Từ đó góp phần giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập cho các hộ trong vùng, tạo điều kiện để phát triển nông nghiệp của huyện theo hướng sản xuất hàng hóa, góp phần chuyển dịch cơ c
Tính cấ p thi ế t c ủ a đề tài
Nước ta là một nước có khí hậu và thổ nhưỡng khá thuận lợi cho việc trồng và phát triển các vườn cây ăn quả, đặc biệt là các loại cây ăn trái đặc sản Vì vậy, phát triển những sản phẩm đặc sản có chất lượng cao đang là một trong những hướng phát triển bền vững cho nông nghiệp Việt Nam Những năm gần đây, trước tình hình kinh tế hội nhập, ngành trái cây Việt Nam được quan tâm sâu sắc để phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu
Cam là loại cây ăn quả cùng họ với bưởi, vỏ mỏng, khi chín có vị ngọt hoặc hơi chua Ở Việt Nam theo thống kê đã có khoảng trên 80 giống cam, được trồng tại các nhà vườn, trang trại, nông trường quốc doanh, trung tâm nghiên cứu, các giống này thường đặt theo tên các địa phương chúng được trồng (Cam Sông Con, Cam Xã Đoài, Cam Vân Du, Cam Cao Phong… (Vũ Công Hậu, 2000)
Hải Lăng là huyện nằm ở phía Nam tỉnh Quảng Trị, do đặc điểm thổ nhưỡng của một số xã ở vùng bán sơn địa nên có điều kiện phát triển các loại cây công nghiệp dài ngày như: chè, cao su, tràm , cây ăn quả như: cam, vải, nhãn Đặc biệt, huyện Hải Lăng có diện tích trồng cam rộng lớn với các giống cam như Xã Đoài, Vân Du có hiệu quả kinh tế cao, đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho nhiều hộ nông dân bởi vị thơm ngon đặc trưng
Theo thống kê diện tích trồng cam của huyện Hải Lăng năm 2017 đạt gần 50 ha cho sản lượng 11 - 13 tấn/ha Những năm qua, diện tích trồng cam trên địa bàn huyện Hải Lăng dần được mở rộng thay thế những cây trồng hiệu quả kinh tế thấp Sản lượng cam không những đủ cung cấp cho huyện mà còn phân phối rộng rãi ra toàn tỉnh Quảng Trị và một số tỉnh lân cận
Tuy nhiên, ngành trồng cam ở Hải Lăng cũng gặp không ít khó khăn do thiên tai, sâu bệnh, nhất là trong khâu tiêu thụ Do việc quảng bá sản phẩm cam chưa được chú trọng đúng mức nên việc tiêu thụ còn bị động, chủ yếu phụ thuộc vào thương lái nên thường bị đẩy giá lên quá cao làm giảm khả năng cạnh tranh so với cácsản phẩm cam khác, thị trường tiêu thụ vẫn còn hẹp v.v
Vấn đề thực tiễn đang đặt ra là cần làm gì để đẩy mạnh và phát triển ngành sản xuất cam trên địa bàn huyện Hải Lăng và cũng như tìm cách mở rộng thị trường đầu ra cho loại nông sảnnày.
Nghiên cứu phát triển sản xuất cam ở huyện Hải Lăng là một vấn đề được chính quyền và người sản xuất quan tâm Phát triển sản xuất cam không những nhằm đáp ứng nhu cầu của người dân trên địa bàn, của thị trường trong và ngoài nước màcònnhằm khai thác các tiềm năng, lợi thế so sánh củacác xã vùng bán sơn địa của huyện Từ đó góp phần giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập cho các hộ trong vùng, tạo điều kiện để pháttriển nông nghiệp của huyện theo hướng sản xuất hàng hóa, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương
Nghề trồng cam đang là nghề kinh tế mũi nhọn của huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị Phát triển sản xuất cam đang là hướng đi đúng đắn của huyện Hải Lăng trong giai đoạn hiện nay Việc phát triển sản xuất cam đã tận dụng được những diện tích đất bán sơn địa không chủ động được nước tưới hoặc sản xuất không có hiệu quả, tạo điều kiện phát triển nền kinh tế một cách toàn diện; tăng thu nhập trên một đơn vị diện tích, nâng cao đời sống của người dân
Ngoài ra còn góp phần nâng cao trình độ tổ chức và quản lý, trình độ khoa học, kỹ thuật sản xuất cam Tuy nhiên phát triển sản xuất cam của huyện còn ở mức trung bình chưa tương xứng với tiềm năng hiện có của địa phương và còn chứa đựng một số nhân tố thiếu tính bền vững
Mặc dù phát triển sản xuất cam của huyện Hải Lăng đã hình thành được một số vùng sản xuất tập trung, song hiện nay hầu hết phát triển sản xuất cam ở địa phương còn mang tính tự phát, sản xuất nhỏ lẻ, manh mún Nếu không được quy hoạch cụ thể, chi tiết, địa phương sẽ khó quản lý về diện tích trồng cây cũng như chất lượng quả.
Xuất phát từ tình hình thực tiễn và nhận thức như trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài “ Phát triể n s ả n xu ất cam trên địa bàn huyệ n H ải Lăng, tỉ nh Qu ả ng Tr ị” làm luận văn tốt nghiệp của mình
M ục tiêu nghiên cứ u
Trên cơ sở phân tích,đánh giá thực trạng sản xuất cam của các hộ nông dân ở huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển sản xuất camtại địa phươngtrong thời gian tới.
- Hệ thống hóa các vấn đềlý luận và thực tiễn vềphát triển sản xuất cam.
- Phân tích, đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất camcủa các hộ nông dân trên địa bàn huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.
- Đề xuất định hướng và các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển sản xuất cam trên địa bàn huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị trong thời gian tới.
Đối tượng và p h ạm vi nghiên cứ u
3.1 Đối tượng nghiên cứ u Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề liên quan đến phát triển cam, trong đó chủ yếu về hiệu quả kinh tế, các yếu tố ảnh hưởng và các giải pháp phát triển sản xuất cam trên địa bàn huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị
- Không gian nghiên cứu: Đề tài được thực hiện tại địa bàn huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị
- Thời gian nghiên cứu: thực trạng phát triển sản xuất cam được phân tích đánh giá trong giai đoạn 3 năm 2015-2017 Các số liệu sơ cấp được thu thập trong khoảng thời gian từ tháng 3 đến tháng 4 năm 2018, các giải pháp đề xuất áp dụng đến năm 2020
- Phạm vi nội dung: Luận văn chỉ nghiên cứu về thực trạng sản xuất, các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất cam và đề xuất giải pháp phát triển sản xuất cam trên địa bàn huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.
Phương pháp nghiên cứ u
4.1.Phương pháp thu thập thông tin
- Số liệu thứ cấp: Các số liệu thống kê, các báo cáo tổng kết được cung cấp bởi các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Hải Lăng như Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Khuyến nông, Phòng Kinh tế, Chi cục Thống kê huyện Hải Lăng, UBND, Hội Nông dân các xã thuộc vùng nghiên cứu và các tài liệu liên quan Ngoài ra, tác giả còn tham khảo các loại sách, báo, giáo trình, các công trình khoa học đã được công bố có liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm xây dựng khung lý thuyết cho đề tài.
- Số liệu sơ cấp: Điều tra thông qua bảng hỏi đối với đối tượng là các nông hộ trồng cam và thương lái thu mua cam trên địa bàn
Do cam là loại nông sản mới được các hộ nông dân huyện Hải Lăng đưa vào trồng trong những năm gần đây, nên tính đến thời điểm tháng 3/2018 mới chỉ có 24 hộ tham gia phát triển loại nông sản mới này Tác giả đã tiến hành khảo sát ý kiến của toàn bộ 24 hộ nông dân này (chiếm 100% số hộ nông dân trồng cam ở huyện Hải Lăng) nhằm thu thập các thông tin nhằm làm rõ thực trạng sản xuất cam trên địa bàn huyện Hải Lăng.
Khảo sát 5 thương lái thu mua cam trên địa bàn huyện nhằm thu thập các ý kiến của họ liên quan đến thị trường đầu ra và tình hình tiêu thụ sản phẩm trong thời gian vừa qua
4.2 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu a Phương pháp xửlý số liệu
- Đối với tài liệu thứ cấp: Trên cơ sởtài liệu ban đầu chọn lọc những thông tin cần thiết và tính toán theo các chỉtiêu phục vụ mục đích nghiên cứu
- Đối với tài liệu sơ cấp: Sau khi thu thập những thông tin cần thiết, sử dụng phần mềm Microsoft Excel để tổng hợp và xửlý số liệu; sau đó thực hiện tính toán, tổng hợp và phân tổ theo các tiêu chí nghiên cứu và trình bày trên các bảng và đồ thị, sơ đồ nhằm đánh giá đúng thực trạng quản lý phát triển sản xuất cam của các hộ nông dân ởđịa phương. b Phương pháp phân tích số liệu
Sử dụng các phương pháp nghiên cứu phổ biến trong nghiên cứu kinh tế:
- Phương pháp phân tổ thống kê: Phân tổ các hộ trồng cam theo một số tiêu thức khác nhau nhằm phân tích, đánh giá kết quả, hiệu quả kinh tế của từng hộ
- Phương pháp so sánh: Sau khi phân tổ các thông tin thu thập được, so sánh các chỉ tiêu thể hiện quy mô, kết quả và hiệu quả giữa các nhóm hộ có quy mô trồng cam khác nhau.
- Phương pháp thống kê mô tả: Thông qua các số liệu thống kê tiến hành đánh giá được thực trạng phát triển sản xuất cam trên địa bàn nghiên cứu; phân tích đánh giá hiệu quả sản xuất cam từđó đưa ra giải pháp đẩy mạnh phát triển sản xuất cam trên địa bàn trong thời gian tới
- Phương pháp hạch toán kinh tế: Phương pháp này được sử dụng đểtính toán các chỉtiêu kinh tếnhưchi phí sản xuất, kết quả sản xuất và hiệu quả kinh tế của các hộ sản xuất cam trên địa bàn huyện
- Phân tích kênh tiêu thụ: Sử dụng để phân tích tình hình tiêu thụ cam của nông dân, cụ thể:
B ố c ụ c c ủ a lu ận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 03 chương:
Chương I Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển sản xuất Cam
Chương II Thực trạng phát triển sản xuất Cam ở huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng
Chương III Định hướng và giải pháp phát triển sản xuất Cam tại huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị
Người sản xuất Đại lý thu mua Người bán Người tiêu dùng
PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
C Ơ S Ở LÝ LUẬN VÀ THỰ C TI Ễ N V Ề PHÁT TRIỂ N S Ả N
Lý luậ n chung v ề phát triể n s ả n xu ấ t Cam
1.1.1 Một sốđặc điểm kinh tế, kỹ thuật của sản xuất cam
1.1.1.1 Đặc điể m kinh t ế c ủa cây cam
Cây cam thuộc họ Rutaseae, họ phụ cam quýt Aurantiodeae, chi Citrus có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Đông Nam Châu Á Họ cam Rutaseae bao gồm cam, bưởi, quýt… Cam là loại quả cao cấp, có chứa giá trị dinh dưỡng, giàu chất chống oxy hóa và chất phytochemical Theo các nhà khoa học Anh: “Bình quân trong một trái cam có chứa khoảng 170 mg phytochemicals bao gồm các chất dưỡng da và chống lão hóa” Chuyên gia dinh dưỡng Monique dos Santos cho biết cam được yêu thích và có lợi cho người khỏe mạnh cũng như các bệnh nhân Cam giúp giải nhiệt, thỏa mãn cơn khát cho người có cường độ vậnđộng cao, tăng cường hệ tiêu hóa và hệ miễn dịch của cơ thể (Nguyễn Văn Luật, 2008).
Về kinh tế, cây cam có hiệu quả cao, cải tạo nâng cao độ phì nhiêu cho đất Sản phẩm cây cam có giá trị kinh tế trong nền kinh tế hàng hóa.Do có mẫu mã đẹp, có lượng sinh khối lớn, giàu dinh dưỡng, sản phẩm cam được nhiều người ưa chuộng, có tính hàng hóa cao Cam có thể phân bố trên địa bàn rộng, thích ứng với nhiều quy mô Diện tích vườn cam, sức lao động, nguồn vốn và sách lược kinh doanh có quan hệ mật thiết với nhau Vườn có diện tích lớn thì đầu tư sức lao động nhiều hơn, ngoài ra còn có thể trồng xen canh với cây trồng khác để tăng thêm thu nhập Vườn có diện tích nhỏ có thể chuyên môn hóa để kinh doanh, nâng cao chất lượng sản phẩm và bảo đảm thu nhập (Nguyễn Văn Luật, 2008)
1.1.1.2 Đặc điể m k ỹ thu ậ t c ủa cây cam
Cây cam là loại cây khó tính thuộc loại thực vật 2 lá mầm thân gỗ Rễ của cam thuộc loại rễ nấm Nấm Micorhiza ký sinh trên lớp biểu bì của rễ hút cung cấp nước, muối khoáng và một lượng nhỏ các chất hữu cơ cho cây Cây cam không ưa trồng sâu do bộ rễ phân bố rất nông chủ yếu là các rễ bất định phân bố tương đối rộng và dày đặc ở tầng đất mặt Rễ cam sợ đất chặt, bí và không phát triển được ở những nơi có mực nước ngầm cao (Hoàng Ngọc Thuận, 2000)
Tuy nhiên, sự phân bố của các tầng rễ cam phụ thuộc vào từng loại đất, độ dày tầng đất mặt, thành phần hoá học và mực nước ngầm, đặc biệt là các kỹ thuật canh tác như làm đất, bón phân và hình thức nhân giống, giống gốc ghép và giống cây trồng Cây chiết và cây giâm cành có bộ rễ ăn nông nhưng nhiều rễ hút phân bố rộng và tự điều tiết được tầng sâu phân bố theo sự thay đổi của điều kiện sinh thái đặc biệt là mực nước ngầm (Hoàng Ngọc Thuận, 2000).
Cây cam thuộc dạng thân gỗ Một cây trưởng thành có thể có từ 4-6 cành chính Nếu không chú ý tạo tán ngay từ đầu thì cam ít khi có thân chính Tuỳ theo tuổi cây và điều kiện sống, các giống cam khác nhaucó chiều cao và hình thái khác nhau Ví dụ, cam sành Lạng Sơn 25 năm tuối cao 6,20 m, đường kính tán 4,25 m, đường kính gốc 17cm, cây phân cành hướng ngọn, tán hình chổi sể phân cành thưa Cam Vân Du 9 năm tuổi trồng ở Nghệ Tĩnh có chiều cao 4,82 m, đường kính tán
4,28 m, đường kính gốc 16 cm, tán hình trụ hoặc hình cầu, phân cành nhiều. Ở nước ta cành quả của đa số các giống cam là cành mùa xuân Ở các tỉnh phía Nam cây thường ra quả ở các cành phát triển ở đầu và cuối mùa mưa, do đócó thể có nhiều vụ quả trong năm Tuy vậy, cành quả là cành mùa xuân vẫn chiếm tỷ lệ cao hơn cả (Hoàng Ngọc Thuận, 2000).
Nói chung, các giống cam thường cho thu hoạch sau khoảng từ 3 - 4 năm sau khi trồng Nếu nhân giống bằng cách ghép hoặc chiết thì thường cho thu hoạch năm thứ 2 sau trồng.Nếu nhân giống bằng phương pháp gieo hạt phải từ 5 - 8 năm sau trồng (tuỳ loại) mới được thu hoạch (Hoàng Ngọc Thuận, 2000). Đời sống cây cam được chia thành các thời kỳ:
- Thời kỳ cây non (thời kỳ kiến thiết cơ bản)
- Thời kỳ mới thu hoạch (những năm đầu mới thu quả)
- Thời kỳ cho sản lượng cao (cây đã ổn định về sinh trưởng, năng suất cao)
- Thời kỳ suy yếu và tàn lụi.
Thời gian của mỗi thời kỳ dài hay ngắn tuỳ thuộc vào các điều kiện thời tiết, khí hậu, đất đai, kỹ thuật thâm canh, giống và giống gốc ghép. Ở nước ta camnhanh chóng bước vào thời kỳ kinh doanh hơn ở các nướckhác trên thế giới nhưng tuổi thọ của cây thường ngắn hơn Với điều kiện khíhậu nước ta
1 năm cây cam có thể ra 4 đợt lộc: Lộc xuân (cuối tháng 2 đầu tháng 3)hoặc có thể sớm hơn, lộc hè (từ tháng 5 - tháng 7), lộc thu (tháng8 - tháng 9) Lộc hè và lộc thu thường xuất hiện ở cành dinh dưỡng và cành quả do vậy mà con người có thể đoán được năng suất của năm sau Có thể dùng kỹ thuật bón phân, tưới nước để xúc tiến mạnh số lượng cũng như chất lượng loại cành này Riêng ở những cây non còn có đợt cành mùa đông đây là hiện tượng đặc biệt đối với những cây cam vùngnhiệt đới có một mùa đông lạnh Những cây sống lâu năm hoặc cây trưởng thành trước ra nhiều quả thì mùa Hè, mùa Thu hoặc mùa Đông rất ít ra lộc hoặc không có lộc (Hoàng Ngọc Thuận, 2000)
Trên một cây cam có nhiều cấp cành được phân bố hình thành theo kiểu hợp trục do hiện tượng rụng ngọn Đặc tính sinh học của mỗi cấp cành có những điểm khác biệt nhau trong những điều kiện nhất định
Quả được ăn tươi hay vắt, ép lấy nước Quả cam đáng chú ý vì mùi thơm của chúng, một phần là do các terpen chứa trong lớp vỏ, và chủ yếu là do nó chứa nhiều nước Nước quả có hàm lượng axít citric cao, tạo ra hương vị đặc trưng, là nguồn cung cấp vitamin C và các flavonoit
1.1.2 Phát triển sản xuất cam
1.1.2.1 Khái niệ m v ề phát triể n s ả n xu ấ t
Sản xuất là tác động của con người vào các đối tượng sản xuất, thông qua đó để tạo ra các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ phục vụ đời sống con người
Có 2 phương thức sản xuất là sản xuất theo kiểu tự cung tự cấp và sản xuất hàng hóa Do trình độ kỹ thuật thấp nên sản phẩm làm ra bởi sản xuất mang tính tự cung tự cấp chỉ nhằm mục đích là để phục vụ nhu cầu của người sản xuất, chỉ khi dư thừa mớiđưa ra thị trường Ngược lại, đối với sản xuất hàng hóa, sản phẩm sản xuất ra phục vụ mục đích trao đổi trên thị trường với quy mô lớn, khối lượng sản phẩm nhiều mang tính tậptrung chuyên canh và tỷ lệ sản phẩm hàng hóa cao.
Phát triển sản xuất là tạo ra sự tăng tiến về quy mô, hiệu quả và sự tiến bộ về cơ cấu Phát triển sản xuất bao gồm phát triển theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu (Đào Thị Mỹ Dung, 2012).
Phát triển theo chiều rộng là việc tăng lên về diện tích, sản lượng, giá trị (sản phẩm hàng hóa) được thực hiện thông qua mở rộng diện tích đấtcho sản xuất, gia tăng đầu tư vềgiống, khoa học kỹ thuật, tăng cường đội ngũ lao động.
Cơ sở th ự c ti ễ n c ủa phát triể n s ả n xu ấ t cam
1.2.1 Tình hình sản xuất cam trên thế giới
Trong nhiều thập kỷ qua, năng suất, diện tích và sản lượng cam và mức tiêu thụ quả trên thị trường thế giới cũng ngày càng tăng Mặc dù nguồn gốc cam quýt xuất phát từ vùng Đông Nam Á nhưng hiện nay cam được trồng ở nhiều vùng trên thế giới với tổng số hơn 100 quốc gia Các vùng trồng cam nổi tiếng trên thế giới hiện nay chủ yếu nằm ở những vùng khí hậu khá ôn hòa thuộc vùng á nhiệt đới hoặc vùng khí hậu ôn hòa ven biển chịu ảnh hưởng nhiều của khí hậu Đại dương.
Trung Quốc và Thái Lan là hai nước gần với Việt Nam có ngành nông nghiệp trồng trọt phát triển, đạt được nhiều thành tựu trong nghiên cứu các kỹ thuật về tỉa, ghép cây cũng như kỹ thuật chăm sóc, thâm canh góp phần phát triển sản xuất cam Trên thế giới cây có múi là một ngành lớn với diện tích 3,5 triệu ha, sản lượng
80 triệu tấn/năm Hiện nay trên thế giới có 75 nước trồng cam với diện tích và sản lượng tăng đáng kể
Braxin và Mỹ là hai nước có sản lượng cam lớn nhất thế giới, năm 2011 sản lượng cam đạt được lần lượt là hơn 19 triệu tấn và 8 triệu tấn Nhưng đến năm 2013 sản lượng cam của 2 nước đều giảm xuống còn 17,5 triệu tấn và 7,5 triệu tấn
Một sốnước khác như Trung Quốc đạt 6,2 triệu tấn năm 2011 và tăng lên 7,4 triệu tấn năm 2013, tiếp theo là Ấn Độ cũng có sản lượng cam tăng từ 4,57 triệu tấn năm 2011 lên 6,42 triệu tấn năm 2013, tăng 1,85 triệu tấn
Một số nước khác như Mexico, Tây Ban Nha Sảnlượng cam năm 2013 đều tăng lên so với năm 2011, 2012
1.2.2 Tình hình sản xuất Cam ở Việt Nam
Nhìn chung, cam cũng như nghề trồng cây có múi ở nước ta đã có từ lâu đời Tuy nhiên phải đến đầu thế kỷ XIX (trong thời kỳ thuộc Pháp thuộc 1884-1945), nghề trồng cây ăn quả nói chung và cam nói riêng mới được phát triển Một số trạm nghiên cứu cây ăn quả được thành lập ở các tỉnh như: trạm Vân Du (Thanh Hóa), trạm Phủ Quỳ (Nghệ An), Đầm Lô (Hà Tĩnh) vừa nghiên cứu các cây ăn quả trong nước, vừa nghiên cứu nhập nội các giống cây ôn đới vànhiệtđới.
Có thể nghề trồng cây ăn quả của Việt Nam nói chung và cam nói riêng được phát triển một bước so với tất cả các thời kỳ trước đây là từ sau những năm 1960 Những nông trường chuyên trồng cam quýt đầu tiên ra đời đầu tiên ở miền Bắc với diện tích 223 ha (1960) đến năm 1965 đã có trên 1.600 ha và sản lượng 1.600 tấn, trong đó xuất khẩu 1.280 tấn Năm 1975 diện tích pháttriển tới 2.900ha, sản lượng đạt 14.600 tấn, xuất khẩu 11.700 tấn
Sau ngày miền Nam giải phóng từ năm 1976 đến 1984 đã có 27 nông trường cam quýt, với diện tích xấp xỉ 3.500 ha Sản lượng năm cao nhất (1976) đạt 22.236 tấn, trong đó xuất khẩu 20.916 tấn Phải nói đây là thời kỳ huy hoàng nhất của ngành trồng cam nước ta Ngoài ra do ảnh hưởng của các nông trường đã hình thành các vùng sản xuất cam tập trung trong nhân dân xung quanh các nông trường Có thể nói sự thành lập các nông trường quốc doanh đã tạo một bước ngoặt quan trọng trong phát triển kinh tế vườn ở khắp các tỉnh trong cả nước- đặc biệt ở các vùng có truyền thống lâu đời trồng loại cây ăn quả này Do vậy sau năm 1985 mặc dù diện tích và sản lượng ở các nông trường quốc doanh giảm đi, song tổng diện tích và sản lượng cam của nước vẫn tăng Năm 1985, diện tích cam cả nước là 17.026 ha, năm
1990 tăngvà đạt19.062ha trong đó có 14.499ha cho sảnphẩmvớisảnlượng 119.238 tấn.Từ năm 1990-1995 mức sản xuất cam tăng nhanh mặc dùgặp nhiều khó khăn do thời tiết khí hậu, sâu bệnh phá hoại Trên phạm vi cả nước, sản xuất cam, quýt đạt khoảng 87,2 ngàn ha, hàng năm cung cấp khoảng 606,5 ngàn tấn cho thị trường. Ở nước ta từ vùng đồng bằng đến vùng trung du miền núi tỉnh nào cũng có thể trồng được cam Tuy nhiên, do ưu thế của từng địa phương về điều kiện tự nhiên khí hậu đất đai khác nhau mà cam được trồng tập trung nhiều hay ít Có thể dễ nhận thấy 3 vùng trồng cam lớn nhất nước ta là: Vùng đồng bằng sông Cửu Long, vùng miền núi các tỉnh phía Bắc và vùng Bắc TrungBộ.
Lịch sử trồng cam ở Đồng bằng sông Cửu Long có từ lâu đời được hình thành từ những ngày đầu khai phá vùng đất Nam bộ dưới triều đại nhà Nguyễn Theo Đại Nam nhất thống chí, ở Gia Định đã có trồng các thứ cây ăn quả như: cau, dừa, mơ, đào, cam, bưởi, chanh Do quá trình lịch sử lâu đời nên người dân ở vùng này rất có kinh nghiệm trồng trọt chăm sóc các loại cây ăn quả này Chủ yếu cam được trồng trên các vùng đất phù sa ven sông Tiền, sông Hậu nông dân thường liên tiếp trồng cam để tránh mực nước ngầm cao và những tháng lũ (tháng 9, tháng 10), hay hiện nay người ta áp dụng những biện pháp kỹ thuật "ép trái" để tránh thu hoạch vào thời kỳ mưa nhiều, trái ít ngọt, giá bán rẻ bằng cách ngưng tưới nước vào tháng 2,3 qua tháng 5 mới xới xáo, bón phân, tưới nước nước để có trái chín tập trung vào dịp bán Tết dương lịch và Tết nguyên đán Trước đa số nông dân nhân giống cam bằng cách chiết cành, một số ít nhân giống bằng hạt, song hiện nay họ đã biết áp dụng kỹ thuật nhân giống tốt hơn bằng cách ghép Đặc biệt trong kỹ thuật chăm sóc, người ta đã biết điều khiển tầng, tán, chiều rộng, chiều cao của cây để sử dụng được tối đa năng lượng mặt trời, dinh dưỡng khoáng, nước, không khí, hình thành một sự cân bằng khá hoàn chỉnh trong môi trường sinh thái vùng đồng bằng Ở vùng miền núi phía Bắc, nhìn chung điều kiện tự nhiên, khí hậu, đất đai thích hợpcho việc trồng cây ăn quả có múi P.L.Ghighinheixvili (1980), chuyên gia Liên Xô (cũ) về cam viết: " Việt Nam so với các nước nhiệt đới khác có ưu thế phát triển cam Việt Nam ở miền nhiệt đới bắc từ vĩ tuyến 22 đến vĩ tuyến 23; theo điều kiện khí hậu ở Việt Nam, đặc biệt là về chế độ nhiệt hàng năm thì gần với vành đai á nhiệt đới Trong miền nay có các tỉnh Lai Châu, Yên Bái, Tuyên Quang, Hà Giang, Bắc Kạn, Lạng Sơn Ở những tỉnh trên có nguồn đất đai khai thác chưa lớn thích hợp đầy đủ cho việc phát triển cam Việc nghiên cứu những tỉnh lớn phía bắc như Hà Giang, Tuyên Quang, Yên Bái, đã chứng minh rằng, cam phát triển rất tốt ở đây và cho một năng suất cao phẩm chấttốt
Vùng Bắc Trung Bộ: gồm các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh Ở Hà Tĩnh cam trồng rải rác ở các hộ gia đình miền núi Hương Sơn và Hương Khê với diện tích khoảng 200 ha, chủ yếu là giống cam bù chín rất muộn, khoảng tháng 2, 3 dương lịch Ở Thanh Hóa tổng diện tích có khoảng 852 ha tập trung chủ yếu ở nông trường: Thống Nhất, Vân Du, Thạch Quảng, Hà Trung Trọng điểm trồng cam ở Bắc Trung Bộ là Phủ Quỳ (Nghệ An) gồm một cụm các nông trường chuyên trồng cam với diện tích năm 1990 là 1.600 ha.Đây là vùng trồng cam tập trung có ưu thế về tiềm năng đất đai đặc biệt là kinh nghiệm sản xuất vì có đội ngũ đông đảo các cán bộ công nhân được đào tạo chuyên nghiên cứu và sản xuất quả có múi.
Do những hạn chế về mặt khí hậu, thời tiết cho nên mặc dù có những ưu thế về mặt đất đai và trình độ khoa học kỹ thuật nhưng sản xuất cam ở vùng Phủ Quỳ vẫn không ổn định Năm 1965 các nông trường trồng cam mới thành lập, diện tích còn ít, cam mới bước và kinh doanh năm thứ nhất đạt 54,5 tạ/ha, sau 10 năm (1975) năng suất tăng lên đạt 83,03 tạ/ha Năm 1976 là năm cam có năng suất cao nhất đạt 126,3 tạ/ha, những năm về sau năng suất giảmdần.
1.2.3 Kinh nghiệm phát triển sản xuất cam của một sốđịa phương
Kinh nghiệm của tỉnh Nghệ An
Tỉnh Nghệ An xác định cam là một trong những cây trồng chính để đưa vào quy hoạch vùng ứng dụng công nghệ cao, phấn đấu đến năm 2020 năng suất tăng ít nhất 10% và lợi nhuận tăng 35% so với cam truyền thống
Với mục tiêu nêu trên, tỉnh Nghệ An tiến hành quy hoạch cụ thể vùng trồng cam; khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư vốn, giống, đưa nhanh kiến thức khoa học kỹ thuật ứng dụng công nghệ cao vào áp dụng
Hiện nay, diện tích cam ứng dụng công nghệ cao tại Nghệ An đã đạt trên 265 ha, chiếm gần 6% tổng diện tích sản xuất cam của tỉnh; trong đó, người dân đầu tư
200 ha, doanh nghiệp đầu tư 65 ha; năng suất bình quân từ 17-18 tấn/ha Đã có một số mô hình, cách làm ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất cam thành công, đơn cửnhư ứng dụng công nghệtrong tưới nhỏ giọt cho cam với diện tích 220 ha tại các huyện Quỳ Hợp, Tân Kỳ, Nghi Lộc; dựán sản xuất cam của xã Nghĩa Bình (huyện Nghĩa Đàn) áp dụng công nghệtưới nhỏ giot kết hợp bón phân…