NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOHỌC VIỆN NGÂN HÀNG LÊ HÒNG HẠNH NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ KINH DOANH CHỨNG KHOÁN TẠI PHÒNG DỊCH VỤ KHÁCH HÀNG CÔNG TY CHỨNG KHOÁN NGÂN
Trang 1NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
LÊ HÒNG HẠNH
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ KINH DOANH CHỨNG KHOÁN TẠI PHÒNG DỊCH VỤ KHÁCH HÀNG CÔNG TY CHỨNG KHOÁN NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT
TRIEN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế tài chính - Ngân hàng
Mã số: 60.31.12
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn Khoa học: TS Mai Thanh Quế
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu
đã nêu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, kết quả của luận văn là trung thực
và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà nội, ngày tháng năm 2010
Tác giả luận văn
Lê Hồng Hạnh
Trang 3STT Từ viết tắt Giải thích
1 .BSC Công ty Chứng khoan NHDT&PTVN 2 BIDV Ngân hàng Dầu tư và phát triển Việt nam
Ngân hàng Dầu tư và phát triển Việt nam - chi
nhánh Quang Trung 4 .MGCK Môi giới chứng khoán
11 Ngày T+2 2 ngày sau khi khách hàng thực hiện thành
công giao dịch mua/bán chứng khoán
3 ngày sau khi khách hàng thực hiện thànhcông giao dịch mua/bán chứng khoán 13 . REPO Nghiệp vụ mua bán chứng khoán có kỳ hạn 14 . SGDCK Sở giao dịch chứng khoán
15 .TTCK Thị trường chứng khoán
16 .TTGDCK Trung tâm giao dịch chứng khoán
17 . TTLKCK Trung tâm lưu ký chứng khoán
18 . TNHH Trách nhiệm hữu hạn
19 . UBCKNN Ủy ban chứng khoán Nhà nước
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 4Các bảng,
HmhlJ lɪl Sơ đồ tổ chức BSC 40 HmhlJ 2J.3.2 Lợi nhuận kinh doanh, 2006-lOO9 4l Hinhlii 2J.3.3 Cơ cấu tài sản BSC năm 2009 43 Hình l.4 l.l.l.l
Doanh số cho vay cầm cố chứng khoán,
Bảng 2.4 lɪɪ Biểu phí môi giới của công ty BSC 48
Bảng 2.5 l.l.l.1 Số lượng chứng khoán lưu ký của BSC tính
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Kết cấu của luận văn 2
CHƯƠNG 1 ’ 3
TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ DỊCH VỤ KINH DOANH CHỨNG KHOÁN 3
1.1 Những vấn đề chung về Công ty Chứng Khoán 3
1.1.1 Khái niệm công ty chứng khoán 3
1.1.2 Vai trò của công ty chứng khoán 4
1.1.3 Mô hình tổ chức của công ty chứng khoán 5
1.1.4 Hình thức pháp lý của công ty chứng khoán 6
1.1.5 Cơ cấu tổ chức của công ty chứng khoán 7
1.2 Các dịch vụ kinh doanh chứng khoán tại công ty chứng khoán 9
1.2.1 Dịch vụ môi giới chứng khoán 9
1.2.2 Nghiệp vụ tự doanh: 10
1.2.3 Dịch vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán, đại lý phát hành 12
1.2.4 Dịch vụ tư vấn đầu tư 14
1.2.5 Dịch vụ quản lý danh mục đầu tư 17
1.3 Dịch vụ kinh doanh chứng khoán tại Phòng Dịch vụ khách hàng Công ty Chứng khoán Ngân hàng Đầu Tư và Phát triển Việt Nam 20
1.3.1 Các loại hình dịch vụ kinh doanh chứng khoán tại Phòng Dịch vụ khách hàng 20
1.3.2 Chất lượng dịch vụ kinh doanh chứng khoán tại Phòng Dịch vụ khách hàng 25
Kết luận chương 1 35
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ KINH DOANH CHỨNG KHOÁN TẠI PHÒNG DỊCH VỤ KHÁCH H ÀNG CÔNG TY CHỨNG KHOÁN N G Â N HÀNG ĐẦU TƯ V À PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 36 2.1 Khái quát về Công ty Chứng Khoán Ngân hàng Đầu Tư và Phát triển
Trang 62.1.2 Mô hình tổ chức của Công ty Chứng Khoán Ngân hàng Đầu Tư vàPhát triển Việt Nam 382.1.3 Kết quả kinh doanh chủ yếu của Công ty 38
2.2 Thực trạng chất lượng hoạt động dịch vụ kinh doanh chứng khoán tại
Phòng Dịch vụ khách hàng Công ty Chứng khoán Ngân hàng Đầu Tư và Phát triển Việt Nam 442.2.1 Nghiệp vụ môi giới chứng khoán trên Thị trường chứng khoán tại
Công ty Chứng khoán Ngân hàng Đầu Tư và Phát triển Việt Nam 442.2.2 Các dịch vụ hỗ trợ tại Phòng Dịch vụ khách hàng 51
2.3 Đánh giá chất lượng hoạt động các dịch vụ kinh doanh chứng khoán tại
Phòng Dịch vụ khách hàng Công ty Chứng khoán Ngân hàng Đầu Tư và Phát triển Việt Nam 64
2.3.1 Kết quả đạt được 642.3.2 Những tồn tại của hoạt động dịch vụ kinh doanh chứng khoán tạiPhòng Dịch vụ khách hàng Công ty Chứng khoán Ngân hàng Đầu Tư vàPhát triển Việt Nam 662.3.3 Nguyên nhân tồn tại 69
Kết luận chương 2 71 MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ KINH DOANH CHỨNG KHOÁN TẠI PHÒNG DỊCH
VỤ K H Á C H HÀNG CÔNG TY CHỨNG KHOÁN NG Â N HÀNG ĐẦU T Ư
V À PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 72 3.1 Định hướng phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam và định
hướng kinh doanh của Công ty Chứng khoán Ngân hàng Đầu Tư và Phát triển Việt Nam 73
3.1.1 Định hướng phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam 733.1.2 Định hướng kinh doanh của Công ty Chứng khoán Ngân hàng Đầu Tư
và Phát triển Việt Nam 763.1.3 Mục tiêu kinh doanh của Công ty Chứng khoán Ngân hàng Đầu Tư vàPhát triển Việt Nam 773.1.4 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của Công tyChứng khoán Ngân hàng Đầu Tư và Phát triển Việt Nam 78
3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng các dịch vụ kinh doanh chứng khoán tại
Phòng Dịch vụ khách hàng Công ty Chứng Khoán Ngân hàng Đầu Tư và
Trang 73.2.3 Xây dựng chính sách giá cả hấp dẫn 86
3.2.4 Đẩy mạnh các chiến lược marketing hiệu quả 87
3.2.5 Phát triển mạng lưới hoạt động kinh doanh 88
3.2.6 Hoàn thiện hệ thống công nghệ thông tin đáp ứng dịch vụ chứng khoán 89
3.2.7 Phát triển nguồn lực, nâng cao chuyên môn nghiệp vụ của nhân viên90 3.3 Kiến nghị nâng cao chất lượng dịch vụ kinh doanh chứng khoán tại Công ty Chứng Khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam 91
3.3.1 Kiến nghị với Ủy Ban Chứng khoán Nhà Nước, Sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh, Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội 91
3.3.2 Kiến nghị đối với các bộ ngành liên quan 94
3.3.3 Kiến nghị với Ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam 96
KẾT LUẬN 98
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thị trường chứng khoán liên tục giảm giá, thời kỳ thị trường suy thoái sauthời tăng trưởng bong bóng Chỉ số VNINDEX giảm mạnh từ 1170 điểm vàocuối năm 2007 xuống còn 366 điểm vào ngày 20/06/2008, và chạm đáy 235điểm vào ngày 24/02/2009, mức thấp nhất kể từ tháng 03 năm 2005 Hiện tượngchuyển kênh đầu tư từ chứng khoán sang các kênh khác được thấy ở cả hai giớiđầu tư trong nước và ngoài nước Sự sụt giảm của thị trường chứng khoán khiếncác Công ty chứng khoán mất đi nguồn thu chủ yếu từ hoạt động môi giới và tựdoanh Các công ty chứng khoán nhỏ, mới thành lập phải bán lại cổ phần hoặcsáp nhập, thậm chí phá sản, giải thể Một số Công ty chứng khoán lớn hơn cótiềm lực có thể mua lại các công ty nhỏ, định hướng lại các hoạt động kinhdoanh, tăng cường khả năng kiểm soát rủi ro, củng cố nguồn lực để đáp ứng cácyêu cầu mới của thị trường
Trước cơn bão tài chính toàn cầu, là một thành viên của TTCK, Công tyChứng khoán NHĐT&PTVN đang gặp khó khăn trong việc nâng cao thị phầnmôi giới Điều này cho thấy tính cấp thiết phải nâng cao chất lượng dịch vụ kinhdoanh chứng khoán tại công ty
Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi chọn đề tài “Nâng cao chất lượng dịch vụ
kinh doanh chứng khoán tại Phòng Dịch vụ khách hàng Công ty Chứng khoán Ngân hàng Đầu Tư và Phát triển Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sỹ
Trang 9-Tìm kiếm và đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chấtlượng dịch vụ kinh doanh chứng khoán tại Phòng DVKH Công ty Chứng khoánNHĐT&PTVN nói riêng cũng như trên TTCK nói chung.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề liên quan đến các chấtlượng dịch vụ kinh doanh chứng khoán tại Phòng DVKH Công ty Chứng khoánNHĐT&PTVN (Bao gồm dịch vụ môi giới và các dịch vụ hỗ trợ khác)
Để phục vụ đối tượng nghiên cứu trên, luận văn đã đi sâu phân tích thựctrạng hoạt động các dịch vụ kinh doanh chứng khoán tại Phòng DVKH Công tyChứng khoán NHĐT&PTVN từ năm 2000 đến nay, trên cơ sở số liệu do công tycung cấp
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp duy vật biện chứng trong mối quan hệ vớiduy vật lịch sử, đồng thời kết hợp sử dụng các phương pháp toán với trợ giúpcủa kỹ thuật vi tính, phương pháp điều tra, khảo sát, phân tích so sánh, tổng hợpcác vấn đề được nghiên cứu Đề tài cũng sử dụng các bảng, biểu, hình vẽ đểminh họa qua đó rút ra kết luận tổng quát phù hợp
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, luận văn được kết cấu thành 03chương:
Chương 1: Tổng quan về công ty chứng khoán và dịch vụ kinh doanh
chứng khoán
Chương 2: Thực trạng chất lượng dịch vụ kinh doanh chứng khoán tại
Phòng DVKH Công ty Chứng khoán NHĐT&PTVN
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng dịch
vụ kinh doanh chứng khoán tại Phòng DVKH Công ty chứng khoánNHĐT&PTVN
Trang 10CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ DỊCH VỤ
KINH DOANH CHỨNG KHOÁN 1.1 Những vấn đề chung về Công ty Chứng Khoán
1.1.1 Khái niệm công ty chứng khoán
Căn cứ theo Quy chế Tổ chức và hoạt động của Công ty chứng khoán banhành kèm theo Quyết định số 27/2007/QĐ-BTC ngày 24/4/2007 của Bộ trưởng
Bộ Tài chính, công ty chứng khoán được định nghĩa như sau:
“Công ty chứng khoán là tổ chức có tư cách pháp nhân hoạt động kinhdoanh chứng khoán, bao gồm một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động: môi giớichứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấnđầu tư chứng khoán”
Công ty chứng khoán là một tổ chức môi giới tài chính, được thành lậpkhi có sự chấp thuận của Ủy ban chứng khoán Nhà nước Để được cấp giấyphép thành lập và hoạt động, công ty chứng khoán phải đảm bảo các yêu cầu vềquyền sử dụng trụ sở làm việc tối thiểu 01 năm, trong đó diện tích làm sàn giaodịch phục vụ nhà đầu tư tối thiểu 150m2; có đầy đủ cơ sở vật chất, kỹ thuật phục
vụ hoạt động kinh doanh, bao gồm: sàn giao dịch phục vụ khách hàng, thiết bịvăn phòng, hệ thống máy tính cùng các phần mềm thực hiện hoạt động giao dịchchứng khoán, trang thông tin điện tử, bảng tin để công bố thông tin cho kháchhàng, hệ thống kho, két bảo quản chứng khoán, tiền mặt, tài sản có giá trị khác
và lưu giữ tài liệu, chứng từ giao dịch đối với công ty chứng khoán có nghiệp vụmôi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán; đáp ứng mức vốn pháp định theotừng loại hình kinh doanh và nhân viên công ty phải có chứng chỉ hành nghề
Đóng vai trò là một tổ chức môi giới tài chính, công ty chứng khoán gópphần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nói chung và của thị trường chứng
Trang 11khoán nói riêng Thông qua các công ty chứng khoán, các cổ phiếu và trái phiếuđược mua bán trên TTCK, qua đó một lượng vốn khổng lồ được đưa vào đầu tư
từ việc tập hợp những nguồn vốn lẻ trong công chúng
1.1.2 Vai trò của công ty chứng khoán
*Thúc đẩy chu chuyển vốn của nền kinh tế
Các công ty chứng khoán đảm nhiệm việc lưu thông chứng khoán từ nhàphát hành tới người đầu tư Các công ty chứng khoán có vai trò làm chiếc cầunối, là kênh dẫn vốn chảy từ nơi có vốn nhàn rỗi đến nơi đang cần huy độngvốn Các công ty chứng khoán thường đảm nhiệm vai trò này qua hoạt động bảolãnh phát hành và môi giới chứng khoán
*Điều tiết giá cả chứng khoán và bình ổn thị trường
Giá cả chứng khoán là do thị trường quyết định Tuy nhiên, để đưa ra mứcgiá cuối cùng, người mua và người bán phải thông qua các công ty chứng khoán
vì họ không được tham gia trực tiếp vào quá trình mua bán Các công ty chứngkhoán là những thành viên của thị trường, do vậy họ cũng góp phần tạo lập giá
cả thị trường thông qua đấu giá Trên thị trường sơ cấp, các công ty chứngkhoán cùng với nhà phát hành đưa ra mức giá đầu tiên Chính vì vậy, giá cả củamỗi loại chứng khoán giao dịch đều có sự tham gia định giá của các công tychứng khoán
Trên thị trường thứ cấp, các công ty chứng khoán có vai trò điều tiết thịtrường, bình ổn giá thị trường Để bảo vệ những khoản đầu tư của khách hàng vàbảo vệ lợi ích của chính mình, nhiều công ty chứng khoán đã dành một tỷ lệ nhấtđịnh các giao dịch để thực hiện vai trò bình ổn thị trường
*Tạo ra tính thanh khoản cho chứng khoán
Trang 12Trên thị trường chứng khoán, nhờ có công ty chứng khoán, các nhà đầu tư
có thể hàng ngày chuyển chứng khoán có giá thành tiền mặt và ngược lại Việcthực hiện thông qua công ty chứng khoán sẽ giúp cho các nhà đầu tư không phảichịu thiệt hại đáng kể đối với giá trị khoản đầu tư của mình
*Tư vấn đầu tư chứng khoán
Các công ty chứng khoán với đầy đủ các dịch vụ không chỉ thực hiệnmệnh lệnh của khách hàng, mà còn tham gia vào nhiều dịch vụ tư vấn khác nhauthông qua việc nghiên cứu thị trường rồi cung cấp các thông tin đó cho các công
ty và các cá nhân đầu tư
Tóm lại, công ty chứng khoán là một tổ chức chuyên nghiệp trên thịtrường chứng khoán, có vai trò cần thiết và quan trọng đối với thị trường chứngkhoán nói chung Những vai trò này được thể hiện thông qua các hoạt động củacông ty chứng khoán
1.1.3 MÔ hình tổ chức của công ty chứng khoán
Hoạt động của các công ty chứng khoán rất đa dạng và phức tạp, tùy theođặc điểm của hệ thống tài chính và sự cân nhắc lợi hại của những người làmcông tác quản lý nhà nước, các công ty chứng khoán có thể phân chia thành 2nhóm mô hình tổ chức sau:
Một là, mô hình đa năng kinh doanh chứng khoán và tiền tệ: thực hiện tất
cả các nghiệp vụ như kinh doanh chứng khoán, kinh doanh tiền tệ và các dịch vụtài chính khác, được chia làm 2 loại:
-Loại đa năng một phần: Các ngân hàng kinh doanh chứng khoán, kinhdoanh bảo hiểm phải lập công ty độc lập hoạt động tách rời
-Loại đa năng hoàn toàn: Các ngân hàng vừa kinh doanh chứng khoán,vừa kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh tiền tệ
Trang 13Hai là, mô hình chuyên doanh chứng khoán: là loại hình công ty chứngkhoán độc lập và chỉ chuyên môn hóa trong lĩnh vực chứng khoán.
Tuy nhiên, trong thời gian gần đây ở các nước trên thế giới có xu hướngxóa bỏ dần ngăn cách giữa hai mô hình này, các công ty chứng khoán lớn đã mởrộng kinh doanh cả trong lĩnh vực bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ
1.1.4 Hình thức pháp lý của công ty chứng khoán
Trên thế giới hiện nay tồn tại ba loại hình tổ chức công ty chứng khoán cơbản Song hình thức công ty cổ phần được đánh giá là ưu việt nhất đối với cáccông ty chứng khoán
Công ty hợp danh: là loại hình kinh doanh có ít nhất 2 chủ sở hữu trở
lên Thành viên tham gia vào quá trình ra quyết định quản lý được gọi là thànhviên hợp danh, còn thành viên không tham gia điều hành công ty gọi là thànhviên góp vốn Thành viên hợp danh phải có trình độ chuyên môn, phải chịu tráchnhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghiệp vụ của công ty chứng khoán,thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm với những khoản nợ của công ty giớihạn trong số góp vốn của họ Công ty hợp danh không được phát hành bất cứloại chứng khoán nào
Ưu điểm : Các thành viên có quyền quản lý công ty và tiến hành các hoạtđộng kinh doanh nhân danh công ty Họ có thể phát huy được tính chủ động,sáng tạo trong kinh doanh
Nhược điểm: Loại hình doanh nghiệp này không có tư cách pháp nhân.Công ty không thể phát hành chứng khoán vì vậy khả năng huy động vốn sẽ bịhạn chế rất nhiều
Công ty trách nhiệm hữu hạn: là doanh nghiệp trong đó các thành viên
chịu trách nhiệm về các khoản nợ, các nghiệp vụ khác của công ty bị khống chế
Trang 14bởi số vốn họ đã cam kết góp Số lượng các thành viên không vượt quá 50.Công ty không được quyền phát hành cổ phiếu.
Ưu điểm: Có tư cách pháp nhân, thành viên của công ty thường ít hơn cổđông của công ty cổ phần, do đó cơ cấu quản lý công ty gọn nhẹ
Nhược điểm: Rủi ro sẽ chuyển sang vai các chủ nợ Vì công ty khôngđược phát hành cổ phần nên khó khăn trong việc huy động vốn
Công ty cổ phần: là doanh nghiệp có vốn điều lệ được chia thành nhiều
phần bằng nhau gọi là cổ phần Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa
vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp Công ty cổ phần
có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng theo quy định của pháp luật vềchứng khoán
Ưu điểm: Có tư cách pháp nhân, được phép phát hành cổ phiếu và tráiphiếu, nên dễ dàng huy động vốn từ các nhà đầu tư
Nhược điểm: Cơ cấu tổ chức và hoạt động quản lý của công ty tương đốiphức tạp
1.1.5 Cơ cấu tổ chức của công ty chứng khoán
Cơ cấu của công ty chứng khoán phụ thuộc vào loại hình hoạt động chứngkhoán mà công ty thực hiện cũng như quy mô hoạt động kinh doanh chứngkhoán của nó Tuy nhiên, chúng đều có đặc điểm chung là hệ thống các phòngban chức năng được chia thành nhóm hai khối khác nhau là khối hoạt động vàkhối phụ trợ
Khối hoạt động: là khối thực hiện các giao dịch kinh doanh và dịch vụ
kinh doanh chứng khoán Khối này đem lại thu nhập cho công ty bằng cách đápứng nhu cầu của khách hàng và tạo ra các sản phẩm phù hợp với các nhu cầu đó.Tương ứng với các hoạt động do khối này phụ trách sẽ có những bộ phận phòng,ban nhất định:
Trang 15- Phòng môi giới
- Phòng tự doanh
- Phòng bảo lãnh phát hành
- Phòng quản lý danh mục đầu tư và quỹ đầu tư
- Phòng tư vấn tài chính và đầu tư
Tuy nhiên, căn cứ vào quy mô thị trường và sự chú trọng vào các hoạtđộng mà công ty chứng khoán có thể chuyên sâu vào từng bộ phận hoặc tổ nghợp các hoạt động vào trong một bộ phận
Khối phụ trợ: là khối không trực tiếp thực hiện các hoạt động kinh
doanh, nhưng nó không thể thiếu được trong vận hành của công ty chứng khoán
vì hoạt động của nó mang tính chất trợ giúp cho khối hoạt động Khối này baogồm các bộ phận sau:
- Phòng nghiên cứu và phát triển
- Phòng phân tích và thông tin thị trường
- Phòng kế hoạch công ty
- Phòng phát triển sản phẩm mới
- Phòng công nghệ tin học
- Phòng pháp chế
- Phòng kế toán, thanh toán và kiểm soát nội bộ
- Phòng ngân quỹ, ký quỹ
- Phòng tổng hợp hành chính nhân sự
Ngoài sự phân biệt rõ ràng hai khối như vậy, do mức độ phát triển củacông ty chứng khoán và thị trường chứng khoán mà có thể có thêm các bộ phậnkhác như: mạng lưới chi nhánh, văn phòng trong và ngoài nước, văn phòng đại
lý, hoặc các phòng ban liên quan đến các hoạt động khác từ ngân hàng, bảohiểm (tín dụng chứng khoán, bảo hiểm chứng khoán.)
Trang 161.2 Các dịch vụ kinh doanh chứng khoán tại công ty chứng khoán 1.2.1 Dịch vụ môi giới chứng khoán
1.2.1.1 Khái niệm môi giới chứng khoán
Môi giới chứng khoán là một hoạt động kinh doanh chứng khoán trong đócông ty chứng khoán đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơchế giao dịch tại sở giao dịch chứng khoán hay thị trường OTC bảo vệ quyền lợicủa khách hàng Vì vậy, công việc của người MGCK bao gồm thu thập và thẩmđịnh thông tin về thị trường cổ phiếu trong hoặc ngoài nước, chứng khoán và tráiphiếu chính phủ; trên cơ sở đó đưa ra lời khuyên thích hợp cho khách hàng Từnhu cầu thực tế của các nhà đầu tư, nghề môi giới chứng khoán xuất hiện vàngày càng chiếm vị trí quan trọng hơn trong xã hội
“Môi giới chứng khoán là hoạt động của công ty chứng khoán làm trunggian hoặc đại diện mua, bán chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng’ ’
1.2.1.2 Đặc điểm của hoạt động môi giới chứng khoán
- Quyết định mua bán là do khách hàng đưa ra và công ty chứng khoánphải thực hiện theo lệnh đó
- Độ rủi ro của hoạt động này thấp do khách hàng phải chịu mọi tráchnhiệm đối với kết quả mà giao dịch đem lại Rủi ro mà nhà môi giới thường gặpchỉ là khách hàng hoặc nhà môi giới khác không thực hiện nghĩa vụ thanh toánđúng thời hạn Tuy nhiên, các qui định về ký quỹ cũng giới hạn phần nào rủi ronày
- Thu nhập từ nghiệp vụ môi giới khá ổn định Với tư cách đại lý, công tychứng khoán hưởng một tỷ lệ phần trăm hoa hồng tính trên tổng giá trị giaodịch Thông thường giá trị giao dịch càng thấp thì tỷ lệ này càng cao Hoa hồngsau khi trừ đi các chi phí sẽ trở thành thu nhập của công ty Nhìn chung, thunhập này ít biến động mạnh và chiếm tỷ lệ khá cao trong tổng thu nhập của công
ty, ở một số thị trường chứng khoán phát triển, tỷ lệ hoa hồng do công ty tự ấn
Trang 171.2.2 Nghiệp vụ tự doanh:
Tự doanh là việc công ty chứng khoán tự tiến hành các giao dịch mua,bán chứng khoán cho chính mình Hoạt động tự doanh của công ty chứng khoánđược thực hiện thông qua cơ chế giao dịch trên SGDCK hoặc thị trường OTC.Tại một số thị trường vận hành theo cơ chế khớp giá hoạt động tự doanh củacông ty chứng khoánđược thực hiện thông qua hoạt động tạo lập thị trường Lúcnày, công ty chứng khoán đóng vai trò là nhà tạo lập thị trường, nắm giữ một sốlượng chứng khoán nhất định của một số loại chứng khoán và thực hiện mua bánchứng khoán với các khách hàng để hưởng chênh lệch giá
Mục đích của hoạt động tự doanh là nhằm thu lại lợi nhuận cho chínhcông ty mình thông qua hành vi mua bán chứng khoán với khách hàng Nghiệp
vụ này song hành với nghiệp vụ môi giới, vừa phục vụ lệnh giao dịch cho kháchhàng đồng thời cũng phục vụ cho chính mình, vì vậy trong quá trình hoạt động
có thể dẫn đến xung đột lợi ích giữa thực hiện giao dịch cho khách hàng và chochính bản thân công ty Do đó, luật pháp của các nước đều yêu cầu tách biệt rõràng giữa các nghiệp vụ môi giới và nghiệp vụ tự doanh, công ty chứng khoánphải ưu tiên lệnh của khách hàng trước khi thực hiện lệnh của mình Khác vớinghiệp vụ môi giới, công ty chứng khoán chỉ làm trung gian thực hiện lệnh chokhách hàng để hưởng hoa hồng, trong hoạt động tự doanh công ty chứng khoánkinh doanh bằng chính nguồn vốn của mình Vì vậy, công ty chứng khoán đòihỏi phải có nguồn vốn rất lớn và đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên môn, khảnăng phân tích và đưa ra các quyết định đầu tư hợp lý, đặc biệt trong trường hợp
trò là các nhà tạo lập thị trường
Trang 18Yêu cầu đối với công ty chứng khoán
- Tách biệt quản lý: Các công ty chứng khoán phải có sự tách biệt giữa
nghiệp vụ tự doanh và nghiệp vụ môi giới để đảm bảo tính minh bạch rõ ràngtrong hoạt động Sự tách biệt này bao gồm tách biệt về: yếu tố con người ; quytrình nghiệp vụ; vốn và tài sản của khách hàng và công ty
- Ưu tiên khách hàng: Công ty chứng khoán phải tuân thủ nguyên tắc ưu
tiên khách hàng khi thực hiện nghiệp vụ tự doanh Điều đó có nghĩa là lệnh củakhách hàng phải được xử lý trước lệnh tự doanh của công ty Nguyên tắc nàyđảm bảo sự công bằng cho các khách hàng trong quá trình giao dịch chứngkhoán Do có tính đặc thù về khả năng tiếp cận thông tin và chủ động trên thịtrường nên các công ty chứng khoán có thể sẽ dự đoán trước được diễn biến củathị trường và sẽ mua hoặc bán tranh của khách hàng nếu không có nguyên tắctrên
- Góp phần bình ổn thị trường: Các công ty chứng khoán hoạt động tự
doanh nhằm góp phần bình ổn giá cả thị trường Trong trường hợp này, hoạtđộng tự doanh được tiến hành bắt buộc theo luật định Luật các nước đều quyđịnh các công ty chứng khoán đều phải dành một tỷ lệ % nhất định các giao dịchcủa mình cho hoạt động bình ổn thị trường Theo đó, các công ty chứng khoán
có nghĩa vụ mua vào khi giá chứng khoán bị giảm và bán ra khi giá chứng khoánlên nhằm giữ giá chứng khoán ổn định
- Hoạt động tạo thị trường: Khi được phát hành, các chứng khoán mới
chưa có thị trường giao dịch Để tạo thị trường cho các chứng khoán này, cáccông ty chứng khoán thực hiện tự doanh thông qua việc mua và bán chứngkhoán tạo tính thanh khoản cho thị trường cấp hai
Trang 19* Các hình thức giao dịch trong hoạt động tự doanh:
Giao dịch gián tiếp: Công ty chứng khoán đặt các lệnh mua và bán chứng
khoán trên Sở giao dịch, lệnh có thể thực hiện với bất kỳ một khách hàng nàokhông được xác định trước
Giao dịch trực tiếp: Là giao dịch tay đôi giữa hai công ty chứng khoán
hay giữa công ty chứng khoán với một khách hàng thông qua thương lượng Đốitượng của các giao dịch trực tiếp là các loại chứng khoán đăng ký giao dịch ở thịtrường OTC
1.2.3 Dịch vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán, đại lý phát hành
hành
Bảo lãnh phát hành là việc tổ chức bảo lãnh giúp tổ chức phát hành thựchiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, nhận mua chứng khoán của tổchức phát hành để bán lại, hoặc mua số chứng khoán còn lại chưa được phânphối hết
1.2.3.2 Các hình thức bảo lãnh phát hành
- Bảo lãnh với cam kết chắc chắn: là phương thức bảo lãnh trong đó tổ
chức bảo lãnh cam kết sẽ mua toàn bộ số chứng khoán phát hành cho dù có phânphối được hết chứng khoán hay không Thông thường, trong phương thức nàymột nhóm các tổ chức bảo lãnh hình thành một tổ hợp để mua chứng khoán của
tổ chức phát hành với giá chiết khấu và bán lại các chứng khoán theo giá chàobán ra công chúng và hưởng chênh lệch giá
- Bảo lãnh với cố gắng cao nhất; là phương thức bảo lãnh mà theo đó tổ
chức bảo lãnh thỏa thuận làm đại lý cho tổ chức phát hành Tổ chức bảo lãnh
Trang 20bán chứng khoán ra thị trường, nhưng nếu không phân phối hết sẽ trả lại cho tổchức phát hành phần còn lại và không phải chịu hình phạt nào.
- Bảo lãnh theo phương thức tất cả hoặc không: trong phương thức
này, tổ chức phát hành yêu cầu tổ chức bảo lãnh bán một số lượng chứng khoánnhất định, nếu không phân phối hết sẽ hủy toàn bộ đợt phát hành Tổ chức bảolãnh phải trả lại tiền cho các nhà đầu tư đã mua chứng khoán, đợt phát hành sẽ
bị hủy bỏ
- Bảo lãnh theo phương thức dự phòng: Đây là phương thức thường
được áp dụng khi một công ty đại chúng phát hành bổ sung thêm cổ phiếuthường và chào bán cho các cổ đông cũ trước khi chào bán ra công chúng bênngoài Tuy nhiên, sẽ có một số cổ đông không muốn mua thêm cổ phiếu củacông ty Vì vậy, công ty cần có một tổ chức bảo lãnh dự phòng sẵn sàng muanhững quyền mua không được thực hiện và chuyển thành những cổ phiếu đểphân phối ra ngoài công chúng Có thể nói, bảo lãnh theo phương thức dựphòng là việc tổ chức bảo lãnh cam kết sẽ là người mua cuối cùng hoặc chàobán hộ số cổ phiếu của các quyền mua không được thực hiện
1.2.3.3 Đặc điểm của bảo lãnh phát hành
- Là hoạt động thường sử dụng trên thị trường sơ cấp, nó có ý nghĩa quantrọng trong quá trình tạo hàng hóa trên thị trường và giúp các doanh nghiệp huyđộng vốn một cách nhanh chóng, hiệu quả Đối với công ty chứng khoán, bảolãnh phát hành là hoạt động đòi hỏi trình độ cao, trong đó công ty chứng khoánphải thực hiện một quy trình chặt chẽ, bao gồm việc kết hợp nhiều kỹ năng củangành chứng khoán từ nghiên cứu tài chính công ty, nghiên cứu thị trường, tưvấn cho khách hàng, chào bán đến ổn định giá chứng khoán Nghiệp vụ bảolãnh, do đó không phải công ty nào cũng có đủ tiềm lực tài chính và chuyênmôn để tham gia Khả năng bảo lãnh thành công các đợt phát hành sẽ đem lại
Trang 21cho công ty chứng khoán không chỉ nguồn thu lớn mà cả uy tín trên thươngtrường.
- Thù lao cho tổ chức bảo lãnh có thể là một khoản phí đối với hình thứcbảo lãnh chắc chắn hoặc hoa hồng đối với các hình thức bảo lãnh khác Hoahồng là một tỷ lệ phần trăm trên số lượng chứng khoán cần bảo lãnh Việc tínhtoán và phân bổ hoa hồng cho các thành viên trong nghiệp đoàn là do các thànhviên thương lượng nới nhau Phí bảo lãnh là mức chênh lệch giữa giá bán chứngkhoán trên thị trường cho người đầu tư và số tiền tổ chức phát hành nhận được.Mức phí bảo lãnh cao hay thấp tùy thuộc vào tính chất của đợt phát hành cùn gđiều kiện thị trường lúc phát hành, do hai bên thỏa thuận Nói chung, nếu đó làđợt phát hành lần đầu thì mức phí và hoa hồng phải cao hơn lần phát hành bổsung Đối với trái phiếu, phí và hoa hồng bảo lãnh còn tùy thuộc vào lãi suất tráiphiếu (nếu lãi suất cao thì dễ bán, chi phí sẽ thấp và ngược lại)
1.2.4 Dịch vụ tư vấn đầu tư
1.2.4.1 Khái niệm tư vấn đầu tư
Tư vấn đầu tư chứng khoán là các hoạt động phân tích, đưa ra khuyếnnghị liên quan đến chứng khoán, hoặc công bố và phát hành các báo cáo phântích có liên quan đến chứng khoán
1.2.4.2 Đặc điểm và phân loại của tư vấn đầu tư
Đặc điểm:
- Vì tư vấn là hoạt động kinh doanh “chất xám” nên lượng vốn yêu cầu đểduy trì hoạt động này không lớn, chủ yếu dùng để thuê văn phòng, trả lươngnhân viên và các chi phí hành chính khác
- Nghiệp vụ tư vấn ít chịu rủi ro vì việc quyết định và chịu trách nhiệmtrước các quyết định đó đều thuộc về khách hàng Tuy nhiên, các nhân viên tưvấn phải có trách nhiệm đối với những thông tin mà mình đưa ra để giữ uy tín
Trang 22cho công ty, đồng thời tránh những phàn nàn hay phiền nhiễu từ phía kháchhàng đem lại Bên cạnh đó tính chất nhạy cảm của thị trường chứng khoán cũngbuộc các nhà tư vấn khi đưa ra thông tin, lời bình luận hay khuyên nhủ kháchhàng phải có căn cứ, có khoa học và đặc biệt tránh chủ quan, khẳng định trongcác phát biểu và dụ dỗ khách hàng Điều này sẽ tránh tác động xấu tới thị trườngcũng như đến hoạt động của công ty chứng khoán.
- Nghiệp vụ tư vấn thường không trực tiếp tạo ra thu nhập cho công tychứng khoán do chi phí thuê chuyên gia tư vấn rất cao trong khi đó thu từ phí tưvấn lại vừa phải, thậm chí nhiều khi tư vấn được coi như dịch vụ đi kèm với cáchoạt động khác Tuy nhiên, hoạt động này có tác động hỗ trợ thu nhập Nhờ có tư
- Theo hình thức của hoạt động tư vấn:
*Tư vấn trực tiếp: Khách hàng có thể gặp gỡ trực tiếp với nhà tư vấn hoặc
sử dụng các phương tiện truyền thông như điện thoại, fax để hỏi ý kiến
*Tư vấn gián tiếp: Người tư vấn xuất bản các ấn phẩm hay đưa thông tinlên những phương tiện truyền thông như Internet để bất kỳ khách hàng nào cũng
có thể tiếp cận được nếu muốn
- Theo mức độ ủy quyền của hoạt động tư vấn:
*Tư vấn gợi ý: Ở mức độ này, người tư vấn chỉ có quyền nêu ý kiến củamình về những diễn biến trên thị trường, gợi ý cho khách hàng về nhữngphương pháp, cách thức xử lý nhưng quyền quyết định là của khách hàng
*Tư vấn ủy quyền: Với nghiệp vụ này, nhà tư vấn tư vấn và quyết định hộkhách hàng theo mức độ ủy quyền của khách hàng
Trang 23*Tư vấn cho người phát hành: Rất đa dạng từ việc phân tích tình hình tàichính đến đánh giá giá trị của doanh nghiệp, tư vấn về loại chứng khoán pháthành hay giúp công ty phát hành cơ cấu lại nguồn vốn, thâu tóm hay sáp nhậpvới công ty khác.
*Tư vấn đầu tư: Là hoạt động tư vấn cho người đầu tư về thời gian muabán, nắm giữ, giá trị của các loại chứng khoán, các diễn biến của thị trường
Các phân loại hoạt động tư vấn luôn đan xen vào nhau và làm phong phúhoạt động này
1.2.4.3 Công việc tư vấn đầu tư
- Tư vấn cho tổ chức phát hành: Sẽ hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp
và tạo hàng hóa tốt cho thị trường chứng khoán, tư vấn cho người phát hành cóthể gồm:
*Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp: thông qua việc phân tích tàichính của nhà tư vấn, các doanh nghiệp sẽ nhận thức đúng chính mình để từ đó
có những biện pháp cải thiện tình hình
*Xác định giá trị doanh nghiệp: là việc xác định các tài sản hữu hình và
vô hình của doanh nghiệp, là khâu quan trọng khi phát hành chứng khoán, đặcbiệt đối với những chứng khoán phát hành lần đầu ra công chúng Cùng với địnhgiá, công ty chứng khoán sẽ thăm dò tình hình trên thị trường, tìm hiểu quanđiểm giá cả người mua tiềm năng đối với chứng khoán sắp được phát hành
*Tư vấn về loại chứng khoán phát hành: tùy vào các điều kiện cụ thể củadoanh nghiệp cũng như thái độ của các cổ đông hiện thời, mức độ tín nhiệm củadoanh nghiệp, triển vọng phát triển tương lai mà công ty chứng khoán khuyênnên phát hành loại chứng khoán gì (trái phiếu, cổ phiếu thường hay cổ phiếu ưuđãi)
Trang 24*Tư vấn tái cơ cấu nguồn vốn: là hoạt động tư vấn của công ty chứngkhoán giúp cho doanh nghiệp tái cơ cấu vốn cho phù hợp với điều kiện hiện tại,
dể nâng cao hiệu quả và đảm bảo kinh doanh an toàn
*Tư vấn hợp nhất doanh nghiệp: là hoạt động tư vấn của công ty chứngkhoán cung cấp cho các doanh nghiệp có nhu cầu thâu tóm hay hợp nhất vớidoanh nghiệp khác
- Nghiệp vụ tư vấn đầu tư: Nhà tư vấn sẽ đưa các lời khuyên, bài phân
tích hoặc hợp đồng dịch vụ để giúp các nhà đầu tư có quyết định đúng đắn, làhoạt động tư vấn phổ biến trên thị trường thứ cấp
*Tư vấn trực tiếp về xu hướng giá cả: khuyên nhà đầu tư mức đặt giá hợp
lý để có thể mua bán được Loại tư vấn này thường diễn ra trước nghiệp vụ môigiới
*Cung cấp thông tin và đánh giá tình hình: công ty chứng khoán đưa racác bản tin, trong đó có thể kèm theo lời phân tích đánh giá, miêu tả tình h ìnhbiến động giá cả, các báo cáo tài chính của công ty niêm yết
*Tư vấn ủy quyền: Thực chất là nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư chokhách hàng Thông qua hợp đồng ủy quyền, công ty chứng khoán được phépthay mặt cho khách hàng để thực hiện các giao dịch mua bán chứng khoán, quản
1.2.5.2 Các bước thực hiện quản lý danh mục đầu tư
Trang 25- Công ty chứng khoán và khách hàng tiếp xúc để tìm hiểu khả năng của
nhau Công ty chứng khoán phải tìm hiểu rõ về khách hàng: là tổ chức hay cá
nhân, số tiền và nguồn gốc tiền định đầu tư, mục đích đầu tư, thời hạn đầu tư.Đồng thời, công ty phải minh chứng cho khách hàng thấy được khả năng, đặcbiệt là khả năng chuyên môn và khả năng kiểm soát nội bộ Đây là hai tiêuchuẩn quan trọng nhất của công ty khi tham gia hoạt động này Khả năngchuyên môn của công ty chính là khả năng đầu tư vốn đem lại lợi nhuận chokhách hàng còn khả năng kiểm soát nội bộ là việc công ty có thể đảm bảo antoàn tài sản cho khách hàng, chống lại những thất thoát do sự vô ý hay cố ý củanhân viên công ty
- Công ty và khách hàng tiến hành ký hợp đồng quản lý: Nội dung hợp
đồng phải quy định rõ nhiều yếu tố như số tiền và thời hạn ủy thác, mục tiêu đầu
tư, quy trình quyết định đầu tư, giới hạn quyền và giới hạn trách nhiệm của công
ty, phí quản lý công ty được hưởng
- Thực hiện hợp đồng quản lý: Trong khi thực hiện hợp đồng, công ty phải
vận dụng hết những kỹ năng và kinh nghiệm của mình để đầu tư vốn của kháchhàng, đồng thời phải tuân thủ triệt để những điều khoản quy định trong hợp đồng.Nếu có những phát sinh ngoài hợp đồng thì công ty phải xin ý kiến của kháchhàng
Ngoài ra, công ty phải nghiêm ngặt tách rời hoạt động này với nghiệp vụ tựdoanh
và nghiệp vụ môi giới để đảm bảo tránh mâu thuẫn lợi ích
- Khi đến hạn kết thúc hợp đồng hay trong một số trường hợp công ty giải
thể, phá sản, ngừng hoạt động, công ty phải cùng khách hàng bàn bạc và quyết
định xem có thể tiếp tục gia hạn hay thanh lý hợp đồng Trong trường hợp công
ty chứng khoán phá sản, tài sản ủy thác của khách hàng phải được tách riêng và
Trang 26Thực hiện hoạt động này cho khách hàng, công ty chứng khoán vừa bảoquản hộ chứng khoán, vừa đầu tư hộ chứng khoán Thông thường công ty chứngkhoán nhận được phí quản lý bằng một tỷ lệ phần trăm trên số lợi nhuận thu vềcho khách hàng.
1.2.6 Các dịch vụ hỗ trợ
1.2.6.1 Dịch vụ lưu ký chứng khoán
Lưu ký là việc gửi chứng chỉ chứng khoán tờ cổ phiếu, trái phiếu, hoặccác loại giấy tờ hợp pháp chứng minh quyền sở hữu chứng khoán vào hệ thốnglưu ký chứng khoán Lưu ký chứng khoán là bắt buộc trước khi muốn chứngkhoán được giao dịch qua sàn giao dịch của Trung tâm giao dịch chứng khoán.Việc lưu ký chứng khoán chỉ được thực hiện tại các thành viên lưu ký của Trungtâm lưu ký và thanh toán bù trừ, đó là các công ty chứng khoán, ngân hàngthương mại có giấy phép lưu ký chứng khoán
Khi thực hiện dịch vụ lưu ký chứng khoán cho khách hàng, công ty chứngkhoán sẽ nhận được các khoản thu phí lưu ký chứng khoán, phí gửi, phí rút vàphí chuyển nhượng chứng khoán
1.2.6.2 Dịch vụ quản lý thu nhập chứng khoán (Quản lý cổ tức)
Xuất phát từ việc lưu ký chứng khoán cho khách hàng, công ty chứngkhoán sẽ theo dõi tình hình thu lãi, cổ tức của chứng khoán khi đến hạn để thu
hộ rồi gửi báo cáo cho khách hàng Tuy nhiên, trên thực tế các công ty thườngkhông trực tiếp quản lý mà sẽ lưu ký tại trung tâm lưu giữ chứng khoán
Trang 271.3 Dịch vụ kinh doanh chứng khoán tại Phòng Dịch vụ khách hàng Công ty Chứng khoán Ngân hàng Đầu Tư và Phát triển Việt Nam
1.3.1 Các loại hình dịch vụ kinh doanh chứng khoán tại Phòng Dịch
vụ khách hàng
1.3.1.1 Dịch vụ môi giới:
a Vai trò của môi giới chứng khoán
Qua hoạt động môi giới, công ty chứng khoán chuyển đến khách hàng cácsản phẩm, dịch vụ tư vấn đầu tư và kết nối giữa nhà đầu tư bán chứng khoán vớinhà đầu tư mua chứng khoán Trong những trường hợp nhất định, hoạt động môigiới sẽ trở thành người bạn, người chia sẻ và đưa ra những lời động viên kịp thờicho nhà đầu tư, giúp họ có những quyết định đúng đắn Do vậy, môi giới có vaitrò hết sức to lớn trong việc thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, để tìm hiểu rõvai trò của môi giới chứng khoán, luận văn nhìn nhận trên các khía cạnh sau:
Đối với nhà đầu tư
Trên TTCK thông tin đóng vai trò đặc biệt quan trọng, nó góp phần ảnhhưởng tới giá cả của chứng khoán Các nhân viên môi giới thay mặt công tychứng khoán cung cấp cho khách hàng các thông tin liên quan đến tình hình thịtrường, các thông tin liên quan đến giao dịch chứng khoán Dựa trên các thôngtin này, các nhà đầu tư tiến hành phân tích và đưa ra các quyết định về việc muabán chứng khoán cũng như giá cả sao cho hợp lý
Tuy nhiên không phải nhà đầu tư nào khi tham gia thị trường đều cónhững hiểu biết sâu rộng về chứng khoán và TTCK Các nhà môi giới là cácchuyên gia tài chính, họ có kiến thức sâu rộng, có khả năng phân tích thông tincũng như có những nhận định về tình hình biến động của thị trường, nên các nhàđầu tư có thể tin tưởng rằng nhà môi giới có đủ kiến thức để trở thành nhà tư vấnriêng cho mình Như vậy, đến với nhà môi giới, nhà đầu tư không chỉ được cung
Trang 28cấp các thông tin có giá trị mà còn được nghe những lời tư vấn của nhà môi giới
để từ đó có thể đưa ra các quyết định đầu tư đúng đắn
Đối với công ty chứng khoán
Nhân viên môi giới là những người trực tiếp tư vấn, thu hút khách hàngđến giao dịch tại công ty chứng khoán Hoạt động môi giới hoạt động càng hiệuquả, nhà đầu tư đến mở tài khoản giao dịch tại công ty chứng khoán càng nhiều,
từ đó công ty chứng khoán sẽ thu được các khoản phí giao dịch Chính đội ngũnhân viên này góp phần tăng tính cạnh tranh cho công ty, thu hút khách hàng và
đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ của công ty chứng khoán
Đối với thị trường
*Góp phần phát triển các dịch vụ và hàng hoá trên thị trường
Hoạt động môi giới có vai trò như là một khâu thăm dò nhu cầu của kháchhàng về loại hàng hoá đang có mặt trên thị trường, để từ đó tổng hợp ra các nhucầu khác nhau, cung cấp các ý tưởng thiết kế sản phẩm, dịch vụ theo thị hiếu củakhách hàng, đa dạng hoá sản phẩm trên thị trường
*Tăng chất lượng và hiệu quả của dịch vụ nhờ cạnh tranh
Trên thị trường cạnh tranh khốc liệt, ngày càng nhiều công ty chứngkhoán được thành lập, để có thể đứng vững trên thị trường, từng công ty chứngkhoán và từng nhà môi giới phải thu hút được nhiều khách hàng tìm đến, giữchân được những khách hàng đã có, và ngày càng tăng được khối lượng tài sản
mà khách hàng uỷ thác cho họ quản lý, họ không ngừng trau dồi nghiệp vụ,nâng cao đạo đức và kỹ năng hành nghề, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật vànhững quy định của công ty Chính quá trình này đã nâng cao được chất lượng
và hiệu quả của hoạt động môi giới chứng khoán
b Nội dung của môi giới chứng khoán
- Mở tài khoản cho khách hàng: Khách hàng muốn giao dịch thông quacông ty chứng khoán được yêu cầu mở tài khoản tại công ty đó Tài khoản đó có
Trang 29thể là tài khoản giao dịch hoặc tài khoản ký quỹ Tài khoản giao dịch dùng chocác giao dịch thông thường, qua đó khách hàng khi mua chứng khoán được yêucầu trả đủ tiền trước thời hạn thanh toán do sở giao dịch quy định, và khi bánchứng khoán phải đủ số dư chứng khoán trên tài khoản giao dịch Tài khoản kýquỹ là tài khoản mà qua đó khách hàng có thể vay tiền công ty để mua chứngkhoán Với giao dịch ký quỹ công ty chứng khoán không chỉ hưởng hoa hồngmua bán hộ chứng khoán mà còn thu được lãi trên số tiền cho khách hàng vay.
- Nhận lệnh từ khách hàng: Sau khi tài khoản đã mở, khách hàng có thểthực hiện các giao dịch trên tài khoản của mình bằng cách gửi lệnh mua bánchứng khoán đến công ty Hình thức đặt lệnh có thể bằng điện thoại, bằng telexhay bằng phiếu lệnh Nếu là lệnh bán, công ty sẽ đề nghị khách hàng xuất trình
số chứng khoán muốn bán để kiểm tra trước khi thực hiện lệnh hoặc đề nghịphải ký quỹ một phần số chứng khoán cần bán theo một tỷ lệ do UBCK quyđịnh Nếu là lệnh đặt mua, công ty phải đề nghị khách hàng mức tiền ký quỹnhất định trên tài khoản khách hàng ở công ty
- Thực hiện lệnh: Người đại diện có giấy phép của công ty chứng khoánhoạt động với vai trò trung gian giữa khách hàng với công ty Trước đây, ngườiđại diện gửi tất cả các lệnh mua bán chứng khoán của khách hàng tới bộ phậnthực hiện lệnh hoặc phòng kinh doanh giao dịch của công ty ở đây một ngườithư ký sẽ kiểm tra xem chứng khoán đó được mua bán trên thị trường nào (tậptrung hay phi tập trung) sau đó gửi lệnh này đến thị trường phù hợp để thựchiện
Ngày nay, các công ty chứng khoán có mạng lưới thông tin trực tiếp từ trụ
sở chính và các phòng giao dịch Vì vậy, các lệnh mua bán chứng khoán khôngcòn được chuyển đến phòng thực hiện lệnh nữa mà được chuyển trực tiếp đếnphòng giao dịch của sở giao dịch chứng khoán
Trang 30- Xác nhận kết quả: Sau khi lệnh đã được thực hiện xong, công ty chứngkhoán gửi cho khách hàng một phiếu xác nhận các kết quả giao dịch, bao gồmgiá, số lượng chứng khoán đã thực hiện, mức phí phải trả, ngày thanh toán vàngày giao nhận, lãi vay tiền mua chứng khoán (nếu có)
Xác nhận này có tính pháp lý rất cao, nó đóng vai trò hóa đơn của giaodịch giữa công ty và khách hàng Những sai sót trong xác nhận kết quả có thểdẫn đến sự không hài lòng và khiếu nại của khách hàng
- Thanh toán và giao nhận chứng khoán: Đến ngày thanh toán, các thủ tụcchuyển tiền và giao nhận chứng khoán phải được hoàn tất Nếu chứng khoán làchứng chỉ thì người bán phải chuyển chứng khoán cho người môi giới thực hiệnlệnh bán, người mua chuyển tiền vào tài khoản người môi giới thực hiện lệnhmua Tuy nhiên, ngày nay chứng khoán được lưu giữ tập trung tại Trung tâm lưu
ký, từ đó mọi giao dịch thanh toán và chuyển giao chứng khoán được thực hiệnbằng chuyển khoản Trung tâm này kinh doanh như một “kho” tập trung cácchứng khoán, nó giúp việc thực hiện các giao dịch trên cơ sở hoạt động kế toánchứ không cần chuyển giao bằng hiện vật
Khi thanh toán, khách hàng phải nộp cho công ty một khoản phí giaodịch Phí giao dịch bao gồm phí môi giới và phí môi giới lập giá Phí môi giớicủa công ty chứng khoán do công ty thỏa thuận với khách hàng trong khung dopháp luật quy định và theo từng chủng loại chứng khoán Trong phí giao dịchgồm chi phí thanh toán chuyển khoản tiền và chứng khoán lưu ký, riêng trườnghợp người mua yêu cầu chuyển giao chứng khoán vật chất thì công ty chứngkhoán phải thu thêm phí vận chuyển chứng từ Phí môi giới lập giá do sở giaodịch quy định, công ty phải trả cho sở và tái thu từ khách hàng
1.3.1.2 Các dịch vụ hỗ trợ
Trang 31a Dịch vụ lưu ký chứng khoán
Lưu ký là việc gửi chứng chỉ chứng khoán tờ cổ phiếu, trái phiếu, hoặccác loại giấy tờ hợp pháp chứng minh quyền sở hữu chứng khoán vào hệ thốnglưu ký chứng khoán Lưu ký chứng khoán là bắt buộc trước khi muốn chứngkhoán được giao dịch qua sàn giao dịch của Trung tâm giao dịch chứng khoán.Việc lưu ký chứng khoán chỉ được thực hiện tại các thành viên lưu ký của Trungtâm lưu ký và thanh toán bù trừ, đó là các công ty chứng khoán, ngân hàngthương mại có giấy phép lưu ký chứng khoán
Khi thực hiện dịch vụ lưu ký chứng khoán cho khách hàng, công ty chứngkhoán sẽ nhận được các khoản thu phí lưu ký chứng khoán, phí gửi, phí rút vàphí chuyển nhượng chứng khoán
b Dịch vụ cho vay cầm cố chứng khoán
Cho vay cầm cố chứng khoán là một hình thức tín dụng mà trong đóngười đi vay dùng số chứng khoán sở hữu hợp pháp của mình để vay tiền nhằmmục đích kinh doanh, tiêu dùng, quay vòng vốn, Người đi vay phải có tráchnhiệm hoàn trả lãi và gốc vào ngày hết hạn của hợp đồng cầm cố chứng khoán.Thực chất đây là một dạng quan hệ hợp đồng giữa bên cầm cố (người đầu tư) vàbên nhận cầm cố (ngân hàng) Trong quan hệ này, các tổ chức lưu ký chỉ đóngvai trò là trung gian, trên cơ sở bản hợp đồng cầm cố và yêu cầu của bên nhậncầm cố sẽ thực hiện phong tỏa chứng khoán cầm cố theo quy định để đảm bảoviệc duy trì tài sản thế chấp cho bên nhận cầm cố Khi hợp đồng cầm cố hết hiệulực hoặc theo yêu cầu của bên nhận cầm cố, tổ chức lưu ký sẽ thực hiện giải tỏa
số chứng khoán cầm cố để trả lại cho nhà đầu tư Nếu bên cầm cố chứng khoánthực hiện không đúng theo thỏa thuận thì chứng khoán cầm cố đó được xử lý docác bên thỏa thuận hoặc đưa ra bán đấu giá theo quy định của pháp luật
Trang 32c Dịch vụ mua quyền nhận tiền bán chứng khoán
Mua quyền nhận tiền bán chứng khoán là một hình thức tín dụng trong đókhách hàng có thể sử dụng trước tiền bán chứng khoán đã khớp lệnh trước ngàythanh toán Mua quyền nhận tiền bán chứng khoán là việc các công ty chứngkhoán sử dụng nguồn tiền nhàn rỗi của mình cho khách hàng vay Ngay sau khilệnh bán của nhà đầu tư được khớp, họ đã có thể làm thủ tục bán quyền nhậntiền bán chứng khoán tại công ty chứng khoán Số tiền tối đa khách hàng có thểvay ứng trước bằng giá trị khớp lệnh bán trừ đi phí bán, trừ đi lãi vay và cáckhoản phí liên quan (theo quy định riêng của từng công ty chứng khoán) Thờihạn vay chính là số ngày tính từ thời điểm khách hàng hoàn tất thủ tục bánquyền nhận tiền bán chứng khoán (tiền được chuyển vào tài khoản của kháchhàng) đến ngày thanh toán (ngày T+3) Đến ngày thanh toán T+3, công ty chứngkhoán tự động tất toán các hợp đồng mua quyền bán chứng khoán từ khoản tiềnnhận tiền bán chứng khoán của khách hàng
1.3.2 Chất lượng dịch vụ kinh doanh chứng khoán tại Phòng Dịch vụ khách hàng
1.3.2.1 Những vấn đề chung về chất lượng dịch vụ
a Khái niệm về chất lượng
Chất lượng là một khái niệm quá quen thuộc với loài người ngay từ nhữngthời cổ đại, tuy nhiên chất lượng cũng là một khái niệm gây nhiều tranh cãi
Tùy theo đối tượng sử dụng, từ "chất lượng" có nghĩa khác nhau Ngườisản xuất coi chất lượng là điều họ phải làm để đáp ứng các qui định và yêu cầu
do khách hàng đặt ra, để được khách hàng chấp nhận Chất lượng được so sánhvới chất lượng của đối thủ cạnh tranh và đi kèm theo các chi phí, giá cả Do conngười và nền văn hóa trên thế giới khác nhau, nên cách hiểu của họ về chấtlượng và đảm bảo chất lượng cũng khác nhau Nói như vậy không phải chất
Trang 33lượng là một khái niệm quá trừu tượng đến mức người ta không thể đi đến mộtcách diễn giải tương đối thống nhất Tổ chức Quốc tế về Tiệu chuẩn hóa ISO,trong dự thảo ISO 9000:2000, đã đưa ra định nghĩa sau:
“Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệthống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liênquan"
Từ định nghĩa trên ta rút ra một số đặc điểm sau đây của khái niệm chấtlượng:
*Chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu Nếu một sản phầm với lý
do nào đó mà không được nhu cầu chấp nhận thì phải bị coi là có chất lượngkém, cho dù trình độ công nghệ để chế tạo ra sản phẩm đó có thể rất hiện đại.Đây là một kết luận then chốt và là cơ sở để các nhà chất lượng định ra chínhsách, chiến lược kinh doanh của mình
*Do chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu, mà nhu cầu luôn luônbiến động nên chất lượng cũng luôn luôn biến động theo thời gian, không gian,điều kiện sử dụng
*Khi đánh giá chất lượng của một đối tượng, ta phải xét và chỉ xét đếnmọi đặc tính của đối tượng có liên quan đến sự thỏa mãn những nhu cầu cụ thể.Các nhu cầu này không chỉ từ phía khách hàng mà còn từ các bên có liên quan,ví
dụ như các yêu cầu mang tính pháp chế, nhu cầu của cộng đồng xã hội
*Nhu cầu có thể được công bố rõ ràng dưới dạng các qui định, tiêu chuẩnnhưng cũng có những nhu cầu không thể miêu tả rõ ràng, người sử dụng chỉ cóthể cảm nhận chúng, hoặc có khi chỉ phát hiện được trong chúng trong quá trình
sử dụng
*Chất lượng không phải chỉ là thuộc tính của sản phẩm, hàng hóa mà ta
Trang 34khách hàng nào cũng quan tâm sau khi thấy sản phẩm mà họ định mua thỏa mãnnhu cầu của họ.
b Chất lượng dịch vụ kinh doanh chứng khoán
Chất lượng dịch vụ kinh doanh chứng khoán thể hiện qua các yếu tố:
*Hướng đến thỏa mãn các nhu cầu của khách hàng về các dịch vụ kinhdoanh chứng khoán:
- Công ty chứng khoán tư vấn cho khách hàng phù hợp với nhu cầu, khảnăng tài chính và mục tiêu của khách hàng Mỗi khoản đầu tư được tư vấn đềucần có lời giải thích cặn kẽ, gồm cả việc khuyến cáo các rủi ro
- Khách hàng phải được cập nhật thông tin một cách nhanh chóng vàchính xác thông qua các kênh thông tin đại chúng và kênh thông tin tại chínhcông ty chứng khoán mà khách hàng mở tài khoản; Ngoài ra công ty chứngkhoán còn cung cấp cho khách hàng thông tin đầy đủ, chính xác liên quan đếncác vấn đề chuyên môn, các biểu phí dịch vụ
*Phù hợp với các quy định pháp luật và các quy định của các bộ ngànhliên quan:
- Khi tiến hành bất cứ hoạt động kinh doanh chứng khoán nào công tychứng khoán phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động của mình vàbồi thường thiệt hại cho khách hàng nếu vi phạm các cam kết Trong trường hợpthực hiện tư vấn cho doanh nghiệp trong việc niêm yết chứng khoán, các công typhải chịu trách nhiệm liên đới về nội dung trong hồ sơ xin niêm yết
- Thực hiện việc đầu cơ chứng khoán, xem xét tình hình tài chính củakhách hàng và đảm bảo cho khách hàng tránh được rủi ro trong khả năng chophép
- Mở tài khoản kinh doanh chứng khoán phù hợp với quy định
- Thực hiện các giao dịch trong thẩm quyền được giao
1.3.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng dịch vụ kinh doanh chứng
Trang 35Muốn nâng cao chất lượng kinh doanh chứng khoán thì chỉ tiêu quantrọng nhất đó chính là thị phần môi giới của các công ty chứng khoán trên thịtrường Cuộc cạnh tranh giành thị phần môi giới cổ phiếu và chứng chỉ quỹ củacác công ty chứng khoán là những đợt “sóng ngầm” cạnh tranh giành kháchhàng một cách “chuyên nghiệp và khoa học” Các công ty chứng khoán phải giữvững một nền tảng khách hàng vững chắc, tăng cường gia tăng khách hàng mới
từ đó đi chiếm lĩnh thị phần môi giới Để làm được điều đó, các công ty chứngkhoán phải không ngừng tăng cường mảng tư vấn khách hàng, đưa ra những sảnphẩm mới mang tính kích cầu nhưng vẫn không vi phạm pháp luật, mang tínhhiệu
quả cao, từ đó thu hút và giữ vững được khách hàng
CTCK phải luôn có những bản tin nhận định thị trường riêng, phân tích
kỹ thuật riêng hàng ngày dành cho nhà đầu tư cá nhân cũng như tổ chức Bộphận phân tích phải luôn hoạt động hết công suất, theo dõi kỹ từng mảng ngànhnghề và từng cổ phiếu, không phân biệt cổ phiếu hàng hiệu hay vừa và nhỏ
Ngoài ra, phải kể đến lượng nhà đầu tư tổ chức trong nước cũng như tổchức nước ngoài đang gia tăng ở các công ty chứng khoán, vốn là đường dẫn tốt
để tăng thị phần môi giới mà nhiều công ty khác chưa có được và nếu khôngnhanh chóng “tiến quân” vào mảng này, thị phần môi giới có thể tụt hạng, đơngiản vì khối lượng và giá trị giao dịch của tổ chức thường ổn định và lớn hơncác nhà đầu tư cá nhân
Trong bối cảnh quy mô của thị trường lớn hơn, ngày càng có nhiều công
ty niêm yết, thì tư vấn và chất lượng dịch vụ mới là chìa khóa để có thị phầnmạnh Và đây chính là phương thức cạnh tranh lành mạnh của những định chếtài chính chuyên nghiệp mà thị trường Việt Nam đang hướng tới
b Chỉ tiêu định lượng:
Trang 36Mức độ hài lòng của khách hàng thể hiện sự thỏa mãn mọi nhu cầu tronggiao dịch với các dịch vụ được đưa ra tại công ty chứng khoán, đem lại lợi íchcao nhất cho họ và được định lượng dựa trên các khía cạnh:
-Số lượng tài khoản tại công ty chứng khoán
-Cơ cấu tài khoản tại công ty chứng khoán phải hợp lý giữa: tài khoảnkhách hàng trong nước, khách hàng nước ngoài, khách hàng cá nhân và kháchhàng là tổ chức
-Mức phí môi giới được áp dụng đối với các giao dịch khớp lệnh mua-bántrong ngày: mức phí phải thực sự cạnh tranh để vừa đem lại lợi ích cho kháchhàng vừa mang lại lợi nhuận cho công ty chứng khoán
Chất lượng dịch vụ lưu ký chứng khoán
Phục vụ lưu ký được cho lượng lớn khách hàng, đảm bảo được sự chínhxác và nhanh nhạy của công ty chứng khoán
Dịch vụ “Cho vay cầm cố chứng khoán niêm yết”
Thỏa mãn nhu cầu của khách hàng thể hiện trên các khía cạnh:
*Thủ tục và thời gian phát vay:
Thủ tục và thời gian phát vay phải tiến hành nhanh chóng, tránh gây phiềnnhiễu khách hàng bằng các thủ tục rườm rà
*Hạn mức cho vay cầm cố chứng khoán:
Hạn mức cho vay cầm cố chứng khoán phải được định giá sát dựa trên
Trang 37định giá chứng khoán xác định trên cơ sở nhằm mục đích kiểm soát được rủi rotín dụng nhưng phải tạo được hạn mức cho vay tối đa đối với danh mục chứngkhoán cầm cố của khách hàng.
*Sự đa dạng của sản phẩm:
Phải có sự phối kết hợp giữa công ty chứng khoán và nhiều ngân hàngnhằm tạo ra được hạn mức lớn hơn trong việc cung cấp sản phẩm vay cầm cốđến với khách hàng, tránh hiện tượng vượt hạn mức cho vay chứng khoán củamột ngân hàng nào đó
Chất lượng Dịch vụ “Mua quyền nhận tiền bán chứng khoán”
Thỏa mãn nhu cầu của khách hàng thể hiện trên các khía cạnh:
*Phí dịch vụ
Chính biểu phí áp dụng với mức thấp, cạnh tranh hơn sẽ thu hút kháchhàng ứng trước tại công ty chứng khoán dẫn đến tăng doanh số và doanh thuhoạt động “Mua quyền nhận tiền bán chứng khoán”
*Thời gian phục vụ
Ngoài việc biểu phí ở mức cạnh tranh thì thời gian phát vay và thu nợnhanh sẽ không gây ảnh hưởng tới hoạt động mua bán chứng khoán của kháchhàng và còn làm tăng sự thỏa mãn của khách hàng đối với dịch vụ hoạt động củacông ty
*Sự đa dạng của sản phẩm
Cùng với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các công ty chứng khoán,
và để tạo mọi điều kiện tốt nhất cho khách hàng,đòi hỏi các công ty chứng khoánphải không ngừng phát triển sản phẩm mới để thu hút khách hàng
Trang 381.3.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ kinh doanh chứng khoán
Hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán chịu ảnh hưởng trực tiếp
và gián tiếp từ nhiều yếu tố khác nhau Nhìn chung có thể chia thành hai nhóm:nhóm các yếu tố bên ngoài và nhóm các yếu tố bên trong công ty
a Nhóm yếu tố bên ngoài Công ty
*Môi trường pháp lý
Các hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán ảnh hưởng rất nhiềuđến lợi ích của công chúng đầu tư và cũng rất dễ gây ra các hiện tượng tiêu cựctrên thị trường ảnh hưởng đến sự phát triển chung của thị trường chứng khoán
Do đó, tại nhiều nước trên thế giới, luật pháp đều quy định rất chặt chẽ đối vớihoạt động của các công ty chứng khoán nhằm đảm bảo sự ổn định của thị trườngchứng khoán và bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư Một số quy định của pháp luậtnhư: tách biệt hoạt động quản lý tài sản của công ty chứng khoán và tài sản củakhách hàng, ưu tiên khách hàng trong giao dịch mua bán chứng khoán, chốnggiao dịch nội gián, chống thao túng thị trường, không được tung ra thị trườngcác thông tin thất thiệt nhằm xúi giục các nhà đầu tư Ngoài ra, trong việc quản
lý an toàn cho hoạt động của các công ty chứng khoán, còn quy định thêm vềcác mức vốn pháp định cho từng hoạt động kinh doanh của công ty chứngkhoán, mức vốn khả đụng, các tỷ lệ nợ, việc trích lập các quỹ, các hạn mức kinhdoanh như giới hạn bảo lãnh phát hành cho tổ chức phát hành và hạn mức đầu tưvào các loại chứng khoán
*Môi trường chính trị - xã hội
Thị trường chứng khoán rất nhạy cảm với các sự kiện chính trị vì có cómối quan hệ chặt chẽ với các chính sách phát triển kinh tế và các cam kết củachính phủ Khi tình hình chính trị thay đổi, sự thay đổi đó sẽ tác động tới khả
Trang 39năng thực hiện các chính sách kinh tế, sự phát triển của các ngành nghề, các lĩnhvực khác nhau của nền kinh tế, từ đó sẽ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanhcủa các công ty chứng khoán.
Môi trường xã hội cũng có những tác động tới hoạt động kinh doanh củacông ty chứng khoán, đó là thói quen tâm lý của người dân Mà cụ thể là ý thứccủa người dân trong việc tiết kiệm và đầu tư, sự hiểu biết của công chúng đầu tư
về thị trường chứng khoán
*Tình hình kinh tế
Sự phát triển kinh tế có ảnh hưởng lớn đến các hoạt động kinh tế nóichung và hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán nói riêng, các chỉ tiêukinh tế vĩ mô như: tỷ lệ lạm phát, tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ lãi suất trênthị trường tiền tệ, cân đối thu chi ngân sách đều có ảnh hưởng đến mức độ tíchlũy của nền kinh tế, tác động sự vận động của các nguồn vốn đầu tư và ảnhhưởng tới hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán Các chỉ tiêu kinh tế
vĩ mô có tác động một cách toàn diện và sâu sắc hoạt động đầu tư trong và ngoàinước Do vậy các công ty chứng khoán luôn phải nắm bắt được những biến độngcủa nền kinh tế để có được những chiến lược và phương hướng hoạt động thíchhợp
Thị trường chứng khoán huy động vốn là để phục vụ hoạt động sản xuấtkinh doanh của các doanh nghiệp Ngược lại, sự phát triển và cạnh tranh của cácdoanh nghiệp sẽ tạo ra nhu cầu vốn cao hơn từ thị trường chứng khoán Cáccông ty chứng khoán sẽ hoạt động tốt hơn và thu được nhiều lợi nhuận hơntrong một nền kinh tế có các doanh nghiệp phát triển và có sức cạnh tranh Thực
tế cho thấy ở hầu hết những nước có thị trường chứng khoán phát triển các công
ty chứng khoán thu được nhiều lợi nhuận trên thị trường cổ phiếu và trái phiếucủa các doanh nghiệp phát triển tốt Bất kỳ sự thay đổi nào trong tình hình sản
Trang 40xuất kinh doanh và tình hình tài chính của các doanh nghiệp đều tạo ra sự thayđổi trong giá và khối lượng giao dịch chứng khoán, từ đó ảnh hưởng đến hoạtđộng kinh doanh của công ty chứng khoán.
*Sự phát triển của thị trường tài chính
Thị trường tài chính tác động đến hoạt động kinh doanh của công tychứng khoán thông qua những nhân tố của nó Trong đó, hàng hóa được coi lànhân tố quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán Thịtrường chứng khoán phát triển thì các công cụ tài chính sẽ trở nên đa dạng, cáccông ty chứng khoán có nhiều cơ hội để mở rộng và đa dạng hóa các loại hì nhhoạt động Ngược lại, thị trường chứng khoán chưa phát triển, hàng hóa còn đơnđiệu thì khả năng kiếm lợi của các công ty chứng khoán là rất hạn chế Các côngty
chứng khoán chỉ hoạt động khi có những hàng hóa này
Ngoài ra, thị trường tài chính phát triển sẽ tạo điều kiện cho các tổ chứctài chính khác phát triển theo Thông thường đó là các tổ chức góp phần thúcđẩy hoạt động của chính thị trường chứng khoán, nhờ đó mà hoạt động kinhdoanh của công ty chứng khoán cũng được thúc đẩy Đó là các tổ chức tư vấn tàichính, các tổ chức định mức tín nhiệm, các quỹ đầu tư phát triển
b Nhóm yếu tố bên trong Công ty
*Tổ chức và quản lý công ty chứng khoán
Để hoạt động kinh doanh có hiệu quả, cơ cấu tổ chức của công ty chứngkhoán cần phải đáp ứng hai yêu cầu cơ bản là chuyên môn hóa ở mức độ caogiúp cho hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán thực hiện có hiệu quảhơn, tránh tình trạng chồng chéo giữa các bộ phận và đảm bảo các yêu cầu củathị trường tách bạch hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán với hoạtđộng do khách hàng ủy thác
*Nhân sự