1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội ở các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa

112 709 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội ở các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế chính trị
Thể loại Luận văn
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 811,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội ở các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa. Tham khảo luận văn - đề án ''luận văn nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội ở các huyện...

Trang 1

Luận văn Nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội ở các huyện miền

núi tỉnh Thanh Húa

Trang 2

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thực hiện đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng

và lãnh đạo, từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phấn đấu đến năm 2020 đất nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp

Để thực hiện mục tiêu trên, con người là một nhân tố hàng đầu, nhân tố quan trọng nhất, quyết định nhất; con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng nói chung và của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nói riêng

Hiện nay, chúng ta đang tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đòi hỏi bức xúc nhu cầu nguồn nhân lực - một lực lượng đông đảo có đủ trình độ chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng nghề nghiệp, có phẩm chất đạo đức, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nền kinh tế thị trường trong xu thế cạnh tranh và hội nhập

Nguồn nhân lực Thanh Hóa nói chung và của các huyện miền núi của tỉnh nói riêng đang có nhiều bất cập Bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, hiện tại nguồn nhân lực của Thanh Hóa, đặc biệt là của khu vực miền núi đang ở trong tình trạng thừa lao động thủ công, lao động không có chuyên môn kỹ thuật, nhưng lại thiếu lao động có trình độ

tổ chức sản xuất kinh doanh, thiếu nghiêm trọng thợ kỹ thuật trong tất cả các ngành, nghề và trong các thành phần kinh tế Một trong những nguyên nhân chính là đào tạo nguồn nhân lực của chúng ta chưa đáp ứng được cả về số lượng, chất lượng nguồn lao động; chưa đáp ứng được những đòi hỏi của nền kinh tế và sự phát triển nhanh chóng của khoa học, công nghệ mặc dù những năm qua Đảng và Nhà nước đã có rất nhiều cố gắng trong công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực thông qua rất nhiều chương trình ở nhiều cấp độ khác nhau

Trang 3

Đối với khu vực miền núi Thanh Hóa, lao động nông thôn chiếm tới 80% lực lượng lao động xã hội nhưng còn bất cập nhiều mặt, nhất là về cơ cấu và trình độ tay nghề Do đó, việc đào tạo, bồi dưỡng cho các đối tượng này trở nên cấp bách nhằm nâng cao trình độ tay nghề, bổ sung thêm kiến thức mới về khoa học kỹ thuật, giúp họ có được việc làm, nâng cao năng suất lao động, cải thiện cuộc sống, góp phần xãa đói giảm nghèo một cách bền vững

Trong ba yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh, lao động được coi là yếu tố quan trọng nhất Chất lượng lao động góp phần đáng kể để nâng cao năng lực cạnh tranh, thực hiện đúng chủ trương của Đảng, Nhà nước là xãa đói, giảm nghèo, từng bước thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn, trong đó có nông nghiệp, nông thôn miền núi và chủ trương chủ động hội nhập kinh tế quốc tế

Nhận thức được vai trò quan trọng đó, để khu vực miền núi Thanh Hóa

có cơ hội phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc

sống, tôi chọn vấn đề: “Nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội ở các huyện miền núi tỉnh Thanh Húa” làm đề tài luận văn Thạc sỹ kinh tế,

chuyên ngành Kinh tế chính trị Tác giả mong muốn vấn đề nghiên cứu được hoàn thiện và có tính khả thi cao không những đối với phát triển kinh tế - xã hội miền núi của tỉnh Thanh Hóa mà còn là của các huyện miền núi thuộc khu vực Tây Bắc

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Vấn đề nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội ở các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa chưa có một công trình nào nghiên cứu độc lập Tuy vậy, cũng có một số công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề này như:

Trang 4

- Bùi Sỹ Lợi: “Phát triển nguồn nhân lực của Thanh Hóa đến năm

2010 theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa” Nhà xuất bản Chính trị

quốc gia, HN 2002

- Phạm Yên Trường “Đào tạo công nhân kỹ thuật của tỉnh Thanh Hóa

đến năm 2010 theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa” Luận văn Thạc sỹ

kinh tế, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội (2006)

Các công trình trên đã đề cập một số vấn đề lý luận và thực tiễn đối với nguồn nhân lực như đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực trên phạm vi cả nước, hoặc trong phạm vi cả tỉnh Thanh Hóa Tuy nhiên, chưa có một công trình nào nghiên cứu về nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội của các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa Vì vậy đề tài này là rất cần thiết và có ý nghĩa lý luận, thực tiễn đối với các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn hiện nay

3 Mục đích của luận văn

3.1 Mục đích

Làm rõ một số vấn đề về lý luận nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế -

xã hội để làm cơ sở phân tích đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp về nguồn nhân lực ở các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa nhằm phát triển kinh tế

- xã hội theo 5 chương trình phát triển lớn mà Đại hội đại biểu tỉnh đảng bộ Thanh Hóa lần thứ XVI đã đề ra

3.2 Nhiệm vụ

- Làm rõ một số vấn đề lý luận về nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế

- xã hội và sự cần thiết của chất lượng nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Thanh Hóa nói chung và của các huyện miền núi của tỉnh nói riêng

- Phân tích đánh giá thực trạng nguồn nhân lực của các huyện miền núi Thanh Hóa hiện nay

Trang 5

- Đề xuất một số giải pháp về phát triển, sử dụng nguồn nhân lực thông qua đào tạo nghề cho người lao động để phát triển kinh tế - xã hội các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu các quan hệ kinh tế liên quan đến phát triển nguồn nhân lực thông qua đào tạo nghề cho phát triển kinh tế - xã hội của các huyện miền núi Thanh Hóa

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Nguồn nhân lực bao hàm rất nhiều nội dung, luận văn

chỉ tập trung nghiên cứu lĩnh vực đào tạo nghề cho người lao động của 11 huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa để nhằm phát triển nguồn nhân lực nói chung

và đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ tay nghề, kỹ năng nghề nghiệp đáp ứng cho phát triển kinh tế - xã hội ở các huyện miền núi của tỉnh

- Về thời gian: Từ năm 2003 đến 2007

5 Phương pháp nghiên cứu

- Vận dụng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam về đào tạo nghề cho người lao động

- Sử dụng phương pháp biện chứng mác xít, kết hợp lôgíc và lịch sử, kết hợp lý luận với thực tiễn; đồng thời khảo sát thực tế, thống kê, phân tích tổng hợp, so sánh, chuyên gia …

6 Đóng góp của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn là tài liệu tham khảo cho việc hoạch định chính sách và chỉ đạo hoạt động thực tiễn về đào tạo phát triển nguồn nhân lực thông qua đào tạo nghề trong giai đoạn hiện nay ở các huyện miền

Trang 6

núi tỉnh Thanh Hóa, cũng như các huyện của các tỉnh khác thuộc vùng Tây Bắc nước ta

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 3 chương, 7 tiết

Chương 1 Một số vấn đề lý luận và thực tiễn

về nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội

1.1 Nguồn nhân lực, các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế-xã hội

1.1.1 Nguồn nhân lực và những yêu cầu về nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế xã hội

1.1.1.1 Khái niệm về nguồn nhân lực

Hiện nay trên thế giới có khá nhiều công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực Tuy nhiên, khái niệm về nguồn nhân lực còn nhiều bàn cãi, chưa có một khái niệm thống nhất Sau đây là một số quan điểm về nguồn nhân lực

- Theo thuật ngữ trong lĩnh vực lao động của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội: “Nguồn nhân lực là tiềm năng về lao động trong một thời kỳ xác định của một quốc gia, suy rộng ra có thể được xác định trên một địa phương, một ngành hay một vùng Đây là nguồn lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế - xã hội” Theo quan điểm này, nguồn nhân lực được xác định bằng số lượng và chất lượng của bộ phận dân số có thể tham gia vào hoạt động kinh tế - xã hội

Trang 7

- Theo quan điểm của Tổ chức quốc tế về lao động (ILO) và quan niệm của các thành viên của tổ chức này thì lực lượng lao động là dân số trong độ tuổi lao động thực tế có việc làm và những người thất nghiệp Trên thực tế, việc quy định độ tuổi lao động giữa các quốc gia có khác nhau, có nhiều nước lấy độ tuổi tối thiểu là 15, có nước là 18, còn tối đa quy định là 60, có nước là

65, thậm chí có nước là 70, 75 tuổi tùy thuộc vào tình hình phát triển kinh tế -

xã hội của mỗi nước

- Theo Giáo trình Kinh tế phát triển - Trường Đại học Kinh tế quốc

dân, nguồn nhân lực là một bộ phận của dân số trong độ tuổi theo quy định của luật pháp có khả năng tham gia lao động Theo quan điểm này, nguồn nhân lực được biểu hiện trên hai mặt: về số lượng là những người trong độ tuổi lao động và thời gian làm việc có thể huy động được của họ ở nước ta, hiện nay Bộ luật Lao động quy định là đủ 15 đến 60 tuổi (đối với nam) và đủ

15 đến 55 tuổi (đối với nữ); về chất lượng nguồn nhân lực, đó là trình độ

chuyên môn và sức khỏe của người lao động Tuy nhiên theo tác giả, nguồn

nhân lực theo quan điểm này còn thiếu một bộ phận dân số trên độ tuổi lao động nhưng trên thực tế vẫn tham gia các hoạt động kinh tế - xã hội

- Theo lý luận Mác - Lênin về con người, thì nguồn nhân lực được xem xét như là một thành tố cơ bản, tất yếu của quá trình sản xuất, là phương tiện

để phát triển kinh tế - xã hội Nguồn nhân lực được coi như một nhu cầu tất yếu cùng với các nguồn lực khác cho sự phát triển đất nước Đầu tư cho con người càng nhiều, càng có hiệu quả và thu hồi vốn khá cao so với đầu tư vào các lĩnh vực khác, cho nên hầu hết các nước trên thế giới đều chú trọng áp dụng phương pháp này để phát triển kinh tế - xã hội

- Theo Giáo trình Kinh tế phát triển - Học viện Chính trị - Hành chính

quốc gia Hồ Chí Minh (Viện Kinh tế phát triển) thì nguồn nhân lực của một quốc gia là tổng số những người trong độ tuổi lao động, đủ các điều kiện về

Trang 8

tinh thần, thể chất đang tham gia lao động hoặc đang tích cực tìm kiếm việc làm Như vậy số lượng nguồn nhân lực vừa phụ thuộc vào khả năng tham gia lao động của từng cá nhân, vừa phụ thuộc vào độ tuổi lao động của từng quốc gia

- Theo quan điểm của các nhà khoa học Việt Nam, nguồn nhân lực được hiểu là dân số và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, trí tuệ và sức khỏe, năng lực và phẩm chất, thái độ và phong cách làm việc Theo đó, nguồn nhân lực là tổng thể sức dự trữ, những tiềm năng, những lực lượng thể hiện sức mạnh và sự tác động của con người trong việc cải tạo

tự nhiên, cải tạo xã hội

- Theo Giáo trình Kinh tế lao động của Trường Đại học Kinh tế quốc

dân, nguồn nhân lực là nguồn lực về con người và được nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh Trước hết với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, bao gồm toàn bộ dân cư có cơ thể phát triển bình thường (không bị khiếm khuyết hoặc dị tật bẩm sinh) Theo quan điểm này, nguồn nhân lực với

tư cách là một yếu tố của sự phát triển kinh tế - xã hội, là khả năng lao động của xã hội được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động Với cách hiểu này, nguồn nhân lực tương đương với nguồn lao động Khái niệm này có thể hiểu là tổng hợp cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu

tố về vật chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động Theo đó, nguồn nhân lực bao gồm những người từ giới hạn dưới độ tuổi lao động trở lên (Việt Nam là tròn 15 tuổi), điều này có liên quan đến lao động trẻ em Về nguyên tắc, trẻ em chỉ được quyền làm việc với tư cách là tập dượt, rèn luyện

để phát triển thể chất, nhân cách và tinh thần, chưa được phép tham gia lao động với ý nghĩa là một thành tố của lực lượng sản xuất đối với xã hội và

Trang 9

chưa phải là nguồn tăng thu nhập chính đối với gia đình Nếu để trẻ em phải lao động sớm, làm việc quá sức để được coi là nguồn thu nhập chính thì mục tiêu bảo vệ sức khỏe, giáo dục đào tạo … sẽ khó thực hiện được, làm kìm hãm sự phát triển nguồn nhân lực trong tương lai

Từ những quan niệm đã nêu trên có thể thấy rằng, nguồn nhân lực được

đề cập là tổng thể sức mạnh thể lực, trí lực, cùng với các đặc trưng về chất lượng lao động như kinh nghiệm sống, nhân cách, đạo đức, lý tưởng, chất lượng văn hóa, năng lực chuyên môn đang và sẽ được vận dụng vào cuộc sống lao động sản xuất ra của cải vật chất và dịch vụ để phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội Như vậy, theo tác giả việc sử dụng khái niệm nguồn nhân lực của một quốc gia hay một vùng, một khu vực, một địa phương là tổng hợp những tiềm năng lao động của con người có trong một thời điểm xác định Tiềm năng đó bao gồm trí lực và tâm lực như đạo đức, lối sống, nhân cách và truyền thống lịch sử, văn hóa dân tộc của một bộ phận dân

số trong độ tuổi quy định đang có việc làm và chưa có việc làm nhưng có khả năng làm việc đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội Con người đóng vai trò chủ động, là chủ thể sáng tạo và chi phối toàn bộ quá trình đó hướng tới mục tiêu đã đề ra Nguồn nhân lực để phát triển kinh tế - xã hội là tổng hợp các nguồn nhân lực của các cá nhân, cho nên khái niệm nguồn nhân lực bao gồm các chỉ tiêu phản ánh số lượng, cơ cấu nguồn lao động và các chỉ tiêu phản ánh mặt chất về trình độ chuyên môn và phẩm chất đạo đức nhân cách Số lượng nguồn nhân lực nước ta được biểu hiện bằng số người từ đủ

15 tuổi trở lên có khả năng lao động và những người trên độ tuổi lao động đang tham gia hoạt động kinh tế Chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện bằng các chỉ tiêu về tình trạng phát triển thể lực, trình độ học vấn, kiến thức, tay nghề, tác phong nghề nghiệp; cơ cấu tuổi tác, giới tính, thiên hướng ngành nghề, phân bố theo lãnh thổ, khu vực thành thị - nông thôn

Trang 10

Hiện nay, đối với mỗi quốc gia sự phát triển của xã hội đều được quy định bởi những lợi thế của nguồn nhân lực với hàm lượng trí tuệ ngày càng tăng Song, sức mạnh trí tuệ của con người chỉ có thể phát huy được lợi thế của nó trong mối quan hệ với sự phát triển kinh tế - xã hội Phát triển con người có ý nghĩa là đầu tư vào phát triển tiềm năng của con người như giáo dục, đào tạo kỹ năng để con người có thể làm việc một cách sáng tạo, có năng suất cao và một hệ thống chăm sóc sức khỏe toàn diện cho con người

Việc phát triển nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, ngoài việc quan tâm thỏa đáng tới việc nâng cao sức khỏe và mặt bằng dân trí còn phải đặc biệt quan tâm tới việc bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao để làm chủ khoa học kỹ thuật và công nghệ, đồng thời phải coi trọng việc xây dựng đạo đức, nhân cách, lý tưởng cho con người Sự phát triển nhân cách, đạo đức đem lại cho con người khả năng thực hiện tốt các chức năng xã hội của nó, nâng cao năng lực sáng tạo của họ trong hoạt động thực tiễn

Kế thừa những yếu tố hợp lý trong các quan điểm trên, tác giả cho

rằng: Nguồn nhân lực là tổng hòa toàn bộ năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một bộ phận dân cư đang trong độ tuổi lao động theo quy định của Hiến pháp mỗi nước và được họ đang và sẽ đem ra vận dụng để sản xuất ra hàng hóa, dịch vụ cho xã hội Năng lực thể chất bao gồm các yếu tố về sức

khỏe, độ bền, sức dẻo dai, chiều cao, cân nặng, phát triển cân đối tinh thần và thể chất Năng lực tinh thần được biểu hiện ở trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng nghề nghiệp của lực lượng lao động xã hội Vì vậy, nguồn nhân lực trở thành nhân tố quan trọng hàng đầu trong các nhân tố quyết định hiệu quả của nền sản xuất Chất lượng lao động được biểu hiện bằng trình độ dân trí gồm trình độ văn hóa, trí tuệ, khả năng tư duy, khả năng tích lũy kinh nghiệm văn hóa dân tộc và thế giới; trình độ tay nghề; về phong

Trang 11

cách lao động của con người gồm ý thức kỷ luật lao động, tinh thần trách nhiệm với công việc, lòng yêu nước, yêu lao động, yêu nhân loại, yêu người lao động, lao động cần cù, có kỹ thuật, có năng xuất cao Đây là nguồn nội lực cực kỳ quan trọng của một quốc gia để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; cho sự phát triển kinh tế - xã hội Nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội là đội ngũ những người lao động biết sử dụng tốt, có hiệu quả các công cụ lao động, các phương tiện hiện đại và đó là đội ngũ những người lao động biết làm chủ và sáng tạo khoa học - công nghệ Do đó, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực chính là tăng cường các yếu tố cấu thành và khả năng của năng lực thể chất và tinh thần đó trong toàn

bộ lực lượng lao động xã hội, đặc biệt là năng lực tinh thần, trí tuệ của nguồn nhân lực

1.1.1.2 Phát triển nguồn nhân lực, và các nhóm nhân tố tác động đến phát triển nguồn nhân lực

- Phát triển nguồn nhân lực:

Phát triển nguồn nhân lực là sự biến đổi về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực, biểu hiện qua các mặt cơ cấu, thể lực, kỹ năng, kiến thức và tinh thần cần thiết cho công việc của người lao động, qua đó mà tạo việc làm

ổn định, nâng cao địa vị kinh tế và xã hội của họ ở tầm vĩ mô, phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động nhằm tạo ra nguồn nhân lực có khả năng đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong mỗi giai đoạn phát triển cả

về quy mô, cơ cấu số lượng và chất lượng

Thực chất của quá trình phát triển nguồn nhân lực là việc tăng về số lượng và nâng cao về chất lượng nhân lực nhằm tạo ra quy mô và cơ cấu ngày càng phù hợp với nhu cầu về nhân lực phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế -

xã hội của một quốc gia, địa phương hay của một vùng lãnh thổ Số lượng và

Trang 12

chất lượng nguồn nhân lực luôn gắn bó với nhau và tác động qua lại với nhau

Số lượng là tăng nguồn lao động; chất lượng bao gồm sức khỏe, trình độ chuyên môn kỹ thuật và các phẩm chất cá nhân Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội bao gồm tất cả các lĩnh vực như nâng cao chất lượng dân số, giáo dục, đào tạo, nâng cao sức khỏe, dạy nghề, tạo việc làm, quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực Do đó để phát triển nguồn nhân lực, phải tiến hành đồng bộ các nội dung như đào tạo, dạy nghề, tái đào tạo, hỗ trợ vốn, công nghệ, tín dụng, tạo điều kiện cho thanh niên tiếp cận nhanh với công nghệ tin học, bảo trợ lao động nữ và vị thành niên, hỗ trợ cho lao động khuyết tật, tái hòa nhập cộng đồng cho những người

sa vào các tệ nạn xã hội sau khi được giáo dục cải tạo, phát triển mạnh đội ngũ lao động có trình độ kỹ thuật cao Với cơ cấu và thực trạng dân số lao động của nước ta hiện nay cùng với nhu cầu phát triển của thị trường sức lao động, trong những năm tới chúng ta cần và phải phát triển nguồn nhân lực một cách toàn diện theo các nội dung trên

Xét ở góc độ lao động- xã hội, phát triển nguồn nhân lực phải gắn với giải quyết việc làm, đào tạo nghề để có nguồn lao động với trình độ kỹ thuật nhất định phải đi đôi với tạo việc làm, có thu nhập ổn định phù hợp với trình

độ đào tạo và khả năng cống hiến của họ; phải sử dụng, quản lý có hiệu quả lực lượng lao động xã hội là một chủ trương lớn và quan trọng mang tầm chiến lược cho cả trước mắt và lâu dài

Từ những phân tích trên, phát triển nguồn nhân lực chính là quá trình biến đổi nhằm phát huy, khơi dậy những tiềm năng của con người; là phát triển nhân cách và cấu trúc nhân cách; phát triển cả năng lực vật chất và năng lực tinh thần, tạo dựng và ngày càng nâng cao cả về đạo đức, tay nghề, hoàn thiện từng bước cao hơn cả về tinh thần và hành vi của mỗi con người trong phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Như vậy, phát triển nguồn nhân

Trang 13

lực bao gồm những nội dung cơ bản là phát triển quy mô và cơ cấu dân số hợp lý; đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội

Nghị quyết Trung ương lần thứ bảy (khóa VII) đề ra chủ trương phát triển nguồn nhân lực đồng bộ với công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đây là một chủ trương lớn rất quan trọng, đánh dấu bước chuyển giai đoạn của nền kinh tế - xã hội nước ta: giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở góc độ lao động - xã hội, phát triển nguồn nhân lực phải gắn với việc làm, sử dụng và quản lý có hiệu quả lực lượng lao động xã hội là một chủ trương lớn và quan trọng có tầm chiến lược trước mắt và lâu dài

- Những chỉ tiêu đánh giá chất lượng nguồn nhân lực:

Chất lượng nguồn nhân lực chính là động lực trực tiếp cho sự phát triển kinh tế - xã hội Thông qua chất lượng nguồn nhân lực thể hiện rõ trình độ phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia, chất lượng cuộc sống của dân cư hay mức độ văn minh của một xã hội Chất lượng nguồn lao động chính là trình độ khả năng của năng lực thể chất và năng lực tinh thần cấu thành nên lực lượng lao động xã hội Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực chính là sự tăng cường sức mạnh, kỹ năng hoạt động sáng tạo của năng lực thể chất và năng lực tinh thần của lực lượng lao động lên đến trình độ nhất định nhằm hoàn thành nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia trong một giai đoạn phát triển nhất định

Chất lượng nguồn nhân lực được biểu hiện ở hiệu quả của quá trình lao động do lực lượng lao động đó thực hiện Trong quá trình lao động đó, con người thực hiện hai chức năng chủ yếu: một mặt thực hiện những hoạt động bản năng nhờ những kỹ năng, kỹ xảo đã tích lũy được hoặc đã học tập được qua đào tạo để sản xuất ra những sản phẩm theo khuôn mẫu định trước; mặt

Trang 14

khác, con người đồng thời thực hiện chức năng sáng tạo ra các sản phẩm mới, công nghệ mới không theo khuôn mẫu định trước

Chất lượng nguồn nhân lực bao hàm nhiều yếu tố và được đánh giá trên các tiêu trí: trí lực, thể lực, chỉ số HDI, phẩm chất đạo đức, nhân cách, truyền thống văn hóa

+ Năng lực tinh thần của nguồn nhân lực (trí lực)

Trí lực hay năng lực tinh thần của nguồn nhân lực là tiêu trí quan trọng nhất trong các tiêu chí đánh giá về chất lượng nguồn nhân lực Trí lực của nguồn nhân lực biểu hiện ở trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật,

kỹ năng nghề nghiệp của lực lượng lao động xã hội Trình độ của nguồn nhân lực được coi là quan trọng nhất hiện nay, đó là những năng lực sáng tạo, khả năng áp dụng thành tựu khoa học để sáng chế ra những kỹ thuật, công nghệ tiên tiến hiện đại, có khả năng tiếp thu và xử lý thông tin kịp thời Trí lực của nguồn nhân lực còn thể hiện ở kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo tức là phải có khả năng biến tri thức thành công nghệ và kỹ năng lao động nghề nghiệp, biết nghiên cứu, thiết kế, sáng tạo, ứng dụng và phát triển, đào tạo, bồi dưỡng và lựa chọn các giải pháp hợp lý để phát triển kinh thế - xã hội Trí lực của nguồn nhân lực được đánh giá thông qua hai chỉ tiêu cơ bản là

* Trình độ học vấn: Là chỉ tiêu đầu tiên đánh giá trí lực của nguồn

nhân lực, bởi lẽ nó thể hiện sự hiểu biết của người lao động về những kiến thức tự nhiên, xã hội Trình độ học vấn được cung cấp thông qua hệ thống giáo dục đào tạo ở nhiều hình thức khác nhau, qua quá trình tự học suốt đời của người lao động Nói đến trình độ học vấn của dân cư là nói đến trình độ dân trí của quốc gia Thông thường trình độ học vấn được thể hiện qua các chỉ

số như: số lượng người biết chữ và mù chữ; tỷ lệ đi học chung theo các cấp

Trang 15

học, tỷ lệ đi học đúng tuổi …những tiêu chí này phản ảnh tương đối chính xác trình độ học vấn của nguồn nhân lực nước đó

* Trình độ chuyên môn kỹ thuật: Là sự hiểu biết, là kiến thức, khả năng

thực hành về một chuyên môn nào đó, như đảm đương một chức vụ nào đó trong quản lý, trong kinh doanh hoặc trong các hoạt động nghề nghiệp Trình

độ chuyên môn có được nhờ đào tạo ở các trường học chuyên ngành trong hệ thống giáo dục quốc dân như: đào tạo nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học và sau đại học Trình độ chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân lực dùng để chỉ những người được đào tạo ở các trường kỹ thuật, được trang

bị kỹ năng thực hành về một công việc nào đó và được thể hiện thông qua các chỉ tiêu so sánh như: số lao động được đào tạo và lao động phổ thông, số có bằng kỹ thuật và không có bằng kỹ thuật, trình độ tay nghề được đánh giá qua bậc thợ v.v…

Theo thống kê điều tra lao động - việc làm hàng năm, lực lượng lao động có chuyên môn kỹ thuật bao gồm: những người đã tốt nghiệp các trường đào tạo từ công nhân kỹ thuật trở lên Trong tổng số lao động có chuyên môn

kỹ thuật, những người có bằng nghề trở lên là bộ phận chủ yếu quyết định chất lượng của lực lượng lao động, là vốn nhân lực để phát huy khả năng sáng tạo của con người góp phần tăng năng suất lao động xã hội, thúc đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đối với Việt Nam, quá trình phát triển kinh tế - xã hội được thông qua con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn, do đó việc chuẩn bị nguồn nhân lực phải nhằm đáp ứng yêu cầu của cả hai quá trình là tiếp cận nền kinh

tế tri thức và tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Cơ cấu chất lượng nguồn lao động của Việt Nam trong những năm qua được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 1.1: Cơ cấu chất lượng lao động Việt Nam thời kỳ 1997-2005

Trang 16

Nguồn: Tổng hợp từ niên giám thống kê Việt Nam

Ngoài bộ phận lực lượng lao động có chuyên môn kỹ thuật đang tham gia hoạt động kinh tế, chất lượng nguồn nhân lực còn phụ thuộc vào quy mô,

cơ cấu của đội ngũ học sinh, sinh viên đang được đào tạo trong các trường trung cấp, cao đẳng, đại học và các cơ sở đào tạo nghề

+ Năng lực thể chất của nguồn nhân lực

Là nói đến tình trạng sức khỏe của nguồn nhân lực, bao gồm nhiều yếu

tố cả về thể chất lẫn tinh thần và đảm bảo được sự hài hòa giữa bên trong và bên ngoài Năng lực bên trong là khả năng trí tuệ mạnh mẽ, sáng tạo tiềm ẩn trong lực lượng lao động; năng lực bên ngoài là tình trạng sức khỏe của nguồn nhân lực Thể lực tốt thể hiện ở sự nhanh nhẹn, tháo vát, bền bỉ, dẻo dai của

cơ bắp trong công việc Thể lực còn là điều kiện quan trọng để phát triển trí lực Sức khỏe và dinh dưỡng là yếu tố quan trọng tác động đến chất lượng dân

số và nguồn nhân lực Mối quan hệ giữa sức khỏe và phát triển là mối quan hệ hai chiều, bản thân sự phát triển kinh tế có tác động cải thiện điều kiện sức khỏe và ngược lại, sức khỏe và dinh dưỡng được cải thiện nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội với trình độ ngày càng cao, đòi hỏi ngày càng lớn về thể lực, bởi nếu không có thể lực và

Trang 17

tinh thần tốt sẽ khó có thể chịu đựng áp lực căng thẳng của công việc, của nhịp độ cuộc sống, và cũng không thể tìm tòi, sáng tạo ra các tri thức mới và vật hóa nó thành sản phẩm có ích cho toàn xã hội

+ Chỉ số phát triển con người (HDI)

Nếu quan niệm nguồn nhân lực là tổng thể các năng lực lao động trong nền kinh tế của một quốc gia, tức là lực lượng lao động của một quốc gia, thì khi xét chất lượng của nguồn nhân lực, tức là xét một bộ phận trực tiếp hoạt động sáng tạo ra của cải vật chất cho xã hội không thể tách rời nó khỏi những điều kiện phát triển con người trong quốc gia đó Hiện nay, Liên hợp quốc đã đưa ra chỉ số HDI nhằm đánh giá trình độ phát triển con người của các nước HDI là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh các mặt kinh tế, xã hội, chính trị, môi trường cũng như sự công bằng trong thụ hưởng các phúc lợi xã hội Chỉ số HDI được tính căn cứ vào ba chỉ tiêu: thu nhập bình quân trên đầu người (GDP/người); trình độ dân trí; tuổi thọ bình quân Việt Nam năm 2002 có chỉ

số HDI xếp thứ 100/174 nước, trong khi GDP/đầu người xếp thứ 154/174 Qua đó, chỉ số HDI nói lên chất lượng cuộc sống, song chưa nói lên trình độ phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia

+Phẩm chất đạo đức và trình độ văn hóa của nguồn nhân lực

Chất lượng nguồn nhân lực còn được đánh giá thể hiện qua những yếu

tố vô hình không thể định lượng được bằng những con số cụ thể như: phẩm chất đạo đức, văn hóa, truyền thống dân tộc, nhưng nó lại là yếu tố rất quan trọng quy định bản tính của nguồn nhân lực và đóng vai trò quyết định sự phát triển bền vững của một quốc gia Đây là yếu tố xã hội tác động trực tiếp đến sự hình thành tính cách và phẩm chất riêng của người lao động ở mỗi nước Đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế thị trường và xu thế hội nhập, toàn cầu hóa về kinh tế, bên cạnh những yếu tố tích cực như: kích thích người lao

Trang 18

động tham gia quá trình đào tạo và tự đào tạo để thích ứng được với yêu cầu của thị trường lao động phát triển, đẩy mạnh và đa dạng hóa các hoạt động tìm kiếm việc làm, tăng nhanh thu nhập từ việc làm cũng xuất hiện không ít các yếu tố tiêu cực làm tha hóa lối sống, đạo đức, nhân cách vốn rất tốt đẹp của mỗi dân tộc Mặt trái của nền kinh kế thị trường làm nảy sinh các tệ nạn

xã hội đã đang và sẽ làm cho không ít người, nhất là lao động trẻ đã được đào tạo quên dần đi nghĩa vụ và trách nhiệm của mình đối với dân tộc và đất nước mình Do vậy, yếu tố đạo đức vă hóa truyền thống dân tộc ngày càng có vai trò quan trọng tạo nên những con người vừa có trình độ tay nghề cao, kỹ năng giỏi, vừa có tâm hồn trong sáng lành mạnh Gần đây, khi đề cập đến nguồn nhân lực người ta thường nhấn mạnh tới các phẩm chất văn hóa, đạo đức và truyền thống kinh doanh như một nhân tố cấu thành khả năng đặc thù của nguồn nhân lực của một quốc gia Vì vậy, việc xây dựng truyền thống văn hóa trong sản xuất kinh doanh của nước ta, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm

đà bản sắc dân tộc là những nội dung cơ bản nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa để phát triển kinh tế - xã hội đất nước

- Những nhân tố ảnh hướng đến phát triển nguồn nhân lực:

Nguồn nhân lực là bộ phận chủ yếu của dân số, lao động của con người

là yếu tố quan trọng của quá trình sản xuất, con người là động lực quyết định cho sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia Phát triển nguồn nhân lực là những biến đổi về số lượng và chất lượng từ trình độ chất lượng này lên trình

độ chất lượng khác cao hơn, toàn diện hơn Do đó, các nhân tố ảnh hưởng đến

sự phát triển nguồn nhân lực bao gồm các yếu tố về điều kiện tự nhiên môi trường, kinh tế - xã hội, hệ thống chính sách ở mỗi giai đoạn phát triển

* Nhóm nhân tố về quy mô, cơ cấu dân số, tốc độ tăng dân số

Trang 19

Quy mô dân số được hiểu khái quát là tổng số dân của một vùng, một quốc gia vào những thời điểm nhất định Quy mô dân số rất cần thiết trong nghiên cứu, phân tích đánh giá trình độ phát triển - kinh tế cũng như hoạch định chiến lược phát triển ở phạm vi tỉnh, thành phố, vùng lãnh thổ Quy mô dân số lớn, trong điều kiện nền kinh tế còn chậm phát triển như Việt Nam đang đặt ra những vấn đề kinh tế - xã hội hết sức gay gắt cần giải quyết, trước mắt cũng như lâu dài, đặc biệt là vấn đề giải quyết việc làm và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Theo tác giả, một quốc gia hay một vùng lãnh thổ nếu muốn nền kinh tế phát triển cân đối với tốc độ cao phải có quy mô dân số thích hợp và có sự phân bố dân cư hợp lý Quy mô đó phải phù hợp với điều kiện tự nhiên và trình độ phát triển kinh tế - xã hội cả đất nước

Các nhà dân số học cho rằng, một cơ cấu thích hợp đảm bảo cho dân số

ổn định là:

+ Tỷ lệ trẻ em dưới tuổi lao động là: 26  28%

+ Tỷ lệ người trong tuổi lao động là: 60  64%

+ Tỷ lệ người già trên tuổi lao động là: 10 12%

Gia tăng dân số là cơ sở để hình thành và phát triển nguồn nhân lực Khi dân số tăng lên thì lực lượng lao động cũng tăng với tốc độ cao hơn tốc

độ tăng dân số Nguồn tài nguyên như đất đai, mặt nước thì lại có hạn nên

số lao động trên một đơn vị diện tích đất đai ngày càng tăng lên, tổng sản phẩm tăng nhưng sản phẩm bình quân đầu người sẽ giảm nếu không có sự phát triển nhanh hơn về kinh tế Khi dân số tăng nhanh sẽ làm cho chất lượng vốn con người giảm xuống hoặc ở mức thấp và hầu như không cải thiện được Điều này nó liên quan đến việc cung cấp không đầy đủ dinh dưỡng và chăm sóc y tế cho trẻ em và cả người lao động, trình độ học vấn thấp và phần lớn không được đào tạo Năng suất lao động không cao là nguyên nhân trực tiếp

Trang 20

làm cho tổng sản phẩm quốc dân tăng chậm Do đó, tăng nhanh dân số ở các nước nghèo là bất lợi cho tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội

Tăng trưởng dân số tác động trực tiếp tới số lượng và chất lượng nguồn nhân lực, mức tăng dân số nhanh, thì nguồn lao động trong tương lai của xã hội cũng tăng nhanh, từ đó một loạt các vấn đề nảy sinh như: tăng áp lực việc làm và nạn thất nghiệp, làm xuất hiện các vấn đề kinh tế xã hội, làm giảm tốc

độ tăng thu nhập GDP bình quân/đầu người Vì vậy, dân số luôn là vấn đề thu hút sự quan tâm chu ý của nhà nước và mọi tầng lớp trong xã hội

Sự gia tăng dân số sẽ tăng áp lực việc làm, bởi hàng năm số người đến tuổi lao động gia tăng đòi hỏi phải giải quyết việc làm cho họ Thông thường, các quốc gia khó có thể giải quyết tốt việc làm cho người lao động trong một thời gian ngắn, nhất là đối với các quốc gia đang phát triển, vì muốn có việc làm phải có vốn, thị trường, có nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu cả phát triển sản xuất, trong khi tất cả các vấn đề trên, các quốc gia đang phát triển đều gặp khó khăn Ví dụ: ở Việt Nam giai đoạn 1985 - 1990 mức tăng dân số bình quân là 2,25%/năm, mức tăng nguồn lao động là 3,06%/năm, nhưng mức gia tăng việc làm chỉ 2,54%/năm Những năm 1990 - 1995 mức gia tăng dân số bình quân mỗi năm khoảng 1.200.000 người và hàng năm trung bình giải quyết được khoảng 1,1 triệu chỗ làm việc mới, như vậy vẫn còn khoảng 100.000 người chưa có việc làm, chưa kể số dôi dư hàng năm từ trước Nghĩa

là vẫn còn khoảng cách tương đối lớn giữa việc làm và lực lượng lao động dôi

dư hàng năm, cầu việc làm thấp hơn cung về nó, vì vậy nạn thất nghiệp vẫn tồn tại ở mức cao, nhất là đối với lao động không được đào tạo Ngoài ra còn phải kể đến số lao động bị mất việc làm trong các khu vực kinh tế khác do sức cạnh tranh kém

Trang 21

Tỷ lệ sinh đẻ cao ở nông thôn, nhất là nông thôn miền núi cũng là yếu

tố làm cho tỷ lệ người bước vào độ tuổi lao động hàng năm tăng, việc làm ít,

tỷ lệ sử dụng thời gian lao động nông thôn chưa cao gây nên tình trạng di chuyển dân cư từ nông thôn ra thành thị để tìm kiếm việc làm, mà chủ yếu là lao đọng trẻ, khỏe, có vốn kiến thức khá nhất của khu vực này Từ đó dẫn đến tình trạng thất nghiệp tăng ở khu vực thành thị, còn nông thôn lại thiếu hụt lao động trẻ, có khả năng tiếp thu những thành tựu khoa học kỹ thuật để đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

Như vậy, dân số tăng nhanh khi trình độ kỹ thuật và công nghệ của nền kinh tế còn thấp gây khó khăn cho việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Vấn đề đầu tư cho nâng cao năng lực và chất lượng của những người đang trong độ tuổi lao động và có việc làm gặp khó khăn Bởi cơ sở vật chất để nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo còn có nhiều hạn chế và bất cập, hơn nữa nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ loại bỏ một số lượng lớn lao động giản đơn, làm trầm trọng thêm tình trạng thất nghiệp Ngoài ra, nguồn nhân lực trẻ, khoẻ dồi dào và do sức ép về thất nghiệp gia tăng họ chấp nhận làm việc với mức tiền công thấp buộc các doanh nghiệp phải cho những người có kinh nghiệm, có tri thức lớn tuổi về nghỉ các chế độ sớm nhằm nhường việc làm cho lớp trẻ đã dẫn đến tình trạng vừa thiếu chất xám, vừa lãng phí một lượng lớn chất xám, không tận dụng hết được tiềm năng của nguồn nhân lực chất lượng cao cho phát triển kinh tế - xã hội

Mặt khác, dân số tăng nhanh, sản xuất của xã hội cũng phải chuyển theo hướng đáp ứng yêu cầu của việc tăng dân số Hay nói cách khác, chi tiêu cho mục đích tiêu dùng sẽ lớn hơn so với chi tiêu cho phát triển, đặc biệt là phát triển nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Ngoài ra, do không có việc làm cho lớp lao động trẻ sẽ làm các tệ nạn xã hội gia tăng, gánh nặng của nhà nước để giải quyết các vấn đề xã hội ngày càng lớn Do đó, tăng trưởng dân

Trang 22

số phù hợp với mức tăng trưởng của sức sản xuất xã hội, trong đó phù hợp với tăng chất lượng của nguồn nhân lực sẽ giúp cho kinh tế - xã hội phát triển ổn định Nói cách khác, phát triển dân số có kế hoạch sẽ góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

* Nhóm nhân tố về trình độ phát triển kinh tế - xã hội:

+ Trình độ phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia đóng vai trò quyết định đến trình độ phát triển nguồn nhân lực của nước đó:

Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực Chất lượng nguồn nhân lực không chỉ phản ảnh trình độ phát triển kinh tế, mà còn phản ảnh trình độ về phát triển xã hội, bởi nếu chất lượng nguồn nhân lực cao

sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ hơn với tư cách không chỉ là một nguồn lực của

sự phát triển, mà còn thể hiện mức độ văn minh của một xã hội nhất định Tại một quốc gia có trình độ phát triển kinh tế cao, thì ở đó nguồn nhân lực cũng

có chất lượng cao, kể cả trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, sức khỏe, tuổi thọ Thực tế cho thấy, khi nền kinh tế tăng trưởng và phát triển, đời sống chung của nhân dân ổn định ở mức cao sẽ có điều kiện thuận lợi và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Chất lượng nguồn nhân lực là động lực trực tiếp cho sự phát triển kinh tế - xã hội Bởi sức khỏe, tuổi thọ, trình độ dân trí, trình độ chuyên môn, nghề nghiệp phụ thuộc vào quá trình hiện đại hóa của nền kinh tế và chính sách xã hội của mỗi quốc gia Đến lượt nó, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa lại thúc đẩy sự phát triển của nguồn nhân lực Thông qua các chỉ tiêu đánh giá chất lượng nguồn nhân lực và các yếu tố cấu phần của chúng, có thể xác định được hệ thống các nhân tố tác động đến chất lượng nguồn nhân lực

Xem xét chất lượng nguồn nhân lực trước hết phải xem xét chất lượng cuộc sống của dân cư nói chung Chỉ số GDP bình quân đầu người là chỉ số

Trang 23

liên quan và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống của người lao động, đến mặt thể lực của nguồn nhân lực … Nó phụ thuộc vào quy mô và tốc

độ phát triển GDP cũng như quy mô và tốc độ gia tăng dân số Quan hệ giữa chỉ số này với nguồn nhân lực được cụ thể hóa trong các chỉ tiêu như: điều kiện sức khỏe, dinh dưỡng, chăm sóc y tế, chất lượng nhà ở, mức tiêu thụ các hàng hóa dịch vụ… Vì có phát triển kinh tế mới có điều kiện cải thiện cuộc sống con người, có điều kiện chăm sóc sức khỏe, có điều kiện để phát triển giáo dục và đào tạo ở các nước có nền kinh tế phát triển, thu nhập (GDP) bình quân/đầu người/năm và tuổi thọ thường cao

Từ số liệu ở bảng 1.2 cho thấy, khi trình độ phát triển của kinh tế - xã hội càng cao thì tuổi thọ của người lao động cũng cao, vì họ có điều kiện kinh

tế để chăm sóc sức khỏe cho con người Sức khỏe là trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không đơn thuần là không có bệnh tật Sức khỏe con người là tổng hòa nhiều yếu tố tạo nên giữa bên trong và bên ngoài, giữa thể chất và tinh thần Sức khỏe là nhân tố tác động trực tiếp đến thể chất của dân cư và nguồn nhân lực, là yếu tố tác động đến số lượng và chất lượng lao động Trình độ phát triển kinh tế góp phần quan trọng vào việc nâng cao mức

Bảng 1.2: Bình quân thu nhập đầu người và tuổi thọ của dân số các nước

Tên nước GDP danh nghĩa/người

Trang 24

Trung Quốc 323 1985-1990 67,78 70,94

Nguồn: Bộ Y tế và phúc lợi Nhật Bản

sống, cải thiện tình hình sức khỏe và dinh dưỡng của con người Tuy nhiên, không thể khẳng định điều ngược lại, một đất nước có trình độ dân trí cao là nước có nền kinh tế phát triển, vì trong thực tế có rất nhiều quốc gia có trình

độ văn hóa cao, nhưng phát triển kinh tế lại có phần hạn chế, ví dụ nước Nga Điều đó chứng tỏ rằng, một quốc gia có nguồn nhân lực chất lượng cao, nhưng nếu không có chính sách sử dụng và khai thác đúng đắn nguồn nhân lực đó thì cũng không phát triển được Mối quan hệ giữa sức khỏe và phát triển là mối quan hệ hai chiều, bản thân sự phát triển kinh tế có tác động cải thiện điều kiện sức khỏe và ngược lại, sức khỏe và dinh dưỡng được cải thiện

sẽ nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Mọi người có thể được lợi nhờ sức khỏe tốt trong hiện tại và việc cải thiện sức khỏe cho tầng lớp trẻ sẽ dẫn tới một thế hệ khỏe mạnh trong tương lai Người lao động có sức khỏe tốt có thể mang lại những lợi nhuận trực tiếp bằng việc nâng cao sức mạnh, sức bền bỉ, dẻo dai và khả năng tập trung cao trong khi làm việc Việc nuôi dưỡng và chăm sóc sức khỏe tốt cho trẻ em sẽ là yếu tố làm tăng năng suất lao động trong tương lai, giúp đỡ trẻ trở thành những lao động khỏe về thể chất, lành mạnh về tinh thần, đồng thời nhanh chóng đạt được những kỹ năng, kỹ xảo cần thiết thông qua giáo dục và đào tạo

Sự phát triển kinh tế - xã hội bao giờ cũng kéo theo quá trình đô thị hóa, thường thì các nước công nghiệp, dân số sống ở thành thị chiếm tỷ lệ cao Tỷ lệ dân thành thị cao sẽ tạo điều kiện phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo, góp phần trực tiếp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nâng cao ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong công nghiệp cho lực lượng này Dân số thành thị cao sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao

Trang 25

động, nâng cao tỷ trọng của ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng của ngành nông nghiệp trong GDP, tức là giảm lực lượng lao động nông nghiệp trong tổng lực lượng lao động xã hội ở các nước công nghiệp phát triển, tỷ lệ dân số sống ở thành thị tương đối cao, năm 1999: 89% ở Anh, 86% ở Đức, 77% ở Nhật, 74% ở Pháp, 79% ở Hàn Quốc, 77% ở Đài Loan Với Việt Nam

do tỷ lệ đô thị hóa còn thấp, nên số dân thành thị mới chỉ chiếm khoảng gần 30%

+ Giáo dục đào tạo giữ vai rò quyết định trực tiếp trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực:

Khi tính chỉ số trình độ dân trí được tính thông qua hai chỉ tiêu: tỷ lệ người biết chữ và số năm đi học bình quân Tuy nhiên để phân tích được đầy

đủ hơn về mối quan hệ của nguồn nhân lực với trình độ dân trí, cần xem xét thêm các chỉ tiêu cụ thể như: tỷ lệ biết chữ hoặc trình độ học vấn theo nhóm tuổi, giới tính; tình hình giáo dục phổ thông, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học và dạy nghề Trình độ học vấn của dân số/nguồn nhân lực là sự hiểu biết của người lao động đối với những kiến thức phổ thông về tự nhiên,

xã hội Trong phạm vi nhất định, trình độ học vấn của dân số biểu hiện bằng dân trí của quốc gia đó Trình độ học vấn của dân số/nguồn nhân lực là nhân

tố quan trọng có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng nguồn nhân lực và tác động mạnh mẽ tới quá trình phát triển kinh tế - xã hội

Chính phủ các nước căn cứ vào các chỉ tiêu về trình độ học vấn nêu trên để xây dựng mục tiêu phát triển giáo dục trong chiến lược giáo dục quốc gia Ví dụ định hướng phát triển giáo dục của Việt Nam đến năm 2010 với mục tiêu đạt tỷ lệ đi học chung của cấp tiểu học là 100%, cấp trung học cơ sở

là 80% và cấp trung học phổ thông là 45% Trình độ dân trí của dân cư phản ánh trình độ học vấn của lực lượng lao động, là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng nguồn nhân lực Trình độ học vấn cao tạo khả năng tiếp

Trang 26

thu và vận dụng một cách nhanh chóng những kinh nghiệm cũng như các tiến

bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn Trình độ học vấn là cơ sở quan trọng để nâng cao trình độ và kỹ năng làm việc của người lao động Trình độ học càng cao, càng tạo ra thuận lợi mang tính nội sinh để phát triển giáo dục, đào tạo nghề, là nhân tố quan trọng để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Thực tế cho thấy, ở phần lớn các quốc gia dân cư có trình độ học vấn cao, thì nền kinh

tế phát triển nhanh Tuy nhiên, cũng có những quốc gia dân cư có trình độ học vấn cao nhưng do chưa tận dụng hết được tiềm năng này nên tốc độ phát triển cũng như năng suất lao động của họ chưa cao, do cơ chế quản lý, khai thác và

sử dụng nguồn nhân lực, bộ phận hoạt động của dân cư của họ chưa tốt

Ngày nay, khi khoa học, công nghệ, tri thức đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là yếu tố quyết định sự tăng trưởng của kinh tế và phát triển bền vững, thì vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao càng trở nên quan trọng Trí tuệ và sự sáng tạo, yếu tố chủ yếu của chất lượng nguồn nhân lực là kết quả trực tiếp của giáo dục và đào tạo, do đó giáo dục và đào tạo đóng vai trò quyết định tới chất lượng nguồn nhân lực Nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục và đào tạo, chính phủ các nước đều rất quan tâm, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi xu hướng phát triển nền kinh tế tri thức đang là xu hướng có tính toàn cầu và cùng với quá trình toàn cầu hóa là quá trình tri thức hóa nền kinh tế thế giới

Thực tế cho thấy, quốc gia nào quan tâm đến giáo dục và đào tạo thì quốc gia đó có nguồn nhân lực chất lượng cao, tạo điều kiện cơ bản cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Chúng ta biết rằng, nguồn nhân lực chất lượng cao không phải tự nhiên mà có được, muốn có phải thông qua quá trình giáo dục đào tạo lâu dài và luôn đổi mới phù hợp với yêu cầu của tiến bộ khoa học - công nghệ Giáo dục và đào tạo giúp cho mỗi người lao

Trang 27

động thực hiện và vận động, cải thiện sức khỏe và dinh dưỡng, làm giảm quy mô gia đình

Để thúc đẩy sự nghiệp giáo dục và đào tạo phát triển, chính phủ các nước đã không ngừng tăng ngân sách đầu tư cho giáo dục và đào tạo Thông thường các nước đều dành cho giáo dục và đào tạo khoảng 18 - 23%

từ ngân sách nhà nước Bên cạnh đó, các quốc gia rất coi trọng việc huy động các vốn, cơ sở vật chất từ mọi nguồn cho giáo dục và đào tạo, đặc biệt là huy động nguồn vốn trong mọi tầng lớp nhân dân Bởi, đầu tư cho giáo dục - đào tạo là đầu tư cho phát triển, đầu tư mang lại lợi nhuận cao hơn rất niều so với đầu tư vật chất Ngày nay, khi tri thức trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp thì chất lượng nguồn nhân lực trở thành tài nguyên, và do đó muốn phát triển và sử dụng nó một cách hiệu quả, không

có con đường nào khác ngoài con đường học tập, đào tạo và tự đào tạo Chính vì thế mỗi quốc gia cần phải có một hệ thống giáo dục - đào tạo phù hợp để tạo điều kiện cho mọi người dân có thể học ở bất cứ đâu và bất cứ lúc nào, coi trọng mọi cấp học, đặc biệt chú trọng tới các bậc đào tạo cao như cao đẳng, đại học Phát triển con người, trong đó có nguồn nhân lực chất lượng cao là nhiệm vụ trung tâm của xã hội, vì đó là yếu tố then chốt nhất tạo ra giá trị cho nền kinh tế, ở đây giáo dục và đào tạo đóng vai trò quyết định Đối với nước ta, để thực hiện mục tiêu đến năm 2020 trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại thì việc cải cách giáo dục và đào tạo đang là một yêu cầu cấp bách

* Nhóm nhân tố thuộc về cơ chế chính sách

Hệ thống các chính sách xã hội đúng đắn vì mục tiêu của con người là động lực to lớn cho phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của nguồn nhân lực trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Phương hướng lớn của chính sách

Trang 28

xã hội là phát huy nhân tố con người trên cơ sở đảm bảo công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân; kết hợp tốt giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội, giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần, giữa đáp ứng các nhu cầu trước mắt với chăm lo lợi ích lâu dài, giữa cá nhân với tập thể và cộng đồng xã hội

Có thể nói các chính sách của nhà nước có tác động quan trọng tới việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là chính sách phát triển kinh tế -

xã hội như: chính sách giáo dục và đào tạo, chính sách sử dụng, tuyển dụng lao động, chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội v.v Vì các chính sách này

đã tạo ra môi trường pháp lý cho quá trình hình thành và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao Các chính sách của nhà nước phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế xã hội sẽ tạo điều kiện thúc đẩy nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, ngược lại nếu không phù hợp sẽ kìm hãm sự phát triển cũng như việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Bên cạnh đó, các chính sách của quốc gia phải luôn thay đổi theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn, phù hợp hơn mới thích ứng được sự phát triển của quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia

ở Việt Nam, hiện nay đã có nhiều cơ chế chính sách tạo mở và thúc đẩy

sự phát triển nguồn nhân lực như: vận dụng một cách linh hoạt và năng động thị trường sức lao động giúp cho người lao động phát huy được khả năng trí tuệ của bản thân để đóng góp cho xã hội; có chính sách phát triển thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa làm cho sản xuất phát triển một cách đa dạng và phong phú; có chính sách mở và thông thoáng để thu hút đầu tư nước ngoài, đồng thời thúc đẩy và phát triển các loại hình và thành phần kinh tế trong nước để tạo mở việc làm tại chỗ Đặc biệt là chính sách hỗ trợ của Nhà nước cho vay vốn xãa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm nhằm tạo cơ hội cho

Trang 29

người lao động mở rộng và phát triển sản xuất thu hút thêm lao động, tăng thu nhập, từng bước góp phần xãa đói giảm nghèo

Chính sách xã hội đã góp phần điều chỉnh mối quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp, đảm bảo sự tác động qua lại của quan hệ đó Nó tạo ra khả năng

và đề ra những biện pháp cụ thể để điều chỉnh mức độ phát triển kinh tế, nâng cao sức khỏe, trình độ học vấn, trí tuệ của cộng đồng người trong xã hội, tạo điều kiện cho người lao động tham gia tích cực, tự giác có hiệu quả vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội

Tuy nhiên, do trình độ phát triển kinh tế - xã hội còn ở mức thấp nên việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực còn bị hạn chế, đòi hỏi nhà nước phải có những chính sách khả thi, phù hợp và hiệu quả hơn trong từng giai đoạn phát triển mới đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Tóm lại, những tác động của các yếu tố trên tới chất lượng nguồn nhân

lực là rất lớn dẫn đến những thay đổi căn bản và nhiều chiều của nguồn nhân lực Các thay đổi đa dạng trên đang đặt ra những thách thức lớn cho mỗi doanh nghiệp, mỗi vùng lãnh thổ, mỗi quốc gia nhất là các quốc gia có nền kinh tế chậm phát triển Do đó, cần phải nhận thức đầy đủ, sâu sắc về vai trò của nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao trong điều kiện hội nhập nền kinh tế thế giới mới tránh được nguy cơ tụt hậu trên mọi phương diện

1.2 Vai trò của nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi

Xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của con người và nhân tố con người trong sự nghiệp phát triển, Đảng và Nhà nước ta luôn đặt con người vào vị trí trung tâm, lấy mục tiêu và động lực chính của sự phát triển là vì con người, do con người

Trang 30

Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã ra Nghị quyết về tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, cần kiệm để công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nguồn nội lực mà Nghị quyết Trung ương nêu trên bao gồm: nguồn lực con người, đất đai, tài nguyên, trí tuệ, truyền thống lịch sử văn hóa Trong đó, năng lực của con người Việt Nam với trí tuệ và truyền thống văn hóa dân tộc

là trung tâm của nội lực, là nguồn lực chính quyết định sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Thực tiễn các nước phát triển cho thấy, các nguồn lực thúc đảy quá trình phát triển kinh tế - xã hội (nguồn lực con người, vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật, khoa học công nghệ .) giữa chúng có mối quan hệ nhân quả với nhau trong quá trình phát triển, trong đó nguồn nhân lực được coi là năng lực nội sinh quan trọng chi phối quá trình phát triển của mỗi quốc gia Nguồn nhân lực, với yếu tố hàng đầu là trí tuệ, chất xám, có ưu thế

là không bị cạn kiệt và nếu biết bồi dưỡng, khai thác, sử dụng hợp lý sẽ được tăng thêm rất nhiều, còn các nguồn lực khác dù nhiều đến đâu cũng chỉ là yếu

tố có hạn và chỉ phát huy được tác dụng khi kết hợp được với nguồn lực con người một cách có hiệu quả

1.2.1 Những đặc trưng trong phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi

Các huyện thuộc miền núi là những huyện có nhiều khó khăn do điều kiện địa hình phức tạp, cơ sở hạ tầng kém phát triển, trình độ dân trí thấp, bên cạnh đó còn có một số địa phương có đường biên giới quốc gia với các nước trong khu vực đã tạo cho miền núi những tiềm năng lớn và những thách thức không nhỏ trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Tiềm năng phát triển chủ yếu của khu vực này là tài nguyên khoáng sản, tài nguyên đất, tài nguyên rừng, và mở rộng quan hệ giao dịch thương mại thông qua các cửa khẩu quốc

Trang 31

tế để trao đổi hàng hóa, dịch vụ trong đó, việc khai thác tại chỗ các nguồn tài nguyên sẵn có là cơ bản và chủ yếu

- Phát triển sản xuất nông nghiệp: Trong những năm qua sản xuất nông

nghiệp của vùng miền núi phía Bắc nói chung và miền núi Thanh Hóa nói riêng đã có những bước phát triển khá và đa dạng Năm 2007, giá trị sản xuất nông nghiệp của 11 huyện miền núi đã tăng 4,1%, sản xuất lương thực có sự tăng trưởng đáng kể cả về diện tích gieo trồng, năng xuất và sản lượng Lương thực quy thóc bình quân đầu người đã đạt 390,6 kg/người/năm Điều đáng chú ý là các cây công nghiệp đã phát triển mạnh hình thành các vùng nguyên liệu tập trung có quy mô lớn từng bước thỏa mãn được yêu cầu cho các doanh nghiệp chế biến đặt tại địa phương như mía đường, tinh bột các loại Cùng với cây lương thực, cây công nghiệp, chăn nuôi là ngành có sự phát triển khá, nhiều hộ gia đình đã xây dựng các trang trại chăn nuôi gia súc

có quy mô lớn từ vài chục đến hàng trăm con trâu, bò, dê Chăn nuôi phát triển đã góp phần đáng kể vào việc chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và tăng thu nhập cho đồng bào các dân tộc trên địa bàn các huyện miền núi

Tóm lại, có thể nói sản xuất nông nghiệp của các huyện miền núi Thanh

Hóa những năm vừa qua đã từng bước phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa đa dạng, cho phép khai thác ngày càng tốt hơn tiềm năng đất đai, lao động trong vùng để đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống cho người dân

- Phát triển sản xuất lâm nghiệp: Những năm trước đây, miền núi

Thanh Hóa là một trong các tỉnh có trữ lượng gỗ rừng rất lớn, trong đó có nhiều loại gỗ quý hiếm, tuy nhiên sau một thời gian dài khai thác không có quy hoạch, kế hoạch, tài nguyên rừng bị tàn phá hết sức nặng nề, hàng ngàn

ha rừng bị biến thành đất trống, đồi núi trọc, độ che phủ rừng có năm chỉ còn khoảng 25% Đến nay, trồng rừng để phủ xanh đất trống, đồi núi trọc không những chỉ có Nhà nước quan tâm mà người dân cũng đã thấy được nguy cơ

Trang 32

của việc khai thác rừng Chăm sóc và bảo vệ rừng đã trở thành quyền lợi thiết thân của mỗi gia đình đồng bào các dân tộc sống ở miền núi nói chung và của các huyện miền núi Thanh Hóa nói riêng Nhờ việc giao đất, giao rừng cho dân và được sự quan tâm đầu tư của Đảng và Nhà nước (về vốn, về lương thực, về giống cây trồng, về kỹ thuật …) nên nhìn chung những năm gần đây diện tích rừng trồng ở các huyện miền núi Thanh Hóa mỗi năm đều tăng lên, từng bước nâng dần độ che phủ của rừng Với nhiều chương trình lồng ghép cho phát triển kinh tế miền núi nói chung và các xã đặc biệt khó khăn, các xã vùng sâu, vùng xa được thực hiện một cách đồng bộ và triệt để thì sản xuất lâm nghiệp của các huyện miền núi Thanh Hóa sẽ phát triển nhanh và tốt hơn

- Phát triển công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp: Những năm gần đây,

bằng việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn, sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở các huyện miền núi đã có bước phát triển đáng kể, trong đó phải thấy sự phát triển nhanh các doanh nghiệp tư nhân, cổ phần v.v…Nhiều ngành công nghiệp mới đã được xây dựng và phát triển như

xi măng, mía đường, rượu bia, bánh kẹo, chế biến tinh bột …Các ngành nghề thủ công truyền thống một thời bị mai một nay dần dần được phục hồi và phát triển Các sản phẩm thủ công không những đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của đồng bào các dân tộc sinh sống trong vùng, mà từng bước góp phần thúc đẩy xuất khẩu, tăng nguồn thu ngoại tệ

1.2.2 Nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế

Ngày nay, sự cạnh tranh gay gắt diễn ra giữa các quốc gia để giành những lợi thế so sánh trong phát triển, thực chất là cuộc đua tranh về tri thức,

kỹ thuật - công nghệ Sự phát triển mạnh mẽ đó đã làm biến đổi sâu sắc nền kinh tế - xã hội của nhiều quốc gia, tạo ra ngày càng nhiều cơ hội cho các quốc gia chậm phát triển rút ngắn khoảng cách phát triển của mình thông qua

Trang 33

con đường nhập khẩu và chuyển giao công nghệ Tuy nhiên để làm được việc

đó đòi hỏi phải có chính sách về khoa học - công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực phù hợp mới đem lại hiệu quả cao Sự xuất hiện của kinh tế tri thức

đã tạo ra một bước chuyển mới trong lịch sử phát triển kinh tế - xã hội của nhân loại Bước chuyển từ nền kinh tế dựa trên lực lượng sản xuất mà vật chất đóng vai trò quan trọng nhất, sang nền kinh tế dựa trên lực lượng sản xuất mà tri trức, thông tin đóng vai trò chủ đạo

- Thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa: Phát triển nguồn nhân lực là

đặc trưng bản chất của công nghiệp hóa, hiện đại hóa; là mục tiêu, động lực

cơ bản của quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Động lực ở đây không có nghĩa là sử dụng con người như một phương tiện để có xã hội mới,

mà là quá trình hình thành nguồn nhân lực mới cũng chính là quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, quá trình xây dựng xã hội mới Quá trình xây dựng và phát triển nguồn nhân lực cũng là quá trình tạo động lực cho xã hội phát triển Đồng thời việc đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhằm xây dựng phát triển nguồn nhân lực hiện đại

Ngày nay, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu Phát triển công nghiệp dịch

vụ phải gắn bó chặt chẽ với, hỗ trợ đắc lực và phục vụ có hiệu quả cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương đảng khóa IX đã nêu: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp và dịch vụ; giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao động nông nghiệp; xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển nông thôn, bảo vệ môi trường sinh thái

Trang 34

Như vậy, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là phải tạo ra những điều kiện cần thiết về vật chất kỹ thuật, về con người và khoa học công nghệ thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực, không ngừng tăng năng suất lao động xã hội, làm cho nền kinh tế tăng trưởng một cách bền vững Ngược lại, phát huy nguồn lực to lớn của con người là nhân tố quyết định thúc đẩy nhanh và sự thàh công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

- Nguồn nhân lực cho phát triển nông, lâm nghiệp: trong những năm

tới, nước ta nói chung và các huyện miền núi Thanh Hóa nói riêng, do khả năng nguồn vốn còn có hạn, nhu cầu việc làm rất cấp bách, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, tình hình kinh tế - xã hội phát triển chưa thật bền vững

Do đó, cần tập trung nỗ lực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Với lợi thế đất rộng, lực lượng lao động dồi dào, cần phát triển nhanh các mô hình trang trại, xây dựng các vùng nguyên liệu tập trung trên cơ sở khai thác thế mạnh sẵn có với các loại cây trồng truyền thống thuộc

họ tre, nứa, mía, sắn, các con vật nuôi như trâu, bò, dê v.v… để tạo việc làm

ổn định cho một bộ phận lớn lao động nông thôn Có như thế mới khai thác tốt tiềm năng nguồn nhân lực tại chỗ phục vụ cho phát triển nông, lâm nghiệp

- lợi thế lớn nhất của các huyện miền núi

- Nguồn nhân lực cho phát triển công nghiệp chế biến: Trên cơ sở các

vùng nguyên liệu tập trung, chuyên canh, đưa công nghệ sinh học và các phương tiện tiên tiến vào nông nghiệp, khuyến khích thành lập mới các doanh nghiệp chế biến sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản Đây là cơ sở để cho phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao, có thể tiếp nhận công nghệ mới phục vụ cho phát triển kinh tế miền núi Các vùng sản xuất nông, lâm nghiệp ngoài việc đảm bảo vững cắc nhu cầu lương thực, thực phẩm, đồng thời phải

Trang 35

tạo ra nguồn nguyên liệu có khối lượng lớn, chất lượng cao đủ tiêu chuẩn đáp ứng của công nghiệp chế biến, tăng khối lượng và giá trị hàng nông sản xuất khẩu, tạo ra nhiều công ăn, việc làm và thu nhập cho nông dân, từng bước phân công lại lao động xã hội Đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn

- Nguồn nhân lực cho phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật: Nhờ sự quan

tâm đầu tư của Đảng và Nhà nước, sự nỗ lực của các địa phương, hệ thống cơ

sở hạ tầng kỹ thuật các huyện miền núi Thanh Hóa đã từng bước được sửa chữa, nâng cấp và xây dựng mới, tạo thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các dân tộc Hệ thống giao thông liên tỉnh, liên huyện và hệ thống đường giao thông nông thôn được nâng cấp, tu sửa, xây dựng mới tạo thuận lợi cho giao lưu kinh tế, văn hóa Các công trình thủy lợi để chủ động cung cấp nguồn nước cho sản xuất nông - lâm nghiệp và một phần cung cấp nguồn nước sạch phục vụ đời sống nhân dân Hệ thống điện cũng được chú trọng quan tâm đáng kể, các xã miền núi

cơ bản đã có điện lưới quốc gia để phục vụ sản xuất và sinh hoạt Hệ thống thông tin liên lạc được chú ý đầu tư xây dựng, các xã đều đã được lắp điện thoại cố định

1.2.3 Nguồn nhân lực cho phát triển xã hội

Đối với Việt Nam, nguồn lực con người luôn được coi trọng đặc, biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao Con người với tư cách là nguồn nhân lực, là chủ thể sáng tạo, là yếu tố bản thân của quá trình sản xuất, là trung tâm của nội lực, là nguồn lực chính quyết định quá trình phát triển kinh tế - xã hội

Giáo dục và đào tạo là yếu tố quan trọng để tạo ra một nguồn nhân lực

có chất lượng Hệ thống các cấp học phổ thông phải đặc biệt coi trọng, ngoài những nội dung, chương trình theo quy định phải giáo dục cho người lao động

Trang 36

miền núi biết quý trọng lao động, yêu người lao động, những người làm ra sản phẩm nuôi sống con người Giáo dục được đặc biệt quan tâm ở các cấp học, đội ngũ giáo viên, lớp học đều được đầu tư cả về số lượng và chất lượng Các huyện đều có trường trung học sơ sở nội trú, có 8/11 huyện có trường trung học phổ thông nội trú Tỷ lệ học sinh đến trường ngày càng tăng lên

Về chăm sóc sức khỏe được coi trọng, bệnh viện đa khoa khu vực được thành lập và đầu tư thiết bị hiện đại, hệ thống y tế cơ sở được tăng cường về con người và xây dựng nơi khám, chữa bệnh ban đầu Việc phòng chống các bệnh dịch được tăng cường và đem lại hiệu quả cao

Các hoạt động văn hóa truyền thống được phục hồi và phát triển Hệ thống truyền thanh, truyền hình đã về đến tận thôn bản Việc làm cho người lao động cũng được quan tâm do các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ tăng lên Đời sống vật chất và tinh thần của người dân miền núi được cải thiện

là cơ sở vững chắc để ổn định chính trị, giữ vững trật tự an toàn xã hội và an ninh biên giới

Tuy nhiên, do kinh tế chậm phát triển nên cơ sở vật chất cho giáo dục còn thấp kém, nhiều nơi bị xuống cấp nghiêm trọng Trường, lớp, giáo viên thiếu (đặc biệt là giáo viên người dân tộc thiểu số) do đó trẻ em trong độ tuổi

đi học tỷ lệ đến trường thấp, nhất là đồng bào sống du canh, du cư, vùng sâu, vùng xa, vùng giáp biên giới Nhiều hủ tục lạc hậu vẫn còn tồn tại trong một

số điểm dân cư mà chưa thể xãa bỏ ngay được Trình độ dân trí thấp là nhân

tố cản trở rất lớn đối với phát triển kinh tế - xã hội, nhất là thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Ngày nay, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa diễn ra trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đang phát triển mạnh mẽ, thế giới đang chuyển sang nền kinh tế tri thức, đòi hỏi nguồn nhân lực nước ta cũng

Trang 37

phải có bước chuyển biến mới, phát triển tương ứng trong xu thế hội nhập, đây là một yêu cầu cấp bách để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

1.3 Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực của một số nước

ở Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực còn là một trong những vấn đề mới cả về khái niệm, nội dung, phương pháp và các chính sách cụ thể Vì vậy kinh nghiệm của các nước đã trải qua trong thời kỳ đầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước phát triển kinh tế - xã hội sẽ có nhiều điều bổ ích cho những nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực đối với quốc gia, các địa phương, vùng và trong đó có các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa

1.3.1 Kinh nghiệm của một số nước ASEAN

Trước nhu cầu ngày càng tăng về tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

đã làm nảy sinh vấn đề cần được giải quyết là nhân công phải thích hợp với thị trường làm việc Do đó vấn đề cấp thiết là phải đào tạo nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu này Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong lĩnh vực đào tạo, nhưng tình trạng thiếu hụt về nhân công có tay nghề vẫn theo chiều hướng gia tăng Sự thiếu hụt nhân công có trình độ, trước hết là tình trạng yếu kém của

hệ thống giáo dục bậc đại học Những năm 80 của thế kỷ XX, ở Malaixia, nếu

tỷ lệ nhập học bậc trung học là 72% thì tỷ lệ nhập học ở bậc đại học chỉ là 10% Thái Lan chỉ đạt 33% ở bậc trung học và 19% ở bậc đại học, kém xa so với tỷ lệ này ở Hàn Quốc cùng thời điểm (38%) Nếu nghiên cứu cơ cấu ngành nghề đào tạo càng thấy sự bất cập so với nhu cầu của thị trường về nhân công có trình độ chuyên môn kỹ thuật Thái Lan, ngành văn học và sư phạm thu hút gần 2/3 số sinh viên, ngành luật 24%, trong khi các ngành có nhu cầu khá nhiều như chế tạo máy, cơ khí, nông học thì chỉ có khoảng 2 - 2,3% số sinh viên theo học ở Malaixia, tỷ lệ giữa sinh viên khối khoa học xã

Trang 38

hội và nhân văn với sinh viên khối khoa học tự nhiên khá cân đối (53% và 47%) Ngược lại, số được đào tạo để cấp “Chứng chỉ” thì ưu thế nghiêng hẳn

về các môn khoa học và kỹ thuật (15% và 85%) trước đây và (40% và 60%) của những năm đầu của thế kỷ XXI

Nhờ sự can thiệp mạnh mẽ của nhà nước trong lĩnh vực đào tạo và phát triển công tác nghiên cứu khoa học, các chính sách ở tầm vĩ mô đã được chỉ đạo chặt chẽ trên hai mặt: Thứ nhất, nâng cao chất lượng hệ thống giáo dục và đào tạo nghề; thứ hai, là phát triển nghiên cứu khoa học để làm cơ sở vững chắc cho các công nghệ nổi trội, thu hút được lao động và mang lại hiệu quả kinh tế cao

Chính nhờ sự can thiệp mạnh mẽ đó của nhà nước mà trong hơn hai thập kỷ qua, Thái Lan và Malaixia có nhiều tiến bộ quan trọng trong phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên vẫn còn gặp những khó khăn nhất định, một trong những khó khăn cơ bản là khu vực tư nhân ít tham gia vào các đầu tư này, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ Các doanh nghiệp vừa và nhỏ thiếu về phát triển các chiến lược thương mại ngắn hạn để mở rộng thị trường hơn là đầu tư vào nghiên cứu để có công nghệ mới

Trong điều kiện đó, cùng với vốn đầu tư trong nước còn thiếu, giải pháp chủ yếu cho các vấn đề này của công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học là dựa vào sự hợp tác quốc tế rộng rãi trong khuôn khổ viện trợ đa phương, song phương cũng như với các tập đoàn lớn

1.3.2 Kinh nghiệm của Hàn Quốc, nước đặc biệt coi trọng công tác đào tạo nghề để phát triển nguồn nhân lực

Việc Hàn Quốc phát triển kinh tế được nhận định như một cuộc cách mạng xanh trên sa mạc, bởi họ không phải là một quốc gia có nhiều tài

Trang 39

nguyên, thậm chí tài nguyên để phát triển nông nghiệp cũng không được nhiều (chỉ có khoảng 20% diện tích đất có thể trồng trọt được Chính vì thế, chính phủ Hàn Quốc luôn chú trọng đầu tư cho phát triển chiều sâu, tức là đầu

tư cho phát triển khoa học kỹ thuật Và trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật, thì vốn con người cũng lại được xem là quan trọng nhất Trong những năm khó khăn, chính phủ Hàn Quốc đã áp dụng mức lương của các nhà khoa học cao hơn cả mức lương của tổng thống, sự quan tâm sâu sắc đến khoa học và công nghệ đó đã góp phần to lớn vào việc đưa Hàn Quốc vượt ra khỏi một nước nông nghiệp lạc hậu, chuyển mình thành nơi thu hút và ứng dụng những công nghệ khoa học tiên tiến nhất

Một trong những hành động đầu tiên của chính phủ là thiết lập lại Bộ Giáo dục và đổi tên là Bộ giáo dục và phát triển nguồn nhân lực Để thực hiện tốt chiến lược phát triển nguồn vốn con người, đặc biệt là khôi phục lại hệ thống đào tạo nghề, đồng thời Bộ Giáo dục Hàn Quốc đã trình chính phủ các giải pháp cơ bản như: Tổ chức lại việc giáo dục hướng nghiệp trong trường trung học; giới thiệu các trường trung học toàn diện; Thành lập các trường trung học chuyên nghiệp; tăng cường chương trình học về kiến thức nghề nghiệp cơ bản và năng lực tổng hợp; tăng cường mối liên hệ giữa các trường trung học dạy nghề, cao đẳng và đại học dạy nghề cũng như giữa các trường này với nền công nghiệp nhằm nâng cao khả năng định hướng nghề nghiệp và

mở rộng cơ hội học cao hơn; tăng cường công tác đào tạo giáo viên dạy nghề; khuyến khích việc thuê các chuyên gia hoạt động như các giáo viên thực hành; cải thiện môi trường giáo dục tại các trường đào tạo nghề; cho phép các viện dạy nghề linh hoạt trọng việc thiết lập các chương trình học, cải tổ hệ thống hoạt động của riêng họ hay linh hoạt, chủ động trong tuyển giáo viên dạy nghề

Thêm vào đó, khi đưa ra những kế hoạch phát triển đất nước, một trong những vấn đề mà chính phủ Hàn Quốc đề cập là: Cải tiến hệ thống đào tạo

Trang 40

nghề nghiệp, tăng số lượng các trường kỹ thuật và khuyến khích các công ty lớn xây dựng các trung tâm đào tạo Để đẩy mạnh hoạt động đào tạo nghề, chính phủ Hàn Quốc đã tiến hành xã hội hóa hoạt động này, huy động sức mạnh của toàn dân cùng với chính phủ nhằm thực hiện tốt chiến lược phát triển nguồn nhân lực Hệ thống đào tạo nghề của Hàn Quốc bao gồm đào tạo công và đào tạo tư nhân Đào tạo công chủ yếu do cơ quan nhân lực Hàn Quốc KOMA thực hiện, KOMA tập trung đào tạo nghề cơ bản, các nghề thuộc công nghệ mới và nguồn nhân lực có trình độ tiên tiến Đào tạo tư nhân bao gồm việc đào tạo trong các công ty, nhà máy do chính các công ty thực hiện và việc đào tạo hợp pháp của các cơ quan không lợi nhuận

Bằng những thay đổi hợp lý và chú trọng thỏa đáng cho chiến lược phát triển nguồn nhân lực, Hàn Quốc đã từng bước khôi phục và phát triển kinh tế Chỉ số phát triển con người HDI đã tăng dần từ 0,68 năm 1975 đến 0,77 năm 1985; 0,85 năm 1995 và lên 0,87 năm 1999 Hiện nay Hàn Quốc là nước được đánh giá là nước có chỉ số HDI thuộc loại cao và xếp thứ 27 trên thế giới Báo cáo năm 2000 của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) cũng nhấn mạnh sự hồi phục và phát triển nhanh chóng của nền kinh tế Hàn Quốc, và cho rằng thành công đó có thể được quy cho sự đầu tư thích đáng của chính phủ Hàn Quốc vào việc phát triển vốn con người

Qua đó, chúng ta có thể rút ra bài học sâu sắc về vai trò quyết định của nhân tố con người đối với tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, một lần nữa khẳng định con người vừa là mục tiêu cao cả nhất vừa là động lực mạnh mẽ nhất của sự phát triển Chúng ta thấy được vai trò, tầm quan trọng của đào tạo nghề đối với sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực và qua

đó có khẳng định tầm quan trọng của đào tạo nghề cho sự phát triển kinh tế -

xã hội

Ngày đăng: 14/02/2014, 14:29

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Từ số liệu ở bảng 1.2 cho thấy, khi trình độ phát triển của kinh tế-xã hội càng cao thì tuổi thọ của người lao động cũng cao, vì họ có điều kiện kinh  tế để chăm sóc sức khỏe cho con người - Nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội ở các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa
s ố liệu ở bảng 1.2 cho thấy, khi trình độ phát triển của kinh tế-xã hội càng cao thì tuổi thọ của người lao động cũng cao, vì họ có điều kiện kinh tế để chăm sóc sức khỏe cho con người (Trang 23)
Bảng 2.2: Dân số và tỷ lệ phát triển dân số thời kỳ 2003-2007 - Nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội ở các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa
Bảng 2.2 Dân số và tỷ lệ phát triển dân số thời kỳ 2003-2007 (Trang 58)
Từ số liệu ở bảng 2.2, chúng ta thấy: - Nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội ở các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa
s ố liệu ở bảng 2.2, chúng ta thấy: (Trang 58)
Nghiên cứu số liệu ở bảng 2.3 chúng ta thấy được cơ cấu giới tính dân số các huyện miền núi Thanh Hóa 2003 - 2007 - Nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội ở các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa
ghi ên cứu số liệu ở bảng 2.3 chúng ta thấy được cơ cấu giới tính dân số các huyện miền núi Thanh Hóa 2003 - 2007 (Trang 59)
Bảng 2.4: Dân số đô thị của miền núi và toàn tỉnh Thanh Hóa - Nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội ở các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa
Bảng 2.4 Dân số đô thị của miền núi và toàn tỉnh Thanh Hóa (Trang 60)
triển công nghiệp chế biến, hình thành các nhóm nghề thủ công nghiệp, chế biến, sản xuất vật liệu xây dựng, nghề truyền thống - Nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội ở các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa
tri ển công nghiệp chế biến, hình thành các nhóm nghề thủ công nghiệp, chế biến, sản xuất vật liệu xây dựng, nghề truyền thống (Trang 61)
Số liệu ở bảng 2.5 cho thấy, năm 2007 tỷ lệ lao động trẻ gồm những - Nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội ở các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa
li ệu ở bảng 2.5 cho thấy, năm 2007 tỷ lệ lao động trẻ gồm những (Trang 62)
Bảng 2.7: Lao động làm việc theo khu vực kinh tế - Nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội ở các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa
Bảng 2.7 Lao động làm việc theo khu vực kinh tế (Trang 63)
Số liệu ở bảng 2.7, sẽ cho thấy điều đó. - Nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội ở các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa
li ệu ở bảng 2.7, sẽ cho thấy điều đó (Trang 63)
Bảng 2.9: Đầu tư cho các cơ sở dạy nghề công lập qua các năm - Nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội ở các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa
Bảng 2.9 Đầu tư cho các cơ sở dạy nghề công lập qua các năm (Trang 69)
cao tay nghề cho người lao động với nhiều loại hình đa dạng, phong phú đã từng bước  chuyển dần  tư  duy,  nhận  thức  người  lao  động  miền  núi  về  học  nghề  sẽ  là điều  kiện  và  cơ  hội  kiếm  tiền,  ổn định đời  sống  và thực  sự xãa - Nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội ở các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa
cao tay nghề cho người lao động với nhiều loại hình đa dạng, phong phú đã từng bước chuyển dần tư duy, nhận thức người lao động miền núi về học nghề sẽ là điều kiện và cơ hội kiếm tiền, ổn định đời sống và thực sự xãa (Trang 70)
Bảng 3.1: Dân số và tỷ lệ phát triển dân số đến 2010 - Nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội ở các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa
Bảng 3.1 Dân số và tỷ lệ phát triển dân số đến 2010 (Trang 92)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w