1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN văn THẠC sĩ) cải biên như là cách thức tái hiện huyền thoại người nữ trường hợp ba phim điện ảnh đèn lồng đỏ treo cao; xuân, hạ, thu, đông rồi lại xuân và tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh​

72 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • bia thai thi thanh thao.pdf (p.1)

  • THAI THI THANH THAO-CAI BIEN NHU LA.pdf (p.2-72)

    • 1.Lí do chọn đề tài

    • 2.Lịch sử vấn đề

    • 3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

      • 3.1.Đối tượng nghiên cứu của người viết bao gồm:

      • 3.2.Phạm vi nghiên cứu:

    • 4.Mục tiêu nghiên cứu

    • 5.Phương pháp nghiên cứu

    • 6.Đóng góp của khóa luận

    • 7.Bố cục khóa luận

      • CHƯƠNG 1: DẪN NHẬP: LÍ THUYẾT CẢI BIÊN VÀ VẤN ĐỀ N

        • 1.1.Lí thuyết cải biên trong giới hạn nghiên cứu tác p

          • 1.1.1.Khái niệm cải biên và tác phẩm điện ảnh cải biên:

            • 1.1.1.1.Cải biên là hiện tượng chuyển di bộ mã ngôn ngữ

            • 1.1.1.2.Tác phẩm cải biên như là sản phẩm nghệ thuật tự th

          • 1.1.2.Phương thức cải biên đối với sản phẩm cải biên là

            • 1.1.2.1.Lựa chọn đối tượng để cải biên

            • 1.1.2.2. Mở rộng sự tiếp nhận đối tượng với sự đa

            • 1.1.1.3. Các đối tượng liên quan khi đánh giá hiện

              • Vấn đề thứ nhất: Cải biên từ góc độ của nhà sản xu

              • Vấn đề thứ hai: Cải biên từ góc độ của người xem:

        • 1.2.Nghiên cứu huyền thoại trong tác phẩm cải biên

    • 1.2.1.Huyền thoại và cấu trúc huyền thoại

    • 1.2.2. Đặc trưng của huyền thoại

      • 1.2.2.1. Hình thức dần trống rỗng và khái niệm dần

      • 1.2.2.2. Mối tương quan giữa khái niệm và hình thứ

      • 1.2.2.3. Sự biểu đạt bất tận trên cơ sở đa dạng nh

    • 1.2.2.Đọc và giải mã huyền thoại

      • 1.3.Tái hiện huyền thoại trong tác phẩm điện ảnh cải b

        • 1.3.1.Cơ chế chuyển vị mã ngôn ngữ và lấp đầy chất liệu

        • 1.3.2.Tác dụng của huyền thoại trong việc thao túng cảm

    • TIỂU KẾT

    • Trong chương 2, người viết sẽ tiến hành phân tích

      • CHƯƠNG 2: PHƯƠNG THỨC CẢI BIÊN CỦA BA BỘ PHIM ĐIỆN

        • 2.1.Động thái đối với tác phẩm được cải biên: lựa chọn

    • 2.1.1.Đèn lồng đỏ treo cao

      • Yếu tố thứ nhất được lựa chọn: Diễn biến nội dung

      • Yếu tố thứ hai được lựa chọn: Yếu tố thời gian

      • Yếu tố thứ ba được lựa chọn: Dấu ấn của tính chất

    • Cuối cùng, cũng giống như hình ảnh cái giếng trong

    • 2.1.2.Xuân, Hạ, Thu, Đông…Rồi lại Xuân

    • 2.1.3.Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh

    • Bộ phim cải biên này, về động thái đối với tác phẩ

    • Thứ nhất, người viết nhận thấy, cách tổ chức sự ki

      • 2.2.Động thái đối với tác phẩm điện ảnh cải biên: lấp

    • 2.2.1.Đèn lồng đỏ treo cao

      • 2.2.1.1.Kể chuyện bằng dàn cảnh

      • 2.2.1.2.Kể chuyện bằng cỡ cảnh (camera shots) và chuyển độ

    • 2.2.2.Xuân, Hạ, Thu, Đông…Rồi lại Xuân

      • 2.2.2.1.Thao tác hình tượng hóa và hệ thống hóa nhằm chuyể

      • Hình tượng những cánh cửa

      • Hình tượng mặt nước và con thuyền

      • Hình tượng động vật

      • Hình tượng tượng Phật

        • 2.2.2.2.Nghệ thuật dàn cảnh

    • 2.2.3.Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh

    • Từ sự lựa chọn gần như toàn bộ chất liệu nghệ thuậ

      • 2.2.3.1.Thao tác chuyển vị ngôn ngữ nghệ thuật

    • Ở hoàn cảnh thứ hai, văn bản truyện dài thể hiện n

      • 2.2.3.2.Thao tác lấp đầy chất liệu nghệ thuật

      • CHƯƠNG 3: HUYỀN THOẠI NGƯỜI NỮ TRONG BA PHIM ĐIỆN

        • 3.1. Đèn lồng đỏ treo cao: “tính chất phụ nữ” đi c

          • 3.1.1. Huyền thoại được biểu đạt thông qua tương q

          • 3.1.2. Huyền thoại được biểu đạt thông qua tạo hìn

          • 3.1.3. Huyền thoại được biểu đạt thông qua sự sáng

        • 3.2. Xuân, Hạ, Thu, Đông…Rồi lại Xuân: “tính chất

        • 3.3. Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh: “tính chất ph

          • 3.3.1. “Tính chất phụ nữ” đi liền với tính chất yế

          • 3.3.2. “Tính chất phụ nữ” đi liền với trách nhiệm

    • KẾT LUẬN

    • TÀI LIỆU THAM KHẢO

    • Tài liệu Tiếng Việt

    • 2.Nguyễn Thị Bích (2017), Thời xa vắng - hành trình

    • 10.Thanh Tâm (2019), Lời Phật dạy về tham, sân, si củ

    • 13.Phan Bích Thủy (2011), Phim Đừng đốt - Câu chuyện

    • 16.Mai An Nguyễn Anh Tuấn (2015), Truyện Kiều: từ văn

    • 17.Phan Thu Vân (2017), Chiến tranh Việt Nam và tinh

    • Tài liệu Tiếng Anh

Nội dung

Sau khi tiếp cận một vài tác phẩm điện ảnh cải biên, người viếtnhận thấy phát hiện của mình là có cơ sở: sự tái hiện huyền thoại là tất yếu khi cảibiên một văn bản sang thể loại điện ảnh

DẪN NHẬP: LÍ THUYẾT CẢI BIÊN VÀ VẤN ĐÈ NGHIÊN CỨU HUYỀN THOẠI TRONG TÁC PHẨM CẢI BIÊN

Lí thuyết cải biên trong giới hạn nghiên cứu tác phẩm điện ảnh cải biên

“Cải biên”được dịch từ thuật ngữ “Adaptation”, với nghĩa “quá trình thay đổi điều gì đó cho thích hợp với hoàn cảnh mới” (“The process of changing something, to suite a new situation”) (Từ điển Oxford) Sự thích nghi này không đơn giản chỉ là sự thay đổi từ thể loại này sang thể loại khác như cách dùng từchuyển thể, vốn phổ biến hơn Theo chúng tôi, cũng chính vì cách sử dụng từ ngữ với giới hạn nghĩa hẹp hơn này, đối tượng tiếp nhận của cải biên tại Việt Nam thường gặp phải sự ngộ nhận:

(1) Ngộ nhận thứ nhất: Tác phẩm cải biên chỉ là sự thay đổi về mặt thể loại từ một nguyên tác nào đó Ngộ nhận này dẫn đến những đối chiếu về mức độ tương đồng với tác phẩm có trước và từ đó đánh giá mức độ thành công của tác phẩm cải biên với cương vị là sản phẩm phái sinh trong sự tái hiện nguyên tác Những suy nghĩ mang tính đóng khung này dẫn đường cho quan niệm về thứ bậc cho những tác phẩm nghệ thuật lẽ ra hoàn toàn có đời sống tự thân Xét đến một trường hợp phổ biến: tác phẩm điện ảnh được cải biên từ tác phẩm văn học, được phần lớn khán giả tiếp nhận với tư duy so sánh với tác phẩm văn học trên các phương diện tương đồng, tương phản về nội dung và tác phẩm văn học đóng vai trò như là căn cứ tối thượng để đánh giá mức độ thành công của tác phẩm điện ảnh Những câu hỏi thường xuyên được trao đổi giữa khán giả như sau: Phiên bản nào hay hơn? Có hay bằng nguyên tác không? Có thể nói, đây là sai lầm cơ bản cần được thay đổi để mở rộng tầm đón nhận của khán giả điện ảnh nói riêng và người tiếp nhận tác phẩm cải biên nói chung Bởi lẽ tác phẩm cải biên, như đã nhấn mạnh, không nằm trong mối liên hệ thứ bậc với tác phẩm xuất hiện trước đó Nghĩa là, chúng ta chỉ có thể đánh giá giá trị của một tác phẩm điện ảnh (cải biên) so với các tác phẩm điện ảnh khác với hệ thống tiêu chí nhất định, và, sự so sánh ngược về với tác phẩm có trước, thuộc vào một thể loại khác biệt, là khập khiễng Để quán triệt tư tưởng thứ bậc này, tác giả Linda Hutcheon trong cuốnA theory of Adaptation đã nhấn mạnh cách sử dụng thuật ngữ của mình: hoàn toàn loại bỏ cách gọi “văn bản nguyên tác” (“original text”), hay “văn bản nguồn” (“source text”), thay vào đó là “văn bản được cải biên”

(2) Ngộ nhận thứ 2: Cải biên chỉ xoay quanh các thể loại nghệ thuật quen thuộc như văn học - điện ảnh - âm nhạc - sân khấu Thực chất, hiện tượng cải biên xuất hiện ở rất nhiều sản phẩm văn hóa, nghệ thuật đồng hành với cuộc sống con người. Tác giả Linda Hutcheon đã chỉ ra những hiện tượng cải biên tham khảo đặc sắc mà phần lớn chúng ta đã bỏ qua: Công viên văn hóa Disney Land, Trò chơi điện tử với chủ đề lấy từ các bộ phim hoặc tiểu thuyết ăn khách, hay những tác phẩm Ballet, Opera biên soạn từ kho tàng sân khấu của Shakespeare Bên cạnh đó, chúng tôi đồng thời chỉ ra các tác phẩm cải biên thú vị rất nổi tiếng và quen thuộc với độc giả/thính giả/khán giả Việt Nam như: ca khúc “Starry Starry night” (được cải biên từ bức họa cùng tên của họa sĩ Van Gogh); ca khúc “Nụ Tầm Xuân” (được cải biên từ bài ca dao “Trèo lên cây bưởi hái hoa/ Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân/ Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc/ Em lấy chồng anh tiếc lắm thay”); Bảo tàng Studio Gibli

(được cải biên từ bộ sưu tập các phim hoạt hình của hãng phim Gibli); Video game

Chúa tể của những chiếc nhẫn(được cải biên từ bộ phim điện ảnh cùng tên) Sự đa dạng đối tượng cải biên như trên cho ta thấy, sẽ là thiếu sót và sai lầm nếu như hiểu rằng cải biên chỉ là phương thức xuất hiện qua lại giữa văn học và điện ảnh.

Từ hai ngộ nhận lớn về hiện tượng cải biên, người viết đi đến sự trình bày hợp lí về cải biên và tác phẩm cải biên như sau:

1.1.1.1 Cải biên là hiện tượng chuyển di bộ mã ngôn ngữ

Người viết tiếp nhận cách đánh giá về cải biên theo Linda Hutcheon (A theory of Adaptation) - từ hai phương diện: như là sản phẩm (product) và như là quá trình (process) Chúng tôi tái trình bày về vấn đề này như sau:

Thứ nhất, khi được nhìn nhận như là một sản phẩm, tác phẩm cải biên được xác định là sự chuyển di mang tính mở rộng của một tác phẩm riêng biệt hoặc nhóm các tác phẩm Sự chuyển mã này liên quan đến vấn đề về môi trường trung giới (medium), thể loại (genre), hoặc các phương thức cấu thành tác phẩm nghệ thuật như điểm nhìn, bối cảnh, nhân vật, v.v

1 Linda Hutcheon, A Theory of Adaptation, Routledge, 2006, Preface, p xiii

Chúng tôi nhận thấy rằng, nền nghệ thuật phương Tây có nhiều tác phẩm văn học không ngừng được cải biên để thu hút sự đón nhận của công chúng với một dạng thức nghệ thuật khác Xét ví dụ về các tác phẩm văn học như văn bản kịch của Shakespeare , tiểu thuyết của Victor Hugo hay truyện cổ Andersen, truyện cổ Grimm, có thể thấy, liên tục xảy ra sự chuyển di đa dạng đến các môi trường nghệ thuật khác là sân khấu, hội họa hay điện ảnh Sự cải biên của một số tác phẩm trải dài xuyên suốt xu hướng thể hiện nghệ thuật của con người Tác phẩm kịch Romeo và Juliet của Shakespeare được cải biên thành các thể loại kịch nói, vũ kịch, sau đó là nhạc kịch (đặc biệt nổi tiếng với sự cải biên của các nước Châu Âu như Pháp hay Ý) Khi điện ảnh phổ biến, tác phẩm này ngay lập tức được cải biên với gần hai trăm phiên bản khác nhau (bao gồm cả phim điện ảnh, phim truyền hình, phim phát hành trực tuyến) từ đầu thế kỉ XX cho đến tận ngày nay Tương tự, các trường hợp văn học kinh điển Những người khốn khổ(Les Misérables) (1862) và Nhà thờ Đức

Bà Paris(Notre Dame de Paris) (1831) của Victor Hugo hay văn bản văn họcBóng ma nhà hát Opera (Le Phantome de l’Opera) (1909) của Gaston Leroux lần lượt được cải biên thành phim và nhạc kịch Những vở nhạc kịch sản xuất trong vòng ba mươi năm trở lại đây tạo được độ phủ sóng toàn cầu, nhưLes Misérables (nói bằng tiếng Anh), Notre Dame de Paris (nói bằng tiếng Pháp), The Hunchback of Notre Dame (nói bằng tiếng Anh),The Phantom of the Opera (nói bằng tiếng Anh) Cùng với nhạc kịchRomeo et Julietteđược cải biên bởi người Pháp, đây là những vở nhạc kịch, những sản phẩm nghệ thuật cải biên có được thành công vang dội và chỗ đứng nghệ thuật độc lập, nhờ vào giá trị chuyên biệt đến từ ngôn ngữ âm nhạc - môi trường trung giới mới sau khi cải biên.

Thứ hai, khi được nhìn nhận như là quá trình, hành động cải biên liên quan đến thao tác (tái) diễn giải ((re-)interpretation) và (tái) sáng tạo ((re-)creation) - trong trường hợp cải biên như là quá trình sáng tạo (a process of creation) Sở dĩ có sự xuất hiện của yếu tố phiên dịch ở đây bởi, như đã đề cập, tác phẩm cải biên là kết quả của quá trình chuyển di và thích ứng hóa bộ mã nghệ thuật từ đối tượng này sang đối tượng khác Do đó, người viết cho rằng, việc làm này tương ứng như một bộ phận của lĩnh vực phiên dịch, vốn có phạm vi vô cùng rộng lớn: không chỉ dừng lại như một thao tác ngôn ngữ học, phiên dịch yêu cầu sự huy động kiến thức sâu rộng về văn hóa cho một sự thích ứng và tái hiện trong hoàn cảnh tiếp nhận khác biệt Đối với những đối tượng như tác phẩm văn học, khi được phiên dịch sang một ngôn ngữ khác, dịch giả không những thực hiện thao tác dịch về con chữ mà cần thiết hơn cả là sự am tường ý nghĩa của nó về văn hóa để tiến đến một tầng sâu hơn của công việc phiên dịch là lựa chọn đối tượng tương ứng về văn hóa thuộc bộ mã ngôn ngữ mới (trong rất nhiều trường hợp là không ăn khớp trong ý nghĩa tường minh của từ ngữ, nhưng tương thích về văn hóa) Tương tự khi trở lại với hiện tượng cải biên, đặc biệt đối với tác phẩm cải biên điện ảnh, có thể nói, nhà cải biên là người đọc và phiên dịch tác phẩm được cải biên từ bộ mã của môi trường trung giới cũ sang bộ mã ngôn ngữ điện ảnh song hành cùng sự phiên dịch các yếu tố văn hóa cho phù hợp với các yêu cầu về thẩm mỹ, kinh tế của nhà cải biên hoặc cho phù hợp với bối cảnh lịch sử - xã hội thuộc về khán giả.

Nhờ vào sự tương đồng về văn hóa tiếp nhận và nhu cầu thẩm mỹ, không ít các sản phẩm điện ảnh Hàn Quốc được các nhà làm phim Việt Nam lựa chọn để cải biên, trở thành sản phẩm mới nói bằng Tiếng Việt Phim điện ảnh Sunny (2011) là một trong số đó Cách thức cải biên của bộ phim này tại thị trường Việt Nam, đồng thời nằm trong trào lưu điện ảnh thời điểm bấy giờ, làremake (có cách dịch phổ biến là làm lại), được thực hiện bởi đạo diễn Nguyễn Quang Dũng, với tên gọi Tháng năm rực rỡ(2018) Bộ phim được đánh giá thành công ở khía cạnh khéo léo thay đổi các chi tiết thuộc về bối cảnh để trở nên tương ứng với văn hóa và lịch sử Việt Nam Cụ thể, bộ phimSunny có hai tuyến truyện quá khứ và thực tại, bối cảnh quá khứ thuộc những năm 1980 tại thành phố Seoul, khoảng thời gian xảy ra những phong trào đấu tranh dân chủ nóng bỏng và tình hình chính trị chưa ổn định Câu chuyện thanh xuân của năm nhân vật chính đặc biệt có sự góp phần của yếu tố âm nhạc Những ca khúc được sử dụng tạo nên ấn tượng thời đại đặc biệt, nhưng chỉ thực sự đặc biệt đối với khán giả Hàn Quốc Khi được cải biên, tác phẩm điện ảnh mới được thiết kế bối cảnh quá khứ tại thành phố Đà Lạt vào những năm 1974 - 1975, và sử dụng các ca khúc mang dấu ấn thời đại như Kim, Vết thù trên lưng ngựa hoang, Yêu, Ngày xưa hoàng thị và ca khúcGiấc mơ tuyệt vời, gợi nhớ kí ức của thế hệ khán giả sinh từ năm 1980, đối tượng tiêu thụ chủ yếu được hướng đến của phim Có thể thấy yếu tố thời gian và chất liệu âm nhạc đã có sự chênh lệch, nhưng lại có một sự phiên dịch văn hóa hợp lí, đáp ứng bộ mã văn hóa đại chúng đương thời của nước sở tại.

Sự cải biên những ấn tượng văn hóa của nhà sản xuất là phù hợp để tái hiện không khí của một bối cảnh quá khứ đầy màu sắc với nền văn hóa đại chúng ảnh hưởng từ

Mỹ nở rộ và hoàn cảnh xã hội dậy sóng từ những cuộc đấu tranh dân chủ của người trẻ tại Việt Nam, và tạo nên minh chứng cho nhiều suy nghĩ sai lầm rằng cải biên là tái dựng trong sự tuân thủ toàn bộ yếu tố nội dung.

Bên cạnh góc độ tiếp cận cải biên như là quá trình sáng tạo, hoạt động này còn được xem xét từ khía cạnh quá trình tiếp nhận (process of reception) của nó Linda

Hutcheon cho rằng sự cải biên mang tính chất làmột hình thức liên văn bản (a form of intertextuality) Chúng ta trải nghiệm tác phẩm cải biên thông qua sự liên hệ và kết nối với những giá trị đa diện mà (có thể đã) trải nghiệm trước đó từ tác phẩm được cải biên hoặc kí ức cá nhân, tạo nên những cảm xúc và đánh giá khác biệt giữa người tiếp nhận chưa biết về tác phẩm được cải biên và người tiếp nhận đã biết về tác phẩm được cải biên Hầu hết những phân tích hiện nay nhằm làm rõ cho ý tưởng này đều khai thác ở phương diện trải nghiệm hoàn toàn trong suốt hay trải nghiệm mang tính đối chiếu của hai đối tượng tiếp nhận nói trên Về phần người viết, chúng tôi có thể chỉ ra một vận dụng khác liên quan đến hoạt động tiếp nhận mang tính liên văn bản của người xem, đó là khả năng nhận diện tác phẩm được cải biên Một vài hiện tượng cải biên đã lựa chọn một phần trong tác phẩm được cải biên, từ đó thực hiện các thao tác bổ sung hoặc làm mới Sản phẩm nghệ thuật này có thể gây chú ý đến người tiếp nhận và thúc đẩy họ liên văn bản đến một đối tượng khác hay không, phụ thuộc vào phạm vi trải nghiệm của họ trong quá khứ, đã hoặc chưa, bao hàm tác phẩm được cải biên Năm 2019, nữ ca sĩ trẻ nổi tiếng người Mỹ Ariana Grande ra mắt bài hát 7 rings Sản phẩm âm nhạc này nhanh chóng phủ sóng toàn cầu Tuy nhiên, người nghe nhạc tại các nước không nói Tiếng Anh, thuộc thế hệ trẻ và không có nhiều trải nghiệm về điện ảnh Hollywood trong quá khứ, không thể nhận ra đây là một sản phẩm âm nhạc cải biên, và đối tượng được cải biên là ca khúc My Favorite Things nằm trong bộ phim nhạc kịch The Sound of Music, từng giành được năm giải Oscar năm 1965.

Từ một phương diện khác, phương diện nhà cải biên, Linda Hutcheon cho thấy, sự cải biên còn là quá trình tiếp nhận mang tính liên văn bản Tham khảo nhận định này là cơ sở để người viết xác định: Sự tiếp nhận và tái tạo của nhà cải biên chịu chi phối và bắt nguồn từ sự hiểu chủ quan - khuynh hướng thẩm mỹ, cũng như sự hiểu khách quan - hệ thống các văn bản văn hóa được chia sẻ trong cộng đồng người tiếp nhận Đó là lí do cho các nhà cải biên điện ảnh sáng tạo nên các yếu tố ngoài văn bản được cải biên như ấn tượng về phục trang, ấn tượng về dàn cảnh, ấn tượng về tạo hình khuôn mặt hay ấn tượng về màu sắc, trong khuôn khổ mã văn hóa tiếp nhận và diễn giải của nhà phê bình và người xem Ví như một cảnh phim có màu xanh sẽ mang lại cảm giác lạnh lẽo, cô đơn; một nhân vật với phục trang màu đỏ mang ý nghĩa cho sự quyền lực hay vị trí hội thoại của nhân vật quyết định vị thế của họ so với những đối tượng khác như thế nào.

1.1.1.2 Tác phẩm cải biên như là sản phẩm nghệ thuật tự thân

Nghiên cứu huyền thoại trong tác phẩm cải biên

1.2.1 Huyền thoại và cấu trúc huyền thoại

Roland Barthes đã đưa ra bốn câu trả lời cho câu hỏi “Huyền thoại ngày nay là gì”, từ đơn giản đến phức tạp Hai câu trả lời đầu tiên phục vụ cho việc khu biệt khái niệm, số còn lại phục vụ cho việc định hình đặc trưng.

Roland Barthes xác định huyền thoại như một dạng lời nói (speech) đa phương tiện: diễn ngôn văn chương, quảng cáo, phim ảnh, tranh vẽ, thể thao, phóng sự, v.v chứa đựng thông điệp Thuật ngữ này đã đặt tư duy người đọc tiếp nhận huyền thoại trong thế đối lập vớingôn ngữ(language) - hệ thống hữu hạn tạo nên động cơ và tài nguyên cho sự đa dạng của lời nói Huyền thoại hiện diện ở khắp mọi nơi và ấn tượng hơn, theo Roland Barthes, “Tất cả đều có thể là huyền thoại chăng? Phải, tôi tin như thế, bởi vũ trụ có tính chất khơi gợi vô cùng tận 4 ” Bản chất của huyền

4 Roland Barthes, Những huyền thoại, Phùng Văn Tửu dịch, NXB Tri thức, 2008, tr 289 thoại là hệ thống kí hiệu, nói cách khác huyền thoại là đối tượng cần được xử lí dựa trên cơ sở củakí hiệu học (semiotics).

Từ việc tiếp nhận lí thuyết của Roland Barthes, chúng tôi tổng hợp và tái hiện nội dung lí luận như sau:

Theo kí hiệu học Châu Âu đi ra từ Saussure, mỗi kí hiệu là tương quan giữa hai vế: cái biểu đạt và cái được biểu đạt.

Hệ thống kí hiệu cơ bản này trở thành cơ sở để diễn giải về hệ thống của huyền thoại Huyền thoại là hệ thống kí hiệu thứ hai xếp chồng lên hệ thống kí hiệu thứ nhất Kí hiệu hay là sự tổng hòa của cái biểu đạt với cái được biểu đạt ở hệ thống nhứ nhất đã trở thành cái biểu đạt của huyền thoại Huyền thoại là hệ thống mở rộng về chiều sâu của hệ thống kí hiệu, là sự cấu thành thêm một nấc hệ thống mang tính chấtsiêu ngôn ngữ(metalanguage)

Roland Barthes đã làm rõ vấn đề thuật ngữ: “Như ta biết, bây giờ cái biểu đạt, trong huyền thoại có thể được xem xét từ hai điểm: như vế kết thúc của hệ thống ngôn ngữ, hoặc như vế khởi đầu của hệ thống huyền thoại Vậy ở đây, cần có hai cái tên: trên bình diện ngôn ngữ, nghĩa là như vế kết thúc của hệ thống thứ nhất, tôi sẽ gọi cái biểu đạt là nghĩa (tôi tên là sư tử, một người da đen chào theo kiểu nhà binh Pháp); trên bình diện huyền thoại, tôi sẽ gọi nó làhình thức Đối với cái được biểu đạt, không có sự mập mờ nào, chúng ta sẽ cứ gọi nó làkhái niệm Vế thứ ba là mối quan hệ qua lại giữa hai vế đầu: trong hệ thống ngôn ngữ, đó là kí hiệu; nhưng không thể nào dùng lại từ ngữ ấy mà tránh mập mờ, bởi vì trong huyền thoại (và đây chính là nét đặc thù chủ yếu của nó), cái biểu đạt đã được tạo thành bởi những kí hiệu của ngôn ngữ Tôi sẽ gọi vế thứ ba của huyền thoại làsự biểu đạt ” 5

5 Roland Barthes, Những huyền thoại, Phùng Văn Tửu dịch, NXB Tri thức, 2008, tr.302, 303

Xem xét ví dụ mà Roland Barthes đã đưa ra, một ví dụ đã trở thành kinh điển cho huyền thoại học: hình ảnh anh lính da đen chào tay kiểu nhà binh trước lá cờ tam tài của nước Pháp, đăng trên tạp chí Paris - Match Ở đây, chúng ta hệ thống hóa huyền thoại này như sau: trên bình diện ngôn ngữ, nghĩa là hệ thống kí hiệu thứ nhất, sự kết hợp của những đường nét cong, thẳng, màu sắc đen, xanh, trắng, cùng với sự giới hạn khung hình và sự đặt cạnh nhau của các đối tượng, là chất liệu; hình ảnh một anh lính da đen chào kiểu nhà binh trước lá cờ tam tài, lànghĩa Trên bình diện huyền thoại, nghĩa là hệ thống kí hiệu thứ hai, hình ảnh một anh lính da đen chào kiểu nhà binh trước lá cờ tam tài, là hình thức; điều quan trọng hơn chúng tôi đọc được qua hình ảnh này - tính chất Đế quốc Pháp, là khái niệm Đây là sự biểu đạt của huyền thoại.

Tương tự, người viết xin chỉ ra các ví dụ khác như sau:

(1) “Tem phiếu” Ở hệ thống kí hiệu thứ nhất, ta xác định: sự kết hợp và phân bố của các yếu tố như chất liệu giấy, hình dáng chữ nhật, các con chữ nêu lên thông tin về đối tượng được qui đổi và các con số nêu lên thông tin về số lượng được qui đổi, đóng dấu đỏ ở các vị trí nhất định, làchất liệu, hình ảnh của một tem phiếu lànghĩa. Ở hệ thống kí hiệu thứ hai, từ hình ảnh của một tem phiếu đóng vai trò hình thức, người viết được mời gọi đến với mộtkhái niệm: thời bao cấp, đó là sự biểu hiện của huyền thoại thời bao cấp.

(2) “Những thùng giấy TIKI” Ở hệ thống kí hiệu thứ nhất, ta xác định: chất liệu giấy cứng, hình khối hộp chữ nhật, màu sắc nâu vàng phổ biến của loại thùng giấy công nghiệp, logo TIKI màu xanh dương đặt ở các mặt bên, băng keo dán ngang có logo TIKI, thông tin người nhận bằng giấy trắng dán tại mặt trên thùng, làchất liệu; sự hiện diện trong không gian một chiếc thùng giấy chứa sản phẩm được đặt mua từ trang mua hàng trực tuyến TIKI là nghĩa Ở hệ thống kí hiệu thứ hai, nghĩa này đóng vai trò làhình thức, hay làcái biểu đạt, chokhái niệmđược biểu đạt mà người viết nhận ra: tính đại chúng của thương mại điện tử.

(3) Bài hát Happy New Year (được trình bày bởi nhóm nhạc Thụy Điển ABBA,

1980) Ở hệ thống kí hiệu thứ nhất, ta xác định: sự kết hợp của giai điệu âm nhạc,giọng hát và ca từ, là chất liệu; sự hiện diện trong không gian âm thanh của bài hátHappy New Year là nghĩa Ở hệ thống kí hiệu thứ hai, nghĩa này đóng vai trò là hình thức, hình thức này nhanh chóng bị chiếm chỗ bởikhái niệmhuyền thoại được nhận ra bởi hàng triệu người ở một số lượng đáng kể khu vực và quốc gia: tính chất năm mới.

1.2.2 Đặc trưng của huyền thoại

1.2.2.1 Hình thức dần trống rỗng và khái niệm dần đầy ắp

Chúng tôi diễn đạt lại hệ thống lí luận từ Roland Barthes về cơ chế hoạt động của huyền thoại như sau:

Trong hệ thống kí hiệu, lớp vỏ chất liệu trong suốt dần nhường chỗ cho nghĩa chiếm lấy Nghĩa đẩy chất liệu lùi xa và trở nên đầy ắp Tuy nhiên, khi trở thành hình thức, nó lại bị tha hóa, rơi vào hoàn cảnh tương tự với chất liệu, nhường chỗ cho sự xâm chiếm của khái niệm Nghĩa, lúc này chuyển hóa, trở nên trống rỗng, mặc dù vẫn còn ở đó Nghĩa bị đẩy sâu thêm một nấc, tham gia hệ thống lời nói thứ hai, nghĩa bây giờ là hình thức của một huyền thoại sắp hiện diện Hình thức này không còn là thứ người ta hướng đến nữa, bởi giờ đây nó chỉ là thứ được vay mượn để mở ra thông điệp về một thứ khác.

Cái được biểu đạt - hay chính là khái niệm của huyền thoại, chiếm lĩnh hình thức. Hiện diện lúc này, trong sự mơ hồ và rõ ràng luân phiên nhau, là một thông điệp mới được cấy vào khái niệm Bằng những sự liên hệ lịch sử, thẩm mỹ, văn hóa mang tính phù hợp, khái niệm tìm đến ta, phong phú và dồi dào Có thể nói, sự nghèo nàn về biểu đạt của hình thức chỉ cần đến một số ít những dấu hiệu năng sản để tạo nên động cơ hình thành một huyền thoại Đặc biệt quan trọng, cần nhận thức rằng, khái niệm của huyền thoại không hoàn toàn võ đoán như kí hiệu ngôn ngữ. Như đã lưu ý, chúng là những tri thức mang tính tư tưởng không mời gọi tất cả mọi người Khái niệm trong huyền thoại không dừng lại là một giá trị, mà hơn nữa là nhận thức về giá trị đó.

Có thể minh chứng điều này thông qua những ví dụ huyền thoại hình thành thông qua hình ảnh tem phiếu hay áp phích tuyên truyền Trường hợp của những áp phích xuất hiện tại không gian công cộng hoặc cơ quan nhà nước, với cái biểu đạt, ví dụ,bao gồm: giới hạn hình ảnh trong một diện tích chữ nhật, hiện diện trên màu nền đỏ tươi là hình ảnh người công nhân nhà máy, trên tay cầm một bó hoa đưa lên cao, kế tiếp là hình ảnh người phụ nữ nông dân tay ôm bó lúa vàng, bên cạnh là hình ảnh người lính hải quân Việt Nam vai mang súng, cuối cùng là hình ảnh cậu bé học sinh mặc đồng phục, cả bốn nhân vật là hình vẽ phẳng 2D, biểu cảm khuôn mặt thống nhất, quang cảnh phía sau là những biểu tượng của thành phố công nghiệp như cầu sắt, nhà máy, trụ truyền điện cao áp, nhà cao tầng, phía trên là dòng chữ màu vàng:

“Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân lập thành tích chào mừng đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng” Khái niệm huyền thoại ở đây có thể là tính chất thể chế xã hội chủ nghĩa Nhưng không phải tất cả mọi người đều có thể đón nhận huyền thoại này Đối tượng được huyền thoại mời gọi hẳn phải có nhận thức chính trị tương đối trong động thái tiếp nhận có phê phán hệ thống những hình ảnh có phong cách biểu đạt giống nhau: lối minh họa đơn giản, rập khuôn, màu sắc phối hợp theo lối tương phản, các mẫu nhân vật được tái sử dụng, văn bản ngôn từ phục vụ mục đích phát ngôn của nhà cầm quyền, hình tượng nhân vật đại diện cho giai cấp công nhân Người tiếp nhận, trong trường hợp thuộc nhóm đối tượng đã trải nghiệm tập hợp nhiều ấn phẩm tuyên truyền từ đa dạng các môi trường chính trị, có kiến thức xã hội và khả năng nhận thức sự khác biệt trong tinh thần chính trị của các thể chế, mới có thể được huyền thoại này mời gọi.

1.2.2.2 Mối tương quan giữa khái niệm và hình thức là mối tương quan biến dạng

Trong sự hiện diện của huyền thoại, tất cả các phương diện vẫn tồn tại song hành nhưng luân phiên, theo hình thức như Roland Barthes đã hình dung và gọi là “cửa quay” Khi nhìn lại cơ chế phát huy của một huyền thoại, ta nhận thấy hình dung của tác giả vô cùng sinh động và hợp lí: Hình thức (hay trước đó được nhận diện như nghĩa trong hệ thống ngôn ngữ) vừa làm nhòe mờ chất liệu để chiếm dụng sự hiện diện, thì ngay lập tức bị đẩy ra xa, bị làm cho trong suốt như thể đó chỉ là sự chuẩn bị cho sự ập đến chắc chắn của một khái niệm mơ hồ Sự chuyển vị này thật không khác gì cánh cửa quay: một cánh cửa ập đến ta, rồi lại xa khỏi ta Sự xa dần ấy là cần thiết cho sự ập đến của một cánh cửa khác, dù chưa đến được với ta, nhưng ta nhận thức được rằng việc đó là không thể tránh khỏi.

Trong huyền thoại, hình thức như một vùng chuyển Một nửa thuộc về hệ thống kí hiệu thứ nhất - mặt này đầy ắp nghĩa, một nửa thuộc về hệ thống kí hiệu thứ hai (hệ thống huyền thoại) - mặt này trống rỗng Hình thức là cánh cửa dẫn đến huyền thoại.

Như đã nói, khái niệm sẽ xâm chiếm sự tiếp nhận, bằng cách biến dạng hình thức.

Tái hiện huyền thoại trong tác phẩm điện ảnh cải biên: cơ chế và tác dụng

1.3.1.1 Chúng tôi cho rằng, chuyển vị mã ngôn ngữ là thao tác mang tính hạt nhân của hiện tượng cải biên, đồng thời là cơ chế sản sinh huyền thoại thông qua các tác động đóng khung thị giác và thính giác đến người xem Trên cơ cở kịch bản điện ảnh, tác phẩm cải biên được tiếp nhận và triển khai ở nhiều phương diện Do đó, có thể nói, nhà biên kịch là đối tượng cơ bản thực hiện thao tác chuyển vị mã ngôn ngữ của môi trường trung giới trước đó sang ngôn ngữ điện ảnh, đáp ứng các yêu cầu định hướng cho công việc của các bộ phận nghệ thuật khác tham gia sản xuất tác phẩm điện ảnh Nói cách khác, nhà biên kịch tái sáng tạo một câu chuyện, một nhân vật, một bối cảnh, một hành vi, một lời nói, từ cách nói của một thể loại, ví dụ như văn học, sang cách nói của điện ảnh Diễn ngôn điện ảnh là diễn ngôn của sự kết hợp các khung hình, sự di chuyển của máy quay và sự vận dụng âm thanh, ánh sáng

- những điều này được đề cập một cách rõ ràng tại kịch bản điện ảnh, điểm khác biệt đáng kể cần lưu ý khi nhận diện và đánh giá kịch bản điện ảnh, so với một tác phẩm văn học Một văn bản kịch bản đầy đủ, mẫu mực, đáp ứng mục tiêu sáng tạo nên ngôn ngữ điện ảnh toàn vẹn luôn miêu tả đầy đủ các yếu tố khách quan và chủ quan, và vạch ra những định hình rõ ràng về cả hình ảnh lẫn âm thanh, cơ bản bao gồm: mở cảnh (scene heading), hành động (action), tên nhân vật (character name), đối thoại (dialogue), nội dung phản ánh khác (ví dụ: thái độ) nằm trong ngoặc đơn (parenthetical), các yếu tố mở rộng (vd: tiếng ngoài hình) (extensions), cách chuyển cảnh (transition), cảnh quay (shot) Tuy nhiên, sự ra đời của một tác phẩm điện ảnh không thể dừng lại tại kịch bản văn học mà cần đến bước chuyển đổi mấu chốt những thông tin được đề cập từ kịch bản sang trạng thái thể hiện đa giác quan Nếu độc giả văn học cần thiết phải vận dụng khả năng ngôn ngữ trong việc đọc hiểu ý nghĩa của từ, ngữ, câu, trong sự kết hợp của các biện pháp tu từ, các phương thức biểu đạt và phong cách ngôn ngữ để tưởng tượng và cảm nhận, thì, khán giả điện ảnh cải biên cần thiết lưu tâm đến sự hiện diện và liên kết của chuỗi hình ảnh, sự trình hiện được sắp đặt có chủ đích của yếu tố nhân vật và bối cảnh, sự nhận thức cơ bản về các loại âm thanh, để nhìn - nghe - cảm nhận.

1.3.1.2 Trong quá trình chuyển vị hệ thống các mã này, thao tác tất yếu là sự bổ sung hoặc loại trừ các hình thức nhằm lấp đầy ngôn ngữ điện ảnh, vốn đòi hỏi sự tập hợp đa dạng chất liệu Những bổ sung hoặc loại trừ này được thực hiện vô cùng linh hoạt, khó có cách tập hợp và phân loại nào vừa bao quát toàn bộ các trường hợp, vừa tránh được những liệt kê trùng lặp hay nhỏ nhặt Về phía người viết, chúng tôi lựa chọn cách thức đề cập đến hai đối tượng cơ bản xuất hiện trong mỗi khung hình là nhân vật và bối cảnh khi triển khai phân tích vấn đề này Nhân vật và bối cảnh khi được diễn giải bằng ngôn ngữ điện ảnh đều mang tính chất kí hiệu Mặt khác, đó là sự trình hiện thị giác không thể thoát khỏi sự chi phối của những yêu cầu thông thường về tính khách quan và tính toàn vẹn Vì thế, rất nhiều yếu tố từ tác phẩm được cải biên buộc phải loại trừ cũng như nhà cải biên buộc phải sáng tạo cộng hưởng vô số chi tiết xung quanh bối cảnh và nhân vật để đáp ứng điều kiện tồn tại của tác phẩm cải biên trong hình thức điện ảnh Nếu một phim điện ảnh cải biên từ một tác phẩm văn học và nội dung tác phẩm này phần lớn được triển khai ở góc độ tự sự, thì, nhà cải biên buộc lòng sáng tạo hầu hết toàn bộ các chi tiết về bối cảnh trong một cảnh phim bất kì được chọn lựa, nhằm đáp ứng điều kiện về tính khách quan (như không gian ấy sẽ được trình hiện ra sao, máy quay sẽ đặt ở góc độ nào, mức độ và phạm vi điều phối ánh sáng,v.v ) Nếu một nhân vật văn học được nhà văn lựa chọn miêu tả ở khía cạnh khuôn mặt, dáng hình, hành vi, thái độ là đủ cho sự diễn giải và sự tham dự đối với tác phẩm, thì, nhà cải biên, tùy thuộc vào mục tiêu cải biên của mình, không tránh khỏi nhiệm vụ thiết kế phục trang, xác định tính chất giọng nói hay cách thức tương tác đối thoại cùng các đối tượng được dàn cảnh, nhằm đáp ứng điều kiện về tính toàn vẹn thông thường của sự xuất hiện của một nhân vật là con người.

1.3.2 Tác dụng của huyền thoại trong việc thao túng cảm xúc tiếp nhận của người xem

Nhóm tác giả Luc Herman và Bart Vervacck trong tập hợp nghiên cứu Handbook of Narrative Analysis đã có những đề cập về khái niệm khung (frame) và kịch bản (script) trong việc phân tích sự tiếp nhận tự sự của người đọc, từ đó chỉ ra hai tác động lớn trong việc đọc là sự lưu ý và sự kì vọng Cụ thể, người đọc đến với tác phẩm tự sự với tâm thế tập trung tiếp nhận và diễn giải thông tin trong giới hạn của những lưu ý hay dự tính cá nhân và chịu chi phối bởi những kì vọng xuất phát từ trải nghiệm, đặc tính giới hay hoàn cảnh xã hội Khái niệm khung (frame) ở đây được định nghĩa như là cấu trúc (structure) hay mẫu nhận thức (cognitive model) được người đọc chọn ra từ trí nhớ (memory) và sử dụng trong quá trình đọc nhằm giúp họ giải quyết hoàn cảnh tiếp nhận mới (new situation) Nếu như vấn đề khung (frame) nhấn mạnh đến những dự tính của chủ thể tiếp nhận thì vấn đề kịch bản (script) tập trung đến những kì vọng trong quá trình đọc Như vậy, giả sử người đọc là nhà kí hiệu học, quá trình tiếp nhận của họ chịu sự chi phối từ dự định lưu ý đến những yếu tố mang tính kí hiệu sẽ xuất hiện và những kì vọng vào cấu trúc tác phẩm dựa vào sự liên hệ của những kí hiệu mà họ đang dần xâm nhập, đồng thời bỏ qua những yếu tố khác không liên quan đến mô hình ý thức đã được xây dựng Sử dụng lí thuyết này cho thể loại điện ảnh - một hình thức tự sự, người viết nhận thấy việc xây dựng những huyền thoại trong điện ảnh góp phần thao túng cảm xúc người xem ở hai phương diện:lôi kéo sự lưu ývàđáp ứng sự kì vọng.

Thứ nhất, những mảnh ghép của huyền thoại (người viết dùng cách gọi này để chỉ giá trị kí hiệu ở mức độ cảnh phim, và tập hợp các cảnh phim này đã dẫn đến huyền thoại) lôi kéo và tạo ra lưu ý tiếp nhận cho người xem Chúng khơi mào những dấu hiệu, chúng dẫn dắt khán giả dự đoán về thông điệp sắp sửa được truyền tải Những kí hiệu điện ảnh được xây dựng trong từng khung hình từng bước tạo ấn tượng cho người xem về ý đồ định hình một ý niệm nào đó từ nhà làm phim Nói cách khác, người xem được cung cấp một dạngkhungđể bước vào thế giới phim, khám phá và nối kết các kí hiệu dựa trên những lưu ýđược đề xuất ban đầu, nhằm khám phá thế giới nghệ thuật theo cách nhà làm phim mong muốn và chủ tâm thiết kế.

Thứ hai, mỗi người xem đến với tác phẩm điện ảnh đều mang theo những kì vọng nhất định và kì vọng thậm chí trở thành một tiêu chí quan trọng trong việc đánh giá sự thành công của phim Kì vọng chi phối tiến trình tiếp nhận của người xem, liên tục sản sinh những dự đoán, bắt đầu bằng dự đoán về nội dung chính của tác phẩm sau khi có sự tiếp cận với nhan đề và sự tiếp cận cơ bản với các hình tượng nhân vật.Sau đó, tiến trình xem phim diễn ra bởi sự thay thế của những kì vọng lẫn nhau.Diễn biến tác phẩm có thể tương ứng với kì vọng được đặt ra, và nếu không, ý thức ngay lập tức tạo ra những kì vọng mới Toàn bộ tác phẩm điện ảnh tạo ra huyền thoại Nếu kết quả này đáp ứng kì vọng của người xem, huyền thoại tạo ra sự thỏa mãn cảm xúc Cho dù huyền thoại không tương thích với kì vọng của khán giả, nó vẫn có ý nghĩa Bởi hệ thống kí hiệu tạo ra huyền thoại, được cài đặt trong các cảnh phim, là điều kiện cho sự sản sinh và nối tiếp những kì vọng xuyên suốt quá trình tiếp nhận.

Hiện tượng cải biên và huyền thoại trong đời sống là hai đối tượng thú vị xứng đáng nhận được sự quan tâm và khai thác nhiều hơn Thông qua chương 1, chúng tôi đã trình bày hệ thống lí luận nhằm tiếp cận một cách ngắn gọn, sáng rõ và khách quan sự tồn tại cũng như mối liên hệ tác động khả dĩ của chúng trong các văn bản văn hóa của đời sống con người: Cải biên là gì và tính chất ra sao? Huyền thoại là gì và hoạt động như thế nào? Cơ chế tái hiện huyền thoại và tác dụng của việc tái hiện này trong tác phẩm điện ảnh cải biên?

Trong chương 2, người viết sẽ tiến hành phân tích cơ chế cải biên của ba bộ phim điện ảnh và đọc huyền thoại người nữ được tái hiện thông qua thao tác cải biên.

PHƯƠNG THỨC CẢI BIÊN CỦA BA BỘ PHIM ĐIỆN ẢNH ĐÈN LỒNG ĐỎ TREO CAO; XUÂN, HẠ, THU, ĐÔNG…RỒI LẠI XUÂN; VÀ TÔI THẤY HOA VÀNG TRÊN CỎ XANH

HUYỀN THOẠI NGƯỜI NỮ TRONG BA PHIM ĐIỆN ẢNH ĐÈN LỒNG ĐỎ TREO CAO; XUÂN, HẠ, THU, ĐÔNG…RỒI LẠI XUÂN VÀ TÔI THẤY HOA VÀNG TRÊN CỎ XANH

Ngày đăng: 31/03/2022, 17:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Thích Trí Thủ (2010), Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh. Thư viện Hoa Sen, https://thuvienhoasen.org/a16469/bat-nha-ba-la-mat-da-tam-kinh, truy cập ngày 2/6/2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh
Tác giả: Thích Trí Thủ
Năm: 2010
12. Phan Bích Thủy (2012), Từ tác phẩm văn học đến tác phẩm điện ảnh: khảo sát việc chuyển thể tác phẩm truyện văn học thành phim truyện điện ảnh trong lịch sử văn học và điện ảnh Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ tác phẩm văn học đến tác phẩm điện ảnh: khảo sátviệc chuyển thể tác phẩm truyện văn học thành phim truyện điện ảnh trong lịch sửvăn học và điện ảnh Việt Nam
Tác giả: Phan Bích Thủy
Năm: 2012
13. Phan Bích Thủy (2011), Phim Đừng đốt - Câu chuyện huyền thoại về cuốn nhật kí Đặng Thùy Trâm, Tạp chí Khoa học Trường ĐH Sư phạm TP HCM, số 32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phim Đừng đốt - Câu chuyện huyền thoại về cuốn nhậtkí Đặng Thùy Trâm
Tác giả: Phan Bích Thủy
Năm: 2011
14. Thư viện Hoa Sen (2010), Giáo lí căn bản của đạo Phật là gì?, https://thuvienhoasen.org/a7268/9-giao-ly-can-ban-cua-dao-phat-la-gi, truy cập ngày 2/6/202015. Thư viện Hoa sen, Tam độc: Tham, sân, si Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo lí căn bản của đạo Phật là gì?",https://thuvienhoasen.org/a7268/9-giao-ly-can-ban-cua-dao-phat-la-gi, truy cậpngày 2/6/202015. Thư viện Hoa sen
Tác giả: Thư viện Hoa Sen
Năm: 2010
17. Phan Thu Vân (2017), Chiến tranh Việt Nam và tinh thần hòa giải trong Forrest Gump - Từ văn học đến điện ảnh, Tạp chí Khoa học Trường ĐH Sư phạm TP HCM, Khoa học xã hội và nhân văn, tập 14, số 8Tài liệu Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến tranh Việt Nam và tinh thần hòa giải trongForrest Gump - Từ văn học đến điện ảnh
Tác giả: Phan Thu Vân
Năm: 2017
18. Luc Herman & Bart Vervacck (2005), Handbook of Narrative Analysis, University of Nebraska Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Handbook of Narrative Analysis
Tác giả: Luc Herman & Bart Vervacck
Năm: 2005
20. Thomas Leitch (2009), Film Adaptation and its Discontents - From Gone with the Wind to The Passion of the Christ, Routledge Sách, tạp chí
Tiêu đề: Film Adaptation and its Discontents - From Gone withthe Wind to The Passion of the Christ
Tác giả: Thomas Leitch
Năm: 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w