vận dụng tư tưởng và phương pháp dân chủ của hồ chí minh vận dụng tư tưởng và phương pháp dân chủ của hồ chí minh vận dụng tư tưởng và phương pháp dân chủ của hồ chí minh vận dụng tư tưởng và phương pháp dân chủ của hồ chí minh vận dụng tư tưởng và phương pháp dân chủ của hồ chí minh vận dụng tư tưởng và phương pháp dân chủ của hồ chí minh
Trang 1
LUËN ¸N TIÕN SÜ triÕt häc
hµ Néi - 2003
Trang 2Chuyªn ngµnh : Chñ nghÜa x· héi khoa häc
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tư tưởng Hồ Chí Minh được Đảng ta khẳng định cùng với chủ nghĩa Lênin là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam hành động của toàn Đảng, toàn dân và được triển khai nghiên cứu sâu rộng từ năm 1991 đến nay Là hệ thống lý luận, tư tưởng Hồ Chí Minh đề cập nhiều lĩnh vực trong đó có vấn đề dân chủ và xây dựng nền dân chủ mới ở Việt Nam Hồ Chí Minh là người vận dụng sáng tạo học thuyết dân chủ mácxít vào Việt Nam và đã trở thành một trong những nhà dân chủ vô sản lớn ở thế kỷ XX Tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh là sự kết hợp hài hoà những yếu
Mác-tố dân chủ truyền thống của dân tộc Việt Nam với tinh hoa dân chủ của nhân loại trên lập trường giai cấp vô sản, Hồ Chí Minh là người sáng lập nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, đồng thời
Hồ Chí Minh cũng là người kiên trì nêu gương về phương pháp và phong cách dân chủ cho toàn Đảng, toàn dân ta Suốt một phần tư thế kỷ đứng đầu nhà nước dân chủ mới, Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta những kinh nghiệm quý giá về thực hành dân chủ mà cuộc sống đang đòi hỏi có sự tổng kết nghiêm túc
Công cuộc đổi mới ở nước ta có một trong những nội dung cốt lõi là dân chủ hoá Dân chủ hoá là hiện thực hoá quyền làm chủ của dân về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội trong đời sống xã hội Xét từ góc độ dân chủ, đổi mới theo hướng xã hội chủ nghĩa thực chất là quá trình xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Tìm hiểu, tổng kết nội dung dân chủ hoá trong công cuộc đổi mới định hướng xã hội chủ nghĩa là cần thiết
Hiện nay, tình trạng vi phạm dân chủ đã làm xuất hiện nhiều “điểm nóng” về chính trị, xã hội Các “điểm nóng” có xu hướng lây lan và ngày càng phức tạp Vi phạm dân chủ thực chất là làm trái với tư tưởng Hồ Chí Minh,làm sai cương lĩnh của Đảng Vậy, cái gì dẫn đến những sai trái đó?
Trong những năm qua, việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ chưa ngang tầm đòi hỏi của cuộc sống Các công trình nghiên cứu chưa tập trung làm sáng tỏ những giá trị lý luận và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và tìm cách vận dụng vào thực tiễn đổi mới ở nước ta
Trang 4Vì những lý do nêu trên, nghiên cứu sinh chọn đề tài: “Vận dụng tư tưởng
và phương pháp dân chủ của Hồ Chí Minh trong quá trình thực hiện dân chủ
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” làm luận án tiến sĩ triết học, chuyên ngành chủ
bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa đi lên xã hội chủ nghĩa Luận án tiến sỹ triết học,
dù là chuyên ngành chủ nghĩa cộng sản khoa học cũng không thể phản ánh và bao quát hết những nội dung phức tạp và rộng lớn của quá trình dân chủ hoá xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam nên chỉ giới hạn hẹp trong mục đích và các nhiệm vụ đặt ra ở mục 3 phần Mở đầu
1 Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1 Trước khi triển khai Chương trình khoa học- công nghệ cấp Nhà nước (giai đoạn 1991-1995) nghiên cứu về Tư tưởng Hồ Chí Minh, đã có trên 300 công trình của các nhà lãnh đạo, các nhà khoa học ở trong và ngoài nước viết về Hồ Chí Minh được công bố Trong các công trình đó, tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh
đã bước đầu được đề cập dưới dạng này, dạng khác mà chưa được đề cập như một phạm trù chính trị- xã hội cơ bản
Trong Chương trình khoa học- công nghệ cấp Nhà nước nghiên cứu về Tư tưởng Hồ Chí Minh (mã số KX02) cũng chỉ có một đề tài nhánh nghiên cứu về tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh, nhưng chưa được xã hội hoá
2.2 Những năm gần đây, tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh cũng chưa được tập trung nghiên cứu một cách tương xứng, chưa có công trình nào xác lập,
làm sáng tỏ hệ thống tư tưởng dân chủ của Người và tìm cách vận dụng vào thực
tiễn đổi mới ở nước ta
Từ năm 1986, bước vào công cuộc đổi mới, các nhà khoa học Việt Nam đã
có nhiều công trình nghiên cứu lý luận chung về dân chủ, dân chủ xã hội chủ nghĩa, bản chất và cơ chế thực hiện dân chủ, v.v Đã có những cuộc hội thảo khoa
Trang 5học lớn về dân chủ, nhiều bài viết về dân chủ rất công phu, khoa học được công bố trên các tạp chí và đã có những công trình in thành sách Nhưng nghiên cứu lý luận dân chủ của Hồ Chí Minh chưa có thành tựu đáng kể Thống kê sơ bộ trên mấy tạp chí (Tạp chí Triết học, Tạp chí Thông tin lý luận, Tạp chí Nghiên cứu lý luận, Tạp chí Lịch sử Đảng, Tạp chí Công tác tư tưởng văn hoá, Tạp chí Cộng sản) chúng tôi thấy, trong số trên 50 công trình nghiên cứu về dân chủ, dân chủ xã hội chủ nghĩa thì số công trình trực tiếp đề cập đến tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh là rất ít Chỉ có : “Quán triệt tư tưởng dân chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới” của Nguyễn Văn Nam, Tạp chí Công tác tư tưởng và văn hoá, 6-1992
“Tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ” của Lê Văn Tuấn, Tạp chí Thông tin lý luận, 9-1992, “Tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh với tư cách là giải pháp chống quan liêu” của Ngô Hữu Thảo, Tạp chí Thông tin lý luận, 6-1993 “Về dân chủ trong tư tưởng Hồ Chí Minh” của Hoàng Trang, Tạp chí Lịch sử Đảng, 6-
1998
Các bài viết về tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh nêu trên có tính chất đặt vấn
đề và gợi ý nghiên cứu nhiều hơn là xác định và hệ thống những luận điểm dân chủ của Hồ Chí Minh thành một hệ thống lý luận hoàn chỉnh, thậm chí chưa có quan niệm rõ về tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh Ví như Hoàng Trang cho rằng ; dân chủ trong tư tưởng Hồ Chí Minh gồm những nội dung cơ bản:
1 Đó là một chế độ chính trị do dân làm chủ
2 Đảng lãnh đạo thực hiện một chế độ dân chủ là tất yếu
3 Trong thực thi dân chủ phải có vai trò tổ chức quản lý của nhà nước
4 Nhân dân là hạt nhân của dân chủ, nhân dân có quyền làm chủ thì phải có nghĩa vụ hoàn thành bổn phận của người làm chủ (124, tr,14)
Ở đây, Hoàng Trang chưa phân định rõ giữa cơ chế thực hhiện dân chủ với nội dung cơ bản trong tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh
Có một số cuốn sách đề cập đến tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh như; Đạo đức Hồ Chí Minh- tư tưởng nhân đạo, dân chủ của Phạm Ngọc Uyển, Nxb Đà Nẵng, 1990, 78 trang Trong các công trình này, dân chủ Hồ Chí Minh được khảo sát ở bình diện giá trị văn hoá và giá trị đạo đức là chủ yếu
Trang 62.3.Chưa có công trình nào nghiên cứu về phương pháp dân chủ của Hồ Chí
Minh, nhất là nghiên cứu vận dụng tư tưởng và phương pháp dân chủ của Hồ Chí
Minh như thế nào trong đời sống xã hội sôi động hiện nay Duy nhất có luận văn thạc sĩ của Tô Tuyên, chuyên ngành Chủ nghĩa cộng sản khoa học có đề cập đến việc vận dụng tư tưởng dân chủ Hồ chí Minh với đề tài : “Vận dụng một số nội dung cơ bản của tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh trong xây dựng hệ thống chính trị
cơ sở ở Hà Giang”
Những kết quả nghiên cứu kể trên về tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh, dù là bước đầu, nhưng vẫn là cơ sở cho chúng tôi tham khảo và kế thừa có chọn lọc trong thực hiện luận án của mình Song, đề tài luận án này không trùng lặp với các công trình khoa học hoặc luận văn, luận án đã công bố
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
3.1.Mục đích của luận án là nghiên cứu làm sáng tỏ hệ thống tư tưởng và phương pháp dân chủ của Hồ Chí Minh và quá trình vận dụng vào thực tiễn để xây dựng, hoàn thiện dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất phương hướng tiếp tục vận dụng tư tưởng và phương pháp dân chủ của Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới hiện nay ở nước ta
3.2 Để thực hiện mục đích trên, luận án có các nhiệm vụ :
- Làm rõ về mặt lý luận; khái niệm, nguồn gốc, nội dung chủ yếu trong tư tưởng và phương pháp dân chủ của Hồ Chí Minh
- Phân tích quá trình thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa ở việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh mà trọng tâm là thời kỳ đổi mới và đánh giá thực trạng dân chủ xã hội chủ nghĩa ở ta hiện nay
- Kiến nghị về phương hướng tiếp tục vận dụng tư tưởng và phương pháp dân chủ của Hồ Chí Minh để xây dựng và hoàn thiện dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong thời gian tới
4 Cơ sở lý luận và phương pháp của luận án
- Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về dân chủ, đồng thời có tham khảo, sử dụng thành tựu nghiên cứu khoa học hiện đại về dân chủ
Trang 7- Luận án vận dụng các nguyên tắc phương pháp luận của chủ nghĩa Lênin; các phương pháp lôgic, lịch sử, phân tích, tổng hợp và một số phương pháp
Mác-cụ thể khác
1 Đóng góp mới của luận án
- Trình bày một cách có hệ thống cơ sở hình thành tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh
- Phân tích, xác định rõ hệ thống nội dung cơ bản trong tư tưởng và phương pháp dân chủ của Hồ Chí Minh một cách có căn cứ khoa học
- Phân tích rõ sự vận động của tư tưởng và phương pháp dân chủ Hồ chí Minh trong thực tiễn và khái quát thành các nguyên tắc có tính phương pháp luận trong đánh giá thực trạng dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta
- Đề xuất một số phương hướng cơ bản, có tính hiện thực nhằm tiếp tục vận dụng tư tưởng và phương pháp dân chủ của Hồ Chí Minh trong những năm tới ở nước ta
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Phân tích, làm rõ hệ thống các quan điểm về dân chủ và phương pháp dân chủ của Hồ Chí Minh là một đóng góp nhỏ vào nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh
- một bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam hành động của toàn Đảng, toàn dân ta Đây cũng là một đóng góp vào tìm tòi cơ sở lý luận và phương pháp luận cho việc hoàn thiện dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta
- Kết quả đạt được của luận án sẽ góp phần nâng cao nhận thức về tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh về quyền làm chủ của nhân dân, góp phần củng cố niềm tin của dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới ở nước
ta theo hướng xã hội chủ nghĩa
- Luận án có thể làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy về tư tưởng Hồ Chí Minh, về chủ nghĩa xã hộ khoa học trong các trường đào tạo cán bộ Đảng và Nhà nước
7 Kết cấu của luận án
Luận án gồm; mở đầu, 3 chương với 7 tiết, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo
Trang 8Chương I
TƯ TƯỞNG VÀ PHƯƠNG PHÁP DÂN CHỦ CỦA HỒ CHÍ MINH
1.1 TƯ TƯỞNG DÂN CHỦ CỦA HỒ CHÍ MINH
1.1.1 Nhận thức chung về khái niệm dân chủ
Thuật ngữ dân chủ xuất hiện khá sớm trong nền văn minh nhân loại, từ thời
Hy - Lạp cổ đại Dân chủ là một thuật ngữ chính trị- xã hội mang tính nhiều nghĩa, nhiều tầng bậc Khi đi vào thực tế, dân chủ biểu hiện ra ở tính đa dạng của các hình thái lịch sử, với sự phong phú của nội dung, bao trùm lên mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống con người Tuỳ theo hướng tiếp cận và nguyên tắc tiếp cận về dân chủ, nhất là tiếp cận dân chủ theo các lập trường giai cấp khác nhau mà có kết quả khác nhau, đáp ứng những yêucầu khác nhau do thực tiễn xã hội đặt ra
Đối với xã hội Việt Nam, từ xã hội thuộc địa nửa phong kiến đi lên xây dựng và phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Hồ Chí Minh đã tiếp cận dân chủ
từ hai nguyên tắc cốt yếu là ; dân chủ gắn với phát triển và quan hệ giữa dân chủ với chủ nghĩa xã hội Đây cũng là hai nguyên tắc đã và đang chi phối toàn bộ những lý giải khoa học về dân chủ hiện nay ở nước ta
Dù có tiếp cận dân chủ theo hướng nào thì cũng không thể xa rời ý nghĩa cơ bản đã có trong lịch sử nhân loại cách đây hàng nghìn năm; dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân Hàm nghĩa của dân chủ càng đầy đủ, phong phú khi chúng ta lý giải thấu đáo nhân dân là ai và quyền lực là gì, cũng như cơ chế kết hợp nhân dân với quyền lực là như thế nào
Lịch sử phát triển dân chủ gắn với lịch sử xuất hiện xã hội loài người Dân chủ đã có mặt trong suốt tiến trình phát triển của văn hoá, văn minh nhân loại, khi
đó dân chủ được hiểu với nghĩa là những giá trị của văn hoá, văn minh tiến bộ của nhân loại, dân chủ là một nhu cầu tất yếu của con người và loài người Đương nhiên, tiếp cận theo hướng nhu cầu của con người, dân chủ mang tính nhân loại Dân chủ sơ khai và việc thực thi nó đã có trước so với lịch sử hình thành giai cấp
và đấu tranh giai cấp trong lịch sử Cho dù xã hội loài người phát triển đến trình độ con người trở thành tự do hoàn toàn, trình độ tự quản xã hội đạt đến độ hoàn thiện,
Trang 9nhà nước và các thiết chế quyền lực chính trị tự tiêu vong, thì dân chủ cùng với toàn bộ nội dung nó biểu đạt vẫn tồn tại Đó chính là ý thức về giá trị làm chủ, tự chủ, tự do của con người với khả năng phát triển tối đa các năng lực sáng tạo của
họ
Dân chủ với tư cách là một giá trị xã hội, một trình độ phát triển của văn hoá, văn minh, một thuộc tính bản chất của con người thẩm thấu qua nhu cầu lối sống, đạo đức, thẩm mỹ, thì dân chủ được xác địnhlà một lý tưởng nhân đạo, một giá trị nhân văn, một mục tiêu và động lực của giải phóng cá nhân, phát triển xã hội Dân chủ vừa dựa trên tiền đề của tự do vừa thúc đẩy sự phát triển tự do Quyền dân chủ, quyền công dân, quyền con người đạt được qua đấu tranh giành dân chủ, vì dân chủ là sự phát triển của con người và loài người vươn tới tự do
Còn dân chủ với nghĩa là chế độ xã hội, là tổ chức nhà nước thì dân chủ là một phạm trù lịch sử, là quyền lực chính trị, là chế độ chính trị Do đó, chế độ dân chủ nào cũng có tính giai cấp sâu sắc Giai cấp là tiêu chí bản chất để xem xét, đánh giá chế độ dân chủ, thành tựu dân chủ, cũng như xác định chỗ đứng để giải quyết vấn đề dân chủ đặt ra trong quá trình dân chủ hoá, biểu hiện ở chỗ; dân chủ với ai, cho ai, quyền lợi, quyền lực thực sự của ai, chuyên chính với đối tượng nào
Nội dung, hình thức và tính chất của dân chủ luôn thay đổi cùng với sự vận động của lịch sử Trong lịch sử các xã hội có giai cấp, dân chủ chủ nô, dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa là các chế độ dân chủ điển hình, với những trình
độ phát triển điển hình của dân chủ chính trị, quyền lực chính trị nhà nước
Lý tưởng và mục tiêu phấn đấu của chúng ta là xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, hình thức cao nhất của dân chủ đương đại Nó sẽ phát huy triệt để những ưu điểm, tích cực và khắc phục, loại bỏ tiêu cực, khiếm khuyết của các chế
độ dân chủ trước nó, nhất là dân chủ tư sản Giữa dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa tuy khác nhau về bản chất giai cấp nhưng không khác xa nhiều về những quyền tự do, dân chủ cơ bản của con người, mà như Hồ Chí Minh khẳng định đó là: “quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” và con người
“phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi” “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”(74, tr, 11) Chỗ đối lập căn bản là chế độ dân chủ tư sản
Trang 10xây dựng trên cơ sở chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, trên quyền tự do khế ước và sự phân quyền để chống độc quyền Chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa sẽ xây dựng trên nguyên tắc; “mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người”, trên cơ sở công hữu về tư liệu sản xuất, sở hữu cá nhân tồn tại bên cạnh và bên trong sở hữu xã hội Cộng đồng xã hội bằng hành động tập thể và bằng nhà nước tập quyền hoạt động theo nguyên tắc thống nhất quyền lực nhưng
có sự phân công, phối hợp thực thi quyền lực để thực hiện lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, đem lại tự do bình đẳng, hạnh phúc cho mọi người
Dân chủ xã hội chủ nghĩa mang trong bản thân nó bản chất tốt đẹp, nó tạo những điều kiện tốt cho con người có tự do, bình đẳng, có nhân cách độc lập Tuy nhiên, đôi khi người ta đã nhân danh chủ nghĩa tập thể, nhân danh cộng đồng, đại diện quyền lợi chung để lạm quyền, chuyên quyền, đè bẹp tự do cá nhân Đây là mặt rất cần chú ý Nếu chúng ta không phòng ngừa chu đáo, thì sẽ dẫn đến nguy cơ mất dân chủ, vi phạm quyền tự do, dân chủ cơ bản của nhân dân, cuối cùng đi đến kết cục sụp đổ như Đông Âu xã hội chủ nghĩa
Chủ nghĩa xã hội hiện thực, tuy hiện đang gặp khó khăn trên con đường phát triển, nhưng nó vẫn có sức hút mạnh mẽ đối với con người Vì nó thể hiện một xu hướng phát triển khách quan, phản ánh ước mơ của con người là vươn đến tự do, là
sự khẳng định và xâydựng vị thế làm chủ của con người đối với thế giới (tự nhiên,
xã hội) Và cũng là vì chủ nghĩa xã hội không giải phóng loài người nói chung khỏi chế độ tư hữu, áp bức, bóc lột, mà còn đem lại cho từng cá nhân sự tự do, bình đẳng và bảo đảm cho mọi thành viên xã hội điều kiện tự hoàn thiện, nâng mình lên trình độ làm chủ cao Chính vì vậy, dân chủ xã hội chủ nghĩa là mục đích, đồng thời là điều kiện để con người chiếm lĩnh cái tất yếu, sáng tạo và cải tạo xã hội để
đi tới tự do
1.1.2 Cơ sở hình thành tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh
Tư tưởng và phương pháp dân chủ của Hồ Chí Minh là một bộ phận trong
hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh Do đó, cơ sở hình thành tư tưởng và phương pháp dân chủ Hồ Chí Minh không nằm ngoài các yếu tố đã hình thành nên hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh
Trang 11Hồ Chí Minh tiếp thu văn hoá dân tộc và văn hoá nhân loại (cả chủ nghĩa Mác-Lênin) là một quá trình, vừa tiếp thu vừa vận dụng và phát triển Quá trình đó diễn ra liên tục từ khi Người còn là một thanh niên cho tới khi đã là người đứng đầu Đảng, Nhà nước cách mạng của nhân dân ta, nghĩa là diễn ra trong suốt cuộc đời của Người
1.1.2.1 Hồ Chí Minh sớm tiếp thu những yếu tố dân chủ trong văn hoá truyền thống Việt Nam
Yếu tố dân chủ trong văn hoá truyền thống Việt Nam, thực chất và chủ yếu
là dân chủ nông dân Đồng thời, ở Việt Nam tồn tại khá sớm hình thức dân chủ
công xã dựa trên sự bảo tồn quan hệ công xã nông thôn, lấy quan hệ láng giềng làm sợi dây ràng buộc tập thể, chỗ dựa tinh thần là bầu không khí hoà đồng, bệ đỡ kinh tế là chế độ công điền, công thổ của làng xã
Bên cạnh tư tưởng dân chủ của nông dân, ở Việt Nam cũng tồn tại một số biện pháp và hình thức thân dân của các vương triều tiến bộ trong điều kiện phân hoá giai cấp chưa gay gắt, nhất là trước yêu cầu bức thiết của nhiệm vụ giữ nước Nhà Lý, nhà Trần được xây dựng trên một thiết chế tập quyền thân dân, “lấy dân làm gốc”, lo giữ lòng dân bằng nhiều hình thức dân chủ Nhà Lý cho đặt chuông kêu oan, nhà Trần mở hội nghị Diên Hồng để cùng bô lão cả nước bàn kế đánh giặc Trần Quốc Tuấn chủ trương “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc”, sau này Nguyễn Trãi ước mong “nơi thôn cùng xóm vắng không có tiếng oán hận, sâu thẳm” Đó là những yếu tố thân dân, trọng dân gắn liền với sự nghiệp bảo vệ độc lập dân tộc Thực tế lịch sử đã minh chứng một phong trào dân tộc rộng lớn bao giờ cũng chứa đựng những yếu tố dân chủ nhất định
Rõ ràng các yếu tố dân chủ trong truyền thống Việt Nam còn thấp và yếu so với trình độ dân chủ của thời đại Song, cũng chứng minh được, ở người Việt Nam
đã từng có tập quán dân chủ Người Việt Nam không xa lạ với ý tưởng về một xã hội công bằng, bác ái, tự do nhưng họ lại rất ngỡ ngàng với những phương thức bảo đảm quyền dân chủ Hồ Chí Minh đã hiểu được bản chất của dân chủ truyền thống Việt Nam, để phát huy tập quán dân chủ và dân chủ truyền thống như một động lực, đồng thời, đã biết khắc phục những yếu kém, khiếm khuyết trong dân
Trang 12chủ truyền thống bằng sự kế thừa có chọn lọc, kết hợp với tiếp thu những tinh hoa của thời đại trong quá trình dân chủ hoá đất nước
Chưa bao giờ trong lịch sử nước ta những dân trí, dân khí, dân sinh, dân
quyền, dân chủ, những vấn đề liên quan đến người “dân” được nhắc đi nhắc lại
nhiều như đầu thế kỷ XX Nhưng dân là ai? Dân được hình dung trong tập hợp như thế nào? Dưới con mắt của các nhà nho, dù là duy tân, thì dân thường vẫn là “dân đen”, vẫn là “dân ngu”, cần được giáo hoá Điều khác trước là các nhà nho duy tân nhấn mạnh dân quyền cũng tức là dân chủ Tư tưởng dân chủ của các nhà Nho duy tân đầu thế kỷ XX đã làm men say, kích thích phong trào quần chúng yêu nước, duy tân rộng rãi từ Bắc chí Nam trong đó có gia đình Nguyễn Sinh Cung - Nguyễn Tất Thành- Hồ Chí Minh
Thực ra, Nguyễn Tất Thành đã có quan hệ với cả hai lãnh tụ của phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX được mọi người Việt Nam tôn sùng, kính nể, đó là Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh, Nguyễn Tất Thành cũng đã phát hiện ra cái bất hợp
lý trong quan điểm cứu nước của hai cụ Yêu nước, thương dân, cả cuộc đời lăn lộn đấu tranh vì nước, vì dân, nhưng hai cụ Phan không thấy rõ giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân là sự nghiệp của toàn dân và phải do chính dân làm Dù sao hai cụ vẫn là hình ảnh sáng ngời về lòng yêu nước, thương dân trong tâm khâm Hồ Chí Minh Những tư tưởng tiến bộ của các cụ là những gợi ý cho việc xây dựng nền dân chủ cộng hoà ở Việt Nam sau này của Hồ Chí Minh
1.1.2.2 Ảnh hưởng của văn hoá phương Đông đến tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh
Sự hấp thụ văn hoá phương Đông mà đại diện là Nho học và Phật học đã được bản địa hoá ở Việt Nam và có sự giao thoa với nhau, sớm hình thành ở Hồ Chí Minh một nhân cách văn hoá, một tư duy của nhà dân chủ Đông phương thiết tha với độc lập tự do của dân tộc và cuộc sống yên bình của nhân dân Hồ Chí Minh còn tiếp tục củng cố và phát triển kiến thức văn hoá Đông phương của mình ngày ở chính trung tâm, nơi khởi nguồn của Nho giáo, đó là Trung Quốc Đặc biệt Người đã chứng kiến việc Khổng giáo và Khổng Tử bị phê phán gay gắt ở Trung Quốc Trong bầu không khí đó, Hồ Chí Minh có nhận xét riêng của mình Người
Trang 13viết : “Khổng Tử vĩ đại, khởi xướng thuyết đại đồng và truyền bá sự bình đẳng về tài sản” (71, tr,35)
Nếu không am hiểu học thuyết Khổng- Mạnh, Hồ Chí Minh không thể tìm thấy sự tiến bộ, tinh tuý của học thuyết đang bị phê phán, để khẳng định một vấn
đề lớn hơn, đó là: “lý do lịch sử cho phép chủ nghĩa cộng sản thâm nhập dễ dàng vào châu Á, dễ dàng hơn là ở châu Âu”[71, tr, 35] Hồ Chí Minh đánh giá “Khổng giáo không phải là tôn giáo mà là một thứ khao học về kinh nghiệm đạo đức và phép ứng xử Và trên cơ sở đó người ta đưa ra khái niệm về thế giới đại đồng” [71,
tr, 477] Song, Người cũng chỉ ra tính không tương hợp của học thuyết Khổng- Mạnh không tương hợp ở những chỗ:
1 Biết trọng ý dân nhưng không biết làm thế nào để thực hiện được ý dân Hiểu được ý dân, thậm chí đề cao “ý dân là ý trời”, nhưng không có cơ chế hay có một chế độ nào để thực hiện ý dân Vì vậy, kẻ nắm chính quyền thường làm trái ý dân, gây sự phẫn nộ trong dân chúng và họ nổi dậy chống lại
2 Coi dân là gốc (dân vi bản) nhưng không phải là dân chủ Dân là gốc
nhưng vua là chủ chứ không phải dân là chủ Đặc điểm của chế độ dân vi bản là
quyền lực ở nơi vua Đặc điểm quan trọng của chế độ dân chủ là những người
đứng đầu chính quyền do dân bầu ra và những người đó buộc phải chịu trách
nhiệm trước dân, nghĩa là quyền lực ở nơi dân Trong chế độ dân bản thì dân ở vị
trí bị động, luôn nhờ vào sự ban ơn của vua quan Còn trong chế độ dân chủ, dân
tự đứng lên quyết định vận mệnh của mình Điều này không hề có trong tư tưởng của Nho gia, thậm chí dân là gốc cũng chỉ có trong ý thức của họ, còn trong thực tế dân có được là gốc hay không còn tuỳ thuộc vào đạo đức của người cầm quyền
3 Hiểu không đầy đủ về tự do Nho giáo lấy đạo đức làm gốc, cho nên các Nho gia hiểu tự do chủ yếu là ý chí tự do trong lĩnh vực đạo đức Nghĩa là không ai ngăn cản việc rèn luyện đạo đức của người khác và ai cũng có thể trở thành “thánh nhân” được (không kể sang hèn, quý tiện) nếu quyết tâm rèn luyện, giữ gìn đạo đức cá nhân thật tốt theo thuyết đạo đức của các “thánh hiền” Còn tự do dân chủ, chủ yếu là tự do dân chủ chính trị và tự do dân chủ kinh tế thì trong tư tưởng của các Nho gia không có Chỉ Nho giáo theo tông pháp, cha truyền con nối, lấy đức trị
Trang 14nước; kinh tế thì theo chế độ tỉnh điền, phát canh thu tô, người dân không có quyền
sở hữu tư liệu sản xuất, nhất là ruộng đất Tự do dân chủ đỏi hỏi được bảo vệ bằng pháp luật Còn tự do trong lĩnh vực đạo đức theo các Nho gia thì pháp luật không thể khống chế mà cũng không thể bảo vệ Có ý chí tự do trong lĩnh vực đạo đức, không có nghĩa là con người được hưởng mọi quyền lợi về chính trị Vì vậy, tự do trong lĩnh vực đạo đức không thể làm cơ sở cho chế độ dân chủ, nhưng trong một chế độ dân chủ phải có ý chí tự do về đạo đức, tự do tư tưởng
4 Có tư tưởng bình quân nhưng chưa phải là bình đẳng Trong tư tưởng của các Nho gia đã tồn tại một quan điểm phân phối quân bình rất nổi tiếng của Khổng Tử: “bất hoạn quá nhi hoạn bất quân, bất hoạn ban nhi hoạn bất ân”, nghĩa là không sợ ít chỉ sợ không đều, không sợ nghèo chỉ sợ không yên Thậm chí, Khổng
Tử còn đề cao vai trò quân bình trong phân phối đến mức; “Cái quân vô bản, hoà
vô quả, an vô khuynh” nghĩa là bình quân thì không nghèo, hoà thì không thiếu, yên thì không nghiêng đổ Tư tưởng quân bình của Khổng Tử dựa trên cơ sở chủ nghĩa đạo đức, chia đều miếng cơm, có cơm cùng ăn chứ không hiểu cơm ở đâu
mà có Vì lẽ Khổng, Mạnh đều coi thường lao động chân tay, chủ trương “cần đạo hơn cần ăn” Tuy vậy, các ông cũng thấy được mầm mống của loạn lạc là không có tài sản, “người không có tài sản thì không yên tâm, nếu không yên tâm thì sẽ làm điều xằng bậy, không trừ một điều gì” (Mạnh Tử) Như vậy, tư tưởng quân bình của Nho giáo trong phân phối là hiện tượng bao cấp, nhằm bảo đảm ổn định xã hội chứ không phải là bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, về chính trị và kinh tế, về chính sách và công bằng xã hội
Bằng một thái độ nghiêm túc và cách mạng, Hồ Chí Minh viết : “Những người An Nam chúng ta hãy tự hoàn thiện mình về mặt tinh thần bằng cách đọc các tác phẩm của Khổng Tử, và về mặt cách mạng thì cần đọc các tác phẩm của Lênin”[72, tr, 454]
Đi sâu tìm hiểu thực chất các học thuyết và chắt lọc cái tinh tuý nhất để phục
vụ sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, giai cấp và con người, Hồ Chí Minh
so sánh Nho giáo, Phật giáo và Ki Tô giáo với chủ nghĩa Mác-Lênin, so sánh các nhà sáng lập ra các học thuyết đó Người thấy cái cần phải học ở học, cần phải đề
Trang 15cao hơn tình yêu thương con người, tư tưởng vị tha, cứu khổ, mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu cầu phúc lợi cho xã hội của Khổng Tử, Giê su, Thích Ca và của Các Mác, Ăngghen, Lênin Người tự cho mình là học trò nhỏ của các vị đó Do vậy, giai cấp công nhân Việt Nam, trong các bài viết, bài nói của Hồ Chí Minh, chúng ta bắt gặp những câu chữ, mệnh đề Nho giáo, Phật giáo, những lời răn của Chúa, được Người giải thích hoặc đưa những nội dung mới làm cao đẹp hơn, nhằm phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc
1.1.2.3 Sự tiếp nhận giá trị tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây của Hồ Chí Minh
Nói đến tư tưởng dân chủ tư sản, người ta nghĩ ngay đến tư tưởng dân chủ của các nhà văn hoá phục hưng, các nhà tư tưởng Pháp thế kỷ XVIII (thế kỷ Ánh sáng), cùng với nó là Đại cách mạng tư sản Pháp năm 1789 Dù rằng đã có các cuộc cách mạng tư sản nổ ra sớm hơn như ở Hà Lan, ở Anh, ở Mỹ, nhưng đạt tới đỉnh cao của thắng lợi thì phải kể đến Đại cách mạng Pháp 1789-1799 Đó là một cuộc cách mạng tư sản triệt để, có ảnh hưởng to lớn và lâu dài trong lịch sử nhân loại Những kinh nghiệm, bài học lịch sử của Đại cách mạng Pháp không những bổ ích cho các cuộc cách mạng tư sản dân chủ tiếp theo, mà còn vô cùng cần thiết cho các cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ ở các nước thuộc địa, phong kiến, nửa phong kiến nói chung, kể cả những cuộc cách mạng này do giai cấp vô sản lãnh đạo Lênin nhận xét: “Cách mạng Pháp, tuy đã bị đè bẹp, nhưng vẫn thắng, vì nó đã xây dựng cho toàn thế giới, những cơ sở của nền dân chủ tư sản, của nền tự do tư sản”[51, tr, 441]
Cùng với các giá trị về tư tưởng văn hoá, văn minh và khoa học khác, tư
tưởng dân chủ là một thành tựu mới của thế kỷ Ánh sáng, gắn liền với tên tuổi của Giăng Mêliê(1644-1729), của Saclơ Lu-i Môngtexkiơ (1689-1755), của Vônte (tên
thật là Phrăngxoa Mari Aruet (1694-1778), của Giăng Giắccơ Rútxô (1712-1778), của Giăng Pôn Mara (1743-1793)
Sáclơ Lu-i Môngtexkiơ, một trong những ngôi sao sáng chói của nước Pháp
thế kỷ Ánh sáng với tác phẩm lớn nhất và nổi tiếng khắp thế giới là Tinh thần pháp
luật được công bố năm 1748, được tái bản tới 22 lần và dịch ra nhiều thứ tiếng
Trang 16Trong tác phẩm, ông viết rằng xã hội loài người phát triển có quy luật khách quan, không phải tuỳ theo ý muốn của thượng đế Tổ chức xã hội phụ thuộc vào hình thức chính quyền nhà nước và có ba loại hình chính quyền nhà nước phổ biến; chế
độ chuyên chế, chế độ quân chủ lập hiến và chế độ cộng hoà Ông đề ra việc phân quyền và hạn chế quyền hành trong chính quyền nhà nước để bảo đảm cho quyền
tự do của con người Ông khẳng định phải triệt để phân lập ba quyền ; lập pháp, hành pháp, tư pháp và ba quyền này phải được độc lập với nhau Dù có thừa nhận
sự cần thiết của một nền quân chủ tư sản, song, ông vẫn coi bình đẳng đúng nghĩa của nó là bình đẳng trước pháp luật và lòng yêu nước đồng nghĩa với lòng yêu sự bình đẳng
Người tiến xa nhất về mặt tư tưởng dân chủ trong thế kỷ Ánh sáng và cùng
là nhà tư tưởng tiêu biểu nhất thời đại này là Giăng GiắccơRútxô Toàn bộ các tác phẩm của Rútxô dẫn mọi người đến một học thuyết cách mạng dân chủ tiên tiến
nhất đương thời Trong số đó có cuốn Khế ước xã hội (1762) được nhắc tới nhiều
và phổ biến rộng rãi Cuốn Khế ước xã hội đã trình bày chi tiết mô hình của một
chính quyền nhân dân Nhân dân bao gồm hầu hết những người trực tiếp sản xuất
ra của cải vật chất của xã hội Vì vậy, nên dân chủ theo tư tưởng của Rútxô còn những điều chưa hoàn chỉnh, có thể ảo tưởng nữa (như việc ông coi các đại biểu của nhân dân, thậm chí nhà nước lúc nào cũng trung thành với quyền lợi nhân dân), nhưng ông là một nhà tư tưởng chủ đạo của phải Giacôbanh trong thời kỳ Đại cách mạng Pháp 1789-1799
Hồ Chí Minh từng nói “Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi nghe được
ba chữ Pháp; tự do, bình đẳng, bác ái Và từ thủa ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những chữ ấy”[71, tr, 477]
Qua câu trích trên chúng ta thấy khát vọng tìm hiểu nội dung của dân chủ tư sản, của tự do, bình đẳng, bác ái đã có ở Hồ Chí Minh từ tuổi thiếu niên, tuổi học trò Dù Hồ Chí Minh có bỏ Nho học sang học trường Tây, tiếng Tây thì cũng chỉ
“nghe được” và biết được “người Pháp đã nói thế”, chứ chưa hiểu được nội dung của nó là gì, những gì ẩn đằng sau những chữ ấy Vì nội dung đó không được dạy
Trang 17trong nhà trường Chính nền giáo dục ngu dân và đụng độ của hai dòng văn hoá Đông, Tây thông qua chế độ thuộc địa, đã kích thích bản tính ham hiểu biết, phương pháp so sánh để hiểu đến tận cùng sự việc trong người thiếu niên Nguyễn Tất Thành Và đây cũng là nguyên nhân thúc đẩy anh Ba sang Pháp năm 1911
Chưa có tài liệu nào xác định Hồ Chí Minh đã đọc các nguyên tắc của Môngtexkiơ hay của Rútxô trước năm 1911, nhưng cũng có thể Người đã tiếp xúc với tư tưởng dân chủ tư sản bằng những con đường khác, như việc tiếp cận với những thầy giáo người Pháp tiến bộ, qua phong trào Đông kinh nghĩa thục,qua các
sách Tân văn, Tân thư của Trung Quốc Song, tất cả những tiếp cận ấy đã không
giải đáp một cách rõ ràng, cận kẽ tự do, bình đẳng, bác ái là gì? Tại sao nước Pháp
có những khẩu hiệu đẹp đẽ như thế lại đi áp bức, nô dịch người Việt Nam một cách tàn nhẫn, vô nhân đạo, đặt ách nô lệ lên cổ một dân tộc vốn tự do, có nền văn hiến lâu đời Hồ Chí Minh quyết định tìm câu trả lời ngay trên đất Pháp
Cuộc hành trình viễn dương gần như vòng quanh thế giới của Nguyễn Tất Thành thật kỳ thú và bổ ích Đây là một khảo nghiệm thực tiễn những giá trị của tự
do, bình đẳng, bác ái trên đấp Pháp, Anh, Mỹ, những nước tự coi là tự do, văn minh, đã làm cách mạng dân chủ tư sản ở thế kỷ XVIII nay trở thành thực dân, đế
quốc đang thực hiện công cuộc “khai hoá” cho các dân tộc nhược tiểu Nhờ cuộc
khảo nghiệm này mà Nguyễn Ái Quốc hiểu rõ được tất cả mặt giá trị và mặt trái của nền dân chủ tư sản phương Tây
Có thể nói, Nguyễn Ái Quốc là người dân thuộc địa sớm nhận rõ những giá
trị cơ bản của cách mạng dân chủ tư sản đó là nhân quyền và dân quyền Đây
không chỉ là giá trị riêng của cách mạng Mỹ 1776 hoặc của cách mạng Pháp 1789
mà là giá trị chung của nhân loại Do vậy, trong lời mở đầu “Tuyên ngôn độc lập” của Việt Nam 2/9/1945, Hồ Chí Minh đã trích dẫn Tuyên ngôn độc lập của cách mạng Mỹ 1776 và Tuyên ngôn về nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp
1789 Không phải ngẫu nhiên, khẩu hiệu của cách mạng dân chủ tư sản Pháp
chống chế độ quân chủ chuyên chế là Tự do, Bình đẳng, Bác ái, và khẩu hiệu của Cách mạng Việt Nam chống đế quốc, phong kiến là Độc lập, Tự do, Hạnh phúc
Trang 18Đó là việc Hồ Chí Minh đã kế thừa có chọn lọc thành quả Đại cách mạng Pháp cho Cách mạng Việt Nam
Tiếp thu lý tưởng tự do, bình đẳng, bác ái của cách mạng dân chủ tư sản đối với Hồ Chí Minh là quan trọng Song, qua cuộc sống thực tế ở những trung tâm
văn hoá tư sản như Luân Đôn, Pari và trực tiếp hoạt động trong Hội dân quyền và
nhân quyền Pari và Đảng xã hội Pháp, đã giúp Người có điều kiện tìm hiểu về nền
dân chủ tư sản và các thiết chế dân chủ phương Tây Tại Pa-ri, Nguyễn Ái Quốc đã tiếp xúc trực tiếp với các tác phẩm của các nhà khai sáng; Môngtexkiơ, Vôte, Rútxô, những lý luận gia của Đại cáh mạng Pháp 1789 Theo báo cáo của mật thám Pháp theo dõi Nguyễn Ái Quốc vào đầu tháng 3 năm 1920 thì “hiện thời
Quốc đang dịch một đoạn L’ Esprít des Lois (Tinh thần pháp luật) của
Môngtexkiơ sang quốc ngữ”[125, tr, 146]
Có thể thấy các ý tưởng dân chủ của các nhà khai sáng Pháp đã ảnh hưởng trực tiếp tới tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh
Nhưng có lẽ Nguyễn Ái Quốc đã hấp thụ được tư tưởng dân chủ và biến nó thành phong cách sống của mình chủ yếu từ trong cuộc sống Rõ ràng là ở nước Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã hoạt động và đấu tranh cách mạng một cách tương đối
tự do, thuận lơn hơn ở trên đất nước Việt Nam dưới chế độ thuộc địa của mình Người có thể tự do hội họp, tham gia đảng phải, lập hội, ra báo, phát biểu ý kiến, trình bày quan điểm của mình trước dư luận Pháp Người đã viết bài phê bình bọn quan lại, vua chúa nước mình, phê phám cả thống sứ, toàn quyền ở thuộc địa, như
đã làm với A Xaroo, Liôtây, Varen, Điều này sẽ là “phạm thượng”, không thể xảy ra ở Việt Nam
Nguyễn Ái Quốc học và rèn luyện được tác phong dân chủ ngay trong cách
sinh hoạt khoa học ở Câu lạc bộ Phô-bua, trong sinh hoạt chính trị của Đảng Xã
hội Pháp, tiêu biểu là không khí tranh luận ở Đại hội Tua (12-1920)
Nguyễn Ái Quốc còn vào Hội Du lịch để đi thăm nước Pháp và các nước lân cận như Ý, Thuỵ Sĩ, Đức, Toà thánh Vaticăng, mục đích không phải chỉ để đi du lịch mà “muốn biết những nước ấy tổ chức và cai trị như thế nào”[122, tr, 40] Tìm hiểu những kinh nghiệm tổ chức và quản lý nhà nước của giai cấp tư sản, Hồ Chí
Trang 19Minh thấy; các nhà nước tư sản tồn tại được trong bản chất bóc lột của chủ nghĩa
tư bản, trong sự bất công và bình đẳng xã hội là do nó đã tạo được sự ổn định chính trị trên cơ sở một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, một nền kinh tế phát triển, một mức sống được bảo đảm, một trình độ dân trí cao và một bộ máy chuyên chính mạnh Đây chính là những điều Hồ Chí Minh sẽ gạn lọc, tham khảo trong quá trình xây dựng nền dân chủ ở Việt Nam sau này
1.1.2.4 Hồ Chí Minh tiếp thu tư tưởng dân chủ của chủ nghĩa Mác-Lênin
Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác-Lênin trước hết và trên hết là vì mục
tiêu giải phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột, khỏi sự nô dịch, sau đó sẽ xây
dựng một xã hội như Mác – Ăngghen khẳng định trong Tuyên ngôn của Đảng
cộng sản:”Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do
của tất cả mọi người”
Tư tưởng cho rằng “xã hội không thể nào giải phóng cho mình được, nếu không giải phóng cho mỗi cá nhân riêng biệt” [66, tr, 404], là tư tưởng cốt lõi trong học thuyết Mác- Lênin về giải phóng xã hội, về giải phóng con người; là điểm xuất phát cho cách đặt vấn đề xây dựng một chế độ xã hội mới, công bằng, không có áp bức, bóc lột, mọi người đều bình đẳng, tự do (dân chủ xã hội chủ nghĩa)
Tiếp thu sâu sắc tư tưởng về giải phóng con người, về xây dựng xã hội tương lai không có áp bức, bóc lột người trong học thuyết của C Mác, Hồ Chí Minh cho rằng chủ nghĩa cộng sản phải trải qua một thời kỳ dài mới có thể thiết lập được ở Việt Nam sau khi cách mạng thành công Bởi vì, theo Mác – Ăngghen, việc giải phóng con người một cách toàn diện và phát huy hết mọi tiềm năng của con người chỉ có thể thực hiện được với tiền đề là “những lực lượng sản xuất hiện đại đã phát triển” Nhưng ở Việt Nam, vào thời điểm 1946, Hồ Chí Minh cho rằng
“những điều kiện ấy chưa có đủ” [74, tr, 272]
Hồ Chí Minh xác nhận: Người đến với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản
và lựa chọn chế độ xã hội chủ nghĩa cho cách mạng Việt Nam, bắt nguồn trước hết,
từ đức tin vào Lênin, tin vào sự bênh vực và ủng hộ tích cực của Lênin đối với sự nghiệp giải phóng các dân tộc thuộc địa Người khẳng định: Lênin đã “phát triển
và đã thực hiện chủ nghĩa Mác và Ăngghen” bằng Cách mạng tháng 10 Nga năm
Trang 201917 và mở đầu “thời đại mà chủ nghĩa Mác-Lênin đã thành lý trí và lương tâm của mọi người tiến bộ trên thế giới” Nói đến Lênin là nói đến Cách mạng tháng 10 Nga, một cuộc cách mạng vô sản, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới
Khảo sát Cách mạng tháng Mười và thực tế được sống trong không khí sôi động của công cuộc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Nga, Hồ Chí Minh nhận thức và tâm đắc với quan điểm của Lênin cho rằng: Không có chế độ dân chủ thì không thể thực hiện được chủ nghĩa xã hội và giai cấp vô sản không thể hoàn thành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa nếu không tiến hành cuộc đấu tranh cho dân chủ, cũng như chủ nghĩa xã hội sẽ không duy trì được thắng lợi nếu không thực hiện được đầy đủ chế độ dân chủ Thể hiện quan điểm này, Lênin viết:
Cũng giống như không thể có chủ nghĩa xã hội thắng lợi mà lại không thực hiện dân chủ hoàn toàn, giai cấp vô sản cũng không thẻ nào chuẩn bị để chiến thắng giai cấp tư sản được nếu nó không tiến hành một cuộc đấu tranh toàn diện, triệt để và cách mạng để giành dân chủ [46, tr, 324]
Rõ ràng trong tư tưởng của Lênin, đấu tranh cho dân chủ và đấu tranh cho chủ nghĩa xã hội, không thể tách rời nhau
Theo dõi quá trình xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Nga, Hồ Chí Minh đã nhận thức được những đặc điểm của nó là :
1 Cơ sở kinh tế là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất mà trước hết là sở hữu Nhà nước
2 Toàn thể nhân dân lao động là chủ thể của nền dân chủ, “sự thức tỉnh và
sự tham gia tích cực của họ vào công việc của Nhà nước thay cho các quan lại” là điều kiện số một của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Tất cả mọi người lao động đều
là thành viên của một “xanh- đi- ca” Nhà nước duy nhất, làm việc ngang nhau, hưởng lương ngang nhau, tất cả đều tham gia quản lý, tham gia kiểm soát việc sản xuất và phân phối lao động, sản phẩm
3 Các cơ quan đại biểu nhân dân (Xô Viết) do phổ thông đầu phiếu bầu ra là các cơ quan đại diện quyền lực nhân dân, vừa lập pháp, vừa hành pháp, tức là thống nhất quyền lực nhưng có sự phân công chứ không phân lập Nhân dân trực
Trang 21tiếp bầu những đại biểu của mình, trực tiếp kiểm tra và có quyền bãi miễn tư cách đại biểu
4 Chế độ tập trung dân chủ kết hợp với quyền tự trị, tự quyết rộng rãi của các địa phương, nhất là các vùng dân tộc có những điều kiện riêng về kinh tế và lối sống
5 Lực lượng lãnh đạo là Đảng của giai cấp công nhân và có các tổ chức quần chúng làm chỗ dựa cho nền dân chủ Các tổ chức này cùng với Nhà nước hợp thành hệ thống chuyên chính vô sản
6 Đối tượng chuyên chính của nó là tất cả những phần tử, lực lượng thù địch với chủ nghĩa xã hội
Như vậy, theo Mác- Ăngghen- Lênin, dân chủ xã hội chủ nghĩa là một nền
dân chủ toàn diện (không chỉ về mặt chính trị) trực tiếp, cụ thể (cả trong quản lý hàng ngày) của tuyệt đại đa số nhân dân Nó là một nền dân chủ thật sự và ngày
càng đầy đủ Sau khi hoàn thiện, nó sẽ dân chủ “gấp triệu lần” nền dân chủ tư sản
(Lênin) Đây là những điều Hồ Chí Minh rất tâm đắc và đã tích cực vận dụng một cách sáng tạo ở Việt Nam
1.1.3 Nội dung tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh
1.1.3.1 Quan niệm của Hồ Chí Minh về dân chủ
Hồ Chí MInh không có một tác phẩm chuyên khảo nào bàn sâu về dân chủ Song đọc Hồ Chí Minh Toàn tập (12 tập), chúng tôi thấy, thuật ngữ dân chủ được Người dùng trên 1600 lần với những ý nghĩa sâu xa khác nhau, tuỳ theo hướng tiếp cận và sự phát triển tư duy về dân chủ trong tư tưởng Hồ Chí Minh như sau:
Dân chủ Thiết chế, cơ chế Chế độ Dân Dân chủ mới (dân chủ) (dân chủ)
Xã hội
(CSCN) dân vận Thực hành dân chủ dân chủ hoá
Trang 22Theo sơ đồ ta thấy dân là phạm trù xuất phát, dân chủ là phạm trù trung tâm,
là điểm khởi đầu của tư tưởng và phương pháp dân chủ, đích cuối cùng là xã hội
văn minh - cộng sản chủ nghĩa
Vậy quan niệm (định nghĩa) của Hồ Chí Minh về dân chủ như thể nào?
Đọc Toàn tập của Hồ Chí Minh, chúng tôi thấy cụm từ “dân chủ là”, hiểu
như là một cách định nghĩa về dân chủ, đã xuất hiện trên 15 lần Trong đó có một cụm từ được coi là định nghĩa của Hồ Chí Minh về dân chủ, nó tường minh về câu chữ, hàm súc về nội dung và giản dị về diễn đạt Bằng cách hỏi và đáp là cách diễn đạt mà người dân ít học hoặc có học đều dễ nhớ, dễ hiểu, Hồ Chí Minh đặt câu hỏi trước hàng vạn quần chúng Hải Phòng: “Dân chủ là thế nào?” Và Người tự trả lời:
“Là dân làm chủ” [78, tr, 375] Rõ ràng theo văn cảnh Hồ Chí Minh nói thì dân chủ
là dân làm chủ khi nhân dân Việt Nam đã là chủ đất nước của mình, và do vậy, dân chủ nghĩa là dân là chủ và dân làm chủ Trong đó dân làm chủ mới có giá trị thực
tế, quyết định, chứ giá trị của dân chủ không hoàn toàn chỉ là xác định vị trí là chủ của dân Song, chỉ khi vị trí là chủ của dân được xác định, thì vai trò làm chủ của dân mới được xác lập, tức là dân chủ qua các mặt hoạt động thực tiễn Nói dân chủ
là dân làm chủ đã bao hàm ý nghĩa dân là chủ trong đó Trong thực tế không phải không có trường hợp dân là chủ đất nước, là chủ nhà nước nhưng không biết làm chủ, thậm chí không được làm chủ Ngay ở nước Pháp, nước Mỹ những cái nói của cách mạng dân chủ tư sản, nhưng Hồ Chí Minh vẫn phát hiện ra : “Tiếng là cộng hoà và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa Cách mạng đã 4 lần rồi, mà nay công nông Pháp hãy còn phải mưu cách mạng lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức [72, tr, 274]”
Chính vì vậy, Hồ Chí Minh quyết tâm đưa “nước ta phải đi đến dân chủ thực sự”[77, tr, 25] nghĩa là “bao nhiêu quyền hạn đều của dân” [75, tr, 698] “Làm sao cho dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm” [82, tr, 223]
Quan niệm của Hồ Chí Minh về dân chủ là dân làm chủ là một định nghĩa dân chủ cô đọng, súc tích, vừa khoa học, hiện đại vừa kế thừa và phát triển những
Trang 23hiểu biết của nhân loại về dân chủ, phản ánh đúng thực chất của dân chủ ở thời đương đại
Thực ra, nhìn về hình thức, cách định nghĩa dân chủ của Hồ Chí Minh không khác gì nhiều cách định nghĩa dân chủ của người Hy Lạp cổ đã được nhân loại chấp nhận như là một định nghĩa gốc Theo chữ Hy Lạp cổ thì dân chủ nghĩa là quyền lực thuộc về nhân dân (kết hợp Demos + kratos), nghĩa tổng quát là nhân dây hay dân chúng nắm chính quyền Ngày nay trong các ngôn ngữ giao tiếp thông dụng của loài người như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga thì dân chủ vẫn giữ nguyên ý nghĩa gốc của nó (tiếng Anh – Democracy, tiếng Pháp – Démocratie, tiếng Nga - Демократия) Chính C.Mác đã từng viết trong tác phẩm “Phê phán Cương lĩnh Gô ta”: từ dân chủ nếu chuyển sang tiếng Đức thì có nghĩa là nhân dân nắm chính quyền [65, tr 44-45] Rõ ràng, cách hiểu dân chủ với các ngôn ngữ
thông dụng đều là sự kết hợp giữa hai thành tố : chủ thể là dân và nội dung trọng tâm của dân chủ là quyền lực thuộc về dân hoặc dân làm chủ Sự khác nhau giữa
quan niệm về dân chủ chính ở quan điểm và thái độ đối với dân và phương thức gắn kết giữa dân với làm chủ hoặc quyền lực
Trong quan niệm dân chủ của Hy Lạp cổđại thì nhân dân hay dân chúng chỉ bao gồm những công dân hay dân tự do, trong đó không có những người nô lệ và những người con trai vị thành niên Dẫu rằng thành bang Aten được coi là dân chủ nhất, thì dân chúng vẫn là thiểu số, là ít ỏi trong cộng đồng dân cư Thậm chí dân chỉ là nô lệ, không được làm người
Thuật ngữ dân chủ với nội dung cơ bản là dân chúng nắm chính quyền chỉ còn là một kỷ niệm hay là thuật ngữ lịch sử trong thời trung đại dưới chế độ phong kiến quân chủ chuyên chế Đành rằng ở đâu đó, trong một vài thành thị thương mại Châu Âu, người ta có nhắc tới thành bang dân chủ Aten và tự nhận là dân chủ đô thị Nhưng các sự kiện đó không có ý nghĩa thực tiễn bao nhiêu trong sự phát triển của xã hội loài người Cho đến thế kỷ thứ XVII với sự phát triển của các thành phố, các trung tâm kinh tế công thương nghiệp lớm, sự hình thành các quốc gia dân tộc, sau cách mạng tư sản Anh, đặc biệt là cách mạng Mỹ, người ta lại quay lại
thuật ngữ dân chủ và lần này khái niệm dân chúng được mở rộng tới tất cả các
Trang 24công dân trong từng quốc gia Ở nước Pháp, các nhà khai sáng bàn nhiều đến tự
do, bình đẳng, bác ái của người dân, đó là những bộ phận của dân chủ hay đúng hơn là bàn đến những tiền đề của dân chủ để làm cơ sở lý luận khoa học của cuộc cách mạng tư sản Pháp nổi tiếng vào năm 1789
Vì vậy, vấn đề cơ bản của dân chủ là quyền lực thuộc về dân chúng cụ thể
nào Dân chủ chỉ phát triển khi khái niệm dân chúng được mở rộng và đông đảo
hơn Đó là sự phát triển tự nhiên của dân chủ Khi nhân dân, hay đúng hơn là đại
bộ phận nhân dân thực sự nắm quyền qua các hình thức có hiệu quả nhất, thì lúc ấy
có nền dân chủ ở mức độ cao Vì vậy, quá trình phát triển lịch sử của dân chủ là quá trình đấu tranh gay go trong xã hội loài người để ngày càng mở rộng khái niệm
dân chúng nắm quyền Bất kỳ cuộc đấu tranh nào cho tự do, độc lập, bình đẳng xã
hội đều cống hiến không ít cho quá trình dân chủ Để có dân chủ thực sự phải thông qua đấu tranh xã hội
Ngay bản thân cái tổng thể hợp thành nhân dân (dân chúng) cũng là một hiện tượng lịch sử Khái niệm nhân dân biến đổi tuỳ theo các giai đoạn phát triển
của từng xã hội Trong nhân dân có nhiều thành phần khác nhau, thậm chí mâu thuẫn nhau về quyền lợi cơ bản Do đó, khi nào nhân dân chỉ bao gồm những người không có đối kháng về quyền lợi, có sự đồng nhất một cách tương đối về quyền lợi chung của đại bộ phận công dân trong một quốc gia hay một xã hội, thì khi ấy, có những cơ sở thuận lợi nhất cho dân chủ đạt trình độ cao Cuộc đấu tranh cho dân chủ trong điều kiện như thế chỉ tập trung vào một cuộc cách mạng thiết lập một thể chế phù hợp với quyền lợi đa số, cùng với nó là cuộc đấu tranh của nhân dân với những đại biểu do mình uỷ thác, để thực hiện đúng đắn nền dân chủ rộng rãi nhất
Quan hệ giữa dân chủ và nhân dân là quan hệ đặc biệt, nhân dân là chủ thể của dân chủ, hay như cách nói của C Mác, “dân chủ là nội dung đặc thù của nhân dân”, “chỉ là hình thức tồn tại đặc biệt của nhân dân thôi” [59, tr, 351]
Trong định nghĩa dân chủ của Hồ Chí Minh, chữ dân thoả mãn những yêu cầu trên Chữ dân được Hồ Chí Minh sử dụng theo nghĩa thông thường (dân An Nam, dân thợ) cũng như nghĩa khái quát lý luận Đó là đông đảo những người lao
Trang 25động, những người bị áp bức, không có chức quyền, họ luôn được đặt đối diện với người cầm quyền, người cai trị, người chủ ở các địa bàn lãnh thổ, ở các ngành nghề khác nhau trong mọi hoạt động của đời sống xã hội Trong trường hợp này chữ dân có ý nghĩa chính trị rõ rệt, phần nào phản ánh mối quan hệ các giai cấp của một xã hội nhất định
Ở Việt Nam, Hồ Chí Minh quan niệm “nhân dân là 4 giai cấp : công nhân, nông dân, tiểu tư sản, tư sản dân tộc” [77, tr, 217] Trong đó, tiểu tư sản gồm có :
“Phần tử trí thức, các nhà công nghệ và thương nghiệp nhỏ, thủ công nghệ, những người làm nghề tự do (như thầy thuốc, luật sư) công chức” [77, tr, 214] Chữ dân đồng nhất với nhân dân, đồng bào, quần chúng, dân chúng Đó là toàn dân Việt Nam không phân biệt nòi giống, gái trai, giầu nghèo, tôn giáo, không phân biệt dân tộc nhiều hay ít người sống trên đất nước Việt Nam, chỉ trừ bọn tay sai chi đế quốc thực dân, bọn phản bội lợi ích của Tổ quốc đi ngược con đường độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội Với ý nghĩa này chữ dân trong các bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh đã trở thành thuật ngữ cơ bản trong lý luận chính trị, các văn kiện chính thức của Đảng và Nhà nước ta
Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, dân chính là con người, gồm con người
cá nhân (cá thể) và con người cộng đồng Trong tư tưởng Hồ Chí Minh không có người dân trừu tượng Bao giờ Hồ Chí Minh cũng nói đến người dân cụ thể, lịch
sử Tuỳ theo từng thời điểm lịch sử, gắn với hoàn cảnh cụ thể, Người dùng những cụm từ khác nhau của các mối quan hệ xã hội Song, bao giời Người cũng tâm niệm “Nhân nghĩa là nhân dân Trong bầu trời không có gì quí bằng nhân dân” [78,
tr 276]
Quan niệm của Hồ Chí Minh về dân sâu sắc như vậy, nên mọi suy nghĩ, hành động của Người đều hướng về dân, đều nhằm đem lại lợi ích cho nhân dân lao động Người thường xuyên thực hiện và yêu cầu cán bộ, đảng viên cũng luôn thực hiện “việc gì có lợi cho dân, thì phải làm cho kỳ được Việc gì hại cho dân phải hết sức tránh”, “phải đặt lợi ích dân chúng lên trên hết, trước hết”, “phải gần dân, hiểu dân, học dân, thương yêu, kính trọng dân”, phải tin ở dân, tin ở sức mạnh
Trang 26của dân là vô địch Đó là những điều căn bản nhất trong quan niệm về dân - chủ thể của dân chủ - theo Hồ Chí Minh
Quan niệm và thái độ đối với dân là một tiêu chí cơ bản để đánh giá giá trị của một học thuyết dân chủ Cái đặc sắc, cái đã đưa tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh vượt lên trên tư tưởng dân chủ của các nhà Nho duy tân cùng thời, mang tầm
thời đại chính ở quan điểm dân vừa là chủ vừa làm chủ
Quan điểm dân vi bản (dân gốc)và dân vi quý (dân là quý) của các nhà nho duy tân Việt Nam trước Hồ Chí Minh vẫn xuất phát từ ý thức đạo đức là chính Theo đạo đức Phương Đông, vì dân là gốc nên người cầm quyền (vua, quan) phải tôn trọng dân, biết ý dân Nhưng quan điểm dân là gốc chỉ có tác dụng như những lời can gián, khuyên ngăn người cầm quyền Nếu người cầm quyền không theo lời khuyên ấy thì vai trò là gốc của người dân cũng không có ý nghĩa gì Cũng như thế, quan điểm dân là chủ có tác dụng kêu gọi, thức tỉnh nhân dân trong tình thế vua đã để mất nước, để mất luôn vị trí “chủ nước” của mình, làm tay sai cho giặc,
vậy dân là chủ thì nhiệm vụ cứu nước là của dân Nói dân là chủ là để nhấn mạnh
nghĩa vụ người dân đối với nước, phải đánh giặc giữ nước, giành lại quyền là chủ của mình
Hồ Chí Minh cũng nói dân là quý, dân là gốc, dân là chủ, như cách nói của
các nhà Nho duy tân Việt Nam Cách nói theo kiểu duy danh định nghĩa này nó phù hợp với trình độ dân trí còn thấp của người Việt Nam của cư dân nông nghiệp Nói dân chủ tức là dân là chủ, người dân dễ hiểu, dễ hình dung Họ lấy việc là chủ gia đình để hình dung thế giới, lấy cuộc sống trong làng, trong xã mà hình dung xã hội và Nhà nước Mặt khác, Hồ Chí Minh thống nhất với các nhà Nho duy tân ở chỗ coi dân là thành viên của cộng động dân tộc, là đại chúng, “đồng bào”, phải đứng lên chống bọn xâm lược để giành lại chủ quyền quốc gia, bảo vệ giống nòi Dân chủ ở đây có quan hệ mật thiết với chủ nghĩa yêu nước, với truyền thống dân tộc, với trách nhiệm của người dân trong nhiệm vụ cứu nước, giành lại độc lập cho đất nước Đặt dân trong quan hệ Dân- Nước, nhưng Hồ Chí Minh nói dân là chủ
với ý nghĩa dân là công dân chứ không phải là “con dân”, “thần dân”; là công dân
với nghĩa đầy đủ của nó, gồm cả nhân quyền và dân quyền
Trang 27Với Hồ Chí Minh dân không chỉ là gốc mà Đảng và Nhà nước phải “lấy dân làm gốc” Bởi vì, dân là gốc của nước mang tính khách quan, tính quy luật dù người cầm quyền có muốn hay không dân vẫn là gốc của nước Do vậy người lãnh đạo dân, quản lý xã hội muốn đúng đắn và thành công phải biết vận dụng đúng cái
khách quan đó, nghĩa là phải lấy dân làm gốc Theo Hồ Chí Minh: “gốc có vững,
cây mới bền Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân” Phải chăm sóc cho cái gốc ấy
bền vững Để gốc dân vững mạnh, Người yêu cầu phải chăm lo, ưu tiên cho các tầng lớp nhân dân lao động Họ là số đông có lực lượng, có khả năng và giữ vị trí chủ yếu tạo ra của cải cho xã hội và bảo vệ Tổ quốc Do vậy, “mọi lợi ích là vì dân”, “giải quyết vấn đề kinh tếvà tài chính thế nào cho hợp lý, cho lợi dân” [76, tr 175], để thu phục, tập hợp, đoàn kết dân Bởi vì “trong thế giới - theo Hồ Chí Minh
- không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” [76, tr 276] Có thể nói, quan điểm lấy dân làm gốc của Hồ Chí Minh từ ý thức đạo đức đã phát triển thành ý thức chính trị, thành nguyên tắc pháp trị Đã là nguyên tắc pháp trị thì mọi thành viên xã hội, từ dân thường đến người cầm quyền, lãnh đạo đều phải tuân theo, phải lấy dân làm gốc Nghĩa là phải “đem tài dân, sức dân, của dân mà làm lợi cho dân” Dân đã đem sức, tài của mình để làm lợi cho mình, thì người cầm quyền phải biết sử dụng sức tài, tiền bạc của dân để làm lợi cho dân chứ không phải làm lợi cho bản thân, gia đình mình Xét trên phương diện lợi ích thì dân làm gốc cũng thống nhất với dân làm chủ
Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, dân chủ không chỉ là động lực chiến đấu giành lại quyền cơ bản là độc lập dân tộc mà dân chủ còn là khát vọng vươn lên để xây dựng một cuộc sống hành phúc, tự do Theo Hồ Chí Minh, độc lập của nước phải gắn liền với hành phúc, tự do của dân “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” [ 74, tr 56] Nước độc lập do dân giành lại thì không có lý do gì mà dân không được làm chủ Làm chủ trong quan hệ sở hữu Không có một nước dân chủ nào khi dân đã là chủ đất nước mà lại không có quy định về quyền làm chủ bản thân, làm chủ cuộc sống của người dân Với các nước thuộc địa, quá trình dân chủ hoá là quá trình xác lập địa
vị làm chủ đất nước của dân, để dân làm chủ thực sự, làm chủ mọi mặt của đời
Trang 28sống xã hội trong sự thống nhất giữa làm chủ của cộng đồng với làm chủ của cá nhân
Quan niệm dân chủ nghĩa là dân làm chủ thể hiện được tính chủ động của
chủ thể dân chủ Theo Hồ Chí Minh, dân phải chủ động giành lấy chính quyền làm chủ xã hội, “đánh tan thực dân, giải phóng dân tộc giành lại thống nhất và độc lập, xây dựng một nước Việt Nam dân chủ mới” [76, tr 315] Theo Hồ Chí Minh, dân chủ cũ là dân chủ tư sản Dân chủ mới khác dân chủ cũ ở chỗ “quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” [75, tr 698] và “chính quyền do người dân làm chủ” [76, tr 365] Một nước có hơn 9 phần 10 dân cư là nông dân, thì tiêu chí cụ thể phân định dân chủ mới và dân chủ cũ, theo Hồ Chí Minh, là “bao giờ ở nông thôn, người nông dân thực sự nắm chính quyền, người nông dân được giải phóng thì mới là dân chủ thực sự” [76, tr.365]
Quan niệm của Hồ Chí Minh về dân chủ là một quan niệm hiện đại Ngày
nay, người ta cũng nói dân chủ là mọi quyền lực thuộc về nhân dân và quyền lực
được hiểu rộng rãi gồm cả chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội Hồ Chí Minh không
nói dân chủ là dân nắm quyền lực mà nói dân làm chủ và lý giải nội dung một cách
toàn diện và sâu sắc; làm chủ nhà nước, làm chủ ruộng đồng, nhà máy xí nghiệp (tư liệu sản xuất) đến làm chủ về văn hoá, tinh thần, nghĩa là dân chủ trong hiện thực cho mọi người và trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
Dân làm chủ cái gì, làm chủ như thế nào, làm chủ bằng cách nào, lời đáp của các câu hỏi trên nằm trong những thiết chế và cơ chế dân chủ, nghĩa là những thiết chế và cơ chế ấy phải được xây dựng và thể hiện một cách đầy đủ và rõ ràng để bảo đảm thực thi quyền làm chủ của người dân Nói đến dân chủ mà không có thiết chế bảo đảm và cơ chế thực hiện thì dân chủ cũng không thể trở thành hiện thực trong cuộc sống Chính vì vậy Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc xây dựng các thiết chế, cơ chế pháp luật của một quốc gia dân chủ, để đảm bảo thực thi đầy đủ quyề làm chủ của người dân
1.1.3.2 Một số nội dung cơ bản trong tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh
Có thể khái quát một số nội dung chủ yếu trong tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh như sau:
Trang 29a) Không có gì quí hơn độc lập tự do - nội dung tổng quát, xuyên suốt tư
tưởng dân chủ Hồ Chí Minh
Cả cuộc đời đấu tranh vì dân vì nước, Hồ Chí Minh luôn tâm niệm: “Tôi chỉ
có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc,ai cũng được học hành” [74, tr 161]
Đây là lời tự bạch và cũng là tuyên ngôn hành động của Hồ Chí Minh Ở Hồ Chí Minh, dân tộc độc lập, tự do là tiêu chuẩn đầu tiên của dân chủ thực sự Đồng thời, chỉ có phát huy được dân chủ, “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” mới có được độc lập, tự do thực sự Việc Hồ Chí Minh cùng với Quốc dân đại hội Tân Trào chọn tên nước ta là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà và tiêu ngữ Độc lập - Tự
do - Hạnh phúc, không chỉ thể hiện khát vọng sống trong độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam mà còn là mục tiêu phấn đấu của các thế hệ người Việt Nam cho một nước dân chủ thực sự với dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc, dân trí nâng cao
Hồ Chí Minh chủ trương chống “giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm” ngay sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, không chỉ nhằm bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ vừa giành được từ tay đế quốc, phong kiến, mà là để thực hành dân chủ, mang lại hạnh phúc, tự do cho dân khi họ đã là người chủ đất nước
Trong nội dung dân chủ của Hồ Chí Minh, luận điểm “dân ta hoàn toàn được tự do” không chỉ bao hàm tự do cho cộng đồng dân tộc, cộng đồng những người lao động bị áp bức, đông đảo nhất là nông dân và công nhân, mà còn bao hàm tự do cho mỗi con người Khi nói nước độc lập, dân tự do, đồng bào ai cũng
có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành là đã nói đến sự thống nhất của dân quyền, dân sinh, dân trí, tức là nói dân chủ không chỉ là dân làm chủ về chính trị
mà còn là làm chủ cả về kinh tế văn hoá, tinh thần
Độc lập về chính trị và kinh tế cho dân tộc và hạnh phúc, tự do cho con người là mục tiêu của cách mạng giải phóng dân tộc, đồng thời là nội dung của quá trình dân chủ hoá theo tư tưởng của Hồ Chí Minh Thực chất của quá trình dân chủ hoá này là đấu tranh giành độc lập dân tộc, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản của giai cấp công nhân Trước hết là
Trang 30dân làm chủ Nhà nước, tiếp theo là thực hiện công cuộc cải tạo toàn diện xã hội mà quan trọng nhất là biến các tư liệu sản xuất chủ yếu thành của toàn dân, toàn xã hội, làm cho quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất Qua cuộc cải tạo này mà thủ tiêu bóc lột, tiến hành phân phối theo lao động, xoá bỏ sự đối kháng về giai cấp tiến tới xoá bỏ sự khác nhau về giai cấp, đồng thời cũng xoá bỏ luôn những nguyên nhân trực tiếp làm tha hoá con người, thực hiện mọi người bình đẳng, hành phục và tự do Ý nghĩa của quá trình trên được Hồ Chí Minh khái quát thành mệnh đề nổi tiếng : “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”
Nói: “Không có gì quí hơn độc lập, tự do!” là Hồ Chí Minh đã khẳng định độc lập, tự do là giá trị cao nhất, đứng đầu bảng giá trị xã hội của dân tộc Việt Nam, của mỗi con người Việt Nam yêu nước chân chính Chân lý này được rút ra
từ lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc Việt Nam chống nô dịch và áp bức, từ thực tiễn của cách mạng giải phóng dân tộc treê thế giới, từ nội dung cốt lõi trong
tư tưởng Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
Theo Hồ Chí Minh, độc lập, tự do của một quốc gia là sự thống nhất giữa tự
do về chính trị, kinh tế, văn hoá, tư tưởng với độc lập, tự chủ trong việc lựa chọn con đường phát triển đất nước Một dân tộc không có độc lập thì nhân dân cũng không có quyền tự do Vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà lời hiệu triệu toàn dân Việt Nam đánh Mỹ của Hồ Chí Minh lại được nhân loại tiếp nhận như một chân lý của thời đại Dù rằng, thời đại đang có xu thế toàn cầu hoá kinh tế, hợp tác cùng có lợi, nhưng độc lập, tự do, vẫn là một giá trị vĩnh hằng không phải chỉ đối với các dân tộc đang đấu tranh giải phóng dân tộc mà ngay cả với nhân dân các nước vốn
có độc lập, tự do, nhưng họ vẫn tâm đắc, ngưỡng mộ chân lý “Không có gì quí hơn độc lập, tự do” của Hồ Chí Minh Bởi vì, đó là giá trị cao nhất của con người, là quyền co bản của công dân được thể hiện ra bằng các quyền cụ thể: lao động, học tập, tự do tư tưởng, ngôn luận, cư trú, tín ngưỡng
Chân lý “không có gì quí hơn độc lập, tự do” sẽ sống mãi với loài người, bởi quyền độc lập, tự do là quyền dân chủ cao nhất của một dân tộccũng như mỗi cá nhân Muốn có dân chủ trước hết phải đấu tranh giành lại quyền độc lập, tự do, có độc lập, tự do mới có tiền đề thực hiện các quyền dân chủ khác của con người
Trang 31b) Dân chủ trong lĩnh vực chính trị
Dân chủ trong lĩnh vực chính trị là sự thừa nhận quyền của đa số nhân dân lao động trong việc xây dựng, bảo vệ và sử dụng quyền lực nhà nước Nó còn là ý chí tự chủ, tự do của người dân được thể hiện và thực hiện thông qua tổ chức nhà nước Nói cách khác, nhà nước là một tổ chức của dân, do dân tổ chức ra để điều chỉnh mối quan hệ giữa cá nhân và của cộng động
Nói đến dân chủ trong lĩnh vực chính trị, Hồ Chí Minh đề cập nhiều mặt,
nhiều mối quan hệ, song đáng chú ý là tính chất của nhà nước, địa vị và vai trò
của dân trong quản lý xã hội, quan hệ giữa dân và công chức nhà nước
Hồ Chí Minh xác định: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ” [76, tr 515], hoặc “chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân là người chủ” [77, tr 499]
Đây là quan điểm nhất quán của Hồ Chí Minh trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người và Người cũng yêu cầu mọi cán bộ, viên chức nhà nước phải nhận thức và quán triệt nó như một nội dung cơ bản trong quá trình xây dựng, hoàn thiện dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Hồ Chí Minh khẳng định nước ta là nước dân chủ không chỉ có ý nghĩa
phân định nước Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám 1945 với nước Việt nam thuộc địa, nửa phong kiến trước đó, mà chủ yếu khẳng định chất lượng mới của
nước Việt Nam; nước do dân làm chủ, thực hiện dân chủ với đa số nhân dân và
chuyên chính với thiểu số phản động
Việc khẳng định trong một nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, dân là chủ,
đó là sự sâu sắc và nhất quán trong tư duy dân chủ của Hồ Chí Minh Bất kỳ một lý thuyết dân chủ nào cũng lấy địa vị của dân làm cơ sở, làm nội dung chủ yếu Và quá trình phát triển dân chủ cũng chính là quá trình đấu tranh giành và giữ cho
được địa vị là chủ của người dân trong đời sống xã hội, cũng như vai trò làm chủ
của họ bằng những thiết chế xã hội cụ thể Việc nhà cầm quyền nhận thức được địa
vị là chủ của dân trong một nước dân chủ là quan trọng, nhưng thể hiện cho được địa vị ấy thành việc làm chủ của dân trong thực tiễn mới thực sự là một nền dân chủ đích thực
Trang 32Hồ Chí Minh xác định nhà nước ta là nhà nước dân chủ nhân dân, sau này
khái quát thành nhà nước của dân, do dân và vì dân Trên đại thể là xác định 3 mặt
cơ bản của vấn đề nhà nước; Về tính chất nhà nước đó là của dân Về tổ chức nhà nước đó do dân tổ chức ra Về mục tiêu và phương thức hoạt động của nhà nước
đó là vì dân Nhà nước đã là của dân tất cả phải do dân và vì dân Điều này cũng đồng nghĩa với luận điểm “chính quyền dân chủ có nghĩa là chính quyền do người dân làm chủ” [76, tr 365] mà Người đã nhiều lần đưa ra để so sánh nhà nước dân chủ của ta với nhà nước dân chủ tư sản
Khái quát vấn đề dân tổ chức ra nhà nước, Hồ Chí Minh viết: “Chính quyền
từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra” [75, tr.648] Dân cử đại diện của
mình vào bộ máy công quyền, và những người trong bộ máy đó phải nhận thức đúng vị trí, trách nhiệm của mình là người được uỷ quyền, là công bộc của dân, để không rơi vào tình trạng lạm quyền, chuyên quyền, đứng trên dân, ức hiếp dân, vi phạm quyền làm chủ chính trị của dân
Dân làm chủ nhà nước còn thể hiện ở chỗ dân giám sát, kiểm tra hoạt động của các cơ quan nhà nước, các đại biểu do dân bầu ra và cả các công chức nhà nước Hồ Chí Minh yêu cầu các cơ quan nhà nước “định kỳ báo cáo công việc trước dân” vì “nhân dân có quyền đôn đốc và phê bình Chính phủ” Nhân dân lại
có nhiệm vụ “giúp đỡ Chính phủ, theo đúng kỷ luật của Chính phủ và làm đúng chính sách của Chính phủ để Chính phủ làm tròn phận sự mà nhân dân giao phó”[77, tr 368] Qua kiểm tra, giám sát nếu thấy dân thấy: “Từ Chủ tịch nước đến giao thông viên cũng vậy, nếu không làm được việc cho dân, thì dân không cần đến nữa” [76, tr.365] Thậm chí “Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ” [75, tr 60] Vì “nhân dân có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân” [79, tr 591] Làm như thế là để xác định “địa vị cao nhất
là dân”, “tất cả quyền lực đều là của nhân dân”, đồng thời để bảo đảm sự trong sạch cho những đại biểu của dân trong các cơ quan nhà nước
Tư tưởng về dân làm chủ nhà nước nêu trên của Hồ Chí Minh đã được luật hoá trong các bản hiến pháp của Việt Nam (sẽ nghiên cứu ở chương sau)
Trang 33Khi dân là chủ thì cán bộ là công bộc của dân hoặc đầy tớ của dân, Hồ Chí Minh đã tiến hành một cuộc cách mạng trong nhận thức về vấn đề này Suốt gần hai thiên niên kỷ, người Việt Nam được giáo dục, đào tạo, rèn dũa theo khuôn mẫu của Nho giáo, của chế độ phong kiến tập quyền, theo tam cương ngũ thường và các thiết chế phong kiến Người dân là dân đen, ngu dân, những thần dân cần được giáo hoá Những người có chức, có quyền đòi hỏi dân phụng dưỡng, sách nhiễu dân cống nạp Xây dựng nhà nước dân chủ, Hồ Chí Minh chỉ rõ:
Không phải như khi trước nói hoàng đế, bệ hạ, rồi có những quan này, quan khác cao cao tại thượng Bây giờ chúng ta là dân chủ Dân làm thì chủ tịch, bộ trưởng, thứ trưởng, uỷ viên này khác là làm gì Làm đầy tớ cho nhân dân chứ không phải làm quan cách mạng [78, tr 375]
Trong chế độ dân chủ, Hồ Chí Minh cho rằng: làm cán bộ là làm đầy tớ để
gánh vác việc chung cho dân “Cán bộ Đảng, cán bộ chính quyền không phải làm
quan cách mạng ăn trên ngồi gốc Cán bộ Đảng cũng như cán bộ chính quyền, ngay cả Bác là cán bộ cao nhất đều là đầy tớ của nhân dân, phải hết lòng hết sức phục vụ nhân dân” [78, tr.513], “lo trước thiên hạ” và “vui sau thiên hạ” Làm đầy
tớ của dân phải biết chăm lo cho dân, chăm lo cho chiến sĩ, cho bộ đội Bộ đội chưa có ăn cán bộ không được kêu đói, bộ đội chưa được nghỉ cán bộ không được kêu mệt v.v Làm đầy tớ phải “khổ cần, hạnh cần, thực cần” [74, tr 153] tức là làm việc hết sức mình, làm việc có chất lượng, làm việc có hiệu quả, có năng suất
Hồ Chí Minh coi việc từ Chủ tịch nước đến giao thông viên đều ăn lương của dân, dân đóng thuế để trả lương cho cán bộ là một biểu hiện cụ thể của dân là chủ, cán
bộ là công bộ của dân,
Nhấn mạnh địa vị đầy tớ dân của cán bộ là nhấn mạnh về thái độ phục vụ, về mặt đạo đức và tác phong công tác của cán bộ Trên phương diện chính trị, cán bộ
là người lãnh đạo dân, là những người có chức, có quyền, thực thi quyền lực nhà nước đối với dân Do đó, trong con người cán bộ tồn tại song trùng hai vị thế; người lãnh đạo và người đầy tớ của dân Ở người cán bộ có đạo đức, có bản lĩnh
thì vị thế làm quan và làm tớ hoà quyện, thống nhất ở mục tiêu tất cả vì quyền lợi
của nhân dân, chỉ nhằm nâng cao đời sống của nhân dân Khi đó, như Hồ Chí
Trang 34Minh xác định; “Lãnh đạo là đầy tớ nhân dân và phải làm cho tốt” Nói dân là chủ cũng đồng nghĩa với dân là động lực, là mục đích của cách mạng Cách mạng xuất phát từ nhân dân, đem lại lợi ích thiết thân về mọi mặt cho nhân dân Tính mục đích ấy chi phối toàn bộ sự hoạt động của người cán bộ có chức, có quyền Do đó,
để chọn cán bộ là công bộc của dân, theo Hồ Chí Minh “phải chọn trong những người có công tâm, trung thành, sốt sáng với quyền lợi dân chúng, có năng lực làm việc, được đông đảo dân làng tín nhiệm” [74, tr 22]
Bản thân Hồ Chí Minh luôn xác định mình là người đầy tớ trung thành của nhân dân, ngay cả khi Người giữ chức vị cao nhất của quyền lực- Chủ tịch nước
Cả cuộc đời Hồ Chí Minh chỉ có một mục đích duy nhất, một ham muốn tột bậc là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân Mục tiêu nước độc lập, dân được tự do, ấm no, hạnh phúc, sống một đời no đủ đã chi phối và biểu hiện thành những việc lớn, việc nhỏ, trong mọi hoạt động của Người, từ miệng nói, chân đi, tay làm đến mắt nhìn, óc suy nghĩ
Có thể thấy rõ quan điểm của Hồ Chí Minh về cán bộ là công bộc của dân
qua tự nhận xét về mình của Người trong bản Di chúc “Suốt đời tôi hết lòng hết
sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa” Thật là cảm động và kính phục trước một con người lúc khoẻ, công tác hăng hái thì “không ham danh lợi”, khi về già “chỉ tiếc không phục vụ được lâu, được nhiều hơn nữa”
Nhiều lần Hồ Chí Minh khẳng định: mục đích của nhà nước là phụng sự lợi ích của nhân dân và Chính phủ là công bộc của dân Đây là quan điểm nhất quán, xuyên suốt trong tư tưởng của Người và Người cũng yêu cầu mọi người phải nhận thức sâu sắc những điều đó Trong thư gửi các Uỷ ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng ngày 17-10-1945, Hồ Chí Minh đã nhắc nhở:
Chúng ta phải hiểu rằng các cơ quan của chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng đều là đầy tớ của dân, nghĩa là để gánh vác chung cho dân, chứ không phải để
đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp - Nhật Việc gì có lợi
Trang 35cho dân, ta phải hết sức làm Việc gì có hại cho dân, ta phải hết sức tránh [74, tr 56]
Quan điểm trên của Hồ Chí Minh không chỉ nói rõ sự khác biệt giữa nhà nước dân chủ nhân dân mà chúng ta xây dựng với các kiểu nhà nước đã tồn tại ở Việt Nam trước đó, mà chủ yếu chỉ rõ bản chất của nhà nước dân chủ là hoạt động
vì mục đích mang lại quyền lợi cho nhân dân
Quyền lợi của nhân dân với nghĩa rộng như Hồ Chí Minh đã nói: “Nước độc lập mà dân không được hưởng tự do, hạnh phúc thì độc lập cũng chẳng nghĩa lý gì” Với nghĩa hẹp, đó là những quyền lợi thiết thân hàng ngày của họ Nhiệm vụ của nhà nước là phải : “Làm cho dân có ăn Làm cho dân có mặc Làm cho dân có chỗ ở Làm cho dân có học hành” [74, tr 152]
Đây là quan điểm rất mácxít của Hồ Chí Minh Các nhà kinh điển mácxít đã chỉ rõ khi các nhu cầu ăn, mặc, ở, đi lại, học hành được thoả mãn con người mới nghĩ đến làm chính trị Thống nhất với quan điểm trên, Hồ Chí Minh cho rằng phải
đi đến 4 điểm trên “để dân nước ta xứng đáng với tự do độc lập và giúp sức cho tự
do độc lập ” [74, tr 152]
Bản thân Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng, mẫu mực phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân Người tự kiểm điểm: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân Nhưng khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sợ hiểm nghèo, là vì mục đích
đó Đến lúc nhờ quốc dân đoàn kết, tranh được chính quyền, uỷ thác cho tôi gánh việc chính phủ, tôi lo lắng đêm ngày, nhẫn nhục cố gắng cũng vì mục đích đó” Và Người cũng yêu cầu mọi người phải thường xuyên rèn luyện, “học tập” “để phục
sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, phụng sự gia cấp” “Được phục vụ nhân dân là một vinh dự rất vẻ vang”
Một nhà nước vì dân phải biết mang lại quyền lợi cho dân, đồng thời cũng
phải biết bảo vệ quyền lợi của dân, thực hiện chức năng chuyên chính, trấn áp của mình Theo Hồ Chí Minh, chức năng chuyên chính của nhà nước dân chủ như “cái cửa, cái khoá” đề phòng kẻ cắp, phá hoại “dân chủ là của quý báu nhất của nhân
Trang 36dân” Thực hiện chức năng này, chính quyền “phải khoan hồng nhưng không nhu nhược, như vậy mới thực sự biết phụng sự quyền lợi quốc gia” [74, tr 46]
Một nhà nước vì dân cũng là một nhà nước biết chống đặc quyền, đặc lợi và
các tiêu cực khác để giữ cho bộ máy trong sạch, có hiệu lực Hồ Chí Minh phát hiện rất sớm những tiêu cực có thể phát sinh trong bộ máy chính quyền nhà nước
từ Trung ương đến cơ sở Người nói rõ nhà nước ta không phải là bộ máy áp bức dân, cán bộ viên chức nhà nước không phải là “quan cách mạng”, “bóc lột dân”, “ kéo bè, kéo cánh để thu vén lợi ích cá nhân” Vì vậy, một nhà nước vì dân trước hết phải biết chống lại những bệnh đặc quyền, đặc lợi, chống tham nhũng
Tháng 1-1946, Hồ Chí Minh đã ban hành quốc lệnh gồm 10 điều thường và
10 điều phạt, thể hiện tính nghiêm túc của kỷ cương, phép nước, không trừ một ai, người có công được thưởng, người có tội bị phát Trong trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội khoá I, kỳ họp thứ hai (10-1946) về sự liêm khiết của Chính phủ, Người đã trình bày;
Chính phủ hiện thời đã cố gắng liêm khiết lắm Nhưng trong Chính phủ từ
Hồ Chí Minh cho đến những người làm việc ở các uỷ ban làng hiện đông lắm và phức tạp lắm Dù sao Chính phủ đã hết sức làm gương và nếu làm gương không xong, thì sẽ dùng pháp luật mà trị những kẻ ăn hối lộ- đã trị, đương trị và sẽ trị cho
kỳ hết [135, tr 98]
Theo Hồ Chí Minh không chỉ những kẻ ăn hối lộ, ăn của đút, đục khoét, “dĩ công vi tư” mà cả những kẻ “tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng, tham ăn ngon, sống yên đều là bất liêm” “Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì” [75, tr 641] Có kẻ thấy rõ thái độ của Hồ Chí Minh là dứt khoát và thẳng thắn trong việc chống tham nhũng, bảo vệ kỷ cương phép nước, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân
c) Dân chủ trong lĩnh vực kinh tế
Trong đời sống xã hội thường ngày, dân chủ đã được hiểu trực tiếp là dân chủ trong lĩnh vực chính trị và chừng nào còn giai cấp, còn nhà nước thì dân chủ được biểu hiện ra với tư cách là một chế độ chính trị, chế độ nhà nước hay một hình thái quyền lực Song, mỗi bước tiến và mỗi trình độ phát triển của dân chủ
Trang 37trong lịch sử lại là kết quả được tạo ra từ hoạt động thực tiễn của con người trong những điều kiện xác định kinh tế, chính trị, văn hoá, cùng với những hình thức, phương pháp tổ chức quản lý xã hội tương ứng với những điều kiện đó Ý thức, ý niệm về dân chủ của con người cũng như nhu cầu, khát vọng của họ về dân chủ biểu hiện ra trong những cuộc đấu tranh cho dân chủ với những nội dung không bao giờ chỉ thuần tuý là tinh thần, là giành và giữ quyền lực chính trị, mà chủ yếu
là đấu tranh giành và giữ quyền lực kinh tế, Ai (cá nhân, tập đoàn, giai cấp) năm được quyền lực kinh tế (tư liệu sản xuất, khối lượng của cải, tiền bạc ) sẽ là người chi phối đời sống xã hội
Dân nắm quyền lực kinh tế và thực hiện được lợi ích kinh tế gọi là dân chủ
trong lĩnh vực kinh tế Đối với con người cá nhân, với tư cách là người lao động,
quyền được hưởng lợi ích (quyền lợi) tương xứng với lao động mà họ bỏ ra, quyền
được lao động, được có việc làm, có thu nhập chính đáng thuộc về quyền dân chủ
trong lĩnh vực kinh tế Đối với xã hội, chế độ dân chủ của xã hội xây dựng trên nền
tảng chế độ sở hữu Tính chất sở hữu cùng với hình thức của sở hữu quy định tính chất dân chủ Trình độ phát triển của dân chủ, của xã hội xét đến cùng bị quy định một cách tất yếu bởi trình độ phát triển của kinh tế, của lực lượng sản xuất, và như
vậy ; bản chất dân chủ trước hết là một bản chất kinh tế
Nói bản chất kinh tế trong dân chủ là nói đến tính khách quan, tính quy định của dân chủ kinh tế đối với dân chủ chính trị và ở các lĩnh vực khác
Việc thực hiện nhu cầu, khát vọng làm chủ của con người không phải cứ muốn là đương nhiên được thực hiện Nhu cầu, khát vọng, quyền tự chủ của con người có nhiều hay ít hoàn toàn phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất xã hội Ở thời đại “Cối xay gió” con người muốn bay vào vũ trụ, đi tới mặt trăng cũng không bao giờ đạt được Với con trâu đi trước, cái cày đi sau, dù con người có mơ cũng không bao giờ đạt được kết quả của hàng triệu phép tính sau một giây đồng hồ Cũng như thế, chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế, không thể có dân chủ chính trị đích thực thoát li dân chủ kinh tế, nói khác đi, trong lĩnh vực kinh tế mà không có dân chủ thì dân chủ trong lĩnh vực chính trị cũng chỉ là hình thức
Trang 38Mặt khác, các mâu thuẫn kinh tế cơ bản chỉ được giải quyết bằng con đường chính trị, thông qua đấu tranh giai cấp đại biểu cho một bên là lực lượng sản xuất, một là quan hệ sản xuất Bản thân các quy luật kinh tế cũng thông qua con người thực hiện, thông qua sự đấu tranh chống bất bình đẳng kinh tế, qua đấu tranh giai cấp mới mở được đường đi cho mình Chính sự bất bình đẳng trong kinh tế ở mức
độ nhất định lại là lý do thúc đẩy đổi mới sản xuất, đổi mới công nghệ, thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất Và cũng do những nguyên nhân khách quan của sự vận động và đường lối chính trị của giai cấp cầm quyền trong phát triển kinh tế, sự bất bình đẳng này lại có thể là tất yếu phải vượt qua để đạt tới sự bình đẳng hơn, dân chủ hơn Ví như việc con người chấp nhận sự phân hóa giàu nghèo trong kinh
tế thị trường, chấp nhận sự bất bình đẳng trong thu nhập ở mức độ nào đó của một
bộ phận dân cư để đạt được sự tăng trưởng kinh tế của toàn xã hội Cũng tương tự như việc con người muốn sống có hoà bình phải tiến hành chiến tranh chống xâm lược Hiểu đúng những điều vừa nêu sẽ tránh được khuynh hướng tuyệt đối hoá chính trị cũng như khuynh hướng tuyệt đối hoá tự do trong kinh tế - những khả năng dễ xảy ra trong sự nghiệp xây dựng dân chủ xã hội chủ nghĩa
Dân chủ trong lĩnh vực kinh tế là một nội dung của khái niệm dân chủ Không phải là nội dung duy nhất nhưng là nội dung có vai trò quan trọng nhất, chiếm vị trí hàng đầu trong quá trình dân chủ hoá Không thực hiện được dân chủ trong kinh tế thì không thể giải quyết về thực chất dân chủ trong các lĩnh vực khác Giải phóng sức sản xuất, phát triển kinh tế là động lực quan trọng nhất đối với quá trình dân chủ hoá ở các nước
Xã hội thuộc địa nửa phong kiến ở Việt Nam rung chuyển và sụp đổ sau cuộc khởi nghĩa tháng 8-1945 là do nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam vùng dậy đòi quyền làm người và quyền độc lập, tự do của dân tộc đã bị bọn phong kiến cấu kết với đế quốc tước đoạt Vấn
đề nổi trội trong cuộc cách mạng đó là quyền làm người, quyền con người, quyền
độc lập, tự do của dân tộc chứ chưa phải là quyền lợi kinh tế trực tiếp dẫn đến mâu
thuẫn đối kháng giai cấp để nổ ra cách mạng Khi chính quyền về tay nhân dân thì
Hồ Chí Minh quan tâm trước nhất đến việc pháp luật hoá các quyền con người
Trang 39thành quyền công dân Lúc đó, con người – công dân - không chỉ là công dân chính trị mà phải là công dân của nước dân chủ có quyền làm chủ về kinh tế
Đối với một nước nông nghiệp, hơn 90% là nông dân như Việt Nam, dân chủ trong lĩnh vực kinh tế, theo Hồ Chí Minh, trước hết là “canh giả hữu kỳ điền” nghĩa là dân cày có ruộng “Làm cho hàng chục triệu dân cày thành tư hữu, đều có ruộng, đều có quyền sở hữu ruộng đất” [77, tr 210] Thực hiện mục đích người cày
có ruộng là nội dung dân chủ kinh tế quan trọng Song, Hồ Chí Minh khẳng định
“dân cày có ruộng chỉ là một chính sách dân chủ”[77, tr 210] trong hệ thống các chính sách dân chủ kinh tế khác Như sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế, việc bảo
hộ quyền sở hữu tư liệu sản xuất của các nhà tư sản
Điều này thể hiện rõ khi Hồ Chí Minh giải thích về đặc điểm của chế độ dân
chủ mới mà nước ta xây dựng:
Trong chế độ dân chủ mới, có năm loại kinh tế khác nhau:
A- Kinh tế quốc doanh (thuộc chủ nghĩa xã hội, vì nó là của chung của nhân dân
B- Các hợp tác xã (nó là nửa chủ nghĩa xã hội, và sẽ tiến đến chủ nghĩa xã hội)
C- Kinh tế của cá nhân, nông dân và thủ công nghệ (có thể tiến dần vào hợp tác xã, tức là nửa chủ nghĩa xã hội)
D-Tư bản của tư nhân
E-Tư bản của Nhà nước (như Nhà nước hùn vốn với tư bản tư nhân để kinh doanh) [87, tr 247-248]
Nội dung dân chủ trong lĩnh vực kinh tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh như quyền sở hữu của dân, sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế trong xã hội Việt Nam,
sự bình đẳng, đối xử ngang nhau giữa các thành phần kinhh tế, các chủ thể kinh tế
đã được luật hoá, được thể hiện trong Hiến pháp Việt Nam năm 1959 Những tư tưởng về dân chủ trong kinh tế của Hồ Chí Minh được đưa vào Hiến pháp 1959 không phải vì Người là Trưởng ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp, mà vì sự đúng đắn của các tư tưởng đó Tuy nhiên không phải mọi sự đúng đắn đã được chấp nhận hoàn toàn, đầy đủ ngay
Trang 40Hiến pháp thừa nhận tồn tại kinh tế nhiều thành phần là sự bảo đảm về mặt pháp lý cho sự bình đẳng trong sản xuất của các thành phần kinh tế Tôn trọng quyền sở hữu tư liệu sản xuất và bảo đảm sự bình đẳng trong sản xuất để cho mọi
công dân “dám làm” và thực hiện “quyền làm” là nội dung dân chủ kinh tế cơ bản
của Hồ Chí Minh
Về nội dung dân chủ trong lĩnh vực kinh tế, Hồ Chí Minh không chỉ chủ ý đến sự bình đẳng trong sản xuất, quyền làm chủ tư liệu sản xuất của các chủ thể xã hội, mà còn quan tâm, thực hiện công bằng trong phân phối sản phẩm xã hội, và công khai trong quản lý kinh tế Ba mặt trên liên quan với nhau tạo thành chỉnh thể lôgic của dân chủ trong kinh tế Hồ Chí Minh từng nói “công nhân có quyền thực
sự trong xí nghiệp từ làm chủ tư liệu sản xuất, họ phải được làm chủ việc quản lý kinh tế, làm chủ việc phân phối sản phẩm lao động” [82, tr 568] Dù nói về quyền làm chủ kinh tế của giai cấp công nhân, nhưng trong đó đã hàm chứa lôgic tự nhiên của dân chủ trong lĩnh vực kinh tế của xã hội
Mượn lời người xưa để nói rõ quan điểm của mình về phân phối sản phẩm
xã hội trước Hội đồng Chính phủ, Hồ Chí Minh nói: “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên” [82, tr 85] Rõ ràng, Người có cùng quan điểm với người xưa ở mục đích của công bằng trong phân phối là để “yên lòng dân” Song, Hồ Chí Minh quan niệm, trước hết phải có cái để
mà phân phối, tức là phải “sản xuất được nhiều” và công bằng không phải là cào bằng một cách bình quân, mà “ai làm nhiều thì hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm không hưởng” [79, tr 23]
Hồ Chí Minh khẳng định phân phối theo kết quả lao động là công bằng, hợp
lý, đó là nguyên tắc phân phối của chủ nghĩa xã hội Nếu xã hội chưa phải là cộng sản chủ nghĩa thì phân phối theo lao động là dân chủ Cử tri Hà Nội có lần hỏi Hồ Chí Minh (ngày 10-5-1958): phải chăng trong xã hội xã hội chủ nghĩa ai không lao động cũng có ăn ! Lại có người nói rằng không lao động thì không được ăn! Vậy thì những người già yếu sẽ thế nào? Hồ Chí Minh trả lời và nói rõ quan điểm của mình là: “Chủ nghĩa xã hội là công bằng hợp lý : làm nhiều hưởng nhiều, làm ít