep J8 được cô lập từ phân đoạn EA3.2 (sơ đồ 2.2) kết tinh ở dạng
tinh thể hình kim, không màu (MeOH : H2O = 4:1), tan hoàn toàn trong methanol
Phổ 1H-NMR (CD3OD) (phụ lục 3a và bảng 3.3)
Phổ 13C-NMR (CD3OD) (phụ lục 3b và bảng 3.3)
Phổ COSY, HSQC, HMBC (CD3OD) (phụ lục 3c và bảng 3.3)
Biện luận cấu trúc
Phổ 1H-NMR của hợp chất Strep J8 cho thấy sự hiện diện của hai mũi đơn
methyl ở δH 0.91 (3H, s, H-18) và δH 0.99 (3H, s, H-19), mũi của proton carbinol ở δH
4.07 (1H, br s, H-3), một proton olefin cộng hưởng dạng mũi đơn ở δH 5.92 (1H, s,
H-22), proton methine cộng hưởng dạng mũi đôi đôi ở δH 5.07 (1H, dd, J = 1.0; 17.0;
H-21) và δH 4.95 (1H, dd, J = 1.0 ; 17.0; H-21)
Phổ 13C-NMR của hợp chất Strep J8 cho thấy các tín hiệu cộng hưởng ứng với
sự hiện diện của 23 carbon, gồm hai carbon methyl cộng hưởng ở δC 24.3 (C-19), và
δC 16.4 (C-18); mười carbon methylene có giá trị trong khoảng từ δC 22.3 đến δC 75.4; sáu carbon methine, trong đó có một carbon methine cộng hưởng ở δC 67.7 (C-3), cho thấy carbon ở C-3 gắn với nhóm rút điện tử, một carbon methine olefin cộng hưởng ở
Trang 36δC 117.8 (C-22); năm carbon tứ cấp, trong đó có một carbon tứ cấp gắn với nhóm rút điện tử cộng hưởng ở δC 86.5 (C-14) Các tín hiệu cộng hưởng ở δC 177.3 (C-23), δC
117.8 (C-22), và δC 178.4 (C-20) là đặc trưng cho vòng γ-lacton bất bão hòa
Phổ HMBC của hợp chất Strep J8 cho thấy proton H-19 ở δH 0.99 tương quan đến các tín hiệu cộng hưởng ở δC 30.8 (C-1), δC 37.5 (C-5), δC (C-9) xác nhận nhóm methyl 19-CH3 gắn ở C-10, proton H-18 ở δH 0.91 tương quan đến các tín hiệu cộng hưởng ở δC 41.0 (C-12), δC 86.5 (C-14), δC 52.2 (C-17) xác nhận nhóm methyl 18-CH3
gắn ở C-13, proton H-17 ở δH 2.86 tương quan đến các tín hiệu ở δC 86.5 (C-14), δC
33 (C-15), δC 178.4 (C-20), δc 75.4 (C-21), δC 117.8 (C-22) xác nhận vị trí H-17
Từ các phân tích dữ liệu phổ một chiều và hai chiều của hợp chất Strep.J8 như
trên và so sánh với dữ liệu phổ của digitoxigenin (trình bày trong bảng 3.3) [19] cho
thấy có sự tương đồng Vì vậy cấu trúc hợp chất Strep J8 được đề nghị là
3β,14β-dihydroxycard-20(22)-enolide (hay digitoxigenin), đã được Ueda cô lập từ cây
Streptocaulon juventas vào năm 2003 [3]
Bảng 3.3 Dữ liệu phổ của Strep J8
Vị trí
Hợp chất Strep J8 (CD 3 OD)
Digitoxigenin (CD 3 OD) {17}{62}
Trang 37Vị trí
Hợp chất Strep J8 (CD 3 OD)
Digitoxigenin (CD 3 OD) {17}{62}
Hợp chất Strep J6 được cô lập từ phân đoạn EA3.3 (sơ đồ 2.2) kết tinh ở dạng
tinh thể hình kim, không màu (MeOH : H2O = 4:1), tan hoàn toàn trong methanol
Phổ 1H-NMR (CD3OD) (phụ lục 4a và bảng 3.4)
Phổ 13C-NMR (CD3OD) (phụ lục 4b và bảng 3.4)
Phổ COSY, HSQC, HMBC (CD3OD) (phụ lục 4c và bảng 3.4)
Trang 38Biện luận cấu trúc
Phổ 1H-NMR của hợp chất Strep J6 cho thấy sự hiện diện của hai mũi đơn
methyl ở δH 0.91 (3H, s, H-18) và δH 0.96 (3H, s, H-19), mũi của proton carbinol ở δH
4.15 (1H, br s, H-3), một proton olefin cộng hưởng dạng mũi đơn ở δH 5.92 (1H, s,
H-22), proton methine cộng hưởng dạng mũi đôi đôi ở δH 2.85 (1H, dd, J =3.5; 5.5;
H-17) Tín hiệu proton methylene cộng hưởng dạng mũi đôi đôi ở δH 5.07 (1H, dd, J =
1.5; 16.5; H-21) và δH 4.95 (1H, dd, J = 1.5; 17.0, H-21)
Phổ 13C-NMR của hợp chất Strep J6 cho thấy các tín hiệu cộng hưởng ứng với
sự hiện diện của 23 carbon, gồm hai carbon methyl cộng hưởng ở δC 17.2 (C-19) và δC
16.3 (C-18); mười carbon methylene có giá trị δC trong khoảng 22.8 đến 75.3; năm carbon methine, trong đó có một carbon methine ở δC 69.1 (C-3), cho thấy carbon ở C-
3 gắn với nhóm rút điện tử, một carbon olefin cộng hưởng ở δC 117.8 (C-22); sáu carbon tứ cấp, trong đó có hai carbon tứ cấp gắn nhóm rút điện tử ở δC 76.5 (C-5) và
δC 86.3 (C-14) Các tín hiệu cộng hưởng ở δC 177.2 (C-23), δC 117.8 (C-22) và δC
178.3 (C-20) là đặc trưng cho vòng γ-lacton bất bão hòa
Phổ HMBC của hợp chất Strep J6 cho thấy proton H-19 ở δH 0.96 tương quan đến các tín hiệu cộng hưởng ở δC 26.1 (C-1), δC 76.5 (C-5) và δC 40.1 (C-9), xác nhận nhóm methyl 19-CH3 gắn ở C-10; proton H-18 ở δH 0.91 tương quan đến các tín hiệu cộng hưởng ở δC 41.0 (C-12), δC 86.3 (C-14) và δC 52.0 (C-17), xác nhận nhóm methyl 18-CH3 gắn ở C-13; proton H-17 ở δH 2.87 tương quan đến các tín hiệu cộng hưởng ở
δC 86.3 (C-14), δC 75.3 (C-21), δC 117.8 (C-22), xác nhận vị trí H-17
Từ các phân tích dữ liệu phổ của hợp chất Strep.J6 như trên và so sánh với dữ
liệu phổ của periplogenin (trình bày trong bảng 3.4) [19] cho thấy có sự tương đồng
Vì vậy cấu trúc hợp chất Strep.J6 được đề nghị là periplogenin
Trang 39Bảng 3.4 Dữ liệu phổ của Strep J6
Vị trí
Hợp chất Strep J6 (CD 3 OD)
Periplogenin (CD 3 OD)[19]
δ H ppm (J-Hz)
δ C (ppm)
Trang 40Hình 3.8 Tương quan HMBC của Strep J6 3.5 Hợp chất Strep.J1
Đặc điểm chung
Hợp chất Strep.J1 được cô lập từ phân đoạn EA 4.3 (sơ đồ 2.2) là chất bột vô
định hình không màu, tan hoàn toàn trong methanol
Phổ 1H-NMR (CD3OD) (phụ lục 5a và bảng 3.5)
Phổ 13C-NMR (CD3OD) (phụ lục 5b và bảng 3.5)
Phổ COSY, HSQC, HMBC (CD3OD) (phụ lục 5c và bảng 3.5)
Biện luận cấu trúc
Phổ 1H-NMR của Strep J1 cho thấy sự hiện diện của hai mũi đơn methyl ở δH
0.91 (3H, s, H-18) và 0.96 (3H, s, H-19), một proton carbinol cộng hưởng ở δH 4,23
(1H, brs, H-3) ; proton methylene gắn với nhóm rút điện tử cộng hưởng ở δH 4.93 (1H,
dd, J = 18.0, 2.0 Hz; H-21) và 5.05 (1H, dd, J = 18.0, 2.0 Hz; H-21), proton olefin
methine cộng hưởng ở δH 5.92 (1H, s, H-22); proton methine cộng hưởng dạng mũi
triplet ở δH 2.87 (1H, brt, J = 5.0 Hz; H-17).
Phổ của Strep.J1 còn cho thấy tín hiệu của một phân tử đường -D
-glucopyranose, với proton anomer cộng hưởng ở 4.42 (1H, d, J =7.5 Hz, H-1’), hai proton methylene gắn với nhóm rút điện tử cộng hưởng ở 3.68 (1H, dd, J = 12.0, 5.0
Hz, H-6’) và 3.89 (1H, dd, J = 12.0, 1.5 Hz, H-6’)
Phổ 13C-NMR của Strep.J1 cho thấy có sự hiện diện của 29 carbon, trong đócó
hai nhóm methyl, mười một nhóm methylene, mười nhóm methine; một vòng γ-lacton
bất bão hòa có các tín hiệu của carbon olefin cộng hưởng ở δC 117.8 (C-22), một carbon carbonyl cộng hưởng ở δC177.2 (C-23), một carbon tứ cấp gắn oxygen cộng