Một số giải pháp hoàn thiện hệ thống xúc tiến hỗn hợp trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu ở Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu & Hợp tác Đầu tư VILEXIM. Ngày nay, một công ty dù có được sản phẩm tốt nhất, giá “hời” nhất cũng chưa chắc đến được với...
Trang 1khẩu & Hợp tác Đầu tư VILEXIM
Trang 2rõ các yếu tố hình thành nên hành vi của khách hàng, phải biết tìm kiếm và tạo ra sự ủng hộ của các lực lượng xung quanh khách hàng và cả công ty
Xúc tiến hỗn hợp là một trong bốn biến số quan trọng của marketing-mix ( bên cạnh sản phẩm, giá và phân phối) đảm nhiệm trách nhiệm trên Bản chất của các hoạt động XTHH chính là truyền tin về sản phẩm và công ty tới khách hàng để thuyết phục họ mua XTHH không chỉ tác động trực tiếp đến người mua mà còn tác động gián tiếp thông qua các trung gian và các phương tiện khác để thúc đẩy người mua tiếp nhận sản phẩm, hàng hoá của công ty Một hệ thống XTHH thường gồm bốn công cụ chủ yếu là quảng cáo, xúc tiến bán (khuyến mại), tuyên truyền (quan
hệ công chúng), bán hàng trực tiếp và marketing trực tiếp Các công cụ này đều có
sự tác động, hỗ trợ qua lại lẫn nhau để thực hiện một chiến lược xúc tiến chung đã được vạch ra trước nhằm đạt được các mục tiêu kinh doanh của công ty
Nếu như “xúc tiến thương mại là hoạt động nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội mua bán hàng hoá và cung ứng dịch vụ thương mại” (Luật Thương mại Việt Nam năm 1999); “là việc doanh nghiệp sử dụng rộng rãi các kỹ thuật thuyết phục khách hàng khác nhau để liên hệ được với thị trường mục tiêu và tất cả công chúng” (Business Today); nghĩa là xúc tiến thương mại mới chỉ dừng lại các hoạt động cung cấp thông tin và thuyết phục khác hàng mục tiêu của các thương nhân thì XTHH còn đòi hỏi nhiều hoạt động hơn thế XTHH không chỉ áp dụng cho các thương nhân mà còn là công cụ đắc lực của các nhà sản xuất XTHH đòi hỏi có một chiến lược hài hoà với các biến số khác là giá, sản phẩm và phân phối; với toàn bộ chiến lược chung của công ty và của toàn ngành; và việc thực hiện chiến lược
Trang 3XTHH được thể hiện thông qua việc sử dụng một hệ thống các công cụ XTHH với các vị trí và vai trò khác nhau Như vậy, có thể thấy XTTM chỉ là biểu hiện một phần ra bên ngoài của XTHH; là một “phần nổi của tảng băng” XTHH
Đối với Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu và Hợp tác Đầu tư VILEXIM, là một công ty thương mại thuần tuý, có chức năng lưu thông hàng hoá, kết nối người sản xuất với người tiêu dùng Do vậy, hoạt động XTHH lại càng đóng vai trò quyết định đối với Công ty so với các biến số khác XTHH của Công ty không chỉ làm một chiều hướng về khách hàng mà còn hướng ngược lại là những nhà sản xuất nhằm làm cho sản xuất khớp nối với nhu cầu, bên cạnh đó XTHH cũng phải hướng đến những trung gian khác hỗ trợ cho nhiệm vụ trên của công ty được diễn ra thuận lợi
Nhận thấy vai trò to lớn của hoạt động XTHH đối với công ty VILEXIM, với mong muốn góp sức nhỏ bé của mình vào sự phát triển chung và hoạt động marketing nói riêng của Công ty, bằng những kiến thức đã được trang bị trong trường cùng một số hiểu biết của bản thân về thực tiễn các hoạt động xúc tiến thương mại đang diễn ra hiện nay và tình hình hoạt động XTHH của Công ty VILEXIM trong thời gian thực tập, em xin đề xuất một số giải pháp hoàn thiện hoạt động XTHH của Công ty thông qua Chuyên đề tốt nghiệp của mình với đề tài là
“Một số giải pháp hoàn thiện hệ thống xúc tiến hỗn hợp trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu ở Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu & Hợp tác Đầu tư VILEXIM”
Kết cấu của Chuyên đề được chia làm ba chương:
Chương I: Tổng quan về Công ty VILEXIM - giới thiệu về lịch sử hình
thành và phát triển của Công ty VILEXIM, bộ máy tổ chức cùng năng lực hoạt động của Công ty và những lĩnh vực ngành nghề kinh doanh mà hiện nay Công ty đang hoạt động
Chương II: Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động
marketing của Công ty VILEXIM – đánh giá những thành tựu cùng những nguyên nhân mà Công ty đạt được trong thời gian qua và những vấn đề còn tồn tại hiện nay đối với Công ty
Chương III: Định hướng chiến lược và giải pháp hoàn thiện hệ thống
XTHH ở Công ty VILEXIM – đề ra một số giải pháp hoàn thiện hệ thống XTHH
Trang 4của Công ty dựa trên cơ sở phân tích một số căn cứ quan trọng như chiến lược phát sản phẩm, thị trường và XTHH của Ngành và Nhà nước; chiến lược phát triển kinh doanh chung và chiến lược XTHH của Công ty
Chương I TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY VILEXIM
I LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY VILEXIM
VILEXIM là một công ty xuất nhập khẩu (XNK) trực thuộc Bộ Thương mại Công ty đã có quá trình lịch sử hình thành và phát triển gắn với quá trình chuyển đổi nền kinh tế của nước ta, từ tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có
sự điều tiết của Nhà nước Công ty từ một đơn vị chỉ thực hiện những nhiệm vụ mà
Bộ Thương mại giao phó nay chuyển thành một công ty độc lập tự hạch toán kinh doanh Vì vậy, trong mỗi giai đoạn lịch sử phát triển, Công ty đã có sự thay đổi nhiều lần về tên gọi nhằm phù hợp với sự thay đổi về quyền hạn và nhiệm vụ của mình
Được thành lập vào năm 1967, Công ty có tên gọi đầu tiên là Công ty XNK Biên giới Công ty có nhiệm vụ nhận hàng viện trợ từ các nước XHCN, sau đó chuyển số hàng này sang Lào để giúp đỡ cho cuộc kháng chiến của nhân dân Lào khi đó Năm 1976, với chủ trương mở rộng hợp tác đầu tư sang Lào của Chính phủ Việt Nam, Công ty đổi tên thành Công ty XNK Việt Nam, ngoài nhiệm vụ chuyển hàng viện trợ cho Lào, Công ty còn thực hiện hợp tác đầu tư XNK với Lào Năm
1987, theo chính sách chuyển đổi cơ chế kinh tế của Nhà nước, Công ty đổi tên thành Công ty XNK với Lào với phạm vi hoạt động rộng hơn, Công ty không chỉ hợp tác kinh doanh XNK với Lào mà còn kinh doanh XNK với nhiều nước trên thế giới như Nhật, Hàn Quốc, Đức, Thái Lan…Từ năm 2003, Công ty có tên gọi như ngày nay
Tên Việt Nam: Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu và Hợp tác Đầu tư VILEXIM
Tên giao dịch quốc tế: VILEXIM Export – Import and Investment operation joint stock Company
Co- Tên viết tắt: VILEXIM
Trụ sở giao dịch chính hiện nay của Công ty đặt tại 170 Đường Giải Phóng,
Hà Nội Ngoài trụ sở chính tại Hà Nội, Công ty còn có các chi nhánh và văn phòng
Trang 5đại diện như sau: Chi nhánh tại TP HCM, Chi nhánh tại Hải Phòng, Chi nhánh tại
Hà Tây, Đại diện tại Lào, Trung tâm xuất khẩu lao động
Các lĩnh vực hoạt động kinh doanh của Công ty hiện nay bao gồm:
Kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá trực tiếp, xuất nhập khẩu uỷ thác các mặt hàng nông lâm sản, hoá chất (Trừ hóa chất Nhà nước cấm), dược liệu, bông vải sợi, điện máy, vật liệu xây dựng, thủ công mỹ nghệ, thiết bị dùng cho giáo dục
Xuất khẩu lao động đi nước ngoài, đào tạo ngoại ngữ, giáo dục định hướng và nghề nghiệp cho lao động đi làm việc ở nước ngoài
Đại lý tiêu thụ hàng hoá
Kinh doanh vật tư, nguyên liệu phục vụ sản xuất cho các ngành công, nông, lâm, ngư nghiệp
II NĂNG LỰC CỦA CÔNG TY
1 Bộ máy tổ chức và nguồn nhân lực
Để đáp ứng được nhu cầu và nhiệm vụ của Công ty đề ra, Công ty xây dựng một đội ngũ cán bộ công nhân viên hiện nay bao gồm 136 người với cơ cấu là 93 người thuộc khối kinh tế, 35 người thuộc khối kỹ thuật, 8 người hoạt động lao vụ và bảo vệ Về trình độ, đại học chiếm 72%, cao đẳng và trung cấp chiếm 20% Trong
đó một lực lượng lớn nhân viên mới bổ sung vào đều còn trẻ, có trình độ cao, năng động, nhiệt tình Hiện nay, với cơ cấu tổ chức bộ máy nhân sự này đang cho thấy phù hợp với tình hình nhiệm vụ mới của Công ty trong giai đoạn này
Đối với chế độ lương, thưởng và phạt, bên cạnh phần lương cứng trả theo ngạch bậc lương mà Nhà nước quy định, Công ty còn có quy định thưởng cho những cán bộ và nhân viên theo thành tích vượt kim ngạch kế hoạch được giao, và xét phạt những người không thực hiện được chỉ tiêu kim ngạch Việc thưởng phạt cũng còn căn cứ vào thái độ làm việc của nhân viên thông qua bảng đánh giá của các trưởng phòng và bảng theo dõi, đánh giá của phòng tổ chức hành chính
Về hoạt động nâng cao chất lượng đội ngũ nhân lực của Công ty, Công ty thường xuyên cử các cán bộ và nhân viên ưu tú của mình tham gia các khoá học ngắn hạn và các chương trình tu nghiệp dài hạn ở nước ngoài nhằm tiếp thu, học hỏi những công nghệ quản lý hiện đại để ứng dụng vào hoạt động của Công ty, giúp Công ty tiến kịp với trình độ phát triển của các Công ty hiện đại trong nước và trên thế giới
Trang 6
Sơ đồ Bộ máy tổ chức Công ty XNK & HTĐT VILEXIM
Đứng đầu Công ty là giám đốc do Bộ Thương mại bổ nhiệm và miễn nhiệm Giám đốc có trách nhiệm tổ chức và điều hành mọi hoạt động của Công ty, đại diện cho toàn bộ cán bộ công nhân viên của Công ty, thay mặt cho Công ty trong các mối quan hệ với bạn hàng Giám đốc là đại diện cho mọi quyền lợi và nghĩa vụ của Công ty trước pháp luật và các cơ quan quản lý của Nhà nước
Dưới giám đốc là các phó giám đốc Hai phó giám đốc ở trụ sở chính tham gia giúp Giám đốc quản lý chung trong đơn vị và phối hợp hoạt động với các phòng XNK Các chi nhánh, đại diện và trung tâm xuất khẩu lao động đều có một phó giám đốc thay mặt Giám đốc điều hành và quản lý mọi hoạt động ở các đơn vị đó
Dưới các phó Giám đốc là các phòng, ban, văn phòng đại diện, chi nhánh trực thuộc Chức năng và nhiệm vụ của các bộ phận này được quy định cụ thể như sau:
Phòng Tổng hợp là cơ quan tham mưu tổng hợp cho Giám đốc Công ty trong
đó trực tiếp chịu trách nhiệm về công tác kế hoạch hoá, báo cáo thống kê và phục
vụ công tác quản lý – kinh doanh xuất nhập khẩu, dịch vụ trong Công ty
Kế toán
Phòng Tổng hợp &
Marketing
Phòng Kiến thiết &
Xây dựng
Phòng
Tổ chức hành chính
Chi nhánh
tại TP.HCM
Chi nhánh tại Hải Phòng
Trang 7Phòng Tài chính Kế toán là đơn vị tham mưu cho Giám đốc Công ty trong công tác Tài Chính - Kế toán đảm bảo phản ánh chính xác, kịp thời các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong Công ty Là phòng quản lý vốn tài sản, sử dụng chức năng Giám đốc đồng tiền thông qua việc kiểm soát bằng chứng từ, các hoạt động về kinh
tế, tài chính của các đơn vị trong Công ty
Phòng Tổ chức – Hành chính là cơ quan tham mưu tổng hợp cho Giám đốc công ty về mọi mặt, trong đó chịu trách nhiệm trực tiếp về công tác quản trị nhân sự như: tổ chức bộ máy quản lý, lao động - tiền lương, các chính sách đối với người lao động…Đồng thời thực hiện công tác quản lý chung và phục vụ hành chính
Các phòng XNK, Chi nhánh tại Hải Phòng và Chi nhánh tại TP.HCM là đơn
vị thực hiện chức năng kinh doanh XNK và dịch vụ, có vai trò chính - trực tiếp – quan trọng trong việc tạo lợi nhuận và thu nhập chung trong Công ty Mỗi đơn vị kinh doanh tổ chức thực hiện kinh doanh XNK các ngành hàng, sản phẩm, dịch vụ thuộc phạm vi phân công theo quy định của công ty trong từng thời kỳ Xây dựng
và thực hiện kế hoạch kinh doanh XNK và dịch vụ, tổ chức nguồn hàng xuất khẩu, nhập khẩu, dịch vụ… Chủ động tìm kiếm, giao dịch với khách hàng trong và ngoài nước để có thể ký các hợp đồng mua, bán trao đổi hàng hoá theo phương án Giám đốc duyệt Tổ chức thực hiện có hiệu quả các hoạt động phục vụ cho hoạt động kinh doanh của phòng
Trung tâm XKLĐ và Chi nhánh tại Hà Tây là các đơn vị kinh doanh trên lĩnh vực xuất khẩu lao động Các đơn vị này có nhiệm vụ tổ chức, thực hiện công tác xuất khẩu và chuyên gia Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo giấy phép của Bộ LĐTBXH cấp cho Công ty Đào tạo ngoại ngữ, giáo dục định hướng cho người lao động Tổ chức thực hiện các hoạt động phục vụ cho hoạt động kinh doanh của đơn vị
Phòng kiến thiết xây dựng đề án phát triển doanh nghiệp có chức năng xây dựng các cơ sở mới để phục vụ cho sản xuất, kinh doanh nhằm thực hiện chiến lược
mở rộng và phát triển Công ty
Đại diện tại VIENTIANE – Lào có chức năng thay mặt Công ty giải quyết những công việc của Công ty giao
2 Năng lực tài chính
Trang 8Trước đây, trong thời kỳ bao cấp, mọi hoạt động của Công ty chủ yếu dựa vào nguồn ngân sách Nhà nước cấp xuống Đến năm 1995, Công ty phải độc lập tự hạch toán kinh doanh Bước đầu công ty đã gặp rất nhiều khó khăn trong việc đảm bảo cân đối thu chi có hiệu quả Đến nay, năng lực quản lý tài chính của Công ty khá hiệu quả, nguồn vốn của Công ty tăng mạnh, trở thành một trong những Công
ty XNK có tiềm lực tài chính lớn trong nước
Theo báo cáo hoạt động tài chính của Công ty trong ba năm trở lại đây cho thấy, tổng nguồn vốn của Công ty vào năm 2004 đạt gần 144 tỷ đồng tăng 115,8%
so với năm 2003, và tăng 144,44% so với năm 2002 Trong đó, nợ phải trả gần 125
tỷ đồng năm 2004, tăng 137,8% so với năm 2003 và tăng 173.5% so với năm 2002; vốn chủ sở hữu đạt trên 18 tỷ đồng năm 2004, tăng 30,8% so với năm 2002 và tăng 43,33% so với năm 2003 Như vậy, nguồn vốn của Công ty tăng lên là do nguồn vay nợ và vốn chủ sở hữu đều tăng mạnh
Nhìn vào tổng vốn từ nguồn vay nợ thì nợ ngắn là chủ yếu (chiếm gần 90% tổng nợ) Vốn vay ngắn hạn này thường được Công ty sử dụng cho việc thanh toán L/C cho các lô hàng nhập khẩu Vốn vay ngắn hạn tăng lên mạnh chứng tỏ rằng khả năng xoay vòng vốn của Công ty đang tăng nhanh Trong cơ cấu nguồn vốn, vốn vay nợ luôn chiếm tỷ trọng cao, thường khoảng 85% tổng nguồn vốn Tuy nhiên các
tỷ số về khả năng thanh toán của Công ty, khả năng thanh toán toàn bộ (tỷ số tổng tài sản trên nợ phải trả), tỷ lệ thanh toán nợ ngắn hạn (tỷ số tài sản lưu động trên nợ ngắn hạn), luôn lớn hơn 1; nghĩa là Công ty luôn đảm bảo cho mình khả năng thanh toán các món nợ, tránh được những rối loạn lớn trong hoạt động kinh doanh
Nhìn vào nguồn vốn chủ sở hữu của Công ty qua các năm cho thấy, nguồn vốn này đang tăng đều Đây là một nguồn vốn quan trọng nhất đánh giá sự phát triển của Công ty Nguồn vốn này tăng lên cho phép Công ty mở rộng hoạt động kinh doanh của mình, tăng khả năng cho Công ty trong việc thực hiện những hợp đồng có giá trị lớn, mở rộng các hoạt động liên doanh liên kết với các công ty sản xuất trong nước trong quá trình sản xuất những mặt hàng xuất khẩu, giảm sự phụ thuộc vào nguồn vay nợ từ bên ngoài khi sử dụng nguồn này, hoặc tạo khả năng cho Công ty có thể vay nợ với hạn mức lớn nhằm phục vụ cho hoạt động xuất nhập khẩu
Trang 9đủ các thiết bị văn phòng hiện đại như máy vi tính, máy fax, máy in, máy photocopy… thuận tiện cho việc lưu trữ và truyền đạt thông tin giữa các phòng, giữa khách hàng trong nước và khách hàng ở nước ngoài với Công ty Hệ thống lưu trữ và xử lý thông tin, chương trình quản trị kế toán được trợ giúp bởi một phần mềm chuyên dụng riêng
Để phục vụ cho việc dự trữ và lưu kho hàng hoá, Công ty có hai kho Cổ Loa
và Tứ Kỳ với diện tích khoảng 1000m2 đặt tại Gia Lâm và Đông Anh Các kho này
3.962
3.176
58.797 45.655 45.572
-
83 13.142
66.914 63.860
3.054
2.866
66.914 52.514 51.758
755 14.400
143.724 135.522
8.202
6.618
143.724 124.887 124.260
626 18.837
Trang 10đều được trang bị các đồ dùng cần thiết để bảo quản hàng hoá, phục vụ cho hoạt động kinh doanh của Công ty
Để phục vụ cho việc đưa đón lãnh đạo Công ty và cung cấp dịch vụ vận tải cho các cán bộ công nhân viên ở các đơn vị, phòng ban của Công ty trong công tác quản lý, kinh doanh và các hoạt động khác, Công ty có một đội xe gồm hai xe con,
ba xe tải lớn chở hàng Đội xe này được các nhân viên phụ trách của Công ty tu dưỡng, sửa chữa, đảm bảo cho xe luôn trong tình trạng an toàn khi vận hành
Trong vài năm gần đây, tổng giá trị tài sản cố định của Công ty tăng lên nhiều, chủ yếu là để đầu tư vào việc mua sắm các thiết bị văn phòng, các thiết bị phục vụ cho hoạt động đào tạo xuất nhập khẩu lao động, mua thêm xe Hiện nay, tổng giá trị tài sản cố định của công ty là 6.618 triệu đồng, chiếm 5,71% trong tổng giá trị tài sản Nhìn vào tỷ trọng tài sản cố định trong tổng tài sản, tỷ số này thường thấp (khoảng 4,5%) và ổn định Điều này là do Công ty chỉ tập trung vào hoạt động kinh doanh thương mại chứ không đi sâu vào lĩnh vực sản xuất vật chất cần thiết bị lớn
III THỊ TRƯỜNG VÀ ĐỐI THỦ CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY
Công ty tham gia hoạt động kinh doanh ở nhiều ngành, nhiều khu vực thị trường Nhưng có thể phân thành hai loại thị trường lớn là thị trường kinh doanh xuất nhập khẩu và thị trường kinh doanh trong nước Đối với hoạt động xuất nhập khẩu, công ty tham gia hoạt động kinh doanh XNK trực tiếp, XNK uỷ thác và xuất khẩu lao động Đối với hoạt động kinh doanh trong nước, hoạt động kinh doanh của Công ty bao gồm hai hình thức là đại lý tiêu thụ và hình thức mua bán hàng hoá Trong mỗi lĩnh vực hoạt động, mỗi khu vực thị trường Công ty có các cách thức hoạt động khác nhau và đối thủ cạnh tranh khác nhau
1 Thị trường kinh doanh xuất nhập khẩu:
1.1 Kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp
Kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp là việc Công ty chủ động liên hệ tìm kiếm nguồn hàng trong nước hoặc ở nước ngoài và thu mua sản phẩm, sau đó tổ chức các hoạt động xuất khẩu hoặc nhập khẩu và tiêu thụ hàng hoá ở thị trường
Trang 11nước ngoài hoặc thị trường ở trong nước Việc hỗ trợ cho các hoạt động xuất nhập khẩu, Công ty có các trung gian tham gia hỗ trợ bao gồm các ngân hàng cung cấp tín dụng, các công ty cung cấp dịch vụ vận tải, các công ty bảo hiểm cung cấp dịch
vụ bảo hiểm rủi ro cho hàng hoá
Đối với hoạt động nhập khẩu trực tiếp, các sản phẩm hiện Công ty đang kinh doanh là các sản phẩm điện máy, vật liệu xây dựng, hoá chất phân bón Hầu hết các loại sản phẩm này đều được Công ty thu mua từ nhiều thị trường nước ngoài khác nhau, với cơ cấu về số lượng, chủng loại tuỳ theo nhu cầu của thị trường trong nước
Đối với các sản phẩm điện máy, Công ty chủ yếu nhập từ các nước Trung Quốc, Đài Loan, Nhật, Hàn Quốc, Thái Lan Khách hàng của Công ty có nhu cầu các sản phẩm loại này là các đại lý, cửa hàng bán lẻ trong nước kinh doanh các sản phẩm điện máy Bắt đầu cho hoạt động mua bán ở loại sản phẩm này, Công ty thường tổ chức tìm kiếm nhu cầu thị trường bằng cách phỏng vấn trực tiếp các khách hàng hiện tại của mình và khách hàng tiềm năng về loại sản phẩm, chất lượng, mẫu mã, nhu cầu tiềm năng… Sau đó thực hiện việc tìm kiếm sản phẩm thông qua các bản chào hàng trên mạng, thư hay catologe trực tiếp từ các công ty sản xuất ở nước ngoài, nếu loại sản phẩm nào phù hợp với nhu cầu hiện có trong nước thì đặt mua Cuối cùng Công ty nhập sản phẩm về và bán sỉ cho các khách hàng của mình Công ty cũng thường nhập số lượng nhỏ những sản phẩm mới đối với thị trường trong nước để bán thử, nếu người tiêu dùng chấp nhận với nhu cầu lớn thì Công ty sẽ bắt đầu kinh doanh với loại sản phẩm đó Ngược lại, thì Công ty chuyển sang kinh doanh sản phẩm khác Về quan hệ với khách hàng, Công ty thường có mối quan hệ lâu dài với vai trò là nhà cung ứng sản phẩm cho khách hàng tiêu thụ
Đối với hàng vật liệu xây dựng, Công ty thường đã có mối quan hệ lâu dài với các đối tác cung ứng với nước ngoài Công ty tiến hành tổ chức thu mua và nhập khẩu loại sản phẩm này từ các thị trường cung ứng chủ yếu là từ các nước Đông Âu và SNG, Trung Quốc, Lào; sau đó cung cấp lại cho các nhà bán bán lẻ trong nước Quan hệ của công ty với các nhà bán lẻ này cũng thường là mối quan hệ thường xuyên, lâu dài Ngoài ra công ty cũng thường cung cấp hàng cho các công ty xây dựng lớn Những hợp đồng loại này thường không thường xuyên, nên việc kí
Trang 12kết được hợp đồng chủ yếu dựa vào mối quan hệ của công ty với các nhà thầu xây dựng
Đối với mặt hàng phân bón, hoá chất, những mặt hàng này được dùng trong ngành nông nghiệp Công ty nhập mặt hàng cũng từ nhiều nước nhưng chủ yếu là Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ Những mặt hàng này thường được công ty bán trực tiếp cho các hợp tác xã, các nhà bán lẻ ở nông thôn, hoặc phân phối hỗ trợ cho các
cơ sở sản xuất liên kết với công ty trong việc cung cấp các sản phẩm nông sản phục
vụ cho hoạt động xuất khẩu
Trong hoạt động cạnh tranh hàng nhập khẩu, công ty thường phải cạnh tranh với các công ty XNK trong nước, các nhà sản xuất trong nước trong việc cung ứng cùng loại sản phẩm cho khách hàng Để đảm bảo hoạt động cạnh tranh có hiệu quả, bên cạnh việc thường xuyên xem xét nhu cầu của khách hàng về loại sản phẩm để cung cấp đúng chủng loại, số lượng hàng hoá, công ty cũng thực hiện các chính sách chăm sóc, duy trì khách hàng
Về hoạt động xuất khẩu trực tiếp, các sản phẩm hiện công ty kinh doanh là các mặt hàng nông sản như gạo, lạc nhân, hạt tiêu, hạt điều Trong hoạt động này, công ty thường có mối liên hệ, liên kết với các tổ hợp tác xã trong việc thu mua và
dự trữ sản phẩm Vì là loại sản phẩm mang tính thời vụ, nên công ty chỉ thường tập trung tổ chức phối hợp với các hợp tác xã thu mua sản phẩm vào các mùa vụ, sau đó
tổ chức lưu kho, dự trữ, bảo quản ở kho của công ty và thuê kho dự trữ của các hợp tác xã Khi tìm được thị trường và kí hợp đồng xuất khẩu với các công ty ở nước ngoài, thì công ty tổ chức xuất khẩu Sản phẩm của công ty được tiêu thụ ở rất nhiều nước trên thế giới chủ yếu là bốn khu vực thị trường chính là khu vực EU,
Mỹ, Nhật; khu vực Bắc Âu, Tây Âu; khu vực CIS Đông Âu, Bắc Phi, Tây Nam Á; khu vực Ô-xtrây-lia, Châu Á Hoạt động tiêu thụ ở nước ngoài thường thông qua các tổ chức bán lẻ như các cửa hàng, siêu thị; ngoài ra công ty cũng cung ứng sản phẩm cho các tổ chức chính phủ ở các nước đó, sản phẩm chủ yếu cho đối tác loại này là gạo Về hoạt động cạnh tranh trong mặt hàng này, công ty thường phải cạnh tranh với các nhà cung ứng ở các nước xuất khẩu hàng nông sản lớn như Ấn Độ, Thái Lan, Trung Quốc Để có thể đưa sản phẩm xâm nhập và duy trì được các thị trường nhập khẩu này, công ty phải tuân thủ các quy định rất nghiêm ngặt về thủ tục xuất khẩu, về chất lượng an toàn cho sản phẩm
Trang 13
1.2 Kinh doanh dịch vụ xuất nhập khẩu uỷ thác
Xuất nhập khẩu uỷ thác là hoạt động xuất nhập khẩu trong đó công ty thực hiện việc xuất nhập khẩu hàng hoá với danh nghĩa của mình theo những thoả thuận với bên uỷ thác là khách hàng của công ty và nhận được phí uỷ thác Hoạt động cung cấp dịch vụ xuất nhập khẩu uỷ thác là hoạt động chủ yếu dựa vào sự hiểu biết, kinh nghiệm về hoạt động nghiệp vụ ngoại thương của công ty, dựa vào việc công
ty được Bộ Thương mại cấp giấy phép hoạt động xuất nhập khẩu ở những mặt hàng phù hợp với hàng hoá được uỷ thác Khi nhận uỷ thác xuất khẩu hoặc nhập khẩu mặt hàng nào đó công ty phải đảm bảo thực hiện đúng mọi điều kiện về số lượng, chất lượng, quy cách, loại sản phẩm, giá nhập, thời hạn cung cấp hàng đã được thoả thuận trong hợp đồng uỷ thác với bên uỷ thác
Khách hàng của công ty trong lĩnh vực hoạt động này là những thương nhân (có giấy phép kinh doanh) hoặc không phải là thương nhân (không có giấy phép kinh doanh) muốn uỷ thác cho công ty thực hiện mua bán hàng hoá theo yêu cầu của mình và sẵn sàng trả phí uỷ thác Khách hàng mục tiêu của công ty có nhu cầu
uỷ thác có thể được chia thành các loại: khách hàng không có giấy phép xuất nhập khẩu, khách hàng có giấy phép xuất nhập khẩu nhưng lại không am hiểu về thị trường nước ngoài ở mặt hàng nào đó Hiện nay, số khách hàng uỷ thác của công ty lên đến 218 công ty Trong đó, có 27 công ty ở nước ngoài uỷ thác cho công ty thu mua các sản phẩm là hàng nông sản, hàng thủ công mỹ nghệ, bông vải sợi của các đối tác của các công ty này ở trong nước Khách hàng của công ty ở đây chủ yếu từ các nước EU, Mỹ, Bắc Âu, Nhật Đối với khách hàng uỷ thác ở trong nước, các mặt hàng được uỷ thác nhập khẩu bao gồm hoá chất, dược liệu, bông vải sợi, thiết bị giáo dục, vật liệu xây dựng, điện máy Các sản phẩm này được nhập từ rất nhiều nước trên thế giới như Trung Quốc, Hàn Quốc, Malaysia, Thái Lan, Mỹ, các nước ở Bắc Âu… Về mối quan hệ giữa khách hàng uỷ thác với công ty, công ty thường có mối quan hệ lâu dài với những khách hàng uỷ thác xuất nhập khẩu thường xuyên các mặt hàng phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của họ như bông vải sợi, hoá chất, điện máy đối với khách hàng trong nước, các sản phẩm đồ thủ công mỹ nghệ, hàng nông sản đối với khách hàng nước ngoài Tuy nhiên công ty cũng có những hợp đồng uỷ thác thực hiện cung cấp một lần như thiết bị giáo dục, vật liệu xây dựng
Trang 14uỷ thác chiếm tỷ trọng lớn trong doanh thu của họ và cùng được phép xuất nhập khẩu những mặt hàng cùng loại với công ty Một số công ty cạnh tranh mà hiện nay công ty cần chú ý là công ty XNK Thăng Long, công ty XNK tổng hợp Nhất Phát, công ty Thương nghiệp XNK Tổng hợp Hà Châu, công ty PACKSIMEX, công ty TNHH Thương mại Hà Mạnh…
1.3 Xuất khẩu lao động
Hiện nay, công ty có một trung tâm xuất khẩu lao động (XKLĐ) ở 136 Lò Đúc, Hà Nội và một chi nhánh ở Hà Tây Hai đơn vị này đều được công ty giao nhiệm vụ tổ chức các hoạt động xuất khẩu lao động trong nước sang nước ngoài nước ngoài làm việc, nhưng mỗi đơn vị đều có đối tượng phục vụ riêng, vì vậy sẽ
có một số điểm khác nhau trong cách thức thu hút, tư vấn và đào tạo nghề cho các đối tượng có nhu cầu XKLĐ Tuy nhiên trong quá trình hoạt động, hai đơn vị này đều có sự phối hợp với nhau khi cần thiết để hoàn thành công việc tốt hơn
Trung tâm XKLĐ có đối tượng khách hàng là những lao động đã qua qua đào tạo nghề, chủ yếu là lao động cơ khí kỹ thuật, dệt may và xây dựng Các lao động loại này đều đang làm việc ở các cơ quan, công ty, các nhà máy, các cơ sở sản xuất trong nước Để thu hút đối tượng khách hàng này, công ty cố gắng tiếp cận các đơn vị sản xuất để đánh giá nhu cầu xuất khẩu của người lao động Khách hàng loại này thường có nhu cầu xuất khẩu với mong muốn có được mức thu nhập cao hơn nhằm tích cóp được một số vốn nhất định khi về nước, họ cũng muốn có điều kiện nâng cao hiểu biết, kinh nghiệm làm việc, nâng cao tay nghề của mình khi làm việc
Trang 15
ở nước ngoài Những dịch vụ mà công ty có thể cung cấp cho những khách hàng này thường là làm các thủ tục xuất khẩu, tư vấn về thị trường, về công ty nước ngoài, làm môi giới thoả thuận về các điều kiện, môi trường làm việc ở nước ngoài, cung cấp dịch vụ đào tạo ngoại ngữ
Chi nhánh ở Hà Tây có đối tượng xuất khẩu lao động là những người lao động phổ thông, thường chưa qua đào tạo nghề nghiệp Đối tượng khách hàng này thường xuất thân từ các hộ nông dân Họ có nhu cầu làm việc ở nước ngoài, vì ở trong nước không có khả năng tìm được việc mang lại một khoản thu nhập có thể đảm bảo cho cuộc sống của họ và gia đình họ Vì đây là đối tượng không có nghề nghiệp, nên khi sau khi tuyển các đối tượng này, công ty thường phải dành một khoảng thời gian nhất định để tiến hành đào tạo nghề cho họ theo nhu cầu của thị trường nhập khẩu Việc đào tạo các đối tượng này, công ty đưa ra các chương trình đào tạo ngoại ngữ, các chương trình giới thiệu về môi trường, điều kiện làm việc ở nước ngoài, mời các giảng viên ở các trường khác đào tạo hướng nghiệp; bên cạnh
đó công ty tiến hành liên kết với các trường, các trung tâm dạy nghề trong khu vực hoạt động nhằm tận dụng các điều kiện về cơ sở vận chất trong việc đào tạo nghề
Để thu hút đối tượng khách hàng này, công ty thường phải liên hệ với các phòng Tổ chức Lao động Thương binh và Xã hội của các huyện, tỉnh xung quanh khu vực hoạt động của mình về nhu cầu xuất khẩu lao động của nhân dân trong địa bàn, đồng thời phối hợp với các nhà chức trách của địa phương trong việc tuyên truyền chương trình giải quyết việc làm ở nông thôn của Nhà nước để kích thích nhu cầu
Về hoạt động tìm kiếm thị trường nước ngoài cho xuất khẩu lao động, công
ty thường tìm kiếm khách hàng thông qua sự giới thiệu của các bạn hàng khác, dò tìm các trang thông báo tuyển dụng của các công ty trên internet, qua sự giới thiệu của đại sứ quán Việt Nam ở nước ngoài, và qua các trung tâm xúc tiến việc làm của
Bộ Thương mại ở các nước Các khách hàng ở nước ngoài có nhu cầu tuyển dụng lao động của công ty hiện nay chủ yếu là các công ty xây dựng, các công ty sản xuất công nghiệp như các công ty dệt may, chế biến thực phẩm…, các công ty du lịch khách sạn, các nhà máy sản xuất cơ khí Thị trường xuất khẩu lao động chủ yếu hiện nay của công ty là Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, các nước Trung Đông, Malaysia Đây cũng là những nước mà Việt Nam có số lượng xuất khẩu đông nhất
so với các thị trường khác
Trang 16Hiện nay nước ta có khoảng 152 doanh nghiệp tham xuất khẩu lao động, trong đó có 16 doanh nghiệp chuyên doanh, 133 doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh ngành nghề được bổ sung chức năng xuất khẩu lao động Các doanh nghiệp này cạnh tranh chủ yếu trong khâu thu hút lao động có nhu cầu xuất khẩu lao động, trong đó các doanh nghiệp cạnh tranh về khả năng có được mức lương mong muốn, chính sách đào tạo nghề nghiệp, chính sách ưu đãi về vốn vay làm thủ tục xuất khẩu
và các chi phí liên quan, làm thủ tục xuất khẩu nhanh chóng, gọn nhẹ, ít gây phiền phức cho khách hàng; và đảm bảo tư vấn có hiệu quả về ngành nghề, thị trường Đối với hoạt động cạnh tranh với các đối thủ ở nước ngoài, mà chủ yếu là với những đối thủ ở những nước có số lượng lao động đông như Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan…, công ty thường phải đảm bảo về chất lượng lao động có khả năng đáp ứng được yêu cầu của công việc, đảm bảo khả năng không phá vỡ hợp đồng của người lao động giữa chừng
2 Những hoạt động kinh doanh trong nước
Bên cạnh các hoạt động phục vụ cho hoạt động xuất nhập khẩu, công ty cũng
có những hoạt động kinh doanh ở thị trường trong nước với vai trò như một công ty thương mại Ở thị trường trong nước, hoạt động kinh doanh của công ty được thực hiện dưới hai hình thức là đại lý tiêu thụ hàng hoá và hình thức mua bán hàng hoá
2.1 Đại lý tiêu thụ hàng hoá
Trong hoạt động kinh doanh đại lý tiêu thụ hàng hoá, công ty nhân danh mình đứng ra tiêu thụ hàng hoá cho các công ty khác để hưởng thù lao Trong quá trình làm đại lý tiêu thụ hàng hoá, mặc dù đứng trên danh nghĩa của mình để thực hiện các cuộc mua bán, nhưng công ty cũng phải tuân theo, thực hiện đúng những thoả thuận đã cam kết trong hợp đồng đại lý với các công ty giao đại lý Những hàng hoá mà công ty nhận làm đại lý tiêu thụ cũng phải phù hợp với giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của công ty Bên cạnh đó, khoản thù lao mà công ty được hưởng tuỳ theo hình thức đại lý mà công ty tham gia và mức thù lao này được quy định cụ thể trong hợp đồng đại lý với công ty giao đại lý
Hình thức tham gia đại lý tiêu thụ hàng hoá của công ty có hai loại là hình thức hoa hồng và đại lý bao tiêu Hình thức hoa hồng là hình thức đại lý trong đó công ty thực hiện tiêu thụ hàng hoá theo giá bán do công ty giao đại lý ấn định sẵn,
Trang 17nghĩa là công ty sẽ không có quyền thay đổi giá đơn vị của sản phẩm bán ra Mức hoa hồng hay thù lao mà công ty hưởng được tính trên tỷ lệ phần trăm mà đã được thoả thuận trong hợp đồng trên giá bán hàng hoá
Đối với hình thức đại lý bao tiêu, công ty thực hiện tiêu thụ trọn vẹn một khối lượng hàng hoá theo giá do công ty giao đại lý ấn định, nghĩa là công ty mua vào với giá bán buôn của công ty giao đại lý, còn giá bán lẻ sẽ do công ty tự quyết định theo nhu cầu của thị trường Như vậy, mức thù lao mà công ty được hưởng là một khoản chênh lệch giữa giá mua vào do công ty giao đại lý ấn định với giá thực tế mà công
ty bán ra
Những hàng hoá mà công ty đảm nhận việc tiêu thụ cho các công ty khác chủ yếu là các hàng vật tư, nguyên liệu phục vụ sản xuất cho các ngành công, nông, lâm, ngư nghiệp như vật liệu xây dựng, hoá chất, phân bón, thuốc trừ sâu, các loại thiết bị máy móc…Việc cung ứng hàng hoá này cho công ty thường là do những nhà máy sản xuất lớn trong nước như nhà máy xi măng Bỉm Sơn, nhà máy thép Thái Nguyên, công ty sản xuất phân bón Sông Ranh… Mối quan hệ giữa công ty với những nhà cung ứng này thường là mối quan hệ lâu dài, uy tín và dựa trên những ưu đãi và những điều kiện thuận mà các bên tạo ra cho nhau trong quá trình kinh doanh
Khách hàng mục tiêu của công ty trong lĩnh vực hoạt động tiêu thụ này cũng
là khách hàng mục tiêu của các công ty giao đại lý hay cung ứng Đối tượng khách hàng chủ yếu ở đây là những hợp tác xã, các công ty hoạt động trong các ngành nông, lâm, ngư nghiệp, các nhà thầu xây dựng, các cửa hàng bán lẻ khác Đặc điểm của những khách hàng này là những đối tượng có nhu cầu tiêu dùng hay mua hàng với khối lượng lớn để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh tiếp theo của họ
Do vậy, mối quan hệ giữa khách hàng với công ty có thể là mối quan hệ lâu dài, cũng có thể là việc thực hiện bán hàng một lần hoặc trong một thời gian ngắn Thông thường, để tiếp cận đối tượng khách hàng này, công ty tập trung chủ yếu vào việc bán hàng cá nhân và dựa trên uy tín có sẵn của công ty trong việc cung ứng hàng hoá cho khách hàng
2.2 Hình thức mua bán hàng hoá
“Mua bán hàng hoá là hành vi thương mại, theo đó người bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho người mua và nhận tiền; người mua
Trang 18
có nghĩa vụ trả tiền cho người bán và nhận hàng theo thoả thuận của hai bên” (Điều
46, mục II, Luật Thương mại) Như vậy, hoạt động kinh doanh của công ty dưới hình thức mua bán hàng hoá là mọi hoạt động công ty trực tiếp đứng ra thương lượng, trao đổi hàng hoá với người mua nếu công ty bán hàng hoặc với người bán nếu công ty đi mua hàng Việc mua bán hàng hoá sẽ dựa trên cơ sở hợp đồng Hợp đồng mua bán hàng hoá có thể bằng lời nói, bằng văn bản hoặc hành vi cụ thể Nội dung của hợp đồng thường có các nội dung chủ yếu sau: tên hàng, số lượng, quy cách, chất lượng, giá cả, phương thức thanh toán, địa điểm thời gian giao hàng…
Quá trình thực hiện cuộc mua bán bắt đầu bằng việc chào hàng của bên đề nghị giao kết hợp đồng, có thể là công ty hoặc là khách hàng Chào hàng bao gồm chào hàng bán và chào hàng mua Chào hàng bán là việc công ty hoặc khách hàng gửi thư chào hàng ghi rõ những loại hàng hoá mà mình muốn bán đến đối tượng khách hàng mục tiêu Chào hàng mua là việc công ty hoặc khách hàng gửi thư ghi
rõ những loại hàng hoá mà mình muốn mua từ phía đối tác Sau việc chào hàng, nếu công ty hoặc khách hàng chấp nhận chào hàng thì sẽ thông báo với đối tác đề nghị
kí hợp đồng, nếu muốn kí hợp đồng nhưng không đồng ý với tất cả những điều khoản trong đơn chào hàng thì hai bên tiến hành thương lượng sửa đổi, bổ sung những nội dung chủ yếu khác, nếu không muốn kí hợp đồng thì đơn chào hàng tự động hết hiệu lực khi hết thời hạn qui định Sau việc chấp nhận kí hợp đồng, quá trình thực hiện hợp đồng được thực hiện theo đúng những điều kiện đã thoả thuận trong hợp Sau khi hàng hoá đã được trao cho bên mua và bên bán nhận được tiền thì hợp đồng hết hiệu lực
Với hoạt động kinh doanh trong nước dưới hình thức mua bán hàng hoá, công ty kinh doanh rất nhiều chủng loại hàng hoá như hàng lương thực thực phẩm, hàng thủy sản, các loại vật liệu xây dựng, hoá chất, phân bón, hàng tiêu dùng…Trong các hợp đồng mua bán, công ty chủ yếu kí kết mua bán những lô hay gói hàng có giá trị lớn theo hình thức bán sỉ chứ không bán lẻ đơn vị hàng hoá Đối tượng khách hàng của công ty ở đây chủ yếu là các cửa hàng bán lẻ, các cơ sở sản xuất, các hợp tác xã, các nhà thầu xây dựng thường mua hàng với khối lượng lớn Mối quan hệ của công ty với khách hàng có thể là mối quan hệ cung ứng một lần hoặc là khách hàng thường xuyên của công ty Về đối tác cung ứng, đối tác cung ứng sản phẩm cho công thường là những nhà sản xuất lớn trong nước, các tổ chức
Trang 19bán sỉ lớn Mối quan hệ của công ty với các nhà cung cấp này thường là mối quan
hệ lâu dài, truyền thống
Chương II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT
KINH DOANH VÀ HOẠT ĐỘNG MARKETING
CỦA CÔNG TY VILEXIM
I THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG
TY VILEXIM
1 Môi trường hoạt động kinh doanh của Công ty
“Môi trường hoạt động kinh doanh hay môi trường marketing của công ty là tổng hợp tất cả các yếu tố, những lực lượng bên trong và bên ngoài doanh nghiệp có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến hoạt động hoặc các quyết định của bộ phận marketing trong doanh nghiệp, đến khả năng thiết lập hoặc duy trì mối quan hệ giữa doanh nghiệp và khách hàng” Môi trường marketing của công ty bao gồm môi trường marketing vi mô và môi trường marketing vĩ mô “Môi trường vi mô bao gồm các yếu tố liên quan chặt chẽ đến doanh nghiệp và nó ảnh hưởng đến khả năng của doanh nghiệp khi phục vụ khách hàng” như các nhân tố nội tại của công ty, thị
Trang 20trường khách hàng, người cạnh tranh…Tất cả những yếu tố thuộc môi trường vi mô này đã được giới thiệu ở chương I, phần tổng quan về công ty Trong phần này chỉ xem xét đến môi trường marketing vĩ mô, đó là “môi trường tập hợp các yếu tố, các lực lượng mang tính chất xã hội rộng lớn, chúng có tác động ảnh hưởng tới toàn bộ môi trường marketing vi mô và tới các quyết định marketing của công ty” Khác với các yếu tố thuộc môi trường vi mô nằm trong vòng kiểm soát, điều chỉnh của công
ty, các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô là tập hợp tất cả những yếu tố mà công ty không thể kiểm soát và thay đổi được Các yếu tố này bao gồm các yếu tố thuộc môi trường kinh tế và nhân khẩu, môi trường công nghệ và tự nhiên, môi trường chính trị và luật pháp, môi trường văn hoá xã hội
1.1 Môi trường nhân khẩu
Hiện nay, qui mô dân số của nước ta trên 80 triệu người với tốc tăng 2,3% mỗi năm Với qui mô và tốc độ này, nước ta là một trong những nước có dân số cao nhất thế giới Dân cư đông đã dẫn đến nhu cầu tiêu dùng của nhân dân ta rất lớn Một đòi hỏi khách quan là nền sản xuất của nước ta sẽ phải tiếp tục được mở rộng để đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước Chính vì điều này, trong những năm trở lại đây, số lượng các xí nghiệp, nhà máy, các cơ sở sản xuất sản xuất nguyên vật liệu phục vụ cho các quá trình sản xuất tiếp theo và hàng hoá tiêu dùng cho nhân dân, các doanh nghiệp thương mại hỗ trợ cho việc lưu thông, đưa hàng hoá đến tận tay người tiêu dùng của nhân dân đã tăng lên rất nhiều Khối lượng hàng hoá theo đó cũng tăng lên rất lớn, đáp ứng được phần nào nhu cầu tiêu dùng cho nhân dân, cho sản xuất và cho xuất khẩu Đặc biệt, nhờ có chính sách luôn luôn chú trọng phát triển nông nghiệp của Đảng và Nhà nước ta, nên khâu lương thực thực không chỉ đáp ứng được nhu cầu ở trong nước mà còn phát triển xuất khẩu ra nước ngoài Điển hình là nước ta là nước đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu gạo, đứng thứ ba thế giới về xuất khẩu cà phê Mặc dùng vậy, những loại hàng hoá xa xỉ, có tính thẩm mỹ cao, những loại hàng hoá có hàm lượng công nghệ cao thì vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của nhân dân trong nước
Một khía cạnh của nhân khẩu học là cơ cấu tuổi của dân số, nước ta thuộc được xếp vào loại những nước có cơ cấu dân số trẻ trên thế giới Vì vậy, nhu cầu các mặt hàng phục vụ cho giới trẻ như thiết bị, các đồ dùng dạy học, các loại sản phẩm thời trang, các thiết bị giúp giải trí … tăng lên rất mạnh Mặt khác, hiện dân
Trang 21
số nước ta đang tiếp tục tăng mạnh, số trẻ em ra đời hàng năm rất lớn nên nhu cầu các loại sản phẩm phục vụ cho trẻ nhỏ như đồ tã, lót, các vật dụng nấu nướng và cho trẻ ăn, đồ chơi cho trẻ… rất lớn
Hiện nay, hiện tượng di dân từ nông thôn ra thành thị, từ vùng cao, sâu xuống đồng bằng đã gây ra sự mất cân đối lớn trong nền kinh tế và xã hội Ở các thành phố lớn thì mật độ dân cư quá đông, trong khi đó lại rất thiếu lao động ở các vùng cao, vùng xa để khai phá tài nguyên, phát triển kinh tế Do vậy, nhu cầu hàng hoá cho tiêu dùng và cho sản xuất ở các vùng đồng bằng, các khu đô thị lớn hơn rất nhiều so với các vùng khác
Nền kinh tế xã hội phát triển, sự cạnh tranh về tìm kiếm việc làm và cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh ở khu đô thị, các thành phố lớn đã dẫn đến trình
độ học vấn của dân cư ở đây luôn cao Do vậy, các sản phẩm có chất lượng cao, các sản phẩm có tính thẩm mỹ cao luôn luôn được đòi hỏi lớn và ngày càng phát triển mạnh Bên cạnh đó, với những nỗ lực không ngừng của chính phủ trong việc nâng cao trình độ dân trí cho nhân dân, nên nhu cầu về đầu tư vào việc giáo dục và đào tạo nghề nghiệp đã tạo ra nhu cầu về các thiết bị cho việc xây dựng các cơ sở giáo dục đào tạo, các loại đồ dùng vật dụng phục vụ cho việc giảng dạy phát triển rất mạnh
Một thực tế hiện nay là mô hình gia đình truyền thống ngày càng bị xoá bỏ, thay vào đó là mô hình gia đình hạt nhân ngày càng tăng lên, bên cạnh đó thì xu hướng lập gia đình muộn trong giới thanh niên cũng tăng lên trong thấy, đặc biệt là
ở các thành phố Điều này đã kéo theo nhu cầu tiêu dùng trong nhân dân đã thay đổi mạnh, nhu cầu về các đồ ăn sẵn, các loại thực phẩm đóng gói, các thiết bị không đắt tiền và nhỏ hơn, đồ gỗ và đồ trang trí không đắt tiền… tăng lên Sự thay đổi trong tiêu dùng là điểm báo về sự thay đổi trong sản xuất, hoạt động lưu thông của các công ty thương mại
1.2 Môi trường kinh tế
Trong những năm gần đây, nền kinh tế nước ta đã có sự tăng trưởng liên tục
và vượt bậc Tốc độ tăng trưởng GDP đến năm 2004 đạt 7,7%, cao nhất trong vòng tám năm trở lại đây Đây là dấu hiệu cho thấy khối lượng hàng hoá và dịch vụ được sản xuất ra ngày càng tăng cao, năng lực của nền kinh tế trong việc thoả mãn nhu cầu và nguyện vọng của nhân dân đã được cải thiện rõ rệt
Trang 22Đánh giá hoạt động thương mại, trước hết thương mại nội địa được sắp xếp lại thuận lợi cho hoạt động buôn bán, mở rộng mạng lưới trao đổi, mua bán hàng hoá với thị trường nông thôn, miền núi, đô thị Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch
vụ đến năm 2004 đạt 365 nghìn tỷ đồng, tăng 17,7% so với năm 2003 Các hoạt động dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm…được mở rộng, với sự tham gia của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế trong và ngoài nước Thị trường bảo hiểm, đến nay đã có 17 doanh nghiệp bảo hiểm với 40 loại sản phẩm bảo hiểm, góp phần thu hút lượng vốn khá lớn, tăng khả năng tích luỹ vốn và đầu tư cho nền kinh
tế Các hoạt động huy động vốn, cho vay và thanh toán phát triển mạnh, đặc biệt là
ở hệ thống các ngân hàng thương mại Nhà nước Dịch vụ vận tải tăng khá, vận tải hành khách công cộng ở các đô thị lớn đã có cải thiện đáng kể cả về số lượng, số tuyến xe và chất lượng dịch vụ; hàng không và ngành đường sắt cũng được đẩy mạnh mở rộng phát triển, tăng được khối lượng vận chuyển hành khách và hàng hoá Ngành dịch vụ bưu chính viễn thông đang phát triển nhanh, bước đầu đáp ứng được nhu cầu thông tin, thương mại của công chúng với các giá cước các dịch vụ viễn thông giảm mạnh Sự phát triển của các ngành dịch vụ này đang ngày càng tạo động lực thúc đẩy các hoạt động thương mại trong nước và ngoại thương phát triển mạnh
Đánh giá về hoạt động đầu tư, hoạt động đầu tư của nước ngoài vào nước ta
đã có sự tăng trưởng vượt bậc, năm 2004 đạt 4 tỷ USD, cao nhất trong vòng 7 năm gần đây Trong năm 2004 có 679 dự án đầu tư mới với vốn đăng ký 2,084 tỷ USD (tăng 4,6%), 458 dự án xin tăng vốn với mức 1,935 tỷ USD Năm 2004, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt doanh thu 18 tỷ USD, nộp ngân sách
800 triệu USD Sự tăng trưởng mạnh trong hoạt động đầu tư là một trong những nguyên nhân chủ yếu thúc đẩy tốc độ phát triển của nền kinh tế cao như hiện nay
Mặc dù vậy, sự phát triển của nền kinh tế có sự lo ngại, chỉ số giá tiêu dùng đang ngày càng có xu hướng tăng cao, đạt tới 9,5%; trong đó giá mặt hàng lương thực thực phẩm tăng tới 15% Nhiều loại vật tư nguyên liệu đầu vào tăng giá mạnh
đã ảnh hưởng tới giá thành sản xuất nhiều loại mặt hàng khác, nhất là hàng hoá xuất khẩu Nguyên nhân của hiện tượng này là do giá dầu mỏ trên thế giới tăng cao và sự mất giá liên tục của đồng tiền Việt Nam cùng với sự yếu đi của đồng đô la Sự thay
Trang 23đổi bất ổn của giá dầu mỏ và sự giảm giá của đồng nội tệ sẽ còn gây nên nhiều bất
ổn trong sự phát triển của nền kinh tế
Đánh giá về nguồn nhân lực, nước ta có một nguồn lao động trẻ dồi dào, đây
là một lực lượng rất quan trọng đóng góp vào sự phát triển nền kinh tế Đội ngũ dân trí thức có trình độ cao, độ ngũ các nhà khoa học tăng lên nhiều về số lượng Tuy nhiên, lực lượng lao động chưa qua đào tạo nghề, lao động có trình độ tay nghề thấp vẫn chiếm đông đảo Trong khi nền kinh tế trong nước chưa thể giải quyết được hết việc làm cho lực lượng lao động trong nước, thì hoạt động xuất khẩu lao động của nước ta trong những năm gần đây đã trở nên sôi động Điều này là do nhu cầu lao động ở các nước đang phát triển mạnh trên thế giới đang tăng cao như Đài Loan, các nước Trung Đông… Lực lượng này đang ngày càng đóng góp một nguồn ngoại
tệ đáng kể cho đất nước
1.3 Môi trường tự nhiên
Có thể nhận thấy rằng, nước ta là một nước có nguồn tài nguyên tự nhiên rất phong phú và dồi dào Trong những năm gần đây, nguồn tài nguyên này đã có sự đóng góp rất lớn vào sự phát triển chung của nền kinh tế Các nguồn tài nguyên khoáng sản, dầu mỏ, than đá được khai thác với sản lượng ngày càng lớn, không chỉ đáp ứng được nhu cầu sản xuất trong nước mà còn xuất khẩu ra nước ngoài, góp phần đem lại một nguồn ngoại tệ lớn cho đất nước
Tuy nhiên sự ô nhiễm môi trường là một đang vấn đề nan giải trong nền kinh
tế phát triển mạnh Sự ô nhiễm khói xe, tiếng ồn ở các thành phố lớn; sự ô nhiễm nặng của nguồn nước sinh hoạt và sản xuất, sự thoái hoá và nhiễm độc của đất nông nghiệp do chất thải công nghiệp, do việc sử dụng bừa bãi các loại hoá chất và thuốc trừ sâu trong nông nghiệp đã và đang gây ra những vấn đề lớn đối với sức khoẻ của con người Vì vậy, các hoạt động trong việc chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ của con người đang ngày càng được yêu cầu là mục tiêu hàng đầu trong hoạt động sản xuất
và tiêu dùng Điều này đã có ảnh hưởng lớn đến việc điều chỉnh hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp
1.4 Môi trường công nghệ
Công nghệ ngày nay đang được coi là yếu tố hàng đầu để tiến nhanh, tiến kịp với trình độ phát triển của thế giới Nhận rõ vai trò vô cùng quan trọng của công
Trang 24nghệ trong việc tạo khả năng cạnh tranh trên thị trường, hầu hết các ngành, các doanh nghiệp Việt Nam trong những năm qua đã có sự đầu tư mạnh về phát triển công nghệ, hiện đại hoá quá trình sản xuất và môi trường làm việc
Công nghệ thông tin đang ngày càng được đưa vào ứng dụng rộng rãi trong tất cả mọi tổ chức, mọi doanh nghiệp Công nghệ thông tin tạo ra khả năng xử lí, lưu giữ và truyền đạt thông tin giữa các cá nhân, tổ chức ở bất cứ khu vực nào xảy
ra một cách nhanh chóng và chính xác Vì vậy, công nghệ thông tin được xem là
“dầu bôi trơn” và là “đòn bẩy” của mọi hoạt động thương mại
Song song với quá trình phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ tự động hoá cũng đang ngày càng được triển khai nghiên cứu, phát triển và ứng dụng mạnh không chỉ diễn ra trong các ngành sản xuất vật chất mà còn diễn ra
ở các ngành thương mại dịch vụ Việc đưa các hệ thống sản xuất tự động vào các nhà máy không chỉ nâng cao năng suất lao động, góp phần làm giảm chi phí sản xuất mà còn đảm bảo chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn của quốc tế Đây là một yêu cầu vô cùng quan trọng với bất cứ doanh nghiệp nào muốn đứng vững được ở thị trường trong nước và có khả năng tham gia vào thị trường quốc tế Trong hoạt động xây dựng (thi công xây lắp, bảo hành, bảo trì công trình xây dựng) nhờ được trang bị những công nghệ, những thiết bị xây dựng hiện đại đã tạo khả năng đáp ứng được nhu cầu phát triển trong các lĩnh vực thi công xây dựng, có thể đảm đương được việc thi công những công trình có quy mô lớn, hiện đại về công nghệ Trong hoạt động dịch vụ ngân hàng, hệ thống rút tiền tự động liên ngân hàng đã góp phần đưa doanh thu của các ngân hàng trong những năm gần đây đã tăng lên nhanh chóng
Vận tải được xem là huyết mạch của các dòng hàng hoá vật chất Trong những năm qua, tất cả các lĩnh vực vận tải của Việt Nam đều có những khởi sắc Hệ thống đường bộ và đường thuỷ nội địa đã phát triển rộng khắp, vươn tới mọi miền đất nước Hoạt động vận tải biển, đường sắt, hàng không cũng tiến bộ vượt bậc, kết nối Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới Sự phát triển mạnh mẽ và
đa dạng của các loại hình giao thông đã góp phần thúc đẩy hoạt động giao lưu thương mại giữa các vùng miền trong cả nước; hàng hoá được vận chuyển ngày càng nhanh hơn với chi phí ngày càng thấp Mặt khác, hạ tầng giao thông phát triển cùng với các loại hình vận tải đa phương tiện đã và đang góp phần tích cực trong
Trang 25việc thúc đẩy hoạt động giao thương giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới
1.5 Môi trường chính trị và luật pháp
Nước ta hiện nay được thế giới công nhận là một trong những nước có nền chính trị ổn định nhất, đảm bảo cho các hoạt động kinh tế được diễn ra một cách an toàn Điều này được minh chứng qua việc nước ta liên tục được đăng cai các cuộc hội nghị thượng đỉnh giữa các nước trong tổ chức khu vực như ASEAN, trong tổ chức thế giới như ASEM… và các cuộc hội thảo giao lưu văn hoá, giáo dục, khoa học với các bạn bè trên thế giới Sự ổn định về chính trị đã góp phần thu hút một khối lượng vốn lớn đầu tư từ nước ngoài vào Việt Nam
Về hệ thống pháp luật, hệ thống pháp luật nước ta đã và đang có những chuyển biến tích cực theo hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm tạo môi trường lành mạnh và cơ hội phát triển cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước, đảm bảo phù hợp với luật lệ của thế giới về hoạt động đầu tư và thông thương Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, đặc biệt là hệ thống thuế và hải quan được xem là khâu chủ chốt trong tiến trình đàm phán gia nhập WTO của nước ta hiện nay Khi được tham gia vào các tổ chức kinh tế thế giới, chúng ta sẽ có cơ hội được hưởng các chế độ ưu đãi của tổ chức, được bảo vệ cạnh tranh một cách công bằng với các nước trên thế giới, giúp mở rộng thị trường quốc tế của các doanh nghiệp trong nước
2 Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty
Trước những thay đổi to lớn của môi trường vĩ mô, công ty VILEXIM đã đón nhận được những cơ hội phát triển nhưng cũng phải đương đầu với thách thức trong việc giải quyết những khó khăn nội tại của công ty Trong những năm qua, bằng những nỗ lực không ngừng của toàn thể cán bộ công nhân viên trong công ty, công ty đã từng bước gặt hái được nhiều thành quả đáng ghi nhận trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình
Đánh giá về kết quả hoạt động kinh doanh của công ty qua 3 năm gần đây, từ năm 2002 đến năm 2004, cho thấy lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh (LNKD) của công ty có sự tăng trưởng, nhưng mức tăng trưởng không đều Năm 2002, LNKD đạt 2,061 triệu đồng với mức tăng trưởng rất cao là 439,53% Nhưng sang 2003 mức tăng trưởng giảm đột ngột, chỉ còn 10,09%; do vậy LNKD đạt 2,269 triệu
Trang 26đồng, chỉ cao hơn năm 2002 là 208 triệu đồng Tuy nhiên so với năm 2004, LNKD bắt đầu có xu hướng tăng lên; năm 2004 LNKD đạt 4.607 triệu đồng với mức tăng trưởng đạt 103,04%, cao hơn mức tăng trưởng của năm 2003 là 92,95% Sở dĩ có sự thay đổi của LNKD là do sự thay đổi của các yếu tố tạo nên nó là doanh thu thuần, giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp (LNKD = doanh thu thuần – giá vốn hàng bán – chi phí bán hàng – chi phí quản lí doanh nghiệp)
Bảng đánh giá các chỉ tiêu kết quả kinh doanh
Đơn vị: triệu đồng
giá trị % giá trị % giá trị % Doanh thu thuần (DTT) 157.152 103,07% 422.198 168,66% 958.821 127,10% Giá vốn hàng bán
tài chính (LNTC) 1.773 -473.26% (1.347) -175,97% (935) -30,59% Lợi nhuận từ hoạt động
Bất thường (LNBT) (836) -603.61% 62 -107,42% 12 -80,65% Tổng lợi nhuận trước
Trang 27dĩ có được điều này là do năm 2003 công ty có sự mở rộng hoạt động kinh doanh của mình, tập trung đẩy mạnh tăng thị phần và mở rộng thị trường hoạt động Đến năm 2004 tổng doanh thu thuần tiếp tục tăng và đạt 958.821 triệu đồng; với mức tăng trưởng chậm lại là 127,10%, tuy nhiên mức này vẫn cao hơn mức tăng trưởng của năm 2002 là 24,03%, nghĩa là sau khi có sự mở rộng hoạt động kinh doanh thì công ty đã có cơ hội tiếp tục tăng thị phần tốt hơn trước Như vậy, doanh thu thuần tăng là một nguyên nhân dẫn đến LNKD tăng Tuy nhiên, nếu so sánh về tốc tăng giữa LNKD với tốc độ tăng của doanh thu thuần, thì năm 2004 vẫn chưa đạt được tốc độ so sánh giữa hai chỉ tiêu này Năm 2002 tốc độ tăng LNKD cao hơn tốc độ tăng của doanh thu thuần là 336,46%; trong khi đó năm 2004 tốc độ tăng LNKD thấp hơn tốc độ tăng doanh thu thuần là -24,06%; tuy nhiên đã cải thiện hơn so với năm 2003 với mức chênh lệch này là -158,57% Điều này cho thấy khả năng thu lợi
từ mọi chi phí và công sức mà công ty bỏ ra vẫn chưa lấy lại được mức vào năm
2002
Thứ hai là giá vốn hàng bán (GVHB), GVHB là một trong những chỉ tiêu làm giảm LNKD, đây là toàn bộ chi phí mà công ty phải bỏ ra để có được sản phẩm chuẩn bị mang đi tiêu thụ như giá mua sản phẩm từ người bán, chi phí nguyên vật liệu và nhân công phục vụ cho việc hoàn thiện sản phẩm… hoặc chi phí liên quan đến một công việc dịch vụ như tiền trả cho người thực hiện dịch vụ… Trong
Trang 28
3 năm qua, tỷ trọng GVHB trong tổng doanh thu thuần có sự thay đổi không tuyến tính; năm 2002 tỷ trọng này 96,43%; năm 2003 tỷ trọng này giảm xuống chút ít 95,60%; nhưng đến năm 2004 tỷ trọng này tăng mạnh trở lại là 96,97% Sự thay đổi không ổn định của GVHB chủ yếu là do sự thay đổi giá cả của các hàng hoá trên thị trường Năm 2004, do ảnh hưởng của giá dầu trên thế giới tăng nên hầu hết các hàng hoá đều tăng giá; đặc biệt là nguyên nhiên vật liệu dùng cho các quá trình sản xuất; vì vậy giá mua vào của các sản phẩm chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong giá bán ra của công ty Điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tạo lợi nhuận của công ty trong năm 2004
Thứ ba là chi phí bán hàng (CPBH), CPBH là toàn bộ các chi phí mà công ty chi ra phục vụ cho việc tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá như chi phí đóng gói, bảo quản, bốc dỡ, vận chuyển sản phẩm, hàng hoá đi tiêu thụ, chi phí quảng cáo, chi phí tiền lương cho bộ phận bán hàng, chi phí hội nghị khách hàng… Qua bảng số liệu trên cho thấy, chi phí dành cho việc bán hàng năm 2002 là 3.001 triệu đồng với mức tăng là 36,47%; đến năm 2003 thì có sự tăng đột biến với chi phí đạt 13.568 triệu đồng đạt tốc độ tăng là 352,12% Đây là kết quả của việc đầu tư mở rộng hoạt động kinh doanh của công ty, công ty cần tăng chi phí để tăng nguồn nhân lực bán hàng,
mở rộng hoạt động tìm kiếm thị trường, quan hệ khách hàng… Tuy nhiên để đánh giá được hiệu quả hoạt động đầu tư này thì cần xem xét chỉ tiêu CPBH trên doanh thu thuần (CPBH/DTT), hay để thu về một đồng doanh thu thuần thì công ty phải
bỏ ra bao nhiêu đồng cho các hoạt động tiêu thụ hàng hoá Năm 2002 chỉ tiêu CPBH/DTT là 0,0191; năm 2003 chỉ tiêu này tăng lên là 0,0321; nhưng đến năm
2004 chỉ tiêu này đã giảm xuống là 0,0211 Như vậy, việc đầu tư ban đầu vào năm
2003 làm chi phí cho việc tiêu thụ một đơn vị sản phẩm tăng lên rất nhiều; vì vậy đã kéo lợi nhuận trong năm đó xuống thấp hơn năm trước, năm 2002 Tuy nhiên, sang năm 2004 chỉ tiêu CPBH/DTT đã giảm xuống còn 0,0211 Mặc dù chỉ số này vẫn còn cao hơn chỉ số của năm 2002, nhưng bước đầu cho thấy hoạt động bán hàng của công ty đang tỏ ra có hiệu quả
Thứ tư là chi phí quản lí doanh nghiệp (CPQLDN), CPQLDN là những khoản chi phí phục vụ cho quản lí, điều hành sản xuất kinh doanh và các khoản chi phí chung cho toàn doanh nghiệp như tiền lương cho công nhân viên quản lí, chi phí vật liệu, đồ dùng văn phòng; chi phí khấu hao và sửa chữa TSCĐ… CPQLDN tăng
Trang 29Về hoạt động tài chính của công ty, hoạt động này của công ty bao gồm góp vốn liên doanh như góp vốn liên doanh với công ty thép VILASTLEEL của Lào và đầu tư cho một số cơ sở sản xuất, gia công nhỏ khác; cho vay, mua bán ngoại tệ; chi phí tài chính của công ty là chi phí lãi vay ngân hàng Lợi nhuận từ hoạt động tài chính (LNTC) của công ty qua ba năm cho thấy, lợi nhuận từ hoạt động này đều có mức tăng trưởng âm, tuy nhiên mức tăng trưởng âm này ngày càng có xu hướng giảm Đặc biệt năm 2003, việc đầu tư mở rộng hoạt động kinh doanh của công ty thông qua việc tăng vốn vay ngân hàng lên rất nhiều đã khiến chi phí lãi vay tăng cao; vì vậy LNTC trong năm nay của công ty đạt giá trị âm, nghĩa là chi phí trả cho hoạt động tài chính của công ty phải dựa vào nguồn lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh Nhưng sang năm 2004 LNTC có sự thay đổi lạc quan, mức âm chỉ còn -935 triệu đồng, điều này cho thấy doanh thu từ các hoạt động đầu tư tài chính đã bắt đầu tăng lên, có thể bù đắp được chi phí lãi vay ngân hàng và tạo ra LNTC cho công ty
Về hoạt động bất thường, hoạt động bất thường đó là những khoản thu và khoản chi mà công ty thu được hoặc bỏ ra mà không thường xuyên và không nằm trong dự tính hay có sự chuẩn bị trước của công ty như thu hoặc chi về tiền phạt vi phạm hợp đồng kinh tế, chi phí cho việc thu các khoản nợ khó đòi hoặc thu được khoản nợ khó đòi mà trước đây đã xoá sổ… Đánh giá lợi nhuận từ hoạt động bất thường (LNBT) qua ba năm qua cho thấy, mặc dù năm 2002 lợi nhuận này đạt mức
Trang 30
âm rất thấp -836 triệu đồng; nhưng sang năm 2003 lợi nhuận này lại đạt mức cao nhất là 62 triệu đồng, đây là kết quả của những nỗ lực trong việc thu hồi lại các khoản nợ khó đòi Năm 2004 lợi nhuận này đạt mức thấp hơn nhưng vẫn đạt ở giá trị dương là 12 triệu
Như vậy, qua đánh giá về ba lĩnh vực hoạt động đóng góp vào lợi nhuận của công ty cho thấy, lợi nhuận thu được ở mỗi hoạt động mặc dù có sự biến động mạnh qua ba năm, từ 2002 đến 2004, nhưng đến năm 2004 thì cho thấy lợi nhuận từ cả ba hoạt động đều có xu hướng tiến triển tốt đẹp Sự biến động của lợi nhuận từ mỗi hoạt động đều có sự tác động đến lợi nhuận trước thuế (LNTT) của công ty qua các năm, vì LNTT bằng tổng của LNKD, LNTC và LNBT Năm 2003 LNTT của công
ty có sự giảm sút mạnh, từ 2.998 triệu đồng năm 2002 xuống còn 984 triệu đồng, giảm 67,18% so với năm 2002 Nhưng sang năm 2004, LNTT của công ty đã tăng lên là 1.179 triệu đồng, tăng 274,25% so với năm 2003; mặc dù chưa đạt được mức như năm 2002 nhưng cũng cho thấy xu hướng tăng lên của LNTT của công ty khi
mà sự đầu tư vào năm 2003 bắt đầu sinh lời
Do tỷ suất thuế thu nhập của công ty qua ba năm vừa rồi không có sự thay đổi với tỷ suất là 32%, do vậy lợi nhuận sau thuế (LNST) của công ty có mức biến động cùng với mức biến động của LNTT Năm 2002 LNST của công ty đạt 2.039 triệu đồng, đến năm 2003 thì giảm xuống còn 669 triệu đồng; nhưng sang năm 2004 LNST đã tăng mạnh lên đạt 2.505 triệu đồng, cao hơn so với năm 2002; đây là dấu hiệu cho thấy hoạt động đầu tư mở rộng hoạt động đầu tư đã mang lại hiệu quả rất lớn
3 Tình hình hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của Công ty:
3.1 Đánh giá chung về kết quả hoạt động xuất nhập khẩu:
Bảng kết quả hoạt động xuất nhập khẩu của công ty VILEXIM
Tổng kim ngạch 95,342.04 132,42% 250,387.90 162,62% 593,669.43 137,10%
Nhập khẩu (NK) 50,550.32 152,47% 139,641.40 176,24% 314,466.88 125,20% Xuất khẩu (XK) 44,791.72 145,21% 110,746.50 147,25% 279,202.55 152,11%
Trang 31Đánh giá về tổng kim ngạch đạt được, trong ba năm qua tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của công ty có sự tăng trưởng mạnh với tốc độ tăng trưởng luôn cao hơn tốc độ tăng trưởng của toàn ngành Tuy nhiên tốc độ tăng tổng kim ngạch không đều qua các năm, năm 2002 mức tăng trưởng là 132,42% đạt kim ngạch là 95.342,038 USD, đến năm 2003 mức tăng trưởng cao vượt bậc, 162,62% đạt giá trị kim ngạch là 250.387,9 USD; nhưng sang năm 2004 tốc độ tăng giảm xuống còn 137.10% với giá trị kim ngạch là 593.669,427 USD Đây là kết quả của việc đầu tư tăng năng lực hoạt động của công ty vào năm 2003, nên giá trị đạt được tăng đột biến so với năm trước; sang năm 2004 khi năng lực hoạt động của công ty được khai thác gần đến mức tối đa thì tốc độ tăng giá trị kim ngạch có xu hướng giảm xuống so với năm trước, tuy nhiên mức tăng trưởng của năm nay vẫn cao hơn năm
2002
Đánh giá về tỷ trọng xuất khẩu và nhập khẩu trong tổng kim ngạch, nhập khẩu luôn chiếm tỷ trọng lớn hơn xuất khẩu, tuy nhiên trong ba năm qua cơ cấu xuất khẩu và nhập khẩu không lệch quá 15% Năm 2003, cơ cấu này lệch mạnh về phía nhập khẩu, nhập khẩu chiếm 55,77% và xuất khẩu chiếm 44,23%, mức chênh
Trang 32lệch là 11,54% cao nhất trong ba năm, nhưng sang năm 2004 mức chênh lệch giảm xuống mạnh còn 5,94%; thấp hơn năm 2002 Mức chênh lệch càng nghiêng về hướng xuất khẩu càng cho thấy năng lực hoạt động xuất khẩu của công ty đã tăng lên Hoạt động kinh doanh hướng theo xuất khẩu, hướng ra thị trường ngoài nước là một hướng đi rất đúng đắn cho sự phát triển an toàn cho công ty, vì thị trường thế giới là một thị trường vô cùng rộng lớn, công ty có nhiều cơ hội len lỏi vào nhiều khu vực thị trường khác nhau, từ cao cấp đến thấp cấp; bên cạnh đó hướng đi này cũng theo đúng xu hướng chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam là phát triển nền sản xuất trong nước hướng theo xuất khẩu, vì vậy công ty sẽ có được nhiều sự
hỗ trợ và ưu đãi từ phía Chính phủ trong hoạt động xuất khẩu
Về giá trị nhập khẩu, trong ba năm qua, giá trị nhập khẩu của công ty đều tăng nhưng mức tăng không đều; năm 2002 giá trị nhập khẩu đạt 50,550.318 USD với mức tăng là 152,47%; năm 2003 giá trị nhập khẩu tăng mạnh 139,341.4 USD đạt mức tăng trưởng 176,24%; nhưng đến năm 2004 mức tăng trưởng giảm xuống còn 125,20% đạt giá trị nhập khẩu là 314,466.879 USD
Về xuất khẩu, khác với nhập khẩu mức tăng trưởng xuất khẩu qua các năm tăng đều; năm 2002 mức tăng trưởng là 145,21% đạt kim ngạch 44,791.72 USD; năm 2003 mức tăng trưởng đạt 147,25% đạt kim ngạch 110,746.5 USD; đến năm
2004 mức tăng trưởng tăng lên đến 152,11% đạt giá trị kim ngạch là 279,202.548 USD Kết quả này cho thấy hoạt động xuất khẩu đang tiến triển tốt đẹp
Bảng cơ cấu hoạt động XNK của công ty VILEXIM
Chỉ tiêu
KN (USD)
Tỷ trọng
%
KN (USD)
Tỷ trọng
%
KN (USD)
Tỷ trọng
% Tổng kim ngạch
XNK 95,342.04 100.00% 250,387.9 100.00% 593,669.4 100.00% XNK trực tiếp 42,055 44.11% 111,272.6 44.44% 271,782.2 45.78% XNK uỷ thác 47,022.9 49.32% 121,914 48.69% 278,846.5 46.97% XKLĐ 6,263.694 6.57% 17,201.91 6.87% 43,040.76 7.25%
Biểu đồ giá trị XNK trực tiếp, XNK uỷ thác, XKLĐ
Trang 330 50,000 100,000 150,000 200,000 250,000 300,000 Năm 2002
uỷ thác chiếm tỷ trọng gần tương đương nhau hay chênh lệch về tỷ trọng trong cơ cấu XNK của cả hai hoạt động này không lớn lắm, tuy nhiên trong ba năm qua XNK uỷ thác luôn có tỷ trọng lớn hơn XNK trực tiếp nhưng xu hướng cho thấy khoảng chênh lệch này đang ngày càng thu hẹp, năm 2002 XNK uỷ thác có tỷ trọng lớn hơn XNK trực tiếp là 5,21%, năm 2003 mức chênh lệch này giảm xuống còn 4,25% và đến năm 2004 chỉ còn 1,19% Sự gia tăng về tỷ trọng trong XNK trực tiếp
là một dấu hiệu rất tốt, bởi vì nó cho thấy năng lực hoạt động thị trường hàng hoá một cách trực tiếp của công ty đã tăng lên, công ty có khả năng kiểm soát và nắm bắt được nhu cầu tiêu dùng cuối cùng tốt hơn XNK uỷ thác cũng là một hoạt động quan trọng, tuy nhiên nó gặp nhiều rủi ro lớn; hoạt động trong lĩnh vực này công ty
ít có cơ hội nắm bắt được nhu cầu tiêu dùng trực tiếp, cuối cùng, trong khi đó hoạt động này phải phụ thuộc nhiều vào nhu cầu này
3.2 Xuất nhập khẩu trực tiếp
Hoạt động xuất nhập khẩu trực tiếp là một trong số hoạt động chủ lực của công ty chiếm tỷ trọng lớn trong doanh thu và có khả năng mang lại nhiều lợi nhuận nhất Đối với XK trực tiếp, ngành hàng hiện công ty đang kinh doanh là hàng nông sản với các mặt hàng chủ lực là gạo, lạc nhân, hạt tiêu, hạt điều Trong hoạt động
NK trực tiếp, công ty kinh doanh rất nhiều mặt hàng nhưng chủ yếu là các sản phẩm
Trang 34điện máy, vật liệu xây dựng và hoá chất, phân bón phục vụ cho sản xuất nông nghiệp
Nhìn vào biểu đồ trị giá NK trực tiếp và XK trực tiếp của công ty qua ba năm, từ 2002 đến 2004 cho thấy giá trị NK luôn cao hơn XK, nhưng tốc độ gia tăng qua các năm có sự thay đổi Năm 2002 – 2003, NK trực tiếp có tốc độ gia tăng lớn hơn, sang giai đoạn năm 2003 – 2004 XK trực tiếp lại có tốc độ gia tăng lớn hơn Đánh giá về khoảng cách giá trị giữa NK trực tiếp và XK trực tiếp cho thấy; năm
2002 khoảng cách này nhỏ, đến năm 2003 khoảng cách này tăng lên rất lớn, nhưng sang năm 2004 khoảng cách này giảm đi nhiều mặc dù còn lớn hơn năm 2002 Điều này nói lên rằng, đến năm 2004 tỷ trọng của XK trực tiếp trong XNK trực tiếp đã tăng lên Việc giảm tăng tỷ trọng XK trực tiếp cho thấy hoạt động kinh doanh XNK của công ty đã có xu hướng hướng về xuất khẩu, theo đúng xu hướng chung của toàn ngành
Đánh giá về cơ cấu nhóm hàng và thị trường trong hoạt động XNK trực tiếp qua ba năm 2002-2004
Giá trị và tỷ trọng của các nhóm hàng trong NK trực tiếp và của các thị
trường trong XK trực tiếp
Chỉ tiêu
trị giá(USD)
tỷ trọng
trị giá(USD) gia tăng
tỷ trọng
trị giá(USD) Gia tăng
tỷ trọng
Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004
Trang 35mạnh nhất là nhóm hàng vật liệu xây dựng; từ 179,57% năm 2003 xuống còn
108,85% năm 2004 Đánh giá về tỷ trọng của các nhóm mặt hàng trong tổng giá trị
NK trực tiếp cho thấy, trong ba năm qua sự thay đổi về tỷ trọng giữa các nhóm hàng
không có sự thay đổi đáng kể, mặt hàng hoá chất, phân bón chiếm tỷ trọng thấp
nhất, trung bình khoảng 7%; nhóm hàng điện máy và vật liệu xây dựng có tỷ trong
tương đương nhau; tuy nhiên cũng có sự thay đổi chút ít qua các năm, năm 2003
hàng vật liệu xây dựng có tỷ trọng lớn hơn 1%, nhưng sang năm 2004 tỷ trọng mặt
hàng này giảm mạnh xuống còn 44%, trong khi đó các mặt hàng điện máy tăng tỷ
trọng đạt 49% Sự thay đổi này cho thấy, đến năm 2004, hoạt động NK trực tiếp của
công ty nghiêng mạnh về phía các mặt hàng điện máy Sự thay đổi này có nguyên
nhân xuất phát từ việc tăng giá dầu mỏ đã có tác động mạnh đến mặt hàng vật liệu
Trang 36xây dựng trên thế giới như giá phôi thép, giá xi măng…; trong khi đó nhu cầu tiêu dùng của nhân dân về các sản phẩm điện máy ngày càng tăng mạnh và sản xuất trong nước lại chưa đáp ứng được cả về số lượng lẫn chất lượng
Với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao như hiện nay, nhu cầu tiêu dùng của nhân dân cũng như nhu cầu cho hoạt động xây dựng và sản xuất đều tăng cao; các mặt hàng mà công ty đang kinh doanh trong lĩnh vực này cũng đều nằm trong số những mặt hàng có nhu cầu cao đó, tuy nhiên hoạt động cạnh tranh trong việc cung cấp hàng hoá cho các nhà phân phối cũng diễn ra găy gắt Đối với mặt hàng điện máy,
do nắm bắt được nhu cầu của các nhà phân phối trong nước cùng với những chính sách ưu đãi và những nỗ lực trong việc giữ mối quan hệ tốt nên hoạt động tiêu thụ của các mặt hàng tương đối ổn định Các loại sản phẩm này được công ty chia thành hai nhóm dựa theo tiêu chuẩn chất lượng và giá cả Các loại sản phẩm có chất lượng thấp và trung bình thường được nhập từ Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan được phân phối cho các nhà bán lẻ ở vùng ven thành phố và các cửa hàng bách hoá trong nội thành Còn loại sản phẩm chất lượng cao có xuất xứ từ Nhật Bản, Hàn Quốc được công ty phân phối cho các siêu thị điện máy Với xu hướng các nhà sản xuất nước ngoài bắt đầu có sự liên kết phân phối với các nhà phân phối trong nước, để tránh rủi ro và giữ được mối quan hệ với các nhà phân phối này, công ty cố gắng đa dạng hoá mặt hàng và nguồn hàng cung cấp, phối hợp với các đối tác này để đưa đến những sản phẩm theo kịp nhu cầu tiêu dùng của người dân
Cơ cấu giá trị trung bình các nhóm hàng trong NK
trực tiếp giai đoạn 2002-2004
Điện máy Vật liệu xây
dựng
Hoá chất, phân bón
cơ cấu thị trường trong XK trực tiếp giai đoạn
2002-2004
EU, Nhật, Mỹ
Bắc Âu, Tây Âu
CIS Đông
Âu, Bắc Phi, Tây Nam Á Ô-xtrây-lia, Châu Á
Trang 37Đánh giá về hoạt động XK trực tiếp, trong ba năm qua hầu hết trị giá xuất khẩu sang các thị trường đều có sự tăng trưởng mạnh, đến năm 2004 trị giá xuất khẩu đạt cao nhất là ở khu vực thị trường CIS Đông Âu, Bắc Phi và
Trang 38Tây Nam Á Mặc có sự tăng trưởng ở tất cả các thị trường như vậy nhưng tốc độ tăng trưởng và tỷ trọng trị giá XK giữa các thị trường có sự thay đổi; khu vực thị trường Bắc Âu và Tây Âu có tốc độ gia tăng vẫn tăng và tỷ trọng khá ổn định trong
cơ cấu giá trị XK trực tiếp, khoảng 13%; khu vực thị trường CIS Đông Âu, Bắc Phi, Tây Nam Á chiếm tỷ trọng lớn nhất và tỷ trọng này cũng có xu hướng tăng lên, năm
2002 chiếm tỷ trọng là 40% đến năm 2004 tỷ trọng này tăng lên là 43%, cùng với
xu hướng này thì tốc độ gia tăng cũng tăng mạnh theo từ 160,32% năm 2003 đến 184,24% vào năm 2004; khu vực thị trường Nhật, Mỹ và EU chiếm tỷ trọng thấp nhất, nhưng tỷ trọng này đang ngày càng có xu hướng tăng cao, năm 2004 tỷ trọng đạt đến 20%, mặt khác khu vực thị trường này cũng có tốc độ gia tăng cũng nhanh nhất đạt đến 218,85% vào năm 2004, đây là một dấu hiệu rất tốt vì khu vực thị trường này được xem là khu vực thị trường có sức mua lớn nhất nhưng cũng khó tính nhất; đối với khu vực thị trường Ô-xtrây-lia và Châu Á, cũng giống như các khu vực thị trường khác, khu vực thị trường này cũng có tốc độ gia tăng trị giá mạnh, nhưng trong cơ cấu thì có xu hướng giảm tỷ trọng, năm 2004 chiếm tỷ trọng
là 23%, tuy vậy tỷ trọng này vẫn đứng hàng thứ hai so với các khu vực thị trường khác Như vậy qua đánh giá về trị giá, tốc độ gia tăng về trị giá và tỷ trọng giữa các khu vực thị trường cho thấy, hoạt động XK trực tiếp của công ty đang có xu hướng vươn tới những thị trường khó tính như Nhật, Mỹ EU; cố gắng khôi phục những thị trường truyền thống và mở rộng thị trường mới khai phá như CIS Đông Âu, Bắc Phi
và Tây Nam Á; giảm tỷ trọng ở khu vực thị trường có quá nhiều đối thủ cạnh tranh
là những nước xuất khẩu hàng nông sản lớn như Châu Á Hướng kinh doanh này cho thấy công ty đang ngày càng theo đúng chiến lược xuất khẩu của toàn ngành
Về hoạt động cạnh tranh, trong những năm qua mặc dù đã có rất nhiều nỗ lực trong việc hoàn thiện, nâng cao chất lượng sản phẩm nhưng khả năng cạnh tranh với đối thủ từ những nước xuất khẩu hàng nông sản lớn như Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan còn rất yếu Đối với khu vực thị trường có hàng rào kỹ thuật và hàng rào phi thuế quan lớn như EU, Nhật và Mỹ; công ty rất vất vả mới có thể len chân vào các thị trường này, nhưng năng lực cạnh tranh còn rất yếu, mà nguyên nhân chủ yếu là
do công ty chưa khả năng kiểm soát toàn bộ quá trình từ khâu sản xuất đến khâu hoàn thiện sản phẩm cuối cùng vì vậy khả năng vượt qua được các rào cản về kỹ thuật rất thấp Đối với khu vực thị trường ít có rào cản về kỹ thuật hơn như thị
Trang 39trường Bắc Phi và Tây Á, tiềm năng của công ty ở đây rất lớn, nhưng việc thu thập
thông tin về thị trường này và các hoạt động quảng bá sản phẩm còn yếu, nên việc
khai phá các thị trường này vẫn chưa nhiều
3.3 Xuất nhập khẩu uỷ thác
Trị giá, tốc độ gia tăng và tỷ trọng của XNK uỷ thác
Chỉ tiêu
trị giá (USD)
tỷ trọng
trị giá (USD) gia tăng
tỷ trọng
trị giá (USD) gia tăng
tỷ trọng
XK uỷ thác
Hoạt động XNK uỷ thác trong những năm qua đều có sự gia tăng về giá trị,
tuy nhiên cả hai khu vực NK uỷ thác và XK uỷ thác đều có sự giảm đáng kể về tốc
độ gia tăng Năm 2003 NK uỷ thác có tốc độ gia tăng là 259,27% và XK uỷ thác có
tốc độ gia tăng là 231%; nhưng sang năm 2004 tốc độ gia tăng của NK uỷ thác
xuống 228,72% và của XK uỷ thác có sự giảm mạnh hơn còn 164,68% Đánh giá về
tỷ trọng, NK uỷ thác luôn luôn chiếm tỷ trọng rất cao và có xu hướng tăng mạnh, từ
72% năm 2002 chiếm lên đến 82% năm 2004; ngược lại thì XK uỷ thác ngày càng
Trang 40
bị thu hẹp Như vậy hoạt động XNK uỷ thác của công ty trong ba năm qua có sự
nghiêng về phía hoạt động NK uỷ thác
Về vấn đề cạnh tranh, công ty luôn cố gắng tạo sự tín nhiệm từ phía khách
hàng thông qua việc tạo ra một dịch vụ hoàn hảo, đảm bảo ít gây sai sót trong việc
làm thủ tục giao nhận và vận chuyển hàng hoá Vì vậy, khách hàng rất tin tưởng và
hài lòng với dịch vụ của công ty Tuy nhiên, trong những năm gần đây, cùng với sự
phát triển của hoạt động thông thương, nhiều doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh
vực XNK đã ra đời, trong đó hoạt động cung cấp dịch vụ xuất nhập khẩu uỷ thác
diễn ra rất sôi động Vì vậy, cạnh tranh ngày càng găy gắt, đặc biệt là cạnh tranh
qua giá hay phía uỷ thác Công ty với chủ trương cung cấp một dịch vụ hoàn hảo và
đáng tin cậy, nhưng giá hơi cao so với các công ty khác; vì vậy đã mất một số khách
hàng nhất định chủ yếu là những khách hàng có trị giá hợp đồng nhỏ, nhưng ngày
càng tạo được sự tin tưởng từ phía những khách hàng lớn
3.4 Xuất khẩu lao động
Trị giá, tốc độ gia tăng, cơ cấu thị trường trong XKLĐ
Chỉ tiêu
trị giá(USD)
tỷ trọng
trị giá(USD) gia tăng
tỷ trọng
trị giá(USD) gia tăng
tỷ trọng
Nhìn chung hầu hết các thị trường XKLĐ của công ty đều có sự tăng trưởng
về giá trị xuất khẩu, nhưng khác nhau về tốc độ tăng trưởng giữa các khu vực thị
trường và tỷ trọng của các khu vực thị trường đó trong cơ cấu XKLĐ của công ty
Thị trường Nhật mặc dù chiếm tỷ trọng rất thấp trong cơ cấu nhưng đến năm 2004
đã có tốc độ tăng trưởng mạnh nhất đạt 500,42%; các khu vực thị trường khác đều