Đổi mới quản lý nhà nước về kết cấu hạ tầng kỹ thuật ở thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam trong giai đoạn hiện nay Tham khảo luận văn - đề án ''luận văn đổi mới quản lý nhà nước về kết cấu hạ tầng kỹ thuật ở thành...
Trang 1
Luận văn Đổi mới quản lý nhà nước về kết cấu hạ tầng kỹ thuật ở thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam
trong giai đoạn hiện nay
Trang 2
Mở ĐầU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của các đô thị là kết cấu hạ tầng kỹ thuật Hầu hết các nội dung cơ bản của kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị đều do Nhà nước đầu tư xây dựng, quản lý, sử dụng vào mục đích công Vấn đề quản lý nhà nước về kết cấu hạ tầng kỹ thuật
là một bộ phận quan trọng trong công tác quản lý đô thị, có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát triển của mỗi quốc gia, mỗi đô thị
Thành phố Tam Kỳ là tỉnh lỵ- trung tâm kinh tế, chính trị và văn hóa- xã hội của tỉnh Quảng Nam Từ năm 1997, khi Quảng Nam-Đà Nẵng được chia tách thành hai đơn vị hành chính, Thành phố được tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật với tốc độ cao, đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế- xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Trong quá trình đô thị hóa, còn nhiều tồn tại, yếu kém, nhất là việc quy hoạch thiếu đồng bộ, thiếu tính chiến lược, quy hoạch
“treo”; quản lý đầu tư xây dựng thiếu chặt chẽ, hiệu quả thấp, nhiều công trình hạ tầng kém chất lượng, thất thoát vốn đầu tư, tình trạng “đào lên lấp xuống” nhiều lần ở cùng một công trình khá phổ biến; vệ sinh môi trường
đô thị còn nhiều yếu kém, tỷ lệ thu gom rác thải mới đạt trên 68% so với yêu cầu; đầu tư phát triển chưa gắn với giải quyết môi trường sinh thái đảm bảo tính bền vững
Vấn đề có tính thời sự đặt ra đối với Đảng bộ, chính quyền và nhân dân
thành phố Tam Kỳ là làm thế nào để quản lý kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị đạt hiệu quả cao nhất, khắc phục tình trạng yếu kém, bất cập đang diễn ra, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế- xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng
ở địa phương, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân
Xuất phát từ những yêu cầu cấp thiết đó, tôi chọn đề tài nghiên cứu:
“Đổi mới quản lý nhà nước về kết cấu hạ tầng kỹ thuật ở thành phố Tam
Kỳ, tỉnh Quảng Nam trong giai đoạn hiện nay” làm luận văn thạc sĩ
Trang 3
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề quản lý nhà nước về kết cấu hạ tầng kỹ thuật đã có một số tài liệu đề cập Tuy nhiên, hầu hết các tài liệu được xuất bản đều nghiên cứu vấn
đề này như là một bộ phận cấu thành trong công tác quản lý đô thị nói chung chứ chưa có tài liệu riêng biệt, chuyên sâu về nội dung mà đề tài này nghiên cứu, điển hình như:
Sách “Quản lý đô thị” do TSKH Nguyễn Ngọc Châu chủ biên (Nxb Xây dựng, Hà Nội 2001) Sách “Kinh tế học đô thị” của giáo sư Trung Quốc -
Nhiêu Hội Lâm, người dịch Lê Quang Lâm (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
2004) Sách “Một số vấn đề cơ bản về kinh tế đầu tư quy hoạch và quản lý cơ
sở hạ tầng đô thị”, của PGS Trần Đức Dục (Nxb Xây dựng Hà Nội 2000) Sách “Quản lý đô thị thời kỳ chuyển đổi” của TS Võ Kim Cương (Nxb Xây dựng Hà Nội 2004) Sách “Quản lý đô thị” của TS Phạm Trọng Mạnh (Nxb xây dựng, Hà Nội năm 2002) Sách “Phương pháp tiếp cận mới về quy hoạch
và quản lý đô thị", tác giả Nguyễn Đăng Sơn - Viện Nghiên cứu đô thị và phát
triển hạ tầng (IUSID) (Nxb Xây dựng Hà Nội 2005) Trong các sách nêu trên, chủ yếu đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về kết cấu hạ tầng kỹ thuật ở các đô thị lớn trong cả nước và kinh nghiệm quốc tế; đưa ra một số ý tưởng và quan điểm mới mang tính giải pháp, đột phá để đóng góp vào việc giải quyết bài toán hắc búa, bức thiết hiện đang đặt ra đối với các chính phủ và chính quyền đô thị
Ngoài ra, một số nội dung có liên quan đến công tác quản lý kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị đã được đưa ra hội thảo của một số tổ chức như Hiệp hội các đô thị Việt Nam (năm 2004 tại TP Pleicu - Gia Lai); Hội Khoa học Kinh
tế Việt Nam (năm 2000 tại Hà Nội); Viện Nghiên cứu hợp tác khoa học kỹ thuật Châu á- Thái Bình Dương (năm 2001)
Trên thực tế, vấn đề “Quản lý nhà nước về kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị” chưa có một công trình nghiên cứu nào riêng biệt, cụ thể và có hệ thống Hơn nữa, đề tài “Đổi mới quản lý nhà nước về kết cấu hạ tầng kỹ thuật ở thành
Trang 4
phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam trong giai đoạn hiện nay” chưa được nghiên cứu
Vì vậy, đề tài nghiên cứu làm luận văn không trùng lắp với các công trình nghiên cứu đã công bố
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
Mục đích: Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn công tác quản lý nhà nước
về kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị nói chung và tại thành phố Tam Kỳ- Tỉnh Quảng Nam nói riêng Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp đổi mới quản
lý nhà nước về kết cấu hạ tầng kỹ thuật ở thành phố Tam Kỳ đến năm 2010
Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Phân tích, làm rõ khái niệm về kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị, vai trò của kết cấu HTKT đô thị đối với phát triển kinh tế- xã hội đô thị
- Phân tích thực trạng công tác quản lý nhà nước về kết cấu hạ tầng kỹ thuật ở thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam trong thời gian qua
- Đề xuất một số giải pháp nhằm đổi mới công tác quản lý nhà nước về kết cấu hạ tầng kỹ thuật ở thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam đến năm 2010
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu về công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực kết cấu hạ tầng kỹ thuật tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam trong giai đoạn từ 2001-2010
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, gắn với mục tiêu “phát triển bền vững” và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn hiện nay; các quan điểm của Đảng bộ tỉnh Quảng Nam, thành phố Tam Kỳ về quản
lý kết cấu hạ tầng nói chung kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị nói riêng nhằm phát triển kinh tế xã hội địa phương
Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch
sử của chủ nghĩa Mác- Lênin; phương pháp nghiên cứu: lôgíc và lịch sử, tổng hợp, thống kê, phân tích, so sánh và tổng kết kinh nghiệm
Trang 5
6 Những đóng góp của luận văn
Góp phần hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về kết cấu hạ tầng
kỹ thuật, vai trò của nó đối với phát triển kinh tế-xã hội tại các đô thị
Đề xuất một số giải pháp đổi mới công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực này, nhằm góp phần đẩy nhanh quá trình xây dựng, chỉnh trang đô thị, phát triển kinh tế- xã hội tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong quản lý, chỉ đạo điều hành và tổ chức thực hiện quản lý nhà nước về kết cấu hạ tầng kỹ thuật
đô thị, nhất là tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu gồm 3 chương, 8 tiết
Trang 6
Chương 1
CƠ Sở Lý LUậN CủA QUảN Lý NHà NƯớc
về kết cấu Hạ tầng kỹ thuật đô thị
1.1 khái niệm, vai trò và đặc điểm của kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị
1.1.1 Khái niệm kết cấu hạ tầng và kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị
1.1.1.1 Kết cấu hạ tầng
Kết cấu hạ tầng kỹ thuật nói riêng và kết cấu hạ tầng nói chung ngày càng được sử dụng nhiều với tư cách là những thuật ngữ khoa học trong các công trình nghiên cứu và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương Tuy nhiên, ngay nội dung của thuật ngữ này cũng còn nhiều ý kiến khác nhau, nhìn tổng quát chúng ta có thể thấy tập trung chủ yếu là hai loại ý kiến khác nhau xuất phát từ hai quan niệm theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng của thuật ngữ kết cấu hạ tầng
Theo nghĩa hẹp, kết cấu hạ tầng được hiểu là tập hợp các ngành phi sản xuất thuộc lĩnh vực lưu thông, tức là bao gồm các công trình vật chất
kỹ thuật phi sản xuất và các tổ chức dịch vụ có chức năng bảo đảm những điều kiện chung cho sản xuất, phục vụ những nhu cầu phổ biến của sản xuất và đời sống xã hội Theo cách hiểu này kết cấu hạ tầng chỉ bao gồm các công trình giao thông, cấp thoát nước, cung ứng điện, hệ thống thông tin liên lạc và các đơn vị bảo đảm duy trì các công trình này Cách hiểu như vậy có tác dụng giúp phân biệt khu vực "kết cấu hạ tầng" với chức năng bảo đảm lưu thông, phục vụ cho khu vực sản xuất và các khu vực khác và về nguyên tắc khu vực kết cấu hạ tầng khác hẳn với các khu vực khác của nền kinh tế quốc dân như tài chính, giáo dục, y tế, văn hoá, xã hội Tuy nhiên quan niệm kết cấu hạ tầng theo nghĩa hẹp không phản ánh được mối quan hệ hữu cơ giữa các bộ phận có mối liên quan mật thiết với nhau trong một hệ thống thống nhất
Theo nghĩa rộng, kết cấu hạ tầng được hiểu là tổng thể các công
Trang 7
trình đảm bảo những điều kiện "bên ngoài" cho sản xuất và sinh hoạt của dân cư Kết cấu hạ tầng là một phạm trù rộng gần nghĩa với "môi trường kinh tế", bao gồm các phân hệ: phân hệ kỹ thuật (đường, giao thông, cầu, cảng, sân bay, năng lượng, bưu chính viễn thông ) và phân hệ xã hội (giáo dục, y tế, khoa học kỹ thuật ), hay phân tích cụ thể hơn còn có phân hệ tài chính (hệ thống tài chính - tín dụng), phân hệ thiết chế (hệ thống quản lý nhà nước và luật pháp) Cách hiểu này rõ ràng là rất rộng, bao hàm hầu như toàn bộ khu vực dịch vụ Tuy nhiên, kết cấu hạ tầng hiểu theo nghĩa rộng không đồng nghĩa và lẫn lộn với các phạm trù "khu vực dịch vụ" hoặc "môi trường kinh tế" ở chỗ kết cấu hạ tầng là một phạm trù bao hàm tất cả những công trình cơ sở vật chất kỹ thuật, trong mối quan hệ chặt chẽ với chức năng của chúng là tạo điều kiện cho các khu vực kinh tế khác nhau phát triển
Như vậy, khu vực kết cấu hạ tầng xét về mặt hình thức là rất rộng, bao gồm các lĩnh vực rất khác nhau từ hệ thống giao thông đến cấp thoát nước, từ thể chế pháp lý đến hệ thống đảm bảo thông tin kinh tế nhưng cần phải chú
ý là kết cấu hạ tầng không phải là tổng thể cơ học của tất cả các lĩnh vực đó
mà nó chỉ xét đến mối quan hệ "phục vụ", quan hệ "đảm bảo điều kiện" của các lĩnh vực đó cho nền kinh tế quốc dân (xem sơ đồ 1.1)
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước nên quan niệm kết cấu hạ tầng theo nghĩa rộng vì như vậy sẽ thấy rõ tính hệ thống của toàn bộ các lĩnh vực có tác dụng hỗ trợ cho sản xuất
và đời sống xã hội Các bộ phận của kết cấu hạ tầng không đứng độc lập riêng
rẽ mà có quan hệ hữu cơ với nhau Cách nhìn hệ thống đối với kết cấu hạ tầng theo nghĩa rộng cho phép thấy được vị trí, vai trò tổng thể của kết cấu hạ tầng, thấy được mối quan hệ hữu cơ giữa các bộ phận bề ngoài có vẻ như độc lập
và không có liên quan với nhau, từ đó quan điểm, chính sách giải pháp quản
lý khu vực này sao cho có lợi nhất cho nền kinh tế quốc dân
Sơ đồ 1.1: Quan hệ giữa kết cấu hạ tầng đối với hoạt động
Trang 8Nền kinh tế quốc dân
kỹ thuật,
có sức khỏe, kỹ năng
Yêu cầu
về giao thông, điện, thông tin, đảm bảo an toàn
Nhu cầu
về ăn, mặc, ở,
y tế
nhằm tái sản xuất sức lao động
Nhu cầu
đi lại, học tập, thông tin, vui chơi giải trí nhằm phát triển toàn diện
Kết cấu hạ tầng
Trang 9
ta thống nhất sử dụng khái niệm trên cơ sở phân chia kết cấu hạ tầng theo lĩnh
vực, đó là “kết cấu hạ tầng kỹ thuật” và “kết cấu hạ tầng xã hội” Tuy nhiên,
việc phân chia này chỉ mang tính chất tương đối, vì thực tế ít có loại kết cấu
hạ tầng nào chỉ hoàn toàn phục vụ kinh tế mà không phục vụ hoạt động xã hội
Khái niệm kết cấu HTKT được dùng để chỉ toàn bộ những lĩnh vực tạo điều kiện về mặt "kỹ thuật" cho sản xuất và đời sống xã hội, bao gồm hệ thống đường giao thông, hệ thống năng lượng và thông tin liên lạc, hệ thống cấp, thoát nước, vệ sinh môi trường các bộ phận của kết cấu HTKT đều có điểm chung về mặt chức năng và thống nhất về bản chất kinh tế Đối với các
đô thị, vị trí vai trò của kết cấu HTKT rất quan trọng, bảo đảm cho quá trình
tổ chức sản xuất và sinh hoạt của đô thị được thực hiện liên tục, mang lại hiệu quả KT-XH cao
Kết cấu HTKT đô thị bao gồm nhiều bộ phận hợp thành và mỗi bộ phận lại có tính độc lập tương đối, có đặc điểm và phương thức quản lý khác nhau Cho đến nay, quan niệm về kết cấu HTKT cũng còn nhiều ý kiến khác nhau nhưng nhìn chung đều nhất trí rằng kết cấu HTKT đô thị bao gồm những
bộ phận chủ yếu sau đây:
- Các công trình giao thông đối nội và đối ngoại, bao gồm: mạng lưới đường, cầu, hầm, quảng trường, bến bãi, sông ngòi, kênh rạch, các công trình đầu mối giao thông, sân bay, nhà ga, bến xe và bến cảng nằm trong phạm vi quản lý của các công trình giao thông đô thị
- Các công trình cấp nước đô thị, bao gồm: các nguồn cung cấp nước mặt hoặc nước ngầm, các công trình kỹ thuật khai thác nguồn nước và sản xuất nước sạch, hệ thống phân phối nước (đường ống, tăng áp và điều hòa)
- Các công trình thoát nước đô thị, bao gồm: hệ thống cống rãnh, cửa
xả, kênh mương, đê đập, trạm bơm và trạm xử lý nước thải
- Các công trình cấp điện và chiếu sáng đô thị, bao gồm: các nhà máy phát điện, các trạm biến áp, hệ thống đường dây dẫn điện, cột điện, đèn chiếu sáng
- Các công trình thông tin liên lạc, bưu chính viễn thông
Trang 10
- Các công trình phục vụ công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải đô thị (thùng chứa, các điểm trung chuyển rác, phương tiện thu gom, vận chuyển, bãi xử lý rác )
- Các công viên, cây xanh phục vụ vui chơi, giải trí và bảo vệ môi trường;
tàng tập trung, các công trình và tổ chức phục vụ công cộng như tang lễ, y tế,
cơ sở xã hội, phòng chữa cháy, phòng chống lụt bão, động đất v.v
Sơ đồ 1.2: Cấu trúc của kết cấu hạ tầng
Kết cấu hạ tầng
Kết cấu hạ
tầng trên
giác độ lãnh
Kết cấu hạ tầng trên giác độ ngành
Kết cấu hạ
tầng
Kết cấu hạ tầng
Có một phần phục
vụ cho
Trang 11
Nghiên cứu và phân tích cụ thể hơn thì trong kết cấu HTKT đô thị bao
gồm hai mảng lớn Mảng thứ nhất là các công trình cơ sở vật chất có chức năng tạo điều kiện cho toàn bộ hoạt động kinh tế-xã hội của thành phố như đường giao thông, hệ thống cấp thoát nước, lưới điện, mạng bưu chính viễn thông Đây là những công trình được xây dựng nhằm đáp ứng nhu cầu về dịch vụ hàng hoá công cộng và dù chúng được đầu tư xây dựng theo phương thức nào đi chăng nữa cũng đều có đặc điểm là gắn liền với chức năng đảm bảo điều kiện cho sự hoạt động bình thường của đô thị
chức năng quản lý đầu tư xây dựng, quản lý vận hành, khai thác sử dụng các công trình kết cấu HTKT hoặc cung ứng các sản phẩm hàng hoá công cộng
Đó là các công ty, xí nghiệp, trạm, các đơn vị sự nghiệp tức là các tổ chức con người được thành lập và hoạt động theo thể chế hiện hành
tiễn rất lớn Đối với mảng các công trình kết cấu HTKT có tầm quan trọng đặc biệt lại đòi hỏi vốn đầu tư lớn, hiệu suất vốn thấp, khó tổ chức thu hồi vốn Nhà nước có trách nhiệm đầu tư phát triển và quản lý thống nhất, còn đối với mảng thứ hai, tuỳ thuộc vào cơ chế quản lý, trình độ quản lý có phương thức và hình thức tổ chức quản lý phù hợp
1.1.2 Đặc điểm của kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị
Sản phẩm đầu ra của kết cấu HTKT đô thị đều là sản phẩm hàng hoá hoặc dịch vụ công cộng Do đó những sản phẩm này vừa mang những đặc điểm của các sản phẩm dịch vụ vừa có những đặc điểm của các hàng hoá công cộng Chính yếu tố này quy định phương thức và các hình thức đầu tư, quản lý các công trình kết cấu HTKT Nhìn chung, kết cấu HTKT đô thị có các đặc điểm chủ yếu sau:
đồng bộ của nhiều “nhánh” khác nhau trong quan hệ tổng thể Nếu một khâu nào đó trong hệ thống không được thiết kế xây dựng sẽ ảnh hưởng đến vận hành toàn bộ, thậm chí gây ách tắc, chẳng hạn một đô thị có đầy đủ các điều
Trang 12
kiện thuận lợi về giao thông vận tải (như hệ thống cảng biển, sân bay, đường
bộ, đường sắt ) nhưng cũng không thể khuyến khích phát triển sản xuất công nghiệp nếu như không có đủ nguồn điện hoặc nguồn nước bị ô nhiễm Do vậy tính hệ thống đồng bộ là đặc điểm đặc biệt của kết cấu HTKT đô thị
Tính hệ thống đồng bộ không những chi phối toàn diện đến thiết kế quy hoạch đầu tư thiết bị các công trình cụ thể mà còn liên quan đến cách thức
tổ chức quản lý, vận hành kết hợp giữa quản lý theo ngành và theo vùng, lãnh thổ Yêu cầu trên càng thể hiện trong những loại kết cấu HTKT mang tính hệ thống cao như giao thông, bưu chính viễn thông tính hệ thống đồng bộ đặt
ra cho công tác quản lý nhà nước của các cấp chính quyền đô thị là phải kết hợp một cách đồng bộ và chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý chuyên ngành trên các lĩnh vực nhằm nâng cao hiệu quả, hạn chế thấp nhất lãng phí khi xây dựng các công trình kết cấu HTKT
Đặc điểm thứ hai của kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị là tính định hướng Đặc điểm này xuất phát từ nhiều khía cạnh khác nhau của vị trí hệ thống kết cấu HTKT như vốn đầu tư cao, thời gian sử dụng lâu dài, là yếu tố mở đường cho các hoạt động kinh tế- xã hội đặc điểm này đòi hỏi mỗi quốc gia phải có quy hoạch dài hạn, chiến lược, quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết bố trí
hệ thống kết cấu HTKT Cách làm chắp vá đến đâu hay đến đấy, sẽ hạn chế phát triển kết cấu HTKT, thậm chí gây ách tắc, cản trở phát triển kinh tế- xã hội của đô thị
Đặc điểm thứ ba của kết cấu HTKT đô thị là tính chất vùng và địa phương: việc xây dựng và phát triển kết cấu HTKT đô thị phụ thuộc nhiều yếu tố như địa lý, địa hình, trình độ phát triển, tập quán văn hóa, kiến trúc vì thế hệ thống kết cấu HTKT mang tính chất vùng, địa phương rất rõ nét Yêu cầu này đặc ra cho công tác quản lý là trong việc xác định hệ thống kết cấu HTKT đô thị và thiết kế đầu tư, sử dụng nguyên vật liệu vừa đặt trong hệ thống chung của quốc gia, vùng lãnh thổ vừa phải phù hợp với đặc điểm, điều kiện cụ thể của từng địa phương
Đặc điểm thứ tư là kết cấu HTKT đô thị có tính chất dịch vụ và tính cộng đồng cao, hầu hết các sản phẩm của kết cấu HTKT là sản phẩm trung
Trang 131.1.3 Vai trò của kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị
Kết cấu HTKT đô thị có vai trò to lớn đối với sự phát triển kinh tế- xã hội của mọi quốc gia nói chung và các đô thị nói riêng, thể hiện cụ thể ở một
số điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, kết cấu HTKT là nhân tố quan trọng góp phần thúc đẩy
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Một khi kết cấu HTKT phát triển hợp lý, nó sẽ kéo theo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tỷ trọng khu vực kinh tế nông nghiệp (khu vực I) ngày càng giảm dần, khu vực kinh tế công nghiệp, dịch vụ (khu vực II và III) tăng lên, thỏa mãn ngày càng cao về sản xuất, đời sống và vui chơi giải trí của xã hội loài người
Tương ứng với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng tích cực Lao động khu vực I giảm dần, lao động khu vực II và III tăng lên Sự chuyển dịch cơ cấu như trên làm tăng quy
mô dân số trong các khu vực đô thị
Thứ hai, kết cấu HTKT đảm bảo những điều kiện vật chất thuận lợi
nhất để các cơ sở sản xuất và dịch vụ hoạt động có hiệu quả Thật vậy, chỉ cần trục trặc trong một khâu nhất định của một loại hoạt động do sự yếu kém của
Trang 14
hệ thống kết cấu HTKT gây ra như cung cấp năng lượng, cấp thoát nước, giao thông, thông tin liên lạc thì lập tức gây ra sự cố cho hoạt động của các cơ sở sản xuất và dịch vụ khác Ngược lại, một hệ thống kết cấu HTKT hiện đại, đồng bộ sẽ tạo điều kiện rút ngắn chu kỳ sản xuất và lưu thông sản phẩm, giảm bớt chi phí sản xuất và góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, làm cho các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ mang tính cạnh tranh hơn
Thứ ba, xét trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế, kết cấu HTKT như là hệ
thống huyết mạch của nền kinh tế, có nhiệm vụ thực hiện những mối liên hệ giữa các bộ phận và các vùng của nền kinh tế Một mặt, tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng tốt nhất những tiềm năng của đất nước, mở rộng quan hệ quốc tế Mặc khác tạo điều kiện để phát triển kinh tế- xã hội đồng đều, rộng khắp theo vùng lãnh thổ, làm giảm bớt sự khác biệt về dân trí, mức sống giữa các vùng
Thứ tư, hệ thống kết cấu HTKT góp phần nâng cao trình độ văn minh
đô thị, đồng thời là cơ sở quan trọng để giải quyết tốt môi sinh, môi trường, vấn đề đang đặt ra hết sức bức xúc cho hầu hết các đô thị trên thế giới, nhất là nước đang phát triển trong đó có Việt Nam Kết cấu HTKT là cơ sở điều kiện thiết yếu để thực hiện nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Kết cấu HTKT còn có vai trò quan trọng trong việc phục vụ cho các hoạt động đảm bảo an ninh- quốc phòng, đảm bảo trật tự an toàn xã hội
Trong quá trình phát triển của nền sản xuất xã hội trên cơ sở chuyên môn hoá và phân công lao động xã hội, vai trò của kết cấu HTKT ở các đô thị
có xu hướng ngày càng tăng lên, do một số nguyên nhân sau:
thêm, dẫn đến quá trình đô thị hoá với tốc độ nhanh và hình thành những trung tâm kinh tế lớn Đối với các quốc gia đang trong quá trình công nghiệp hoá, quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc độ cao Sự phát triển của đô thị đòi hỏi phải phát triển hệ thống HTKT như một điều kiện không thể thiếu đảm bảo cho các quá trình phát triển sản xuất và tổ chức đời sống xã hội Một loạt nhu cầu tăng nhanh chóng: giao thông vận tải, thông tin liên lạc, cung ứng năng lượng, nước sạch, xử
Trang 15
lý nước thải, cây xanh, hệ thống kho tàng những nhu cầu này đòi hỏi sự quản
lý chặt chẽ, đồng bộ, hiệu quả trong quá trình phát triển
+ Việc phát triển đô thị trong điều kiện nền kinh tế mở, hội nhập có nhiều hình thức đầu tư và giao lưu quốc tế đòi hỏi các chỉ số tiêu chuẩn của tổ chức đô thị phải phù hợp với các chỉ số của quốc tế Điều này đòi hỏi phải coi phát triển HTKT như một yếu tố có tác dụng thúc đẩy phát triển sản xuất, nhất là lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Như vậy, kết cấu HTKT có vai trò ngày càng hết sức quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của từng đơn vị kinh tế cũng như toàn bộ nền kinh tế quốc dân, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng như ở Việt Nam hiện nay Sự phát triển kết cấu HTKT đô thị là một trong những điều kiện tiên quyết cho sự phát triển nền kinh tế và các phúc lợi xã hội khác Nó là yếu tố mở đường, là bộ phận cấu thành của phát triển KT-XH Chính vì vậy, sự phát triển của kết cấu HTKT là một tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá trình độ phát triển, trình độ hội nhập của một quốc gia hay một địa phương
1.1.4 Đánh giá trình độ phát triển và hiệu quả của kết cấu hạ tầng
Một là, loại phản ánh quy mô và trình độ phát triển của bản thân các loại
kết cấu HTKT như tổng số vốn đầu tư, tỷ trọng đầu tư trong tổng số vốn đầu tư cho đô thị đang xem xét, số kilômet đường các cấp đã xây dựng, số máy điện
Trang 16
thoại, số lượng nước sạch cung ứng, số kilômet đường ống cấp nước, thoát nước Loại chỉ tiêu này cho biết quy mô, tốc độ phát triển các lĩnh vực HTKT
Hai là, loại phản ánh chất lượng tổng hợp, phản ánh mối quan hệ giữa
sự phát triển của các loại kết cấu HTKT với sự phát triển của đô thị nói chung Khi nghiên cứu lập quy hoạch, kế hoạch đầu tư kết cấu HTKT thì loại chỉ tiêu này có ý nghĩa cực kỳ quan trọng Ví dụ chỉ tiêu số mét vuông đường tính bình quân cho một phương tiện giao thông đang hoạt động hoặc tốc độ trung bình của phương tiện, tần suất tắc nghẽn giao thông nói lên khả năng lưu thông trong đô thị; chỉ tiêu thời gian đi lại làm việc trung bình một ngày của cư dân đô thị nói lên chất lượng hệ thống giao thông và các phương tiện giao thông công cộng; chỉ tiêu số mét khối nước sạch tiêu dùng của dân cư, khả năng thoát nước nói lên chất lượng hệ thống cấp thoát nước, chỉ tiêu số mét vuông cây xanh nói lên chất lượng đảm bảo môi trường xanh cho đô thị
1.1.4.2 Về hiệu quả của kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị
Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đối với nền kinh tế xã hội được đánh giá bằng sự đóng góp của kết cấu HTKT cho sự phát triển KT-XH, an ninh- quốc phòng của địa phương (bao gồm cả vấn đề môi trường, môi sinh ) Do đặc điểm của kết cấu HTKT mà hiệu quả của nó đối với nền kinh tế xã hội rất khó xác định một cách cụ thể, mà thông thường chỉ dừng lại ở mức độ dự báo dự tính, ước lượng mang tính chất “định tính” hoặc xác định tương đối bằng chỉ tiêu tổng hợp mà thôi Hơn nữa, giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội do các công trình kết cấu HTKT mang lại có mối quan hệ hết sức chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau, bổ sung hỗ trợ cho nhau nên rất khó định lượng chính xác Tuy nhiên, để thuận lợi cho quá trình nghiên cứu và quản lý nhà nước về kết cấu HTKT ở các cấp chính quyền đô thị, người ta thường phân thành hai chỉ tiêu:
Chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế: cần quan tâm các chỉ tiêu hiệu quả đem lại
trực tiếp cho toàn xã hội như: đóng góp cho tốc độ tăng trưởng GDP, tăng mức đóng góp cho ngân sách nhà nước, góp phần cải thiện cho cơ cấu kinh tế quốc dân theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, củng cố an ninh-quốc
Trang 17
phòng Đồng thời phải tính toán đến những kết quả kinh tế kéo theo như: cải thiện điều kiện làm việc và điều kiện sống nên đã nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí chữa bệnh do sức khoẻ của nhân dân được đảm bảo
Tuy nhiên, những thiệt hại do kết cấu HTKT gây ra đối với nền kinh tế trong nhiều trường hợp là rất lớn và thường khó tính tóan hết trong các phân tích đánh giá, ví dụ: thiệt hại trực tiếp do đầu tư thiếu phối hợp, đường mới làm lại đào lên để chôn ống nước hoặc cáp thông tin; công trình mới làm chưa hết khấu hao đã phải làm lại do không đáp ứng yêu cầu kỹ thuật Hoặc thiệt hại gián tiếp do các công trình kết cấu HTKT không đáp ứng được nhu cầu của phát triển sản xuất và đời sống xã hội Thiệt hại vô hình do công trình kết cấu HTKT đã xây dựng nhưng tỷ suất sử dụng quá thấp trong thời gian dài, hoặc do tỷ suất sử dụng vượt quá khả năng đáp ứng của công trình kết cấu HTKT Đây là những vấn đề cần được chú ý khắc phục trong các quyết định quản lý của chính quyền đô thị
Theo giáo sư Nhiêu Hội Lâm (Trung Quốc):
Hạng mục xây dựng và dung lượng phục vụ của các công trình cơ sở hạ tầng đô thị được đầu tư sử dụng một lần rất khó hoàn toàn ăn khớp với nhu cầu của số lượng người và sản xuất ngày càng tăng lên Cho nên biện pháp giải quyết chỉ có thể là mỗi khi xây dựng cơ sở hạ tầng đô thị đều phải có chỗ dôi ra làm cho nó có lượng định trước nhất định Nên tầng suất sử dụng hoặc cường độ sử dụng của nó có một quá trình phát triển từ thấp đến cao Do đó hiệu ích của cơ sở hạ tầng đô thị tăng trưởng theo
tỷ lệ thuận với tỷ suất sử dụng hoặc cường độ của nó Nhưng điều quan trọng là tỷ suất sử dụng và cường độ lợi dụng của cơ
sở hạ tầng đều có giới hạn, vượt quá giới hạn này hiệu quả kinh
tế của nó không chỉ không thể tiếp tục nâng cao mà còn trượt theo hướng ngược lại, gây nên hiệu ích âm của đô thị, tức hiệu ích kinh tế tổng hợp đô thị giảm thấp (xem đồ thị 1.1) [33,
Trang 18
tr.338]
Đồ thị 1.1: Tỷ suất sử dụng kết cấu HTKT đô thị với quy luật biến đổi
của hiệu quả kinh tế tổng hợp đô thị [33, tr.377]
Hiệu quả kinh tế
Chỉ tiêu về hiệu quả xã hội: các chỉ tiêu xã hội của các công trình kết
cấu HTKT đô thị thể hiện ở các mặt như giải quyết được công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo, giảm lao động nặng nhọc hoặc các tác động đến môi trường sinh thái Tuy nhiên, nếu đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng không hợp lý sẽ gây ra những hậu quả khôn lường về
xã hội, nhất là phá vỡ môi trường sinh thái, hủy hoại môi trường sống trong lành của nhân dân Ví dụ, xây dựng bãi xử lý rác không đảm bảo quy chuẩn dẫn đến ô
Trang 19hệ thống giao thông công cộng, thoát nước đô thị, thông tin liên lạc (hệ thống phát thanh truyền hình ) được tính như sau [18, tr.42-43]:
Hiệu quả kinh tế của công trình loại này được thể hiện ở tổng chi phí đầu tư và chi phí sử dụng hàng năm nhỏ nhất:
Ct = V.r – S min Trong đó: Ct: tổng chi phí hàng năm,
V: vốn đầu tư vào xây dựng công trình r: Lãi suất vốn vay của ngân hàng S: Chi phí sử dụng hàng năm
Có thể tính chi phí cho một đơn vị giá trị sử dụng của công trình nhỏ nhất:
Ct V.r + S
Cđvị = - = - min
Gsd Gsd
pháp chỉ tiêu tổng hợp không đơn vị đo, bởi vì các giá trị sử dụng của công trình được biểu hiện bằng nhiều hình thức, bằng nhiều đơn vị đo khác nhau
sạch, số lượng người tham gia lưu thông hoặc có những giá trị thông qua chất lượng “phục vụ” bằng cách đánh giá cho điểm của các chuyên gia
Khi xác định tổng chi phí (Ct) cũng cần lưu ý đến hiệu quả kinh tế bằng tiền được nảy sinh từ các hiệu quả kinh tế kéo theo mang lại, ví dụ như việc xây dựng một con đường sẽ làm giảm chi phí vận chuyển, giảm thời gian làm việc, tăng năng suất lao động do đó làm tăng lợi nhuận Lúc này khi xác định Ct cần tính toán thêm điều đó:
Ct = V.r + (S - H) min
Trang 20
Trong đó: H- Tiết kiệm chi phí do các hiệu quả kinh tế kéo theo mang lại Trong quản lý nhà nước về kết cấu HTKT đô thị, cần tính tóan phân tích, kết hợp nhiều phương án với nhau nhằm tính toán hiệu quả so sánh giữa chúng, làm cơ sở để quyết định lựa chọn phương án đầu tư kết cấu HTKT mang lại lợi ích KT-XH cao nhất
1.2 sự cần thiết khách quan phải đổi mới quản lý nhà nước về kết cấu hạ tầng
kỹ thuật trong giai đoạn hiện nay
1.2.1 Vai trò quản lý nhà nước về kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị
1.2.1.1 Nhà nước đảm bảo cung cấp đầy đủ hệ thống các kết cấu
HTKT để đảm bảo nhu cầu cuộc sống của nhân dân, tạo điều kiện cho hoạt động sản xuất và làm dịch vụ của các tổ chức và cá nhân, đảm bảo sao cho dịch vụ đó có được một cách kịp thời, đủ số lượng và chất lượng cần thiết với giá cả thích hợp, đồng thời phù hợp với các yêu cầu khách quan của nền kinh
tế thị trường Nhà nước tác động trực tiếp vào khâu quản lý để điều tiết nền kinh tế phát triển bền vững trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế
Ví dụ: quản lý hệ thống cấp nước đô thị nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng nước hàng ngày cho sinh hoạt, các dịch vụ công cộng, hoạt động sản xuất kinh doanh theo tiêu chuẩn trong nước và quốc tế Chính quyền đô thị là nơi lập quy hoạch, kế hoạch đầu tư xây dựng hoặc nâng cấp các nhà máy nước để sản xuất nước sạch cho các hoạt động của đô thị, đảm bảo cho người tiêu dùng có đủ nước với giá thành hợp lý và đảm bảo chất lượng, nhưng vẫn đảm bảo tính chủ động trong các hoạt động có tính chất kinh doanh của ngành cấp nước Vấn đề đặt ra trong công tác quản lý cấp nước của các chính quyền đô thị là cung cấp nước phải đầy đủ về số lượng, chất lượng và đặc biệt là phải tuân thủ nghiêm ngặt Luật bảo vệ nguồn nước Các nhà máy nước phải xây dựng theo quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt Các đối tượng dùng nước phải ký hợp đồng với cơ quan chuyên trách
1.2.1.2 Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng và củng
cố hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách nhằm tạo ra hành lang
Trang 21
pháp lý thông thoáng, thuận lợi để đầu tư phát triển kết cấu HTKT đô thị như: Luật khuyến khích đầu tư, Luật đường bộ, Luật đường sông, Luật bảo vệ tài nguyên nước, Luật bảo vệ môi trường, Luật Đất đai, Nghị định ban hành điều
lệ quản lý quy hoạch đô thị; hay chính sách hỗ trợ phát triển ngành công nghiệp-dịch vụ, cho phép hình thành quỹ hỗ trợ đầu tư phát triển đô thị Trên
cơ sở đó, các cơ quan chức năng và các địa phương đề lập quy hoạch, kế hoạch và thực hiện đầu tư xây dựng kết cấu HTKT ở địa phương mình, đồng thời có trách nhiệm tuyên truyền giáo dục để mọi tổ chức cá nhân hiểu và tổ chức thực hiện đạt kết quả cao nhất
1.2.1.3 Kết cấu HTKT có tính hệ thống, đồng bộ, giữa các lĩnh vực có
mối quan hệ mật thiết với nhau cả về mặt kết cấu kỹ thuật, hiệu quả sử dụng nhưng mỗi lĩnh vực thường được giao cho một ngành chức năng quản lý, như các tuyến đường giao thông đối nội do chính quyền đô thị quản lý, nhưng kết cấu HTKT đi cùng như hệ thống cấp nước do công ty cấp nước quản lý, cấp điện do điện lực quản lý, cáp quang do bưu điện quản lý gây rất nhiều khó khăn trong quá trình đầu tư xây dựng cũng như trong quản lý sử dụng (nhất là đối với các đô thị trực thuộc tỉnh) Do vậy, Nhà nước phải quản lý chặt chẽ và chỉ đạo các cơ quan này thực hiện một cách đồng bộ, thống nhất trong quá trình phát triển các công trình kết cấu HTKT, đồng thời phân công nghĩa vụ, trách nhiệm cụ thể cho từng ngành, nhằm hạn chế thấp nhất tình trạng đầu tư thiếu đồng bộ gây lãng phí, kém hiệu quả trong đầu tư
1.2.1.4 Trong quá trình hoạch định chiến lược, lập quy hoạch, kế
hoạch phát triển kết cấu HTKT, Nhà nước phải nắm và phân tích các dữ liệu cần thiết, áp dụng thành tựu khoa học công nghệ hiện đại để tìm ra những giải pháp phát triển hợp lý nhất Ví dụ, dự báo nhu cầu tương lai của nhân dân về dịch vụ công cộng: giao thông, cấp thoát nước, vệ sinh môi trường, nhu cầu vui chơi giải trí, tính toán khả năng tiền vốn, khả năng đầu tư từ đó xác định thứ tự
ưu tiên trong đầu tư (phân kỳ đầu tư hợp lý), phương thức đầu tư (đầu tư từ nguồn nào, hình thức gì ? ) Đặc biệt phải chú ý tính toán các chỉ tiêu tổng hợp đánh giá hiệu quả KT-XH của kết cấu HTKT nhằm xác lập quy hoạch, hoặc đưa ra các quyết định đầu tư xây dựng kết cấu HTKT đạt hiệu quả cao
Trang 22
nhất
1.2.1.5 Thông qua quản lý kết cấu HTKT, Nhà nước có thể điều chỉnh
được cơ cấu kinh tế, tổ chức lại sản xuất, hoặc bố trí sắp xếp lại dân cư theo các mục tiêu đã được xác định Đồng thời, thông qua đó, đảm bảo cho đô thị phát triển một cách có hệ thống trong tổng thể phát triển của địa phương, vùng hoặc quốc gia; đảm bảo các yếu tố về kỹ thuật, mỹ thuật, vệ sinh môi trường, tiến độ kế hoạch ví dụ: việc xây dựng các khu công nghiệp tập trung
sẽ giải tỏa được những cơ sở sản xuất nằm trong các khu dân cư, nhất là những cơ sở có mức độ ô nhiễm môi trường lớn ở Việt Nam, việc Chính phủ quyết định xây dựng tuyến đường Hồ Chí Minh vừa có ý nghĩa phát triển KT-
XH vừa tạo điều kiện tăng cường các yêu tố đảm bảo quốc phòng- an ninh cho đất nước nói chung và các tỉnh miền núi, Tây Nguyên nói riêng Hay việc đầu tư khu hóa lọc dầu Dung Quất gắn với khu kinh tế Dung Quất, kinh tế mở Chu Lai là điều kiện quan trọng cho sự phát triển đột phá của khu vực Miền Trung, hiện KT-XH khó khăn nhất cả nước
1.2.1.6 Trong kết cấu HTKT có một mảng quan trọng là các thiết chế
tổ chức có chức năng đầu tư xây dựng, quản lý vận hành và khai thác sử dụng các kết cấu HTKT Hơn nữa, để giải quyết có mối liên hệ giữa nhiều lĩnh vực khác nhau trong quản lý kết cấu HTKT, tránh sự chồng chéo trong quản lý, nhà nước phải thực hiện thường xuyên việc rà soát, củng cố tổ chức bộ máy
và cán bộ, không ngừng nâng cao năng lực, chỉ đạo điều hành và tổ chức thực hiện nhiệm vụ Thực hiện sự phân công, phân cấp rõ ràng giữa các cấp chính quyền đô thị để bộ máy quản lý nhà nước ngày càng được tinh gọn và hoạt động có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước
1.2.2 Nội dung chủ yếu trong quản lý nhà nước về kết cấu hạ tầng
kỹ thuật đô thị
Thứ nhất, quản lý quy hoạch xây dựng kết cấu HTKT đô thị Bất kể
một đô thị nào cũng cần có quy hoạch tổng thể kinh tế- xã hội Trên cơ sở đó, lập quy hoạch chung làm căn cứ pháp lý để quản lý đất đai và xây dựng đô
Trang 23Khi nhà nước đã phê duyệt chiến lược phát triển hệ thống đô thị với các
kế hoạch dài hạn thì đó là cơ sở pháp lý để triển khai các loại hình quy hoạch tiếp theo, đăc biệt là quy hoạch phát triển đô thị nói chung và kết cấu HTKT
đô thị nói riêng theo đúng mục tiêu phát triển đã được phê duyệt ở Việt Nam, định hướng quy hoạch tổng thể đã khẳng định mục tiêu:
Từng bước xây dựng hoàn chỉnh hệ thống đô thị cả nước, có
cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội và kỹ thuật hiện đại, môi trường đô thị trong sạch, được phân bố và phát triển hợp lý trên địa bàn cả nước, đảm bảo cho mỗi đô thị theo vị trí và chức năng của mình, phát huy được đầy đủ các thế mạnh, góp phần thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược là là xây dựng xã hội chủ nghĩa và bảo vệ tổ quốc [6, tr.6]
Hầu hết các đô thị hình thành và phát triển từ rất sớm với một nền văn hóa lâu đời, mang đậm bản sắc của từng vùng miền, địa phương Do vậy, đòi hỏi chính quyền các đô thị trong quá trình thực hiện quy hoạch, xây dựng các công trình kết cấu HTKT đô thị vừa phải đảm bảo tính hiện đại, vừa gắn liền với các yếu tố văn hóa- xã hội truyền thống dân tộc, bảo tồn và phát huy được giá trị của các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể của địa phương và quốc gia, theo hướng phát triển bền vững
Một trong những nội dung quan trọng của quản lý nhà nước về quy hoạch xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị, là phải xác định chính xác nhu cầu về kết cấu HTKT đô thị Bởi vì qua đó sẽ xác định được quy mô, số lượng đầu tư kết cấu HTKT hợp lý, mang lại hiện quả kinh tế- xã hội cao nhất; đồng thời cũng sẽ xác định được nhu cầu vốn cho đầu tư, làm cơ sở để hoạch định chính sách huy động vốn phù hợp Vấn đề nay được phó giáo sư Bùi Trọng Cầu đề cập trong bài viết
“tiếp cận tổng thể trong quy hoạch các hệ thống hạ tầng” như sau:
Việc xác định không chính xác nhu cầu hạ tầng sẽ gây ra thiệt hại rất lớn do hoặc hệ thống hạ tầng không đảm bảo cung cấp các
Trang 24Vậy làm thế nào để xác định được nhu cầu và quy mô đầu tư tối ưu của các công trình hạ tầng nhằm mang lại hiệu quả đầu tư cao nhất Có nhiều quan điểm đồng tình với cách tiếp cận của phó giáo sư Bùi Trọng Cầu, thông qua việc phân tích mối quan hệ giữa chi phí bỏ ra và sự hữu ích của kết cấu HTKT (xem đồ thị 1.2): khi kết cấu HTKT chưa đáp ứng được yêu cầu của hệ thống kinh tế- xã hội, việc đầu tư HTKT mang lại hiệu quả rất lớn Khi tăng chi phí đầu tư cho HTKT thì lợi ích mà HTKT mang lại tăng lên rất nhanh chừng nào cung còn nhỏ nhiều hơn cầu, tiếp tục đầu tư, lợi ích này vẫn tăng nhưng tốc độ tăng ngày càng giảm khi cung gần đáp ứng được cầu và giảm rất nhanh khi cung đã vượt cầu Lúc này nếu tiếp tục đầu tư, lợi ích HTKT mang lại tăng ngày một chậm dần tới mức không tăng nữa, và việc đầu tư ngày càng trở nên kém hiệu quả và dần tới trở thành lãng phí hoàn toàn
Cũng theo phó giáo sư Bùi Trọng Cầu: quy mô đầu tư tối ưu cho các
hệ thống hạ tầng là quy mô khi đầu tư một đơn vị chi phí biên thu lại được một đơn vị lợi ích biên tương ứng Đó là điểm mà cung và cầu về các dịch vụ
hạ tầng bằng nhau
Đồ thị 1.2: Khái niệm về quy mô đầu tư hạ tầng tối ưu [9, tr.30]
Chi phí đầu tư hạ tầng C (đ)
Lợi ích đầu tư U (đ)
Lợi ích của Đầu tư
Hạ tầng U = f(C)
Trang 25
Thứ hai, quản lý vốn đầu tư Một trong những vấn đề quan trọng trong
quản lý nhà nước về kết cấu HTKT đô thị là quản lý vốn, bởi vì đầu tư kết cấu HTKT cần có số vốn rất lớn, đầu tư ở đây mang tính chất quốc gia hoặc vùng, địa phương, thời gian thu hồi vốn chậm và trong đầu tư còn mang tính xã hội
Do đó vấn đề chủ yếu đặt ra cho các chính phủ và chính quyền đô thị là làm thế nào để xác định được chính xác nhu cầu vốn đầu tư, trên cơ sở đó có biện pháp huy động và quản lý có hiệu quả nguồn vốn đầu tư cho các dự án kết cấu HTKT
Việc kêu gọi vốn của các nhà đầu tư quốc tế và Việt Nam để tiến hành các dự án, nhìn chung có nhiều đô thị đã tận dụng nguồn vốn này để liên doanh, liên kết có hiệu quả, song có nơi bị đình đốn, một số dự án đầu tư thất thiệt làm cho sản xuất ít có hiệu quả hoặc hiệu quả giả tạo Nhiều quốc gia trong quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa chỉ tập trung đầu tư vào các đô thị lớn, còn ở các đô thị vừa và nhỏ (thường kém thuận lợi cho thu hút đầu tư), nhà nước còn thiếu các chính sách, chủ trương, biện pháp cụ thể để buộc hoặc tạo điều kiện cho các chủ đầu tư tìm đến các địa phương ở xa các trung tâm kinh tế lớn Những năm qua, Việt Nam đã tiến hành áp dụng chương trình đầu tư kết cấu HTKT đô thị theo phương thức BOT, BT nhưng chủ yếu tập trung ở các đô thị lớn và vừa Vì vậy, ở những vùng xa các thành phố lớn, như thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam và các địa phương ở khu vực miền Trung đất nước kinh tế phát triển rất chậm chạp, thu ngân sách không đủ bù đắp nhiệm
vụ chi mà chủ yếu nhận trợ cấp cân đối từ ngân sách TW; mức sống của đại đa
số nhân dân còn ở mức thấp so với bình quân cả nước và tình trạng đói nghèo đang ở tỷ lệ khá cao, nhất là tại các địa bàn nông thôn
Thứ ba, quản lý đầu tư và xây dựng Trong xu thế phát triển hiện nay,
công trình kết cấu HTKT đô thị có quy ngày càng lớn và yêu cầu chất lượng cũng ngày càng cao Đây là một thách thức lớn, đòi hỏi các cơ quan quản lý
Trang 26Việc quản lý định mức xây dựng, quản lý định mức xây dựng, tính đồng bộ và hiện đại thể hiện trong các chính sách đầu tư kết cấu HTKT cần chú ý vào các lĩnh vực có vốn đầu tư lớn ngay từ khi chuẩn bị đầu tư, đó là: giao thông vận tải đô thị, cấp và thoát nước đô thị, cung cấp năng lượng và điện chiếu sáng công cộng đô thị, thu gom- vận chuyển và xử lý chất thải đô thị, thông tin liên lạc, bưu chính viễn thông Đồng thời phải tôn trọng pháp luật trong xây dựng, đó là yếu tố vô cùng quan trọng để phát huy hiệu quả tiền vốn bỏ ra trong quá trình đầu tư ở đô thị Chính quyền đô thị phải chú trọng thực hiện tốt nội dung này trong quá trình quản lý nhà nước về kết cấu HTKT
Vấn đề kỹ thuật và chuyển giao công nghệ: các đô thị ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam nói chung đang trong thời kỳ đô thị hóa nhanh, tức là trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã và đang phát triển với tốc độ nhanh, song việc huy động vốn luôn gặp khó khăn, vì vậy các công trình xây dựng thường kéo dài Vấn đề lựa chọn kỹ thuật hiện đại và công nghệ tiên tiến để áp dụng vào quá trình công nghiệp hóa, rút ngắn thời
gian xây dựng và “đi tắt đón đầu” cũng rất quan trọng đặt ra trong quản lý
nhà nước về kết cấu HTKT Thực tế cho thấy sự phối hợp đồng bộ trong các chủ trương, chính sách đầu tư cho các hạng mục công trình ở đô thị là yếu tố quyết định để phát huy hiệu quả đầu tư Việt Nam chúng ta đã có nhiều bài học kinh nghiệm về vấn đề này, vừa qua các đô thị đã tranh luận hết sức gay gắt về việc nên chăng từng tỉnh đều phải có cảng biển, sân bay; hay bài học đau xót trước đó, khi chúng ta xây dựng các nhà máy sản xuất ciment và nhà máy đường theo công nghệ Trung Quốc gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế đất
Trang 27
nước
Thứ tư, quản lý vận hành và khai thác sử dụng kết cấu HTKT đô thị
sao cho phù hợp với nhu cầu của sự phát triển, đồng thời phù hợp với điều kiện thực tế của từng quốc gia, từng khu vực hoặc từng đô thị cũng là một nhân tố quan trọng trong quản lý nhà nước về kết cấu HTKT giai đoạn hiện nay
Theo quan điểm của tiến sỹ Phạm Trọng Mạnh, trong quản lý đô thị:
Nội dung quản lý sử dụng và khai thác các công trình kết cấu
hạ tầng kỹ thuật bao gồm: lập và lưu trữ hồ sơ hoàn công sau khi cải tạo và xây dựng công trình; phát hiện các hư hỏng, sự cố kỹ thuật và
có biện pháp sửa chữa kịp thời; thực hiện chế độ duy tu, bảo dưỡng, cải tạo nâng cấp để duy trì chức năng sử dụng các công trình theo định kỳ; hợp đồng cung cấp các dịch vụ công cộng (điện, nước, thông tin) với các đối tượng cần sử dụng và hướng dẫn họ thực hiện đúng các quy định về hành chính cũng như các quy định về kỹ thuật; phát hiện và xử lý các vi phạm về chế độ sử dụng và khai thác các công trình kết cấu HTKT đô thị [34, tr.114]
Trên từng lĩnh vực của kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị sẽ có nội dung, hình thức và phương pháp quản lý khác nhau, nhưng đều hướng đến mục tiêu chung là nâng cao chất lượng phục vụ của các công trình kết cấu hạ tầng, góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế- xã hội của các đô thị Chẳng hạn như quản lý cấp nước đô thị bao gồm quản lý nguồn nước, các công trình kỹ thuật sản xuất nước, hệ thống đường ống cấp nước…với mục tiêu nhằm cung cấp nước đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng, đáp ứng nhu cầu sử dụng nước hàng ngày cho sinh hoạt, sản xuất và các dịch vụ công cộng Đối với quản lý giao thông, bao gồm quản lý hệ thống đường sá, cầu cống, bến cảng, sân bay…phục vụ cho giao thông đô thị; công tác quản lý gắn liền với quy hoạch, kế hoạch xây dựng, duy tu bảo dưỡng, xây dựng hoàn chỉnh từng bước
hệ thống pháp quy Luật đường bộ, đường sông, chính sách hỗ trợ phát triển giao thông công cộng…
1.2.3 Những yêu cầu đặt ra phải đổi mới quản lý nhà nước về kết
Trang 28
cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị
Chính vị trí, vai trò của HTKT đô thị đòi hỏi phải có một chương trình phát triển chung từ khâu định hướng, ý tưởng đến quy hoạch tổng thể, quy hoạch chi tiết, kế hoạch thực hiện và các giải pháp tổ chức thực hiện sao cho vừa đảm bảo cho toàn bộ hệ thống kết cấu HTKT hình thành và phát triển như một chỉnh thể vừa đảm bảo mối quan hệ phù hợp giữa nó với quy mô sản xuất, quy mô dân cư và nhu cầu ngày càng tăng của giao lưu kinh tế Có thể nói, sự tăng lên về quy mô và tỷ trọng, sự phức tạp thêm về cơ cấu của kết cấu HTKT đô thị vừa là kết quả của sự phát triển lực lượng sản xuất trong vùng vừa là thước đo trình độ tổ chức và quản lý nền sản xuất xã hội của đô thị nói riêng và cả vùng kinh tế nói chung
Việc đầu tư xây dựng các công trình HTKT đô thị như đường sá, bến cảng, sân bay, mạng lưới cấp điện, hệ thống cấp thoát nước đòi hỏi một số vốn đầu tư khổng lồ mà thời gian hoàn vốn về mặt kinh tế thường rất lâu (thường hàng chục năm) thậm chí không thể thu hồi, do đó hiệu suất vốn sẽ rất thấp Chính vì vậy, nếu không có quan điểm hệ thống trong phát triển đô thị nói chung và phát triển kết cấu HTKT nói riêng dễ đi đến quan điểm sai lầm là lĩnh vực này chỉ nên tập trung đầu tư khi trình độ phát triển kinh tế đã đạt được mức độ nhất định nào đó Những người theo quan điểm này thường căn cứ vào hiệu quả kinh tế thuần tuý của HTKT và cho rằng ở các nước chậm phát triển trong giai đoạn đầu của phát triển đô thị (thu nhập và sức sản xuất nói chung còn thấp) không nên tập trung chú ý đầu tư phát triển HTKT Trên thực tế chúng ta thấy, các công trình HTKT không phải chỉ có mục đích
tự thân mà chúng đều có đặc điểm là thực hiện chức năng tạo điều kiện cho các cơ sở kinh tế khác và các khu vực khác của xã hội phát triển bình thường Việc phát triển các công trình HTKT trước hết đòi hỏi phải đầu tư tập trung,
có sự quản lý chặt chẽ thống nhất, sau đó phải căn cứ vào mối quan hệ với tổng thể phát triển của đô thị hoặc vùng kinh tế đây chính là vai trò, trách nhiệm của các chính quyền đô thị
Kết cấu HTKT là nhân tố đi trước mở đường, là yếu tố rất quan trọng,
Trang 29
quyết định sự phát triển kinh tế- xã hội của mọi quốc gia hay địa phương Nhưng chúng ta biết rằng, nếu kết cấu HTKT xây dựng không hợp lý, thì hiệu quả mang lại sẽ rất thấp, thậm chí gây lãng phí, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển kinh tế- xã hội nói chung Do vậy, không ngừng đổi mới quản lý nhà nước về kết cấu HTKT là đòi hỏi tất yếu khách quan đặt ra cho tất cả các chính quyền đô thị và mọi quốc gia
Trong xu thế đô thị hóa đang diễn ra hết sức mạnh mẽ như hiện nay, làm nảy sinh sự mất cân đối về kết cấu HTKT giữa các quốc gia và các vùng trong một quốc gia Đây cũng là một nguyên nhân gây ra sự phân tầng xã hội, phân hóa giàu nghèo ngày càng tăng, chênh lệch quá lớn về điều kiện sống giữa đô thị và nông thôn Điều đó đòi hỏi Nhà nước các cấp phải “đủ sức” để điều tiết hợp lý, đảm bảo sự hài hòa trong quá trình phát triển
Nhu cầu về kết cấu HTKT, nhất là các công trình phục vụ công cộng trong các đô thị ngày càng tăng là một tất yếu khách quan Trong khi đó các công trình kết cấu HTKT có xu hướng xuống cấp nhanh chóng, mà nguồn lực của nhà nước lại hạn hẹp Do vậy bộ máy nhà nước phải “vận động” thật linh hoạt, hiệu quả thì mới có thể đáp ứng được nhu cầu đó của mọi mặt đời sống sản xuất, xã hội của đô thị
Sự phân công, phân cấp, phối hợp trong quản lý nhà nước ngày càng phức tạp Trong quản lý kết cấu HTKT đô thị thì vấn đề này càng trở nên phức tạp hơn (vì nó đòi hỏi tính đồng bộ, thống nhất và tính trách nhiệm cao) Trong thực tế, sự phối hợp giữa các ngành chức năng thiếu nhất quán và đồng bộ; việc phân định trách nhiệm giữa các ngành chức năng trong quá trình phát triển kết cấu HTKT chưa rõ ràng Cho nên, nhà nước phải tăng cường lãnh đạo, quản lý mới có thể thực hiện tốt yêu cầu này
Hệ thống các văn bản pháp qui là công cụ chủ yếu của chính quyền địa phương nhằm phối hợp thống nhất các đạo luật mà Nhà nước đã ban hành để vận dụng vào quá trình quản lý kinh tế - xã hội ở đô thị, bên cạnh đó các hoạt động kinh tế-xã hội đều phải dựa vào công cụ của pháp luật và hệ thống các văn bản pháp qui hành chính để tiến hành, tức là mọi hoạt động trên các lĩnh
Trang 30
vực, trong đó có quản lý kết cấu HTKT, đều phải nằm trong khuôn khổ pháp luật Công tác quản lý kết cấu HTKT đô thị chủ yếu dựa trên hệ thống văn bản quản lý qui hoạch, đất đai và xây dựng đô thị đã được ban hành như: Nghị định của Chính phủ ban hành điều lệ quản lý qui hoạch đô thị, điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng; các quyết định về phê duyệt các dự án quy hoạch tổng thể đã được thể chế hóa để làm cơ sở pháp lý trong công tác quản lý xây dựng kết cấu HTKT đô thị; các quyết định về định hướng chiến lược phát triển kinh tế- xã hội ở đô thị; định hướng phát triển kết cấu HTKT Tuy nhiên, hiện nay hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật nói chung và trên lĩnh vực xây dựng phát triển kết cấu HTKT đô thị nói riêng vẫn còn nhiều hạn chế như chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ, còn quá nhiều kẻ hở, chồng chéo lẫn nhau đòi hỏi chính quyền cấp cơ sở phải triển khai thực hiện nghiêm minh, đồng thời vận dụng linh hoạt, mềm dẻo nhằm vừa đạt được mục tiêu phát triển, vừa đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, hạn chế và ngăn ngừa có hiệu quả các vi phạm Đồng thời đòi hỏi Nhà nước TW phải không ngừng đổi mới và nâng cao năng lực lập pháp đáp ứng được yêu cầu phát triển đô thị trong thời kỳ mới
Công tác thanh tra, kiểm tra các vi phạm trong lĩnh vực xây dựng, phát triển kết cấu HTKT đô thị còn nhiều bất cập, quá trình thực hiện còn chồng chéo, hiệu quả thấp, khi phát hiện vi phạm thì việc xử lý chưa kịp thời, nghiêm minh, vẫn còn hiện tượng nể nang, xuê xoa Do vậy nhà nước cần sớm có biện pháp chấn chỉnh, đổi mới nhằm nâng cao hiệu quả của công tác này
Việt Nam đang thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước theo chủ trương của Đảng và Nhà nước trong xu thế toàn cầu hóa và xu thế hội nhập sâu hơn với nền kinh tế thế giới Điều đó đặt ra yêu cầu hết sức cấp thiết cho cả nước, là phải đẩy mạnh phát triển kinh tế- xã hội, từng bước nâng cao trình độ nền kinh tế lên ngang bằng với các quốc gia trong khu vực, phát triển mạnh mẽ kết cấu HTKT theo hướng hiện đại Muốn vậy, phải không ngừng đổi mới quản lý nhà nước trên lĩnh vực này, coi đây là một trong những nhân
tố nền tảng, quyết định sự phát triển kinh tế- xã hội đất nước
Trang 31
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị
Thứ nhất, hiệu quả hoạt động, điều hành và quy mô, năng lực của bộ
máy quản lý nhà nước Trung ương cũng như tại các đô thị có tác động rất lớn
và trực tiếp đến hiệu quả quản lý kết cấu HTKT đô thị Nếu bộ máy tinh gọn
và hiệu quả, sẽ tiết kiệm chi thường xuyên tăng các khoản chi cho đầu tư phát triển, đồng thời có khả năng thu hút mạnh các nguồn vốn đầu tư, nhất là các nguồn đầu tư nước ngoài, các chương trình mục tiêu Chính phủ Đối với quản
lý nhà nước về kết cấu HTKT, yếu tố quan trọng nhất trong bộ máy tổ chức
và cán bộ là trình độ cán bộ làm công tác quy hoạch, kế hoạch, công tác quản
lý các dự án đầu tư xây dựng Nếu đội ngũ cán bộ này thật sự có năng lực, phẩm chất tốt thì sẽ tham mưu cho chính quyền đô thị quản lý, điều tiết hiệu quả, hạn chế lãng phí trong quá trình đầu tư xây dựng các công trình kết cấu HTKT đô thị
Thứ hai, việc quản lý các công trình kết cấu HTKT chịu ảnh hưởng
khá lớn về vấn đề sở hữu: đầu tư của Nhà nước hay của các thành phần kinh tế khác; công trình đó do ai quản lý sử dụng Nếu do Nhà nước đầu
tư sẽ dễ tập trung được nguồn vốn lớn, xây dựng công trình được đồng bộ hơn, có thể đầu tư những công trình mà hiệu quả kinh tế rất thấp, nhưng hiệu quả xã hội cao hoặc có tác dụng tăng cường tiềm lực quốc phòng an ninh, về lâu dài có lợi cho nền kinh tế quốc dân Nếu là nguồn vốn của tư nhân hay doanh nghiệp (trừ vốn đầu tư nước ngoài) thì sẽ ngược lại Tất nhiên, nếu nguồn vốn của nhà nước thì vấn đề đặt ra là phải quản lý và sử dụng nó như thế nào cho có hiệu quả, hạn chế thất thoát do các hiện tượng tham ô, tham nhũng, lãng phí hoặc các hiện tượng tiêu cực khác Vấn đề quản lý quản lý khai thác, sử dụng các công trình kết cấu HTKT cũng có ảnh hưởng rất lớn từ các yếu tố nêu trên: công trình thuộc sở hữu nhà nước, thường kéo theo việc hình thành các tổ chức để quản lý vận hành; chi phí quản lý, vận hành được chi từ nguồn ngân sách làm tăng thêm gánh nặng cho quản lý nhà nước ở lĩnh vực này Công trình do khu vực kinh tế ngoài
Trang 32
Nhà nước đầu tư và quản lý thì khắc phục được hạn chế vừa nêu, nhưng lại tạo ra khó khăn trong việc thực hiện một số mục tiêu định trước của Nhà nước, như điều hòa sự phát triển kinh tế giữa các vùng thuận lợi và khó khăn, giải quyết các vấn đề xã hội, dân sinh, vấn đề đảm bảo quốc phòng
an ninh, trật tự xã hội, giữ gìn môi trường sinh thái
Tính phức tạp trong quản lý nhà nước về HTKT tăng tỷ lệ thuận theo trình độ phát triển kinh tế- xã hội của địa phương hay quốc gia Bởi vì, một mặt sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, tăng tỷ trọng ngành kinh tế công nghiệp, thương mại- dịch vụ sẽ đòi hỏi sự phát triển kết cấu HTKT tương ứng Mặt khác, kinh tế phát triển mới có khả năng tích lũy nội
bộ nền kinh tế và thu hút các đối tác từ bên ngoài (kể cả trong và ngoài nước) đầu tư xây dựng kết cấu HTKT, đầu tư phát triển sản xuất công nghiệp, thương mại-dịch vụ Điều đó, tất yếu làm tăng quy mô, chất lượng, tính hiện đại, đa dạng phức tạp của các công trình HTKT, dẫn đến đòi hỏi cấp thiết, khách quan là phải không ngừng đổi mới, nâng cao trình độ quản lý của chính quyền các cấp trên lĩnh vực này
Thứ ba, cơ chế chính sách của Nhà nước TW và địa phương sẽ tạo ra
hành lang thuận lợi hoặc kìm hãm sự phát triển Trước hết là hệ thống pháp lý như Luật khuyến khích đầu tư, Luật đất đai, Nhà ở, các văn bản pháp luật về quản lý đầu tư xây dựng sau đó là các cơ chế chính sách khuyến khích đầu
tư như miễn giảm thuế, cho thực hiện khấu hao nhanh, chính sách về nhà ở, đất đai, bồi thường- giải phóng mặt bằng và các cơ chế chính sách về quản lý
sử dụng khai thác các công trình kết cấu HTKT như: quy định về chế độ sửa chữa, duy tu, bảo dưỡng, vấn đề thu hồi vốn để tái đầu tư Tất nhiên, nếu hệ thống chính sách, pháp luật thông thóang, sẽ tạo điều cho các nhà đầu tư trong
và ngoài nước mạnh dạn đầu tư vào lĩnh vực kết cấu HTKT Tuy nhiên, sự thoáng mở thường dẫn đến sự thiếu đồng bộ, hoặc thiếu chặt chẽ, khó kiểm sóat ở một số địa phương hoặc từng lĩnh vực Thực tế, ở nước ta cơ chế thoáng mở của nước ta trong những năm trước đây đã dẫn đến hệ quả là gần
Trang 33
40 tỉnh, thành trực thuộc TW đã “vận dụng” đề ra các quy định khuyến khích đầu tư vượt rào, mà vừa qua Chính phủ phải ra quyết định hủy bỏ
Thứ tư, môi trường chính trị ổn định là nhân tố quan trọng để tăng khả
năng đầu tư của các thành phần kinh tế, đặc biệt là thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Thực tế những năm qua cho thấy các quốc gia kém ổn định về chính trị như Pakistan, Apganistan hay vùng Trung Đông, tốc độ tăng trưởng kinh tế bị ảnh hưởng nghiêm trọng, đầu tư nước ngoài giảm mạnh, đầu
tư xây dựng kết cấu HTKT rất thấp Ngoài ra các điều kiện về môi trường tự nhiên, tâm lý xã hội cũng là những yếu tố cần được lưu ý trong quá trình quản
lý nhà nước về kết cấu HTKT
1.3 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về kết cấu hạ tầng kỹ thuật ở một số đô thị
Định hướng quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị Việt Nam
1,4%diện tích cả nước) [6, tr.6] Cho đến nay, cả nước đã hình thành 10 vùng
đô thị hoá đặc trưng, với 718 đô thị lớn nhỏ, trong đó có 02 đô thị loại đặc biệt, 03 đô thị loại I trực thuộc trung ương, 01 đô thị loại I trực thuộc tỉnh, 14
đô thị loại II, 20 đô thị loại III, 53 đô thị loại IV và 617 đô thị loại V Do vậy, kinh nghiệm thực tiễn công tác quản lý nhà nước về kết cấu HTKT ở các đô thị hết sức phong phú, đa dạng cần nghiên cứu, vận dụng thực hiện tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam
1.3.1 Kinh nghiệm về quy hoạch và quản lý quy hoạch
Thành phố Đà Nẵng là một điển hình về quy hoạch phát triển đô thị, từ quy hoạch chung được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh, thành phố
đã tập trung lập và phê duyệt gần 700 đồ án quy hoạch chi tiết, với diện tích gần 5.500ha Đây là cơ sở quan trọng cho giai đoạn “bùng nổ” về xây kết cấu HTKT và chỉnh trang đô thị của thành phố trong thời gian qua Vấn đề là,
Trang 34kế đô thị đang được quan tâm đúng mức, tạo điều kiện phát triển đô thị hiện đại; trong quy hoạch đã hạn chế được việc chia lô vụn vặt (mà có thời gian dài rất phố biến ở thành phố) Quy hoạch chi tiết vừa tuân thủ nghiêm quy hoạch chung, vừa có trọng tâm, trọng điểm gắn chặt với thực tế, nhờ vậy hạn chế tình trạng quy hoạch treo, quy hoạch kém chất lượng
Công tác quản lý quy hoạch, quản lý xây dựng hạ tầng đô thị cũng từng bước đi vào nề nếp, hạn chế dần những chồng chéo trong quản lý đô thị giữa các ngành có quan hệ mật thiết như: Sở Xây dựng (cơ quan quản lý quy hoạch), Sở Kế hoạch - Đầu tư (cơ quan quản lý đầu tư), Sở Tài nguyên- Môi trường (quản lý đất đai), Sở Giao thông (cơ quan quản lý giao thông công chính), các Ban quản lý dự án đầu tư, UBND các địa phương
Với điều kiện của thành phố Tam Kỳ hiện nay, cần chú trọng thực hiện quy hoạch chi tiết trên toàn địa bàn, bởi vì nó có ý nghĩa quan trọng không chỉ trong quản lý đất đai, xây dựng mà còn thúc đẩy quá trình hình thành các công trình kết cấu HTKT, góp phần chỉnh trang, phát triển đô thị Trong quá trình lập quy hoạch cần lưu ý quan hệ vùng và các khu vực ven đô thị để mở rộng thành phố (khu vực này thường ít tốn kém kinh phí bồi thường, thuận lợi cho đầu tư hạ tầng mới) gắn với phân kỳ đầu tư hợp lý đảm bảo tính khả thi cao; đồng thời tôn trọng và phát huy các yếu tố tự nhiên (biển, sông ngòi, đồi
Trang 35
núi ) nhằm đảm bảo cảnh quan hài hòa và môi trường trong thiên nhiên trong lành cho đô thị Triển khai xây dựng kết cấu HTKT cần có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các ngành chủ quản
Tuy nhiên, trên lĩnh vực này Thành phố Đà Nẵng vẫn còn bộc lộ khá nhiều bất cập, điển hình như: Chưa có tầm nhìn “thật xa, thật rộng”, chưa giải quyết tốt vấn đề không gian kiến trúc, thể hiện ở các tuyến đường ven biển, các ngôi nhà cao tầng quá gần biển, làm mất không gian cảnh quan thiên nhiên bãi biển (mà rất khó khắc phục) Thành phố Tam Kỳ cần tránh sai lầm này trong quy hoạch và xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng tại các xã vùng Đông, nhất là tại xã biển Tam Thanh và khu vực dọc sông Trường Giang, Bàn Thạch Việc huy động sự tham gia của cộng đồng vào công tác quy hoạch, xây dựng HTKT còn nhiều hạn chế hoặc mạng nặng tính hình thức, chưa mạnh dạn mời các nhà quy hoạch nổi tiếng nước ngoài tham gia xây dựng quy hoạch địa phương Mặc dù được khắc phục nhưng tình trạng quy hoạch xây dựng HTKT công cộng để chia lô bán đất vẫn còn ở một số dự
án Tổ chức môi trường còn ỷ lại lớn vào môi trường tự nhiên chủ đạo sẵn có
mà quên đi việc cải thiện môi trường không gian tại các khu đô thị Các đồ án quy hoạch cũng như các công trình HTKT vẫn còn thiếu tính khớp nối, thiếu đồng bộ; nhiều khu dân cư hạ tầng công cộng phúc lợi xã hội, cây xanh chưa đạt yêu cầu; vẫn còn nhiều đồ án chất lượng thấp, tính khả thi kém - “quy hoạch treo”, phải điều chỉnh nhiều lần Lực lượng kiến trúc sư của thành phố tuy phát triển nhanh về số lượng (hơn 200 KTS) nhưng thiếu chuyên gia đầu ngành, trình độ chuyên môn chưa đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong xây dựng phát triển thành phố Ngoài ra, việc quản lý xây dựng HTKT còn chồng chéo giữa các cơ quan quản lý chuyên ngành Đây là những hạn chế mà hiện tại Tam Kỳ vẫn còn đang mắc phải (do hạn chế nguồn vốn và thiêú tầm nhìn xa trong quy hoạch) cần sớm khắc phục
Các đô thị của CHLB Đức và Liên minh Châu Âu (nước có rất nhiều kinh nghiệm trong quy hoạch, xây dựng hạ tầng), trong quy hoạch và quản lý
Trang 36
quy hoạch, họ đặc biệt coi trọng sự tham gia của cộng đồng, xem như là một tất yếu, đảm bảo tính minh bạch của quy hoạch và sự tham gia này càng được gắn kết chặt chẽ thì mức độ thực hiện của đồ án quy hoạch càng rõ rệt và khả thi cao hơn, bởi không ai khác ngoài cộng đồng hiểu rõ những vấn đề và các thách thức đối với quy hoạch Hình thức tham gia của cộng đồng gồm 08 mức khác nhau (từ cung cấp thông tin, trao đổi thông tin, , trao quyền quyết định) Tam Kỳ cũng giống như các đô thị khác trong cả nước, mới chỉ thực hiện được một mức là cung cấp thông tin trong bước công bố quy hoạch, nếu chỉ dừng lại ở đây mà không có phản hồi thông tin thì đồ án sẽ không có hiệu quả thực thi Vì vậy, để cải thiện hiệu quả tham gia cộng đồng thành phố Tam
Kỳ cần phải đổi mới trong phương thức tham gia của công đồng (quần chúng được chủ động hơn, thông tin công khai hơn, nhiều hình thức tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp tuỳ điều kiện của từng địa phương)
Trong quá trình đầu tư xây dựng đô thị nói chung và kết cấu HTKT nói riêng, vai trò của kinh tế tư nhân ngày càng quan trọng và rõ rệt Đô thị ngày càng phát triển với quy mô lớn và năng động mà nếu chỉ dựa vào cơ quan hành chính công để quản lý thì sẽ bị quá tải và sơ cứng, trong khi đó khả năng tham gia và kiểm soát các hoạt động của các tổ chức quần chúng trong phát triển đô thị lại không được khai thác Mô hình quản lý mà EU và CHLB Đức đang áp dụng “cộng đồng- tư nhân- chính quyền” là mô hình quản lý đô thị và kết cấu HTKT đô thị có hiệu quả cao so với mô hình không có cộng đồng tham gia Tuy nhiên, yếu tố văn hoá và xã hội là rất quan trọng trong việc xem xét và lựa chọn hình thức tham gia của cộng đồng Đây là phương pháp quản lý mới, có hiệu quả cao, nhưng chưa được các đô thị Việt Nam quan tâm Trong thời gian tới chúng ta cần nghiên cứu triển khai thí điểm ở một số
đô thị sau đó nhân rộng ra phạm vi cả nước
1.3.2 Kinh ngiệm về quản lý hành chính nhà nước
ở thành phố Đà Lạt, công tác quản lý nhà nước về kết cấu HTKT đô thị
có nhiều điểm khá thành công Trên cơ sở quy hoạch được duyệt, chính quyền
đô thị quản lý chặt chẽ, nghiêm ngặt từ khâu định hướng xây dựng, thoả thuận
Trang 37
vị trí xây dựng, giao đất xây dựng các công trình hạ tầng, kể cả việc xử lý vi phạm trong xây dựng Thành phố Đà Lạt đã áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo bộ tiêu chuẩn ISO 9000:2000 vào việc quản lý quy trình thủ tục hành chính trong các lĩnh vực cấp phép xây dựng, thẩm định phê duyệt báo cáo đầu tư, thiết kế dự toán các công trình kết cấu HTKT đô thị- đây là công
cụ để cơ quan quản lý nhà nước thực thi nhanh chóng và đúng pháp luật công tác quản lý xây dựng, đồng thời cũng là công cụ để kiểm tra lại tính hiệu quả công tác quản lý Nó không những có tác dụng nâng cao năng lực, chất lượng quản lý mà còn là cơ sở để nhân dân giám sát, kiểm tra đánh giá công tác quản lý của cơ quan nhà nước, của cán bộ công chức được giao thực thi nhiệm vụ; hạn chế tiêu cực, thể hiện được tính công khai minh bạch trong quản lý của cơ quan công quyền
Đặc biệt, Đà Lạt đã xây dựng thành công và áp dụng có hiệu quả hệ thống tích hợp thông tin địa lý (GIS) Trong hệ thống này lưu giữ cơ sở dữ liệu hết sức phong phú, có ý nghĩa thiết thực trong quản lý sử dụng, khai thác
cơ sở hạ tầng đô thị, bao gồm các hồ sơ quy hoạch chung, bản đồ hiện trạng,
dữ liệu địa chính, địa hình của toàn thành phố; dữ liệu quy hoạch và hiện trạng hệ thống giao thông, cấp thoát nước, cấp điện, cây xanh (được cập nhật thông tin thường xuyên) sử dụng GIS chúng ta có thể biết đến hiện trạng cụ thể của từng tuyến đường giao thông, đường cống thoát nước, hệ thống cáp quang ngầm, của một thửa đất, hay các đặc điểm, thuộc tính của từng cây xanh trong đô thị Đây là mô hình cần sớm được nhân rộng trên phạm vi cả nước, nhằm phục vụ tốt hơn cho công tác quản lý trong xu thế hiện nay
1.3.3 Kinh nghiệm về huy động vốn
Việc huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển kết cấu HTKT luôn
là vấn đề quan trong đặt ra cho các đô thị Tuy nhiên, cách làm của từng đô thị khác nhau và hết sức phong phú đa dạng Thành phố Đồng Hới, việc xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng nhỏ được thực hiện theo phương thức
“dân làm nhà nước hướng dẫn, hỗ trợ”, như lát gạch vỉa hè và trồng cây xanh
đô thị được huy động toàn bộ từ cộng đồng dân cư, nhà nước chỉ quản lý theo
Trang 38
đúng quy hoạch và thiết kế được duyệt; các tuyến bê tông hoá giao thông nông thôn và kiệt hẽm nội thị được đầu tư với tỷ lệ đóng góp của nhân dân từ 40-60% tổng giá trị dự toán Mức đóng góp này do nhân dân tự bàn bạc, thảo luận công khai, dân chủ và quyết định trên cơ sở gợi ý và định hướng của chính quyền thành phố Hay tại thị xã Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh, công tác xây dựng và chỉnh trang đô thị nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình của nhân dân địa phương thông qua việc tự nguyện giao đất cho Nhà nước mà không nhận tiền bồi thường và tự nguyện đóng góp kinh phí xây dựng công trình
Tại Bình Dương, Vĩnh Yên nhiều năm qua đã đẩy mạnh thu hút đầu tư
hạ tầng cho các khu công nghiệp, khu đô thị mới từ các đơn vị ngoài nhà nước, theo hướng doanh nghiệp tự ứng vốn trước để đầu tư hạ tầng (đường sá, điện nước, công viên ) theo hình thức đấu thầu quỹ đất thô hoặc đấu thầu xây lắp công trình, sau đó được nhà nước thanh toán bằng quỹ đất có giá trị tương ứng hoặc tự khai thác toàn bộ dự án để thu hồi vốn Điển hình như khu Đầm Vạc của Thành phố Vĩnh Yên, khu công nghiệp Amata ở Bình Dương Đặc biệt, việc huy động nguồn vốn đầu tư hạ tầng bằng hình thức thành lập “Quỹ đầu tư phát triển” mang lại hiệu quả cao ở nhiều địa phương, đến nay đã có 13 tỉnh, thành phố thực hiện (như TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đồng Nai, Bình Phước ), cần nghiên cứu nhân rộng trên phạm vi cả nước
ở thành phố Lạng sơn, công tác thu gom và xử lý rác thải được xã hội hoá hoàn toàn theo hướng Nhà nước không bao cấp hoặc bù lỗ chi phí (như hiện nay phần lớn các đô thị đang áp dụng, trong đó có thành phố Tam Kỳ)
mà đấu thầu thu gom rác thải hoặc giao cho các doanh nghiệp tư nhân đảm nhiệm, đồng thời một số phường thực hiện mô hình tự quản thu gom rác thải
do nhân dân địa phương tự thực hiện thu gom, chi phí chi trả từ thu phí trong công đồng hưởng lợi từ dịch vụ này
Trang 39
Chương 2
Thực trạng quản lý nhà nước về kết cấu hạ tầng
kỹ thuật ở thành phố tam kỳ, tỉnh quảng nam
trong thời gian qua
2.1 Một số đặc điểm tự nhiên và kinh tế-xã hội của thành phố tam kỳ, quảng nam
2.2.1 Đặc điểm tự nhiên có ảnh hưởng đến kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị
Tỉnh Quảng Nam thuộc vùng đồng bằng duyên hải miền Trung; Diện
Kỳ và thị xã Hội An
Thành phố Tam Kỳ-tỉnh lỵ Quảng Nam nằm ở trung điểm của đất nước, phía Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp huyện Phú Ninh, phía Nam giáp huyện Núi Thành, phía Bắc giáp huyện Thăng Bình và Phú Ninh Cách thành phố Đà nẵng 70 km về phía Bắc, cách khu công nghiệp và nhà máy lọc dầu Dung Quất 40 km về phía Nam Tam Kỳ là cửa ngõ của Tây Nguyên và đường xuyên á ra biển Đông của các nước tiểu vùng sông Mêkông, gần đường hàng hải quốc tế, là trung điểm đi đến các vùng Đông Nam á và Đông Bắc á, thuận lợi cho giao lưu quốc tế và trong nước; các cửa khẩu Đắc ốc, Bờ
Y tạo ra mối liên kết vùng giữa Quảng Nam, thành phố Tam kỳ với vùng Tây Nguyên, Nam Lào, Đông bắc Thái Lan và tiểu vùng sông Mêkông, Tam Kỳ nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và hơn 2/3 diện tích tự nhiên thuộc Khu kinh tế mở Chu Lai
Thành phố Tam Kỳ có 13 đơn vị hành chính (gồm 09 phường, 04 xã), với diện tích tự nhiên là: 9.263,6ha Trong đó: Đất phi nông nghiệp: 2.893,41ha (gồm đất ở đô thị: 489,54 ha; đất ở nông thôn: 198,26 ha; đất
chuyên dùng: 976,92 ha); đất nông nghiệp và đất khác: 6.370,16 ha (Nguồn: Niên giám thống kê thành phố Tam Kỳ năm 2006)
Trang 40A1.2 Đất phục vụ ngoài phạm vi đô thị
5 Đất cơ quan-trường chuyên nghiệp 84,7 12,2
6 Đất tôn giáo, di tích lịch sử, văn hoá 14,1
3 Đất các công trình đầu mối kỹ thuật (kênh
mương thoát nước, bãi chôn lấp )
4 Đất chưa sử dụng khác (đồi núi, sông suối ) 926,6
Nguồn: Số liệu tổng kiểm kê đất đai của UBND thành phố Tam Kỳ, 2006
Theo số liệu thống kê thành phố Tam Kỳ, tổng dân số thường trú đến ngày 31/12/2006 là 99.879 người (dân số quy đổi là 132.936 người); tỷ lệ tăng dân số tự nhiên bình quân hàng năm 8,51% Dân số sinh sống tại khu vực nội thị 72.260 người, chiếm tỷ lệ 72,35%, ngoại thị 27.619 người
toàn Thành phố năm 2006 là 60.138 người (khu vực nội thị là: 42.840