1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN văn THẠC sĩ) thực trạng bạo lực bạn tình và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ phá thai tại bệnh viện phụ sản hà nội năm 2018

97 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 539,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

  • DANH MỤC CÁC BẢNG

  • DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ

  • ĐẶT VẤN ĐỀ

  • CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

    • 1.1 Khái niệm và phân loại bạo lực

      • 1.1.1 Khái niệm

      • 1.1.2 Phân loại bạo lực

    • 1.2 Khái niệm và các phương pháp phá thai

      • 1.2.1 Khái niệm

    • 1.3 Thực trạng bạo lực do bạn tình ở phụ nữ trên thế giới

      • 1.3.1 Thực trạng bạo lực đối với phụ nữ trên thế giới

      • 1.3.2 Thực trạng bạo lực đối với phụ nữ mang thai trên thế giới

    • 1.4 Thực trạng bạo lực do bạn tình ở phụ nữ tại Việt Nam

      • 1.4.1 Thực trạng bạo lực đối với phụ nữ tại Việt Nam

      • 1.4.2 Thực trạng bạo lực đối với phụ nữ mang thai tại Việt Nam

    • 1.6 Hậu quả của bạo lực bạn tình đối với phụ nữ

      • 1.6.1 Hậu quả về mặt sức khỏe

      • 1.6.2 Hậu quả đối với sức khỏe tình dục và sức khỏe sinh sản

      • 1.6.3 Hậu quả đối với sức khỏe tinh thần

      • 1.6.4 Hậu quả đối với trẻ em

      • 1.6.5 Các hậu quả về kinh tế

    • 1.7 Giới thiệu về địa điểm nghiên cứu

  • CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

    • 2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

    • 2.2 Đối tượng nghiên cứu

      • 2.2.1 Tiêu chuẩn lựa chọn

      • 2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ

    • 2.3 Thiết kế nghiên cứu và chọn mẫu

    • 2.3.1 Thiết kế nghiên cứu:

      • 2.3.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu

        • 2.3.2.1 Cỡ mẫu

        • Thay các giá trị trên vào công thức với p = 52,6%, tính được cỡ mẫu cần thiết cho nghiên cứu là 346. Thực tế đã phỏng vấn được 422 đối tượng.

        • 2.3.2.2 Cách chọn mẫu

    • 2.4 Biến số và chỉ số nghiên cứu

    • 2.5 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu

    • 2.6 Quy trình thu thập số liệu

    • 2.7 Sai số và hạn chế của nghiên cứu

      • 2.7.1 Sai số

      • 2.7.2 Cách khắc phục

    • 2.8 Phân tích số liệu

    • 2.9 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu

  • CHƯƠNG III: KẾT QUẢ

    • 3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu

      • 3.1.1 Thông tin chung

      • 3.1.2 Tiền sử sinh sản

      • 3.1.3 Thông tin về lần mang thai này

    • 3.2 Thực trạng bạo lực bạn tình của đối tượng nghiên cứu

      • Kết quả nghiên cứu cho thấy có 58,5% đối tượng đã từng bị bạo lực trong đời với bất kỳ hình thức nào, trong đó: 19,0% bị 1 loại bạo lực, 17,8% bị 2 loại bạo lực và 21,7% bị cả 3 loại bạo lực. Và trong lần mang thai này, có 53,1% đối tượng đã bị ít nhất 1 loại bạo lực bởi bạn tình, trong đó: 28,9% bị 1 loại bạo lực, 17,5% bị 2 loại bạo lực và 6,7% bị cả 3 loại bạo lực.

    • 3.3 Một số yếu tố liên quan đến bạo lực do bạn tình của ĐTNC trong lần mang thai này

      • 3.3.1 Một số yếu tố liên quan đến bạo lực tinh thần của phụ nữ phá thai

      • 3.3.2 Một số yếu tố liên quan đến bạo lực thể xác hoặc bạo lực tình dục của phụ nữ phá thai

  • CHƯƠNG IV: BÀN LUẬN

    • 4.1 Thực trạng bạo lực bạn tình ở phụ nữ phá thai

    • 4.2 Một số yếu tố liên quan đến bạo lực bạn tình ở phụ nữ phá thai

    • 4.3 Hạn chế của nghiên cứu

  • KẾT LUẬN

  • KIẾN NGHỊ

  • TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nội dung

Hình 1.2 Mô hình lý thuyết của nghiên cứu về các yếu tố liên quan tới bạo lực do chồng/bạn tình gây ra ở các cấp độ khác nhau...14 Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ bị bạo lực bạn tình của phụ nữ trong

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu: Khoa Kế hoạch hóa Gia đình, Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội.

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 06 năm 2018 đến tháng 06 năm 2019.

- Thời gian thu thập số liệu: Tháng 08/2018 – 11/2018.

Đối tượng nghiên cứu

Phụ nữ đến phá thai tại bệnh viện Phụ Sản Hà Nội trong thời gian nghiên cứu.

- Phụ nữ đến phá thai khi tuổi thai ≤ 22 tuần tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội.

- Đảm bảo sức khỏe tâm thần bình thường, có khả năng giao tiếp và trả lời phỏng vấn.

- Tự nguyện đồng ý tham gia nghiên cứu.

- Đối tượng được xác định không đủ thể lực và tinh thần để hoàn thành phỏng vấn.

- Đối tượng đến làm thủ thuật sau khi đã sẩy thai hoặc thai chết lưu.

Thiết kế nghiên cứu và chọn mẫu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu: Áp dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang.

2.3.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu

Xác định dựa trên công thức tính cỡ mẫu cho việc ước lượng một tỷ lệ: n=Z 2 1−α/ 2 p(1−p)

 n: Là cỡ mẫu nghiên cứu

 Z 1-α/2 : Khoảng tin cậy phụ thuộc mức ý nghĩa thống kê.

 ɛ: Mức sai lệch tương đối giữa tham số mẫu và tham số quần thể (ɛ = 0,1).

Ở Việt Nam, chưa có nghiên cứu về bạo lực bạn tình trên nhóm phụ nữ phá thai, nên để ước tính cỡ mẫu một cách phù hợp và chính xác khi sử dụng tỷ lệ p từ các nghiên cứu nước ngoài, nhóm nghiên cứu đã tiến hành nghiên cứu thử trên 50 đối tượng trước nghiên cứu chính thức nhằm điều chỉnh bộ câu hỏi và ước lượng tỷ lệ bị bạo lực do bạn tình trên mẫu nghiên cứu Kết quả nghiên cứu thử cho thấy trong lần mang thai này, có 52,6% phụ nữ phá thai bị ít nhất một hình thức bạo lực (bạo lực tinh thần, bạo lực thể xác hoặc bạo lực tình dục).

Thay các giá trị trên vào công thức với p = 52,6%, tính được cỡ mẫu cần thiết cho nghiên cứu là 346 Thực tế đã phỏng vấn được 422 đối tượng.

Chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống.

Tất cả bệnh nhân đủ tiêu chuẩn và đồng ý tham gia nghiên cứu tại khoa KHHGĐ, Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội được đưa vào danh sách tuyển chọn cho đến khi đạt cỡ mẫu tối thiểu của nghiên cứu Ước tính có khoảng 20 phụ nữ đến phá thai tại khoa KHHGĐ trong một ngày, và dựa trên nguồn lực tham gia phỏng vấn cùng thời gian chờ làm thủ tục và thủ thuật, mỗi ngày có khoảng 4–5 người đủ tiêu chuẩn được chọn tham gia, từ đó xác định được tham số k = 5 Để chọn mẫu, tiến hành chọn ngẫu nhiên một số giữa 1 và 5; số được chọn chỉ định người phụ nữ đầu tiên trong ngày phỏng vấn, và các phụ nữ tiếp theo được chọn bằng cách cộng k vào vị trí của người đã chọn cho đến khi kết thúc buổi phỏng vấn Trường hợp đối tượng không đủ điều kiện tham gia nghiên cứu hoặc từ chối tham gia, sẽ thay thế bằng người có số thứ tự tiếp theo ngay sau đó.

Biến số và chỉ số nghiên cứu

Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu (ĐTNC):

- Tuổi: tính theo năm dương lịch.

- Dân tộc: Kinh hay dân tộc khác.

- Tôn giáo: Thiên chúa giáo, Phật giáo, Không theo tôn giáo nào, tôn giáo khác.

- Trình độ học vấn: Cấp học cao nhất đã hoàn thành.

- Nghề nghiệp: Nghề nghiệp chiếm nhiều thời gian nhất.

Tình trạng hôn nhân được phân loại thành các trạng thái sau: độc thân; có người yêu nhưng không sống cùng; sống cùng người yêu; đã kết hôn và sống cùng chồng; đã kết hôn và sống xa chồng; đã ly hôn.

- Tình hình kinh tế: tự chủ về tài chính; bị phụ thuộc một phần hay hoàn toàn Người chu cấp tài chính cho đối tượng.

- Nơi ở: Nơi ở hiện tại của đối tượng theo quận/huyện/tỉnh: nội thành Hà Nội, ngoại thành Hà Nội, tỉnh khác ngoài Hà Nội.

- Sống cùng gia đình: Người sống cùng đối tượng tại thời điểm hiện tại.

- Tình hình kinh tế của đối tượng nghiên cứu: tự lập về kinh tế; bị phụ thuộc một phần hay hoàn toàn Người chu cấp tài chính cho đối tượng.

- Thu nhập của đối tượng nghiên cứu: thu nhập bình quân/tháng.

- Tiền sử sinh sản của đối tượng nghiên cứu: tuổi mang thai lần đầu; tổng số lần mang thai; số lần sẩy thai, sinh non, thai chết lưu, phá thai; số con hiện tại còn sống.

Biến số, chỉ số cho mục tiêu 1: Bị bạo lực bạn tình theo các giai đoạn: Trong cuộc đời, trong khi mang thai, trong 12 tháng qua.

- Bạo lực tinh thần: được tính khi phụ nữ bị ít nhất một trong các hành vi:

+ Kiểm soát quan hệ bạn bè, gia đình và hoạt động của đối tượng.

+ Phớt lờ, tức giận, nghi ngờ đối tượng.

+ Sỉ nhục, lăng mạ đối tượng hoặc làm cảm thấy tồi tệ.

+ Coi thường, làm đối tượng bẽ mặt trước người khác.

+ Uống rượu, đánh bạc và không cho đối tượng biết đi đâu

+ Đưa tiền cho người phụ nữ khác

+ Từ chối quan hệ tình dục như một hình thức trừng phạt đối tượng

+ Đe dọa, dọa nạt đối tượng bằng bất cứ cách nào (quắc mắt, quát mắng, đập phá đồ đạc).

- Bạo lực thể xác: được tính khi phụ nữ bị ít nhất một trong các hành vi sau:

+ Tát hoặc ném vật gì đó làm đối tượng tổn thương.

+ Đẩy hoặc xô thứ gì vào, kéo tóc

+ Đánh, đấm, hoặc đánh bằng vật có thể làm đối tượng tổn thương

+ Đá, kéo lê, đánh đập tàn nhẫn

+ Bóp cổ, làm nghẹt thở, làm bỏng.

+ Đe doạ sử dụng hoặc đã sử dụng súng, dao, hoặc các vũ khí khác làm hại

- Bạo lực tình dục: được tính khi phụ nữ bị ít nhất một trong các hành vi sau:

+ Dùng vũ lực cưỡng ép đối tượng quan hệ tình dục khi không muốn.

+ Đã từng có quan hệ tình dục khi không mong muốn.

+ Ép làm các hành động kích dục mà đối tượng cảm thấy nhục nhã, hạ thấp nhân phẩm.

Biến số, chỉ số cho mục tiêu 2:

- Biến phụ thuộc: Bị bạo lực tinh thần, bạo lực thể xác hoặc bạo lực tình dục.

+ Yếu tố từ đối tượng nghiên cứu: Tuổi; tôn giáo; trình độ học vấn; nghề nghiệp; tình trạng hôn nhân; tình trạng kinh tế; chủ động muốn có thai.

Yếu tố từ bạn tình và gia đình bạn tình bao gồm tuổi tác, tôn giáo, trình độ học vấn, nghề nghiệp, hành vi sử dụng chất kích thích như rượu và ma túy, cùng với mức độ chủ động muốn có thai và việc sống chung với gia đình bạn tình Những yếu tố này có thể ảnh hưởng đến quyết định liên quan đến quan hệ, kế hoạch sinh con và sự ổn định của mối quan hệ, cũng như cách hai bên tương tác và chia sẻ giá trị gia đình Việc nắm bắt đầy đủ những yếu tố này giúp nhận diện rủi ro, tối ưu hóa sự hòa hợp giữa hai người và lên kế hoạch thực tế cho tương lai của cặp đôi.

Các yếu tố về đặc điểm sản khoa cần được ghi nhận đầy đủ như số lần mang thai và số con hiện tại; tiền sử sẩy thai, phá thai, thai lưu và sinh non, cũng như có thai ngoài ý muốn Việc xác định giới tính con và giới tính thai nhi, cùng với tuổi thai khi phá thai, là phần quan trọng trong đánh giá tình hình sản khoa Ngoài ra, nguyên nhân phá thai cũng được xem là yếu tố thiết yếu để tư vấn và quản lý chăm sóc thai kỳ tiếp theo.

Công cụ và phương pháp thu thập số liệu

Công cụ thu thập dữ liệu cho nghiên cứu về bạo lực gia đình đánh giá thông tin về bạo lực tinh thần, bạo lực thể xác và bạo lực tình dục thông qua bảng câu hỏi của Nghiên cứu đa quốc gia của WHO về Sức khỏe phụ nữ và Bạo lực gia đình đối với Phụ nữ, đã được hiệu chỉnh cho phù hợp với bối cảnh Việt Nam [1] Bảng hỏi này đã được nhiều nhà nghiên cứu trong nước sử dụng [5],[45],[52].

Bộ câu hỏi được chia làm 4 phần chính nhằm thu thập thông tin toàn diện về đối tượng nghiên cứu: Phần 1 cung cấp thông tin chung của đối tượng nghiên cứu, phục vụ nhận diện mẫu và phân loại dữ liệu; Phần 2 ghi nhận tiền sử sinh sản và các yếu tố liên quan đến sức khỏe sinh sản; Phần 3 tập trung vào lần mang thai này, đánh giá tình trạng thai kỳ và các yếu tố ảnh hưởng đến thai phụ; Phần 4 thu thập thông tin về chồng/bạn tình và hành vi bạo lực để nhận diện rủi ro và lên kế hoạch can thiệp phù hợp.

- Phương pháp thu thập số liệu: Phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu để điền vào phiếu.

Quy trình thu thập số liệu

- Xin phép Ban giám đốc bệnh viện Phụ sản Hà Nội, Trưởng khoa và Điều dưỡng trưởng khoa Kế hoạch hóa Gia đình để tiến hành nghiên cứu.

- Quan sát, tìm hiểu về bệnh viện Phụ sản Hà Nội và khoa Kế Hoạch Hóa Gia Đình – địa điểm nghiên cứu.

- Xây dựng bộ công cụ định lượng dựa trên các biến số đã xây dựng.

Để lên kế hoạch điều tra một cách hiệu quả, bài viết dựa trên quy trình phá thai làm khuôn khổ và xác định các bước cần thực hiện Quy trình phỏng vấn đối tượng được tiến hành từ thời điểm họ nhận sổ khám bệnh cho đến trước khi tiến hành thủ thuật, nhằm thu thập đầy đủ dữ liệu liên quan và đảm bảo tính nhất quán của thông tin để phân tích và rút ra các kết luận đáng tin cậy.

Quy trình phá thai tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội:

Giai đoạn 2: Thử nghiệm bộ công cụ đã thiết kế

- Tiến hành điều tra thử 50 đối tượng trong vòng 2 tuần.

Khám bệnh và tư vấn

Nghỉ sau làm thủ thuật

- Đánh giá phản hồi của đối tượng về bộ công cụ.

- Sửa đổi bộ công cụ và bổ sung, thay đổi cho hợp lý.

- Phân tích sơ bộ để tính cỡ mẫu cho nghiên cứu.

Giai đoạn 3: Thu thập thông tin

- Chọn các đối tượng đủ tiêu chuẩn và đồng ý tham gia phỏng vấn.

- Sử dụng bộ câu hỏi định lượng đã xây dựng, chỉnh sửa, bổ sung để tiến hành phỏng vấn đối tượng.

Sai số và hạn chế của nghiên cứu

- Sai số trong quá trình thu thập thông tin:

+ Câu hỏi không rõ ràng khiến ĐTNC không hiểu hoặc hiểu nhầm ý câu hỏi.

+ ĐTNC từ chối tham gia, bỏ cuộc giữa chừng hoặc cung cấp sai thông tin đối với những thông tin nhạy cảm.

+ Sai số do nhớ lại khi hỏi các câu hỏi liên quan đến thời gian.

+ ĐTNC cố tình cung cấp sai thông tin đối với những thông tin nhạy cảm hoặc mang yếu tố tâm lý.

- Sai số trong quá trình nhập liệu: người nhập liệu nhập sai hoặc bỏ sót thông tin.

- Trước khi tiến hành điều tra:

+ Tập huấn kỹ điều tra viên về cách phỏng vấn, những kiến thức liên quan để cung cấp cho ĐTNC.

+ Thiết kế bộ câu hỏi rõ ràng, từ ngữ dễ hiểu, tránh gây hiểu lầm cho

+ Bộ câu hỏi được phỏng vấn thử trên 50 đối tượng, chỉnh sửa cho phù hợp với thông tin của ĐTNC và mục tiêu nghiên cứu.

- Trong quá trình phỏng vấn ĐTNC:

+ Nghiên cứu viên trực tiếp tham gia phỏng vấn và giải đáp thắc mắc cho các đối tượng nghiên cứu.

+ Áp dụng các kỹ năng khai thác thông tin mang tính chất định tính để thu thập thông tin của những câu hỏi nhạy cảm.

Phỏng vấn được tiến hành ở nơi kín đáo nhằm bảo đảm sự riêng tư cho người được phỏng vấn, bằng cách thiết lập một góc riêng, không có người nhà và các đối tượng khác quanh đó Việc tạo điều kiện thuận lợi để người tham gia chia sẻ ý kiến cá nhân giúp thu thập thông tin một cách trung thực và giảm thiểu sai số do cố tình cung cấp thông tin sai lệch.

- Trong quá trình nhập liệu:

+ Nhập liệu viên nhập liệu cẩn thận, nhập xong từng phiếu kiểm tra lại một lượt phiếu đó rồi chuyển sang nhập phiếu tiếp theo.

+ Sau quá trình nhập liệu, điều tra viên kiểm tra ngẫu nhiên 10% số phiếu đã nhập.

- Số liệu được nhập liệu bằng phần mềm Epidata 3.1, sau đó được làm sạch, xử lý và phân tích bằng phần mềm SPSS 20.

Trong mục tiêu (1), thống kê mô tả được dùng để tính tỷ lệ bạo lực tinh thần, bạo lực thể xác và bạo lực tình dục trong mẫu nghiên cứu; trong mục tiêu (2), thống kê suy luận được thực hiện bằng test χ2 để đánh giá sự liên quan giữa các biến và sau đó áp dụng mô hình hồi quy logistic đa biến nhằm xác định các yếu tố liên quan đến bạo lực tinh thần, bạo lực thể xác và bạo lực tình dục.

2.9 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu

- Nghiên cứu hoàn toàn có sự ủng hộ, cho phép Ban lãnh đạo Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội và khoa Kế hoạch hóa Gia đình.

Nghiên cứu đã được thông qua bởi hội đồng bảo vệ đề cương của Viện đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng trước khi tiến hành thu thập số liệu Quy trình phê duyệt nhằm đảm bảo tính khoa học và tuân thủ các chuẩn mực nghiên cứu, và chỉ sau khi có sự xác nhận từ hội đồng mới bắt đầu thu thập dữ liệu Việc phê duyệt trước thu thập số liệu là bước quan trọng để đảm bảo chất lượng và tính đáng tin cậy của kết quả nghiên cứu.

Đối tượng nghiên cứu tham gia một cách tự nguyện sau khi được giải thích rõ mục đích nghiên cứu cũng như các lợi ích và rủi ro có thể gặp phải khi tham gia Họ có quyền rút lui khỏi nghiên cứu bất cứ lúc nào và có thể từ chối trả lời bất kỳ câu hỏi nào.

- Nghiên cứu được thực hiện theo các hướng dẫn về đạo đức và an toàn cho nghiên cứu bạo lực gia đình do WHO [62] hướng dẫn như sau:

+ Sự an toàn của người trả lời và nhóm nghiên cứu là rất quan trọng.

Nghiên cứu cần có phương pháp phù hợp và được xây dựng dựa trên kinh nghiệm nghiên cứu để xác định các biện pháp nhằm giảm thiểu báo cáo về bạo lực Việc thiết kế khung phương pháp dựa trên bằng chứng thực tiễn giúp tăng tính khoa học, khả thi và có thể áp dụng trong thực tế, đồng thời đảm bảo sự khách quan của kết quả nghiên cứu về vấn đề này.

+ Tính bảo mật là cần thiết để đảm bảo an toàn cho đối tượng tham gia nghiên cứu và chất lượng thông tin.

+ Tất cả các thành viên trong nhóm nghiên cứu nên được lựa chọn cẩn thận, được đào tạo chuyên môn và hỗ trợ liên tục.

Thiết kế nghiên cứu phải bao gồm các hành động nhằm giảm thiểu bất kỳ sự cố nào có thể gây hại cho đối tượng tham gia nghiên cứu Điều này được thực hiện thông qua đánh giá rủi ro kỹ lưỡng, xây dựng và triển khai các biện pháp phòng ngừa, cũng như thiết lập quy trình ứng phó sự cố và giám sát liên tục trong suốt quá trình nghiên cứu Các biện pháp an toàn còn bao gồm đào tạo cho đội ngũ nghiên cứu, bảo vệ sức khỏe và quyền tự chủ của người tham gia, đồng thời bảo mật thông tin và tuân thủ các chuẩn mực đạo đức và pháp lý liên quan Mục tiêu là đảm bảo an toàn, tin cậy và chất lượng dữ liệu thu thập được, đồng thời tăng sự đồng thuận của người tham gia và sự chấp thuận từ cộng đồng nghiên cứu.

Các nhà nghiên cứu thực địa nên được đào tạo bài bản để giới thiệu đối tượng nghiên cứu khi có yêu cầu hỗ trợ từ các dịch vụ địa phương, nhằm đảm bảo quá trình liên lạc diễn ra chuyên nghiệp và có thể kiểm soát được các rủi ro Đào tạo này giúp họ trình bày mục đích nghiên cứu, quyền từ chối tham gia và thỏa thuận tham gia một cách minh bạch, đồng thời bảo vệ quyền riêng tư và sự an toàn của người tham gia Khi nhận được sự hỗ trợ từ phía dịch vụ địa phương, nhà nghiên cứu cần phối hợp chặt chẽ để đảm bảo thông tin phù hợp với từng hoàn cảnh và tuân thủ các chuẩn mực đạo đức nghiên cứu Việc chuẩn hóa quy trình giới thiệu đối tượng nghiên cứu còn tăng tính tin cậy, tối ưu hóa quá trình thu thập dữ liệu và đáp ứng các quy định pháp lý liên quan đến bảo vệ dữ liệu và quyền lợi của cộng đồng địa phương.

33 các nguồn hỗ trợ Nơi có ít nguồn hỗ trợ, có thể cần thiết cho nghiên cứu để tạo ra các nguồn hỗ trợ ngắn hạn.

Các nhà nghiên cứu và nhà tài trợ có nghĩa vụ đạo đức đảm bảo rằng thông tin của người tham gia nghiên cứu được diễn giải một cách chính xác và được sử dụng đúng đắn để thúc đẩy phát triển các chính sách can thiệp hiệu quả Việc diễn giải dữ liệu phải dựa trên bằng chứng, minh bạch và tôn trọng quyền riêng tư của người tham gia, nhằm đảm bảo tính toàn vẹn và tin cậy của kết quả nghiên cứu Khi thông tin được sử dụng đúng đắn, nó có thể hỗ trợ các quyết định chính sách mang lại tác động xã hội tích cực và tối ưu hóa hiệu quả của các can thiệp Do đó sự phối hợp giữa các nhà khoa học và nhà tài trợ là cần thiết để đảm bảo dữ liệu được chuyển hóa thành chính sách can thiệp chất lượng và phù hợp với nhu cầu thực tế.

Câu hỏi về bạo lực chỉ nên được đưa vào các cuộc khảo sát khi chúng được thiết kế cho mục đích khác và có thể đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về đạo đức và phương pháp luận Việc tích hợp nội dung này đòi hỏi sự cân nhắc nghiêm ngặt về cách thu thập dữ liệu, sự đồng thuận thông tin và bảo vệ quyền riêng tư của người tham gia, đồng thời đảm bảo tính khách quan và độ tin cậy của kết quả Do đó, chỉ những khảo sát có thiết kế chặt chẽ và mục đích rõ ràng mới có thể lồng ghép các câu hỏi liên quan đến bạo lực mà vẫn duy trì chuẩn mực đạo đức và chất lượng nghiên cứu.

Trong nghiên cứu can thiệp, các vấn đề đạo đức được đặt lên hàng đầu nhằm bảo đảm bảo mật thông tin và chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu Thông tin của người tham gia ĐTNC được giữ bí mật và dữ liệu thu thập chỉ được dùng cho nghiên cứu, nhằm bảo vệ quyền riêng tư và an toàn của họ Điều tra viên có trách nhiệm giải thích rõ phạm vi, quy trình và quyền của người tham gia, đồng thời đảm bảo sự tự nguyện tham gia Đồng thời, họ có thể giới thiệu các nhóm hoạt động và trung tâm tư vấn hỗ trợ cho phụ nữ bị bạo lực khi họ cần sự giúp đỡ.

KẾT QUẢ

Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Thông tin chung của phụ nữ phá thai (n = 422)

Thông tin chung Số lượng Tỷ lệ (%) Nhóm tuổi

THCS/THPT 121 28,6 Đại học/Cao đẳng/Trung cấp 243 57,6

Tỉnh khác ngoài Hà Nội 60 14,2

Thông tin chung Số lượng Tỷ lệ (%)

Nhân viên công ty tư nhân 141 33,4

Tình trạng hôn nhân Độc thân 10 2,4

Có người yêu nhưng không sống cùng 42 10,0

Sống cùng người yêu 25 5,9 Đã kết hôn và sống cùng chồng 336 79,6 Đã kết hôn nhưng sống xa chồng/Đã li dị 9 2,1

Phụ thuộc một phần vào người khác 63 14,9

Phụ thuộc hoàn toàn vào người khác 39 9,2

Trung bình ± SD 8,1 ± 5,9 triệu đồng

Kết quả cho thấy tổng số đối tượng tham gia nghiên cứu là 422 người, ở độ tuổi từ 16 đến 49, trong đó 59,8% ở nhóm tuổi 25–35 Nhóm này chủ yếu là người dân tộc Kinh và không theo tôn giáo nào Hơn hai phần ba đối tượng có trình độ học vấn từ Trung cấp trở lên Về nghề nghiệp, nhóm chiếm tỷ lệ cao nhất là nhân viên công ty tư nhân (33,4%), tiếp đến là cán bộ viên chức (26,8%), trong khi nông dân là nhóm có tỷ lệ thấp nhất (4,3%) Khoảng 51,7% sống ở nội thành Hà Nội Phần lớn đối tượng đã kết hôn và tự lập về mặt tài chính với mức thu nhập trung bình là 8,1 triệu đồng.

Bảng 3.2 Tiền sử sinh sản của phụ nữ phá thai (n = 422)

Thông tin chung Số lượng Tỷ lệ (%)

Tuổi mang thai lần đầu

Kết quả cho thấy tuổi mang thai lần đầu cao nhất ở nhóm từ 20–29 tuổi, chiếm 83,9%, và tuổi mang thai lần đầu sớm nhất là 14 tuổi, muộn nhất là 41 tuổi Tại thời điểm phỏng vấn, có 62,1% đối tượng mang thai 3 lần trở lên; 86,7% không có tiền sử thai lưu; 88,2% không có tiền sử sẩy thai; 95,7% không có tiền sử sinh non và 72,5% chưa từng phá thai trước đó.

3.1.3 Thông tin về lần mang thai này

Bảng 3.3 Thông tin về lần mang thai này của phụ nữ phá thai (n =

Thông tin chung Số lượng Tỷ lệ (%)

Tuổi thai khi phát hiện

Số ngày quyết định phá thai

Bệnh tật của người mẹ 29 6,9

Bệnh tật của thai nhi 65 15,4 Đã đủ số con mong muốn 137 32,4

Giới tính thai nhi không như mong đợi 25 5,9

Tính chất công việc không cho phép 40 9,5

Sự phản đối từ phía bạn tình 32 7,6

Chủ động muốn có thai

Thông tin chung Số lượng Tỷ lệ (%)

Trung bình đối tượng phát hiện mang thai lúc 5,4 tuần và mất 9 ngày cho việc ra quyết định phá thai, trong đó ít nhất 1 ngày và nhiều nhất

Trong 90 ngày khảo sát, tuổi thai khi phá thai cao nhất ở nhóm mang thai ≤ 12 tuần chiếm 86,5%, và 82,9% đối tượng không biết giới tính thai nhi trước khi phá Lý do quyết định chấm dứt thai kỳ phổ biến nhất là đã đủ số con mong muốn (32,4%), trong khi lý do ít gặp nhất là gia đình đối tượng không đồng ý (3,1%) Trong lần mang thai này, 75,4% phụ nữ cho biết không chủ động muốn có thai.

Thực trạng bạo lực bạn tình của đối tượng nghiên cứu

Trong quá trình mang thai

Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ bị bạo lực bạn tình của phụ nữ trong cuộc đời và quá trình mang thai

Kết quả nghiên cứu cho thấy có 58,5% đối tượng từng bị bạo lực trong đời ở bất kỳ hình thức nào, trong đó 19,0% bị một loại bạo lực, 17,8% bị hai loại và 21,7% bị cả ba loại Trong lần mang thai này, tác động của bạo lực lên sức khỏe thai kỳ và sự an toàn của người mẹ được xem xét, đồng thời gợi ý cần có các biện pháp can thiệp sớm và hỗ trợ tâm lý phù hợp để bảo đảm thai kỳ an toàn.

Kết quả cho thấy 53,1% đối tượng trong mẫu nghiên cứu đã trải qua ít nhất một loại bạo lực từ bạn tình Cụ thể hơn, 28,9% bị một loại bạo lực, 17,5% bị hai loại và 6,7% bị cả ba loại bạo lực.

Tr on g 1 2 t há ng qu a

Bạo lực tinh thần Bạo lực thể xác Bạo lực tình dục Đ ơn v ị: %

Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ bị các hình thức bạo lực của phụ nữ các giai đoạn trong đời

Biểu đồ 3.2 cho thấy đối tượng bị BLTT chiếm tỷ lệ cao nhất trong đời sống với 58,1%, trong khi BLTD có tỷ lệ thấp nhất là 27,5% Trong 1 năm gần đây, xu hướng vẫn cho thấy BLTT ở mức cao nhất là 56,4% và BLTD ở mức thấp nhất là 25,6%.

Và trong lần mang thai này, tỷ lệ đối tượng bị BLTT, BLTX, BLTD lần lượt là 52,6%, 20,1%, 10,7%.

Một số yếu tố liên quan đến bạo lực do bạn tình của ĐTNC trong lần mang thai này

3.3.1 Một số yếu tố liên quan đến bạo lực tinh thần của phụ nữ phá thai

Bảng 3.4 Mối liên quan giữa BLTT và đặc điểm cá nhân của ĐTNC Đặc điểm

OR 95% CI n (%)Có Không n (%) Nhóm tuổi

Nội trợ/Thất nghiệp/HSSV 27 (43,5) 35 (56,5) 1

CBVC/Nhân viên công ty tư nhân 133

Công nhân/Nông dân/Buôn bán 62 (58,5) 44 (41,5) 1,1 0,5 – 1,7

Tình trạng hôn nhân Đã kết hôn 175

(48,4) 1Phụ thuộc vào người khác 57 (55,9) 45 (44,1) 1,4 0,7 – 2,7

Kết quả phân tích cho thấy đối tượng CBVC/nhân viên công ty tư nhân có nguy cơ bị BLTT cao hơn đáng kể, gấp 2,7 lần so với nhóm Nội trợ/Thất nghiệp/HSSV, với khoảng tin cậy 95% từ 1,2 đến 6,1.

Bảng 3.5 Mối liên quan giữa BLTT và một số yếu tố nguy cơ từ bạn tình Đặc điểm

Nội trợ/Thất nghiệp/HSSV 13 (54,2) 11 (45,8) 1

CBVC/Nhân viên công ty tư nhân 132

(44,8) 0,4 0,1 – 1,0 Công nhân/Nông dân/Buôn bán 77 (48,4) 82 (51,6) 0,4 0,2 – 0,7

Chủ động muốn có thai

Sống cùng gia đình bạn tình

Những đối tượng có bạn tình mới tốt nghiệp THCS/THPT có khả năng bị BLTT cao gấp 2,5 lần (95% CI: 1,4 – 4,4) so với những đối tượng có bạn tình có trình độ học vấn từ trung cấp trở lên Những đối tượng có bạn tình uống rượu bia có nguy cơ bị BLTT cao gấp 3 lần (95% CI: 1,8 – 5,2) so với những đối tượng có bạn tình không uống rượu bia.

Bảng 3.6 Mối liên quan giữa BLTT và một số đặc điểm sản khoa Đặc điểm

Giới tính con Đã có con trai 102

Những đối tượng đã biết giới tính thai nhi là con trai có nguy cơ bị BLTT cao gấp 2,5 lần (95% CI: 1,1 – 5,7) so với những đối tượng không biết giới tính thai nhi, và những đối tượng đã biết giới tính thai nhi là con gái có nguy cơ bị BLTT cao gấp 4,2 lần (95% CI: 1,5 – 11,7) so với những đối tượng không biết giới tính thai nhi Nhóm phá thai vì các nguyên nhân sức khỏe có nguy cơ bị BLTT cao gấp 1,8 lần (95% CI: 1,1 – 2,9) so với nhóm phá thai do nguyên nhân khác không từ sức khỏe.

3.3.2 Một số yếu tố liên quan đến bạo lực thể xác hoặc bạo lực tình dục của phụ nữ phá thai

Bảng 3.7 trình bày mối liên hệ giữa BLTX (bạo lực thể xác) và BLTD (bạo lực tình dục) với các đặc điểm cá nhân của ĐTNC, thể hiện ở từng đặc điểm dưới dạng n và n (%), kèm theo các giá trị OR (95% CI) để ước lượng mức nguy cơ bị bạo lực đối với mỗi loại Phân tích được triển khai theo các đặc điểm cá nhân và nhóm tuổi nhằm xác định những nhóm có nguy cơ bị BLTX hoặc BLTD cao hơn, từ đó cho thấy sự khác biệt giữa các nhóm tuổi và các đặc điểm cá nhân trong mức độ bị bạo lực Các kết quả này cung cấp thông tin về các yếu tố liên quan và hỗ trợ các chiến lược can thiệp hướng đến giảm tỷ lệ bị bạo lực ở ĐTNC.

Nội trợ/Thất nghiệp/HSSV 9 (14,5) 1 7 (11,3) 1

CBVC/Nhân viên công ty tư nhân

Công nhân/Nông dân/Buôn bán

Tình trạng hôn nhân Đã kết hôn 76

Tình trạng kinh tế Đặc điểm

Bạo lực thể xác Bạo lực tình dục n (%) bị bạo lực OR (95% CI) n (%) bịbạo lực OR (95% CI)

(19,7) Phụ thuộc vào người khác

11,6 ) Chủ động muốn có thai

Những đối tượng trên 35 tuổi có nguy cơ bị BLTX cao gấp 2,6 lần (95% CI: 1,4 – 5,0) và BLTD cao gấp 3 lần (95% CI: 1,3 – 6,9) so với những đối tượng trẻ hơn 35 tuổi; những đối tượng là CBVC/Nhân viên công ty tư nhân có nguy cơ bị BLTD cao gấp 5,2 lần (95% CI: 1,7 – 15,9) so với những đối tượng là Nội trợ/Thất nghiệp/HSSV; nhóm đối tượng phụ thuộc kinh tế vào người khác có nguy cơ bị BLTD cao gấp 4,8 lần (95% CI: 2,0 – 11,6) so với nhóm tự lập về kinh tế.

Bảng 3.8 Mối liên quan giữa BLTX, BLTD và một số yếu tố nguy cơ từ bạn tình Đặc điểm

Bạo lực thể xác Bạo lực tình dục n (%) bị bạo lực OR (95% CI) n (%) bịbạo lực OR (95% CI) Nhóm tuổi

Nội trợ/Thất nghiệp/HSSV 1 (4,2) 1 2 (8,3) 1

CBVC/Nhân viên công ty tư nhân

49 (20,5) 3,8 (0,5 – 32,4) 15 (6,3) 1,7 (0,3 – 8,5) Công nhân/Nông dân/Buôn bán

(10,1) 1 Đặc điểm Bạo lực thể xác Bạo lực tình dục n (%) bị bạo lực OR (95% CI) n (%) bịbạo lực OR (95% CI) Chủ động muốn có thai

(11,6) 2,5 (1,1 – 6,1) Sống cùng gia đình bạn tình

Trong nghiên cứu này, những người có bạn tình mới tốt nghiệp THCS/THPT có nguy cơ bị BLTX cao gấp 4,1 lần (95% CI: 1,8 – 9,2) và BLTD cao gấp 5,7 lần (95% CI: 2,2 – 14,8) so với những người có bạn tình có trình độ học vấn từ trung cấp trở lên.

Những người có bạn tình uống rượu bia có nguy cơ bị BLTX cao gấp 7,6 lần (95% CI: 2,6 – 22,5) và nguy cơ bị BLTD cao gấp 7,1 lần (95% CI: 1,7 – 32,9) so với những người có bạn tình không uống rượu bia Nhóm đối tượng có bạn tình sử dụng ma túy có nguy cơ bị BLTD cao gấp 7 lần (95% CI: 1,3 – 38,2) so với nhóm đối tượng có bạn tình không sử dụng ma túy.

Ở lần mang thai này, nhóm đối tượng có bạn tình chủ động muốn có thai có nguy cơ bị BLTD cao gấp 2,5 lần so với nhóm đối tượng có bạn tình không muốn có thai Khoảng tin cậy 95% (CI 1,1–6,1) cho thấy mức chênh lệch này là đáng kể về mặt thống kê.

Bảng 3.9 Mối liên quan giữa BLTX, BLTD và một số đặc điểm sản khoa Đặc điểm

Bạo lực thể xác Bạo lực tình dục n (%) bị bạo lực OR (95% CI) n (%) bịbạo lực OR (95% CI)

Giới tính con Đã có con trai 46

Con trai 6 (16,2) 2,7 (1,2 – 6,0) 4 (10,8) 1,2 (0,4 – 3,8) Đặc điểm Bạo lực thể xác Bạo lực tình dục n (%) bị bạo lực OR (95% CI) n (%) bịbạo lực OR (95% CI)

Việc biết giới tính thai nhi làm tăng nguy cơ mắc BLTX so với nhóm chưa biết giới tính: thai nhi là con trai được biết có nguy cơ cao gấp 2,7 lần (95% CI: 1,2 – 6,0), còn thai nhi là con gái được biết có nguy cơ cao gấp 2,9 lần (95% CI: 1,1 – 9,5) Thêm vào đó, phụ nữ mang thai từ 3 lần trở lên có nguy cơ bị BLTX cao gấp 3,7 lần so với nhóm mang thai từ 1–2 lần (95% CI: 1,7 – 8,2) Lịch sử phá thai cũng liên quan, với nhóm có tiền sử phá thai có nguy cơ bị BLTD cao gấp 2,1 lần (95% CI: 1,1 – 4,5) so với nhóm không có tiền sử phá thai.

BÀN LUẬN

Thực trạng bạo lực bạn tình ở phụ nữ phá thai

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ phụ nữ bị bạo lực tinh thần trong đời cao nhất trong ba hình thức bạo lực, đạt 58,1%, so với bạo lực thể xác 35,3% và bạo lực tình dục 27,5% Kết quả này tương đồng với nghiên cứu quốc gia về bạo lực gia đình ở Việt Nam năm 2010 và nghiên cứu của Nguyễn Thị Vân Anh (2011) khi lần lượt ghi nhận 53,6% và 80,3% bị bạo lực tinh thần từ bạn tình [20],[44] Trong các hình thức bạo lực, bạo lực tinh thần phổ biến nhất, với 53,6% bị bạo lực tinh thần trong đời và 25,4% trong 1 năm gần đây; tiếp đến là bạo lực thể xác 31,5% và 6,4%, và thấp nhất là bạo lực tình dục 9,9% và 4% [51] Tuy nhiên, tỷ lệ các hình thức bạo lực theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Vân Anh (2011) cao hơn đáng kể: 80,3% bạo lực tinh thần, 66,2% bạo lực thể xác và 13,3% bạo lực tình dục [20], do mẫu nghiên cứu được triển khai tại các bệnh viện, phụ nữ là nạn nhân bị bạo lực và cán bộ y tế là người trực tiếp tiếp cận, chăm sóc, hỗ trợ phụ nữ bị bạo lực, khi được thăm khám, hỏi han trong không gian riêng tư nên dễ khai báo Trong khi đó, nghiên cứu của chúng tôi chọn các phụ nữ đến bệnh viện phá thai, với tinh thần bất ổn và chủ đề nhạy cảm sẽ khiến họ e ngại và dè dặt khi chia sẻ tình trạng bị bạo lực.

Kết quả nghiên cứu cho thấy trong lần mang thai này, tỷ lệ phụ nữ bị

10,7% Kết quả này tương đồng với một số nghiên cứu khác trên thế giới, nghiên cứu của Simukai Shamu (2013) cho thấy có 63,1% phụ nữ có ít nhất một trong ba loại bạo lực về thể xác, tình dục và tinh thần trong thời gian mang thai; trong đó 44% bạo lực tinh thần, 38,9% bạo lực tình dục và 15,9% bạo lực thể xác [35]; nghiên cứu ở Bangladesh năm 2017 đã ghi nhận một tỷ lệ tương tự là 65% bạo lực tinh thần, 35,2% bạo lực tinh thần và 18,5% bạo lực tình dục [37] Nhưng tỷ lệ lại không tương đồng với nghiên cứu tỷ lệ bạo hành gia đình ở những phụ nữ sống ở Thành phố Hồ Chí Minh đến sinh ở Bệnh Viện Hùng Vương, trong nghiên cứu này tỷ lệ hiện mắc của bạo hành gia đình theo bảng câu hỏi AAS là 23,8% và theo bảng câu hỏi CTS2 tỷ lệ bạo hành là 10,1% về thể xác, 41,9% về tinh thần, và 29,4% về tình dục trong thai kỳ [46] Sự khác nhau này là do mỗi nghiên cứu sử dụng thang đo bạo lực khác nhau Trong nghiên cứu này, chúng tôi đánh giá các hình thức bạo lực bằng bảng câu hỏi của Nghiên cứu đa quốc gia của WHO về Sức khỏe phụ nữ và Bạo lực gia đình đối với Phụ nữ.

Khi kết hợp các hình thức bạo lực trong lần mang thai này, có 53,1% bị ít nhất một trong ba loại hình thức bạo lực (bạo lực tinh thần, bạo lực thể xác, bạo lực tình dục), kết quả này tương đồng với nghiên cứu tạiThành phố Hồ Chí Minh với tỷ lệ 53,1% phụ nữ bị ít nhất một hình thức bạo lực bất kỳ [46] Tỷ lệ này cao hơn một số nghiên cứu trên thế giới, đối tượng phụ nữ sau sinh ở khu vực thu nhập thấp Zimbabwe (2013), cho thấy có 63,1% phụ nữ có ít nhất một trong ba loại bạo lực về thể xác, tình dục và tinh thần trong thời gian mang thai [35], phụ nữ mang thai ởBangladesh (2017) có 66,4% đã trải qua bất kỳ hình thức bạo lực nào trong thai kỳ [37] Ngược lại, với nghiên cứu ở Ethiopia (2016) cho ra tỷ lệ bạo lực thấp hơn là 44,5% [36] và ở đối tượng phụ nữ mang thai tham gia

Nghiên cứu dựa trên 53 lượt chăm sóc tiền sản tại Phòng khám Outapi ở Namibia (2017) cho thấy tỷ lệ phụ nữ từng trải qua bạo lực ở mức rất thấp, chỉ 10,1% [38] Sự khác biệt này so với một số nghiên cứu trên thế giới có thể được giải thích bởi sự bất đồng về đặc điểm của đối tượng nghiên cứu và phương pháp thu thập dữ liệu.

Một số yếu tố liên quan đến bạo lực bạn tình ở phụ nữ phá thai

 Yếu tố liên quan đến đặc điểm cá nhân của người phụ nữ

Nghiên cứu cho thấy phụ nữ là cán bộ viên chức/nhân viên công ty tư nhân có nguy cơ bị bạo lực tinh thần cao hơn so với những phụ nữ ở các nghề không yêu cầu trình độ cao (công nhân, nông dân buôn bán) và những người chưa đi làm (nội trợ, thất nghiệp, học sinh, sinh viên) Nguyên nhân được cho là họ có trình độ học vấn cao hơn và có hiểu biết về vấn đề bạo lực nói chung cùng bạo lực tinh thần nói riêng, từ đó dễ dàng nhận biết và đánh giá các hành vi bạo lực tinh thần từ bạn tình Một số nghiên cứu cũng cho thấy có mối liên hệ giữa trình độ học vấn của phụ nữ và bạo lực tinh thần [25],[47], tuy nhiên trong nghiên cứu này lại không tìm thấy sự khác biệt.

Nhóm phụ nữ trên 35 tuổi có nguy cơ bị bạo lực thể xác hoặc bạo lực tình dục cao hơn so với những đối tượng trẻ hơn 35 tuổi Kết quả này tương đồng với một nghiên cứu ở huyện Ba Vì, Hà Nội năm 2010 cho thấy tỷ lệ bạo lực thể xác ở phụ nữ mang thai cao nhất ở nhóm 40–49 tuổi (39%), giảm ở các lứa tuổi trẻ hơn Tuy nhiên, kết quả này lại không tương đồng với một số nghiên cứu trên thế giới cho thấy tỷ lệ bạo lực tương đối ổn định ở các nhóm tuổi trẻ, thường tập trung ở nhóm 25–35 tuổi và phụ nữ trẻ luôn là nạn nhân của bạo lực thể xác hoặc bạo lực tình dục hơn phụ nữ lớn tuổi Sự chưa tương đồng này có thể được lý giải do sự chưa đồng nhất về một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu và sự khác biệt về văn hóa xã hội giữa các khu vực.

Phụ nữ phụ thuộc kinh tế có nguy cơ bị bạo lực tình dục cao gấp 4,3 lần so với nhóm tự lập về kinh tế Từ xưa, nền văn hóa phong kiến với những định kiến giới như trọng nam khinh nữ, chồng chúa vợ tôi và tính gia trưởng của đàn ông đã ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã hội Các quan niệm này khiến nhiều người chồng cho rằng họ là trụ cột gia đình và có quyền quyết định mọi việc Khi phụ nữ không tự lập về kinh tế, giá trị của họ dễ bị xem nhẹ và nguy cơ bị bạo lực càng cao Nghiên cứu ở Thái Lan cho thấy phụ nữ tự lập về kinh tế và biết tiết kiệm có khả năng giảm nguy cơ bị bạo lực so với những người có kinh tế nhưng thiếu kỹ năng quản lý tài chính.

Trong nhiều nghiên cứu khác nhau, người ta chỉ ra sự khác biệt giữa thực trạng bạo lực và những trải nghiệm về bạo lực, như tình trạng bị bạo lực khi còn nhỏ và chứng kiến mẹ bị bạo lực từ chính cha đẻ, cho thấy tác động sâu sắc của bạo lực gia đình lên nạn nhân [33],[45],[46],[51].

Tuy nhiên, nghiên cứu này không xem xét lịch sử đời sống của người phụ nữ, nên không thể thiết lập mối liên hệ giữa các yếu tố được đề cập và vấn đề bạo lực Điều này cho thấy phạm vi phân tích bị giới hạn và làm nổi bật sự cần thiết của các nghiên cứu tiếp theo nhằm làm rõ vai trò của hoàn cảnh sống và kinh nghiệm cá nhân đối với hiện tượng bạo lực.

 Yếu tố từ bạn tình

Kết quả nghiên cứu cho thấy trình độ học vấn, hành vi uống rượu bia và việc sử dụng ma túy của bạn tình có liên quan đến các hành vi bạo lực trong quan hệ Những phát hiện này cho thấy các yếu tố này đóng vai trò như yếu tố nguy cơ và nhấn mạnh nhu cầu can thiệp sớm, tăng cường giáo dục và hỗ trợ cho người bị ảnh hưởng.

Những phụ nữ có bạn tình mới có trình độ học vấn THCS/THPT có khả năng bị bạo lực tinh thần, bạo lực thể xác hoặc bạo lực tình dục cao hơn những phụ nữ có bạn tình có trình độ từ trung cấp trở lên Điều này cho thấy trình độ học vấn thấp của bạn tình liên quan đến nguy cơ bạo lực cao hơn Sự hiểu biết về xã hội và luật bình đẳng giới của bạn tình sẽ làm giảm nguy cơ gây bạo lực đối với phụ nữ của chính mình Điều này tương đồng với một số nghiên cứu trước đây [43],[45].

Phụ nữ có bạn tình uống rượu bia có nguy cơ bị bạo lực tinh thần cao gấp 3,1 lần, bạo lực thể xác cao gấp 7 lần và bạo lực tình dục cao gấp 8,5 lần so với những phụ nữ có bạn tình không uống rượu bia, và những kết quả này được chứng thực qua nhiều nghiên cứu khác nhau Nghiên cứu của Dương Anh Tiểu Linh cho thấy phụ nữ có chồng uống rượu có nguy cơ bị bạo lực suốt đời cao gấp 2,5 lần so với những phụ nữ có chồng không uống rượu Theo nghiên cứu của UNFPA về bạo lực đối với phụ nữ, hành vi uống rượu và đánh nhau của người chồng có ảnh hưởng đến tình trạng bạo lực đối với người phụ nữ, đặc biệt trong thời gian mang thai Các nghiên cứu ở Ấn Độ và Bolivia cũng cho thấy hành vi sử dụng rượu bia của bạn tình liên quan đến tình trạng bạo lực mà phụ nữ phải chịu.

Cũng như hành vi uống rượu bia, những đối tượng có bạn tình sử dụng ma túy có nguy cơ bị bạo lực tình dục cao gấp 6,7 lần so với những người có bạn tình không sử dụng ma túy Kết quả này tương đồng với nghiên cứu ở Ai Cập năm 2015, cho thấy phụ nữ mang thai có tỷ lệ bạo lực cao hơn khi bạn tình của họ nghiện ma túy Những bằng chứng này cho thấy mối liên hệ giữa nghiện ma túy ở bạn tình và bạo lực tình dục, đồng thời nhấn mạnh nhu cầu có biện pháp phòng ngừa và can thiệp để giảm nguy cơ cho phụ nữ và các cá nhân có quan hệ tình dục.

Một số yếu tố liên quan được nhắc đến trong các nghiên cứu trước, ví dụ yếu tố tôn giáo [36],[46],[51], nhưng ở nghiên cứu này chưa ghi nhận bằng chứng cho thấy các yếu tố đó có ảnh hưởng đến hành vi bạo lực đối với phụ nữ mang thai.

 Một số đặc điểm sản khoa

Những người biết giới tính thai nhi là con gái có nguy cơ bị bạo lực tinh thần hoặc bạo lực thể xác cao hơn so với những người biết thai nhi là con trai hoặc không biết giới tính thai nhi Nghiên cứu ở Ấn Độ xem xét mối liên hệ giữa sở thích sinh con trai của chồng, giới tính thai nhi và nguy cơ bạo lực thể xác và tình dục; kết quả cho thấy sở thích sinh con trai của chồng và giới tính thai nhi không liên quan đến các hình thức bạo lực, sự khác biệt này có thể giải thích do mẫu nghiên cứu chưa đồng nhất và sự khác biệt văn hóa giữa các quốc gia Như vậy, kết quả phản ánh một phần bất bình đẳng giới và quan niệm trọng nam khinh nữ đã ăn sâu vào tiềm thức người dân Bên cạnh đó, những đối tượng phá thai vì giới tính thai nhi không mong muốn có khả năng lặp lại phá thai do tiếp tục phải lựa chọn giới tính thai nhi [66].

Phụ nữ phá thai do nguyên nhân sức khỏe của mẹ và thai nhi có nguy cơ chịu bạo lực tinh thần cao hơn so với phụ nữ phá thai vì nguyên nhân không liên quan đến sức khỏe Nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Đức năm 2014 tại Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương cho thấy 77,3% phụ nữ cho rằng phá thai là biện pháp bất đắc dĩ, chỉ thực hiện trong những trường hợp bắt buộc, và 30,2% cho rằng phá thai là trái với đạo đức/ chuẩn mực của xã hội hay tôn giáo.

Trong văn hóa, xã hội và tôn giáo Việt Nam, phá thai vẫn mang nặng định kiến và bị phê phán mạnh, đặc biệt khi việc phá thai không xuất phát từ vấn đề sức khỏe của người mẹ hoặc thai nhi Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng phá thai là hành vi vô nhân đạo và gây ảnh hưởng tiêu cực đến nhận thức đạo đức về phụ nữ Với nhóm vị thành niên và thanh niên ngày nay, vẫn có tới 77,2% đối tượng được hỏi cho rằng phá thai là điều không thể chấp nhận Theo xu hướng xã hội, thai sớm được xem là rào cản hạn chế cơ hội thăng tiến trong học tập và công việc Ngay cả với những người trẻ từng phá thai, họ thường không hài lòng với quyết định và cho rằng phá thai là một thất bại trong cuộc sống Do đó, những phụ nữ đến phá thai vẫn đối mặt với sự bất đồng và tiêu cực; khi phá thai xuất phát từ sức khỏe, họ dễ gặp cảm xúc tiêu cực, và việc phá thai do bản thân không chăm sóc tốt cho thai nhi có thể dẫn đến áp lực và bạo lực tinh thần từ bạn tình.

Nhóm phụ nữ mang thai từ ba lần trở lên có nguy cơ bị bạo lực thể xác cao gấp 3,7 lần so với những phụ nữ mang thai từ 1 – 2 lần Những người có tiền sử phá thai có nguy cơ bị bạo lực tình dục cao gấp 2,1 lần so với những người không có tiền sử phá thai Những phụ nữ đã từng phá thai hoặc mang thai nhiều lần có thể vì lựa chọn giới tính thai nhi Khi phụ nữ có khả năng sinh con thứ ba hoặc nhiều hơn, tình trạng kinh tế của gia đình gặp nhiều khó khăn, nhiều cặp vợ chồng phải bươn chải để kiếm sống, những mâu thuẫn về kinh tế khiến căng thẳng và ức chế tâm lý gia tăng, dẫn tới tranh cãi và cuối cùng nam giới thường dùng sức mạnh của mình để đánh đập và chửi bới người phụ nữ.

Hạn chế của nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành khảo sát tại Khoa Kế hoạch hóa Gia đình, Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội, một bệnh viện chuyên khoa Sản thuộc thành phố lớn Thiết kế của nghiên cứu theo phương pháp mô tả cắt ngang nhằm thăm dò các yếu tố có liên quan, nhưng không xác định được mối quan hệ nhân quả Vì vậy, việc ngoại suy kết quả cho các quần thể ở các tỉnh thành có điều kiện kinh tế - xã hội khác, vùng miền khác cũng như trên toàn quốc cần được thận trọng.

Nghiên cứu tập trung vào vấn đề bạo lực với phụ nữ, một chủ đề nhạy cảm có thể ảnh hưởng đến độ tin cậy của dữ liệu khi người tham gia có thể không trung thực Để khắc phục sai số và đảm bảo thông tin được cung cấp một cách trung thực, chúng tôi tiến hành phỏng vấn tại địa điểm riêng tư và an toàn, ở đó không có sự có mặt của người thân hoặc các yếu tố áp lực từ bên ngoài, giúp đối tượng tự tin chia sẻ trải nghiệm và quan điểm một cách chân thật.

Các nghiên cứu hiện nay chủ yếu khai thác tâm lý và hành vi, vì vậy cần bổ sung thêm các nghiên cứu ứng dụng phương pháp nghiên cứu định tính để đi sâu tìm hiểu các vấn đề và cung cấp cái nhìn sâu sắc, toàn diện hơn cho lĩnh vực.

Trên toàn cầu và tại Việt Nam, có rất ít nghiên cứu tập trung vào đối tượng phụ nữ phá thai, đây là một hạn chế đáng kể của nghiên cứu khi thiếu nguồn dữ liệu để so sánh và tổng hợp kết quả Sự khan hiếm dữ liệu làm giảm khả năng so sánh giữa các nhóm người, khu vực và thời gian, đồng thời làm giảm độ tin cậy của các kết luận Vì vậy, cần tăng cường thu thập dữ liệu và thiết kế nghiên cứu có phạm vi rộng, đại diện đa khu vực và đa nhóm để cải thiện chất lượng phân tích và ý nghĩa của các kết quả.

Ngày đăng: 31/03/2022, 10:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Yitbarek K., Woldie M., and Abraham G. (2019). Time for action:Intimate partner violence troubles one third of Ethiopian women.PLoS ONE, 14(5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Intimate partner violence troubles one third of Ethiopian women
Tác giả: Yitbarek K., Woldie M., and Abraham G
Năm: 2019
10. World Health Organization (2005). The world health report - NotEvery Pregnancy is Welcome.<https://www.who.int/whr/2005/chapter3/en/index3.html>, accessed: 06/22/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Every Pregnancy is Welcome
Tác giả: World Health Organization
Năm: 2005
44. Tổng cục Thống kê Việt Nam, Quỹ phát triển Mục tiêu thiên niên kỷ, Cơ quan phát triển và hợp tác quốc tế Tây Ban Nha, et al. (2010). “Chịu nhịn là chết đấy” - Kết quả từ Nghiên cứu quốc gia về bạo lực gia đình với phụ nữ ở Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chịunhịn là chết đấy
Tác giả: Tổng cục Thống kê Việt Nam, Quỹ phát triển Mục tiêu thiên niên kỷ, Cơ quan phát triển và hợp tác quốc tế Tây Ban Nha, et al
Năm: 2010
1. García-Moreno C., Jansen H.A.F.M., Ellsberg M., et al. (2005). WHO Multi-country Study on Women’s Health and Domestic Violence against Women: Initial results on prevalence, health outcomes and women’s responses. World Health Organization. Geneva Khác
2. Nguyễn Thị Hồng Thủy (2015). Bạo lực gia đình và những hệ quả của nó. Nghiên cứu khoa học, 9 Khác
4. Semahegn A. and Mengistie B. (2015). Domestic violence against women and associated factors in Ethiopia; systematic review. Reprod Health, 12, 78 Khác
6. Krug E.G., Mercy J.A., Dahlberg L.L., et al. (2002). The world report on violence and health. Lancet (London, England), 360(9339), 1083– Khác
9. Công an Đà Nẵng (2019). Bạo lực phụ nữ và trẻ em gái: Thực trạng và giải pháp phòng chống Khác
11. Pathfinder International (2008). Cải thiện chất lượng chăm sóc sức khoẻ sinh sản ở Việt Nam - Tổng quan về Dự án Sức khoẻ sinh sản Khác
12. Tổng cục Dân số Kế hoạch hóa gia đình (2014). Truyền thông dân số - Kế hoạch hóa gia đình Khác
13. World Health Organization (2009). Women and health: today’s evidence tomorrow’s agenda. <http://www.who.int/gender-equity-rights/knowledge/9789241563857/en/>, accessed: 06/20/2019 Khác
14. Wong J. and Mellor D. (2014). and women’s health and wellbeing:impacts, risk factors and responses. Contemp Nurse, 46(2), 170–179 Khác
15. Sarkar N.N. (2008). The impact of intimate partner violence on women’s reproductive health and pregnancy outcome. J Obstet Gynaecol J Inst Obstet Gynaecol, 28(3), 266–271 Khác
16. Berhanie E., Gebregziabher D., Berihu H., et al. (2019). Intimate partner violence during pregnancy and adverse birth outcomes: a case-control study. Reprod Health, 16 Khác
17. Groves A.K., Moodley D., McNaughton-Reyes L., et al. (2015).Prevalence and rates of intimate partner violence among South African women during pregnancy and the postpartum period. Matern Child Health J, 19(3), 487–495 Khác
18. Agrawal A., Ickovics J., Lewis J.B., et al. (2014). Postpartum Intimate Partner Violence and Health Risks Among Young Mothers in the United States: A Prospective Study. Matern Child Health J, 18(8), 1985–1992 Khác
19. Silva E.P., Valongueiro S., de Araújo T.V.B., et al. (2015). Incidence and risk factors for intimate partner violence during the postpartum period. Rev Saúde Pública, 49 Khác
21. Lê Minh Thi, Nguyễn Linh Phương, Bùi Thị Thu Hà, et al. (2014). Bạo lực gia đình đối với phụ nữ: Kết quả nghiên cứu tại 8 tỉnh Duyên Hải Nam Trung Bộ năm 2014. Tạp chí Y học dự phòng, Tập 24, số 10(159) Khác
22. Bộ Tư Pháp (2014). Phòng, chống bạo lực gia đình – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn Khác
23. Quốc Hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (2007). Luật Phòng, chống bạo lực gia đình Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w