Do vậy, thẩm định tài chính dự án là một trong những khâu quan trọng nhất trong quy trình cho vay theo dự án, quyết định chất lượng hoạt động tài trợ vốn cho dự án đầu tư của mỗingân hàn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT
NAM
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG - PQPQƯC^C^ -
NGUYỄN THỊ HẠNH
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH Dự ÁN TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM - CHI NHÁNH THANH XUÂN
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
MÃ SỐ : 60.31.12
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN QUỐC VIỆT
Hà Nội - 2011
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 11
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH Dự ÁN TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 11
l.l Thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại 11
1.1.1 Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại 11
1.1.2 Thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay của NHTM 13 1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác thẩm định tài chính dự án 37
1.2.1 Các nhân tố chủ quan 37
1.2.2 Các nhân tố khách quan 40
Chương 2 42
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH Dự ÁN TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NHTM CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH THANH XUÂN 42
2.1 Vài nét về Ngân hàng Thương mại Cổ Phần Công Thương Việt Nam Chi nhánh Thanh Xuân 42
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 42
2.1.2 Mô hình tổ chức 44
2.1.3 Tình hình hoạt động cho vay giai đoạn 2008-2010 45
2.2 Thực trạng công tác thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay tại chi nhánh ngân hàng Công Thương Thanh Xuân 52
Trang 32.2.1 C0ng tác tổ chức thẩm định dự án 52 2.2.2 Nội dung thẩm định tài chính dự án 55
2.3 Đánh giá công tác thẩm định tài chính dự án tại NHCT Thanh Xuân 67
2.3.1 Kết quả đạt được 67 2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 70
Chương 3 77 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH Dự ÁN TRONG HOẠT ĐỘNG C HO VAY TẠI CHI NHÁ N H NGÂN HÀNG TMCP
CÔNG THƯỚNG T HANH XUÂN .77
3.1 Định hướng hoạt động cho vay của chi nhánh NHTMCP Công
thương Thanh Xuân 77
3.1.1 Định hướng hoạt động cho vay của Chi nhánh 77
78
3.1.3 Giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định tài chính dự án trong hoạt
động cho vay tại NHCT Việt Nam chi nhánh Thanh Xuân 79
3.2.1 Nâng cao vai trò công tác thẩm định 79 3.2.2 Hoàn thiện nội dung thẩm định tài chính dự án 80
3.2.3 Nâng cao hiệu quả quản lý và tổ chức thẩm định tài chính dự án 85
3.2.4 Giải pháp về con người 87 3.2.5 Nâng cao chất lượng thu thập thông tin và trang thiết bị công nghệ
88
3.2.6 Chuyên môn hóa công tác thẩm định tài chính dự án 89 3.2.7 Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát 90
Trang 43.2 Một số kiến nghị 91
3.3.1 Kiến nghị với Chính phủ và các Bộ ngành liên quan 91 3.3.2 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước 92
3.3.3 Kiến nghị với NHTM khác 92
3.3.4 Kiến nghị với NHCT Việt Nam 93
3.3.5 Kiến nghị với chủ đầu tư 93
KẾT LUẬN 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97 PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
NHCT Việt Nam : Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công
thươngViệt NamNHCT Thanh thương: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công Xuân
Việt Nam - Chi nhánh Thanh Xuân
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Cơ cấu doanh số cho vay theo thời gian Chi nhánh NHCT Thanh
Xuân giai đoạn 2008 - 2010 47
Bảng 2.2: Tình hình hoạt động cho vay giai đoạn 2008 - 2010 49
Bảng 2.3:Tình hình hoạt động cho vay theo dự án của NHCT Thanh Xuân giai đoạn 2008 - 2010 51
Bảng 2.4: Tổng vốn đầu tư của Dự án 63
Bảng 2.5: Cơ cấu vốn tài trợ của Dự án 64
Bảng 2.6: Tính toán các chỉ tiêu hiệu quả tài chính dự án 65
Trang 7DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Mô hình tổ chức NHCT Thanh Xuân 44
Sơ đồ 2.2: Quy trình thẩm định tín dụng trong cho vay theo dự án đầu tư
45
Sơ đồ 2.3: Các bước thẩm định tài chính dự án đầu tư 55
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, Việt Nam đã và đang từng bước thực hiệnhội nhập kinh tế khu vực và quốc tế hết sức mạnh mẽ Tiến trình công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước tạo ra nhu cầu về vốn cho các dự án đầu tư ngàycàng tăng Do vậy, nguồn vốn sử dụng trong cho vay đầu tư dự án cũng chiếm
tỷ trọng ngày càng lớn trong cơ cấu cho vay của các ngân hàng thương mại.Điều này đã và đang đặt ra một thách thức không nhỏ về sự an toàn và hiệuquả của nguồn vốn cho vay theo dự án đối với các ngân hàng thương mại Các
dự án đầu tư thường có thời gian kéo dài, vốn đầu tư lớn nên rủi ro đối vớiviệc tài trợ vốn của ngân hàng cũng là rất cao Do vậy, thẩm định tài chính dự
án là một trong những khâu quan trọng nhất trong quy trình cho vay theo dự
án, quyết định chất lượng hoạt động tài trợ vốn cho dự án đầu tư của mỗingân hàng thương mại
Nhận thức được tầm quan trọng đó, Ngân hàng Thương mại Cổ phầnCông Thương Việt Nam - Chi nhánh Thanh Xuân đã và đang thường xuyênquan tâm tới công tác thẩm định tài chính dự án Theo đó, nhiều dự án vayvốn đã phát huy được hiệu quả, thu nhập của ngân hàng được đảm bảo Tuyvậy so với yêu cầu, công tác thẩm định tài chính dự án vẫn còn nhiều hạn chế,đòi hỏi phải có sự nghiên cứu toàn diện, tìm ra giải pháp thiết thực để hoànthiện hơn nữa nghiệp vụ này
Từ những thực tế trên, trong quá trình học tập và nghiên cứu tại khoađào tạo sau đại học- Học viện Ngân hàng, đồng thời là cán bộ của Ngân hàng
Trang 9Thương mại Cổ phần Công Thương Việt Nam- Chi nhánh Thanh Xuân, tácgiả đã chọn đề tài: ii Hoan thiện công tác thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam- Chi nhánh Thanh Xuân ” làm Luận văn thạc sỹ kinh tế của mình.
2 Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu các vấn đề cơ bản về thẩm định tài chính dự án trong hoạtđộng cho vay của ngân hàng thương mại; Nội dung thẩm định tài chính dự án,các nhân tố ảnh hưởng đến công tác thẩm định tài chính dự án
- Phân tích và đánh giá về thực trạng công tác thẩm định tài chính dự ántrong hoạt động cho vay tại NHCT Việt Nam- Chi nhánh Thanh Xuân
- Đề xuất các giải pháp, kiến nghị cho công tác thẩm định tài chính dự ántrong hoạt động cho vay tại chi nhánh ngân hàng Thương mại Cổ phần Côngthương Thanh Xuân trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: luận văn chủ yếu đề cập những vấn đề lý luận vàthực tiễn liên quan đến công tác thẩm định tài chính dự án trong hoạt độngcho vay tại NHCT Việt Nam - Chi nhánh Thanh Xuân
- Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu công tác thẩm định tài chính dự ántrong
hoạt động cho vay tại NHCT Việt Nam - Chi nhánh Thanh Xuân từ năm 2008đến năm 2010
- Phương pháp nghiên cứu
Trang 10Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn là phương phápthống kê, thu thập tài liệu, lập bảng biểu, so sánh, phân tích tổng hợp, trênquan điểm duy vật biện chứng.
4 Bố cục của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, mục lục, luận văn chiathành 3 chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thẩm định tài chính dự án trong hoạtđộng cho vay của ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng công tác thẩm định tài chính dự án trong hoạtđộng cho vay tại ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam-Chi nhánh Thanh Xuân
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định tài chính dự án tronghoạt động cho vay tại ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt
Nam- Chi nhánh Thanh Xuân
Trang 11Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH Dự ÁN TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGAN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại
1.1.1 Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại (NHTM) là một trong những tổ chức tài chínhquan trọng nhất của nền kinh tế, thực hiện cung cấp các dịch vụ tài chính đadạng và nhiều chức năng tài chính nhất so với bất cứ một tổ chức kinh doanhnào trong nền kinh tế
Khoản 3 điều 4 Luật các tổ chức tín dụng (số 47/2010/QH12) có hiệulực từ ngày 01/01/2011 ghi rõ: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàngđược thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanhkhác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”
Như vậy có thể thấy, hoạt động của NHTM rất đa dạng và phong phú.Tuy nhiên, hoạt động cơ bản của NHTM bao gồm:
- Hoạt động huy động vốn: là hoạt động chủ yếu và thường xuyên củaNHTM NHTM huy động vốn từ các tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế Bêncạnh đó NHTM cũng có thể vay vốn trên thị trường tiền tệ hoặc vay từ n gânhàng trung ương cũng như từ NHTM và các tổ chức tín dụng khác phục vụcho nhu cầu thanh khoản, cho vay hay đầu tư của mình
Trang 12- Hoạt động trung gian: gồm các dịch vụ thanh toán, thu chi hộ chokhách, nhận bảo quản các tài sản, giấy tờ, chứng từ có giá, tư vấn tài chính,cung cấp các dịch vụ bảo hiểm, cung cấp dịch vụ đại lý, kinh doanh ngoại tệ,vàng bạc đá quý
- Hoạt động cho vay và đầu tư
+ Cho vay là hoạt động kinh doanh chủ chốt của NHTM để tạo ra lợinhuận NHTM có thể cho vay cá nhân, hộ kinh doanh, doanh nghiệp hay các
cơ quan chính quyền để phục vụ cho mục đích đầu tư kinh doanh hay tiêudùng hoặc cũng có thể trực tiếp tham gia đầu tư, góp vốn hợp tác kinh doanh.+ Đầu tư có vị trí quan trọng thứ hai sau hoạt động cho vay Đây là hoạtđộng mang lại khoản thu nhập lớn, đáng kể cho NHTM NHTM sẽ dùngnguồn vốn của mình để đầu tư dưới nhiều hình thức như: hùn vốn, mua cổphần, cổ phiếu của các công ty (chỉ được phép mua bằng vốn của ngân hàng),mua trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty
Trong điều kiện nền kinh tế ngày càng phát triển như hiện nay thì hoạtđộng của NHTM ngày càng mở rộng Tuy nhiên, hoạt động cho vay vẫn làhoạt động truyền thống không thể thiếu được của hầu hết các NHTM, vì đốivới sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế thì hoạt động cho vay có mố i quan
hệ mật thiết với sự phát triển kinh tế tại khu vực ngân hàng phục vụ, nó thúcđẩy sự phát triển của các đơn vị kinh tế, tạo ra sức sống cho nền kinh tế Đốivới bản thân mỗi ngân hàng, cho vay là hoạt động sinh lời lớn nhất thông quathu lãi cho vay, đồng thời nó cũng là khoản mục tài sản lớn nhất trong tổng tàisản của NHTM
Ngày nay, hoạt động cho vay của NHTM ngày càng phát triển và cónhiều hình thức cho vay Trong đó, hoạt động cho vay theo dự án đầu tư(DAĐT) luôn giữ vị trí là một trong những nghiệp vụ cốt lõi của NHTM
Trang 13Nguồn vốn sử dụng trong cho vay đầu tư dự án cũng chiếm tỷ trọng ngàycàng lớn trong cơ cấu cho vay của các NHTM, bởi với một nền kinh tế ngàycàng phát triển thì nhu cầu đầu tư cho phát triển sản xuất kinh doanh , dịch vụhay đầu tư phục vụ đời sống ngày càng tăng cao Điều này đã và đang đặt ramột thách thức không nhỏ về sự an toàn và hiệu quả của nguồn vốn cho vaytheo dự án đối với các NHTM Các DAĐT thường có thời gian kéo dài, vốnđầu tư lớn nên rủi ro đối với việc tài trợ vốn của ngân hàng cũng là rất cao.
Do vậy, thẩm định tài chính dự án là một trong những khâu quan trọng nhấttrong quy trình cho vay theo dự án, quyết định chất lượng hoạt động tài trợvốn cho DAĐT của mỗi NHTM
1.1.2 Thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay của NHTM
1.1.2.1 Khái niệm thẩm định tài chính dự án
Mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp là tối đa hóa giá trị doanh nghiệp.Một trong những nhân tố quan trọng nhất đóng góp vào việc tối đa hóa giá trịdoanh nghiệp là các dự án doanh nghiệp thực hiện Những dự án này nếuđược thực hiện tốt, mang lại hiệu quả cao sẽ làm cho giá trị của doanh nghiệpkhông ngừng tăng lên Để có thể sử dụng tối đa các nguồn lực một cách hiệuquả nhằm đạt được các mục tiêu của quá trình thực hiện dự án các nhà doanhnghiệp, các chủ đầu tư cần phải soạn thảo dự án đầu tư Tuy nhiên, các DAĐT
dù được nghiên cứu tính toán kỹ lưỡng đến đâu thì vẫn mang đậm tính chủquan của nhà phân tích và lập dự án, do vậy không thể tránh khỏi những saisót lệch lạc trong quá trình thực hiện dự án Vấn đề quan trọng là xem xét tínhkhả thi của dự án Muốn vậy cần có sự phân tích, đánh giá một cách độc lập,khách quan với quá trình soạn thảo DAĐT hay nói cách khác là phải thẩmđịnh DAĐT
Trang 14Vậy thẩm định DAĐT là xem xét một cách khách quan, khoa học vàtoàn diện mọi nội dung của dự án và liên quan đến dự án nhằm khẳng địnhtính hiệu quả cũng như tính khả thi của dự án trước khi ra quyết định đầu tư.
Thẩm định dự án được tiến hành trong giai đoạn xác định dự án, phântích và lập dự án, phê duyệt dự án Có nhiều nội dung, nhiều phương diệnphải thẩm định như: mục tiêu đầu tư, quy mô đầu tư, sự cần thiết đầu tư, thịtrường và khả năng tiêu thụ sản phẩm, đánh giá các nội dung về phương diện
kỹ thuật, kinh tế xã hội, phương diện tổ chức, quản lý dự án trong đó thẩmđịnh tài chính là một trong những nội dung lớn và quan trọng trong quá trìnhthẩm định DAĐT
Thẩm định tài chính dự án là xem xét một cách khách quan, khoa học và toàn diện mọi khía cạnh tài chính của dự án trên giác độ của nhà đầu tư: doanh nghiệp, ngân hàng, các tổ chức kinh tế khác, các cá nhân.
Như vây, tùy thuộc vào bản chất mối quan hệ của các bên tham gia vào
dự án mà sẽ có cách nhìn nhận, đánh giá lợi ích và chi phí của họ đối với việctham gia vào dự án
Đứng trên giác độ của các NHTM thì như thế nào? NHTM tham giavào DAĐT với tư cách là nhà tài trợ vốn cho dự án, do đó các NHTM đặc biệtquan tâm tới việc sinh lời và thu hồi vốn đầu tư, hạn chế rủi ro tới mức thấpnhất có thể Chính vì vậy, mục đích của thẩm định tài chính dự án trong hoạtđộng cho vay của NHTM là đưa ra được quyết định cho vay đúng đắn và cóhiệu quả
1.1.2.2 Sự cần thiết thẩm định tài chính dự án
Một DAĐT thường đòi hỏi một lượng vốn lớn, trong một thời gian dài,phần lớn vượt quá khả năng tài chính, khả năng tự tài trợ của các doanhnghiệp
Trang 15về phía NHTM, cho vay theo DAĐT là một nghiệp vụ kinh doanhtruyền thống, mang lại thu nhập cao nhưng cũng chứa đựng nhiều rủi ro.
Thẩm định dự án là điều kiện cần để NHTM đưa ra quyết định có tài trợvốn cho dự án hay không Mục đích của thẩm định dự án là nhằm phát hiệnngăn chặn những dự án xấu, không bỏ sót những dự án tốt trong quy luật ngàycàng khan hiếm nguồn lực Qua thẩm định dự án, NHTM có cái nhìn tươngđối toàn diện về cả chủ đầu tư và dự án Về chủ đầu tư, ngân hàng đánh giáđược năng lực pháp lý, năng lực tài chính, sơ bộ tình hình hoạt động sảnxuất kinh doanh hiện tại Về DAĐT, ngân hàng đánh giá được toàn diện dự
án về các mặt kỹ thuật, hiệu quả tài chính, hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hộicủa dự án
Tuy nhiên, đối với ngân hàng thì thẩm định tài chính vẫn là mục tiêuquan tâm hàng đầu bởi vì nó là căn cứ chính yếu nhất để NHTM đưa ra quyếtđịnh cho vay của mình Thông qua thẩm định tài chính dự án:
- Ngân hàng ra quyết định cho vay đầu tư đúng đắn, trên cơ sở đảm bảohiệu quả vốn đầu tư
- Ngân hàng lượng định chính xác các tham số cơ bản liên quan đến quátrình vận hành những dự án đầu tư như: quy mô, cơ cấu vốn đầu tư, khả nănghoàn trả vốn của dự án, hiệu quả đầu tư
- Ngân hàng có thể dự đoán được những rủi ro có thể xảy ra từ đó có thể
bổ sung thêm các biện pháp khắc phục hoặc hạn chế rủi ro, đảm bảo tính khảthi của dự án đồng thời tham gia ý kiến đối với các cơ quan quản lý Nhà nước
và chủ đầu tư
- Giúp ngân hàng nâng cao chất lượng tín dụng nói chung, do đa phầncác khoản tín dụng trung và dài hạn mà ngân hàng cấp cho khách hàng làdưới hình thức cho vay DAĐT nên chất lượng cho vay DAĐT sẽ ảnh hưởng
Trang 16quyết định chất lượng tín dụng của ngân hàng Vì vậy, để có danh mục tíndụng có chất lượng tốt phải dựa trên cơ sở các dự án đầu tư có hiệu quả.Muốn vậy nhất thiết phải thẩm định DAĐT.
- Thông qua quá trình thẩm định, các NHTM sẽ có căn cứ để kiểm traviệc sử dụng vốn có đúng mục đích, đúng đối tượng hay không Việc kiểm tranày sẽ được thực hiện trước, trong và sau khi ngân hàng tiến hành giải ngân,góp phần thúc đẩy DAĐT có hiệu quả
Ngược lại, thẩm định tài chính dự án nếu không được thực hiện tốthoặc không được quan tâm đầy đủ sẽ ảnh hưởng đến tính đúng đắn của quyếtđịnh chấp nhận hay từ chối cho vay đối với dự án Điều này ảnh hưởng đếnhiệu quả hoạt động của ngân hàng, gây mất uy tín giảm tính cạnh tranh củangân hàng trong điều kiện cạnh tranh của cơ chế thị trường với sự có mặt củanhiều ngân hàng, công ty tài chính có nội dung hoạt động tương tự
Như vậy, thẩm định tài chính DAĐT là hoạt động hết sức cần thiết, có
ý nghĩa quan trọng và là khâu không thể thiếu được trong hoạt động cho vaycủa ngân hàng
1.1.2.3 Nội dung thẩm định tài chính dự án
Dự án đầu tư trong quá trình thẩm định cần được đặt trong bối cảnh đầy
đủ của mối quan hệ giữa các bên trực tiếp có liên quan tới DAĐT Do đó, cónhiều khía cạnh liên quan, tương hỗ với nhau tạo nên một dự án tổng thể.Nhìn chung, chúng thuộc loại hình kỹ thuật, kinh tế, tài chính và pháp luật.Tùy từng dự án mà các yếu tố này có vị trí quan trọng khác nhau trong sựthành công hay thất bại của một dự án khác nhau Theo đó, khi tiến hành thẩmđịnh một dự án trước khi cho vay, NHTM cần thẩm định một số nội dungchính sau:
Trang 17- Cơ sở pháp lý, sự cần thiết của dự án
- Phương diện kỹ thuật - công nghệ
- Các yếu tố đầu vào
- Sản phẩm, thị trường và khả năng cạnh tranh của dự án
- Phương thức tổ chức quản lý thực hiện dự án
- Phương diện môi trường, lợi ích kinh tế - xã hội
- Phương diện tài chính của dự án
- Rủi ro và biện pháp giảm thiểu
Đối với các NHTM, điều ngân hàng quan tâm nhất khi cho vay làdoanh nghiệp có khả năng hoàn trả được gốc và lãi không Vì thế, khi thẩmđịnh dự án các mặt về kỹ thuật, hiệu quả kinh tế xã hội có được xem xét đếnnhưng điểm trọng tâm trong quá trình thẩm định là thẩm định tài chính dự án
Thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay của NHTM thựcchất là việc xác định tính hợp lý hay tính chính xác của những chỉ tiêu tàichính mà khách hàng đã đề xuất trong dự án gửi ngân hàng Nội dung thẩmđịnh tài chính DAĐT của NHTM phải bám sát nội dung thẩm định tài chínhnêu trong nội dung thẩm định DAĐT
Thẩm định tài chính DAĐT ở các NHTM thường được tiến hành vớicác nội dung sau:
■ Thẩm định tổng dự toán vốn đầu tư và các nguồn tài trợ của dự án
- Thẩm định tình hình tài chính của chủ đầu tư
Một trong những công việc đầu tiên mà ngân hàng phải thực hiện trướckhi tiến hành thẩm định tài chính DAĐT đó là thẩm định tình hình tài chínhcủa chủ đầu tư dự án Tình hình tài chính của chủ đầu tư là một trong nhữngyếu tố quan trọng thể hiện sự an toàn về mặt tài chính của dự án Nó được thể
Trang 18hiện ở các mặt như: năng lực tài chính, tình trạng tín dụng, uy tín tín dụng,khả năng thanh toán, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Mặc dù việc thẩm định tình hình tài chính của doanh nghiệp vay vốnchỉ mang tính chất hỗ trợ cho quá trình thẩm định, nhưng đây lại là một côngviệc rất quan trọng, giúp cán bộ thẩm định tại ngân hàng có được cái nhìntổng thể về hiện trạng và triển vọng của doanh nghiệp trên thị trường Tìnhhình tài chính của chủ đầu tư rõ ràng, minh bạch sẽ bước đầu tạo được lòngtin đối với ngân hàng Về phía NHTM, họ sẽ coi đó như là nguồn hậu thuẫnmạnh mẽ, là sự đảm bảo vô hình cho dự án trong trường hợp nếu dự án thựchiện dở dang, nguồn thu từ dự án không đủ khả năng trả nợ
Vấn đề mấu chốt trong quá trình thẩm định tình hình tài chính của chủđầu tư là nguồn thông tin ngân hàng thu thập được phải đảm bảo tính kháchquan chính xác và đáng tin cậy Để thực hiện được điều này, cán bộ thẩm địnhkhông những thu thập thông tin từ chính chủ đầu tư, mà còn từ các phươngtiện thông tin đại chúng, các tổ chức tín dụng, các doanh nghiệp có quan hệvới doanh nghiệp chủ đầu tư
- Thẩm định tổng vốn đầu tư của dự án
Dưới giác độ của một dự án, tổng vốn đầu tư là tổng số tiền được chitiêu để hình thành nên các tài sản cố định (TSCĐ) và tài sản lưu động cầnthiết Những tài sản này sẽ được sử dụng trong việc tạo ra doanh thu, chi phí,thu nhập suốt vòng đời hữu ích của dự án Thẩm định tổng vốn đầu tư là việcphân tích và xác định nhu cầu vốn đầu tư cần thiết dành cho dự án Mục đíchcủa việc thẩm định tổng vốn đầu tư là nhằm xác định tổng vốn đầu tư sát vớithực tế, tránh việc khi thực hiện vốn đầu tư tăng lên hoặc giảm đi quá nhiều
Trang 19so với dự kiến ban đầu ảnh hưởng đến việc tính toán hiệu quả tài chính và cânđối nguồn trả nợ của dự án Nếu mức vốn đầu tư dự tính quá thấp dự án sẽkhông thực hiện được, ngược lại nếu dự tính quá cao sẽ không phản ánh chínhxác hiệu quả tài chính của dự án Do đó, việc xác định tính hợp lý trong cáckhoản mục của tổng vốn đầu tư của một dự án là cần thiết với ngân hàng.
Tùy theo các mục đích khác nhau, có thể phân loại vốn đầu tư của dự
án theo các tiêu thức khác nhau Theo cơ cấu tài sản được đầu tư, tổng vốnđầu tư dự án thông thường bao gồm:
Vốn đầu tư vào tài sản cố định : Khoản vốn này thường chiếm tỷ
trọng lớn trong tổng vốn đầu tư của dự án Các tài sản cố định được đầu tư
có thể là TSCĐ hữu hình hoặc TSCĐ vô hình, cụ thể trong khoản mục nàybao gồm:
- Chi phí chuẩn bị là chi phí trước vận hành Chi phí này gián tiếp hoặctrực tiếp liên quan đến việc tạo ra và vận hành khai thác TSCĐ để đạt đượcmục tiêu đầu tư như: chi phí điều tra, khảo sát để lập, trình duyệt dự án; chiphí tư vấn, thiết kế dự án; chi phí đền bù, giải phóng mặt bằng xây dựng; chiphí đào tạo, huấn luyện chuyển giao công nghệ; chi phí vận hành, chạy thử
- Chi phí xây lắp và mua sắm thiết bị: chi phí xây dựng lắp đặt nhàxưởng, cấu trúc hạ tầng, chi phí mua máy móc thiết bị, phương tiện vận tải,chi phí khác
Cán bộ ngân hàng thẩm định chi phí chuẩn bị là kiểm tra theo quy địnhhiện hành của nhà nước Những chi phí này được phân theo các giai đoạn củaquá trình đầu tư và xây dựng, có thể được định mức theo tỷ lệ % hoặc giá cụthể Việc kiểm tra chi phí xây lắp và mua sắm thiết bị cần tập trung vào việc
Trang 20xác định nhu câu xây dựng hợp lý của dự án, mức độ hợp lý của đơn giá xâylắp và thiết bị.
Vốn đầu tư vào tài sản lưu động ban đầu là giá trị các tài sản lưu
động ban đâu cân thiết (cho chu kỳ sản xuất đâu tiên) để đảm bảo cho dự án
có thể đi vào hoạt động bình thường theo các điều kiện kinh tế - kỹ thuật dựtính Bao gồm: tài sản lưu động trong sản xuất (nguyên nhiên vật liệu, sảnphẩm dở dang) và tài sản lưu động trong lưu thông (vốn bằng tiền, vốn trongthanh toán, thành phẩm tồn kho)
Ngân hàng căn cứ vào tốc độ chu chuyển vốn lưu động hàng năm củachủ đâu tư, dự án các doanh nghiệp cùng ngành nghề dự án và khả năng tựchủ vốn lưu động của chủ dự án để xác định nhu câu vốn lưu động và chi phívốn lưu động hàng năm
Vốn dự phòng: Do dự án hoạt động nhiều năm và những con số đưa ra
chỉ là dự tính nên cân có một lượng vốn nhất định bù đắp trong trường hợpphát sinh thêm chi phí
Tổng mức đâu tư là giới hạn chi phí tối đa nhằm đạt được mục tiêu của
dự án và được xác định trong quyết định đâu tư Việc thẩm định tổng dự toánđâu tư phải đảm bảo rằng toàn bộ thiết kế của dự án với mức chi phí trongtổng dự toán là trọng tâm các nguồn tài chính của chủ đâu tư, tổng dự toánphải đảm bảo được lập theo đúng quy định Sau đó, cân phải thẩm định giá trị
dự toán một cách chi tiết cho từng khoản mục nhỏ Từng khoản mục này phảiđược thẩm định trên cơ sở tính toán theo đúng khối lượng, theo thiết kế, địnhmức, đơn giá xây dựng cơ bản hoặc đơn giá xây dựng công trình
Cuối cùng ở giai đoạn kết thúc dự án, ngân hàng cân thẩm định giá trịquyết toán vốn đâu tư Giá trị quyết toán vốn đâu tư của dự án là toàn bộ chi
Trang 21phí hợp pháp đã thực hiện trong quá trình đầu tư nhằm đạt được mục tiêu của
dự án Trong thanh toán vốn đầu tư phải luôn đảm bảo nguyên tắc:
TMĐT> G TDT > G QT
Trong đó: TMĐT : Tổng mức vốn đầu tư
GTDT : Giá trị tổng dự toán công trình
GQT : Giá trị quyết toán công trìnhĐối với các dự án kéo dài nhiều năm, khi quyết toán chủ đầu tư phảiquy đổi vốn đầu tư đã thực hiện về giá tại thời điểm bàn giao đưa vào vậnhành để xác định giá trị TSCĐ mới tăng và giá trị tài sản bàn giao
Trong quá trình thẩm định tổng vốn đầu tư dự kiến của dự án, côngviệc của cán bộ thẩm định tại ngân hàng là phải xem xét, đánh giá tổng vốnđầu tư của dự án đã được tính toán hợp lý hay chưa, tổng vốn đầu tư đã tính
đủ các khoản cần thiết chưa, cần xem xét đến các yếu tố làm tăng chi phí nhưtrượt giá, phát sinh thêm khối lượng, dự phòng việc thay đổi tỷ giá ngoại tệnếu dự án có sử dụng ngoại tệ
Sau khi xác định được tổng vốn đầu tư thì cần xác định được nhu cầuvốn đầu tư theo tiến độ thực hiện dự án Cán bộ thẩm định tại ngân hàng cầnphải xem xét, đánh giá về tiến độ thực hiện dự án và nhu cầu vốn cho từnggiai đoạn như thế nào, có hợp lý hay không Khả năng đáp ứng nhu cầu vốntrong từng giai đoạn thực hiện dự án để tham gia trong từng giai đoạn có hợp
lý hay không, thông thường vốn tự có phải tham gia đầu tư trước Việc xácđịnh tiến độ thực hiện, nhu cầu vốn sẽ làm cơ sở cho việc dự kiến tiến độ giảingân, tính toán lãi vay trong thời gian thi công và xác định thời gian vay trả
- Thẩm định nguồn tài trợ của dự án
Trên cơ sở xác định nhu cầu tổng vốn đầu tư, cán bộ NHTM phải tiếnhành thẩm định phương thức tài trợ cho dự án Vì phương thức tài trợ sẽ chi
Trang 22phối việc xác định dòng tiền phù hợp cũng như lựa chọn lãi suất chiết khấu(LSCK) hợp lý để xác định các chỉ tiêu tài chính dự án Có rất nhiều phươngthức tài trợ cho dự án Mỗi một phương thức đều có những đặc trưng, lợi thếcũng như bất lợi riêng cho các chủ đầu tư, chi phối việc thẩm định tài chính
dự án Một dự án thường được tài trợ từ các nguồn sau:
- Vốn tự có: để xác định nguồn vốn tự có của chủ đầu tư dự án, cácngân hàng cần phân tích tình hình tài chính cũng như tình hình sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp chủ đầu tư, ít nhất là trong hai năm gần nhất
- Vốn từ ngân sách Nhà nước: đây là nguồn có tính an toàn cao,thường chỉ được cấp cho các doanh nghiệp quốc doanh mà sản phẩm củadoanh nghiệp mang tính chiến lược đối với nền kinh tế
cơ quan, các cấp có thẩm quyền Bên cạnh đó, ngân hàng cần phải đánh giákhả năng tham gia của các nguồn huy động (cơ sở thực tế của các nguồn huyđộng) và chi phí của từng loại vốn nhằm cân đối giữa nhu cầu vốn đầu tư vàkhả năng tham gia tài trợ của các nguồn vốn dự kiến, để đánh giá tính khả thicủa các nguồn vốn thực hiện dự án
Trên cơ sở tổng mức vốn đầu tư đã được duyệt, thông qua việc xem xétquy mô các nguồn tài trợ, ngân hàng sẽ xác định được số vốn còn thiếu vàmức độ cho vay đối với dự án Trong trường hợp các ngân hàng tham gia hợp
Trang 23vốn để cho vay thì các yếu tố về nguồn tài trợ phải được tất cả các ngân hàngđồng tài trợ cùng xem xét, bàn bạc rồi mới đi đến quyết định thống nhất.
Việc đánh giá chính xác về tổng vốn đầu tư, tính khả thi của các nguồnvốn và cơ cấu vốn đầu tư là cơ sở để tính toán chi phí vốn, khấu hao TSCĐhàng năm, chi phí sửa chữa TSCĐ, nợ phải trả
■ Thẩm định doanh thu, chi phí và xác định dòng tiền của dự án
Sau khi xác định được tổng mức đầu tư, cơ cấu nguồn và tiến độ huyđộng vốn, bước tiếp theo của quá trình thẩm định là thẩm định kế hoạch sảnxuất kinh doanh của dự án bao gồm thẩm định các dự tính về công suất huyđộng dự kiến, giá bán sản phẩm, chi phí hoạt động hàng năm
- Thẩm định doanh thu từ hoạt động của dự án
Việc dự báo chính xác và hợp lý các khoản doanh thu hoạt động hàngnăm sẽ là cơ sở quan trọng để đánh giá chính xác hiệu quả tài chính dự án
Doanh thu từ hoạt động của dự án được tính hàng năm và bao gồm cáckhoản sau:
- Doanh thu từ sản phẩm chính, từ sản phẩm phụ, từ thứ liệu, phế liệu
- Doanh thu từ dịch vụ cung cấp cho bên ngoài
Trong quá trình thẩm định, để đảm bảo tính hợp lý và chính xác củadoanh thu, cán bộ thẩm định cần có sự đánh giá về mặt thị trường, khả năngtiêu thụ và cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ đầu ra của dự án và phương ántiêu thụ sản phẩm Tóm lại cán bộ thẩm định phải xem xét kỹ lưỡng các yếu
tố như: giá bán của sản phẩm, sản lượng sản xuất hàng năm và mức tiêu thụsản phẩm của thị trường
Đối với dự án mà sản phẩm rất nhạy cảm với các biến động của thịtrường trong và ngoài nước, hoặc mức độ cạnh tranh trên thị trường thì cần có
sự thay đổi giá bán qua các năm, hoặc xếp hạng mức độ rủi ro của dự án caohơn
Trang 24Sản lượng sản xuất của dự án được tính theo phần trăm của công suấtthiết kế, tăng dần trong các năm, đạt mức 100% khi sản xuất đi vào ổn định
và giảm dần vào các năm cuối trong vòng đời của dự án Do vậy, nhiệm vụcán bộ thẩm định là phải kiểm tra kỹ lưỡng các thông tin để điều chỉnh tỷ lệnày cho phù hợp
- Chi phí nhân công: lương, phụ cấp, bảo hiểm xã hội, trợ cấp
- Chi phí trả lãi vay
- Chi phí quản lý doanh nghiệp, quản lý phân xưởng, tiêu thụ sản phẩm
- Chi phí khấu hao tài sản cố định
- Chi phí sửa chữa máy móc, thiết bị
Cán bộ ngân hàng cần phải kiểm tra tính hợp lý và đầy đủ của từngkhoản mục chi phí, cụ thể:
Các chi phí biến đổi như nguyên, nhiên vật liệu, năng lượng được tínhtheo sản lượng sản xuất và định mức tiêu hao Cán bộ thẩm định cần kiểm tracăn cứ trên cơ sở các dự án cùng loại hoặc tiêu chuẩn của ngành
Các chi phí quản lý được tính theo % trên doanh thu Ngoài ra, một sốchi phí như chi phí vận chuyển, lương nhân viên bán hàng đựơc tính the osản lượng
Tổng mức khấu hao hàng năm của dự án phải bằng nguyên giá TSCĐ
và phải tuân theo các phương pháp khấu hao do Bộ Tài chính ban hành đốivới các doanh nghiệp
Trang 25Chi phí lãi vay của dự án được tính dựa trên kế hoạch vay và trả nợ đốivới các nguồn huy động từ bên ngoài Cần kiểm tra lại cách tính trả lãi và gốccho phù hợp với thông lệ của ngân hàng.
- Thẩm định kết quả hoạt động kinh doanh của dự án
Trên cơ sở số liệu thẩm định về doanh thu, chi phí hoạt động hàng năm,tiến hành thẩm định mức lãi lỗ hàng năm của dự án qua các chỉ tiêu:
- Thu nhập trước thuế, lãi vay và khấu hao
- Thu nhập trước thuế và lãi vay
- Thu nhập trước thuế
- Thuế thu nhập doanh nghiệp
- Lợi nhuận sau thuế
- Thẩm định dòng tiền hàng năm của dự án
Đối với các NHTM, khi tiến hành thẩm định hiệu quả tài chính của một
dự án thì các chỉ tiêu như doanh thu, chi phí sản xuất, lợi nhuận từ dự án, chưa phải là các chỉ tiêu thu hút được sự quan tâm nhất Bởi lẽ, các chỉ tiêunày chỉ mang ý nghĩa tổng kết hoạt động kinh doanh của dự án trên sổ sách kếtoán (mang tính chất thời kỳ) mà không phản ánh chính xác khi nào thu nhập
và chi phí được thu vào hoặc chi ra Hay nói cách khác, chúng ta không thểxác định được thời điểm xuất hiện của các khoản tiền này Vì vậy, để có thểđưa ra được những phân tích, đánh giá chính xác nhằm xác định dự án có hiệuqủa về mặt tài chính hay không, bên cạnh các chỉ tiêu chi phí, doanh thu, nhàthẩm định thường quan tâm tới dòng tiền của dự án
Dòng tiền (CF- Cash Flow) của một dự án được hiểu là các khoản thu
và chi được kỳ vọng xuất hiện tại các mốc thời gian khác nhau trong suốt chu
kỳ của dự án Toàn bộ khoản tiền chênh lệch giữa dòng tiền ra và dòng tiền
Trang 26vào là dòng tiền ròng (NCF- Net Cash Flow ) tại các mốc thời gian khác nhaucủa dự án Khi xác định dòng tiền của dự án cần tuân theo các nguyên tắc sau:
- Phải xem xét đến giá trị thời gian của tiền Do tiền có giá trị thời giannên cần căn cứ về cùng một mốc thời gian để đánh giá, so sánh
- Tất cả các khoản thu, chi đều phải được tính sau thuế Dòng tiền ròng
là những gì có được sau mỗi kỳ hoàn toàn thuộc doanh nghiệp Vì vậy, nóphải là dòng sau thuế Thuế này là thuế trực thu, còn thuế gián thu đã phảiđược bóc tách ngay khi tính doanh thu, chi phí theo phương pháp kế toán
- Cần phân biệt dòng tiền thực và dòng tiền kế toán Dòng tiền lợi nhuận
kế toán được xác định dựa trên thu nhập và chi phí được chấp nhận, còn dòngtiền của dự án được xác định trên cơ sở dòng tiền thu vào và chi ra của dự án+ Dòng tiền thu vào của dự án bao gồm: doanh thu, khấu hao TSCĐ, thuhồi từ thanh lý TSCĐ và thu hồi vốn lưu động ban đầu
+ Dòng tiền chi ra của dự án bao gồm: chi phí bỏ ra để đầu tư dự án vàchi phí để thực hiện dự án hàng năm
- Chi phí khấu hao được xem xét là chi phí kế toán nhưng lại là chi phíkhông xuất quỹ, tuy nhiên nó vẫn được tính trong dòng tiền Chi phí khấu haotác động đến dòng tiền một cách gián tiếp qua thuế (thuế thu nhập doanhnghiêp) Khi khấu hao thay đổi nó cùng làm biến đổi mức thuế phải nộp, và vìthuế là một dòng tiền thực nên sẽ làm ảnh hưởng tới dòng sau thuế Vì vây,không coi khấu hao là một dòng ra, nhưng vẫn phải xét tới dòng tiết kiệmthuế nhờ khấu hao
- Dòng tiền phù hợp: Dòng tiền phù hợp phải là hệ quả trực tiếp của việcthực hiện dự án Khi đã xác định được dòng tiền chênh lệch thì có thể nhìnnhận dự án như một doanh nghiệp nhỏ với các giá trị độc lập với hoạt độngkhác, hoặc dự án khác
Trang 27- Loại bỏ chi phí chìm (chi phí đã xuất hiện từ trước mà không thể bùđắp dù dự án có được thực hiện hay không) ra khỏi quá trình phân tích.
- Chi phí cơ hội là chi phí của khả năng sinh lợi tốt nhất tại thời điểm bị
bỏ qua do thực hiện dự án Chi phí này được đưa vào dòng tiền của dự án, vì
đó là hệ quả trực tiếp của việc thực hiện dự án Chi phí cơ hội được coi làdòng ra
- Đầu tư vào tài sản lưu động ròng: Tài sản lưu động ròng không đượckhấu hao và thường được thu hồi khi dự án kết thúc Bởi vậy, khi tiến hànhmột dự án mới, cần tài trợ thêm tài sản lưu động ròng trong những năm đầu
và thu hồi khi dự án kết thúc
- Phân bổ chi phí quản trị chung: Các chi phí quản trị chung sẽ đượcphân bổ cho các bộ phận hay sản phẩm theo một tiêu thức nào đó như doanhthu hay chi phí nguyên vật liệu
Một cách tổng quát nhất, dòng tiền của dự án bao gồm: dòng chi đầu
tư, dòng tiền từ hoạt động kinh doanh hàng năm của dự án và dòng tiền thuhồi sau đầu tư Trong đó:
- Dòng chi đầu tư bao gồm: các chi phí mua TSCĐ + Chi phí lắp đặt,
vận chuyển, vận hành máy móc thiết bị + Chi phí cơ hội + đầu tư vàotài sản lưu động ròng (vốn lưu động ban đầu)
- Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh hàng năm = lợi nhuận sau thuế
+ khấu hao
- Dòng tiền thu hồi sau đầu tư = Thu hồi từ thanh lý TSCĐ + Thu hồi
vốn lưu động ròng Trong đó: Thu hồi từ thanh lý TSCĐ = Giá trịthanh lý - (Giá trị thanh lý - giá trị còn lại của TSCĐ) x thuế suất thuếthu nhập doanh nghiệp
Trang 28Tuy nhiên, việc tính dòng tiền hàng năm của dự án có thể là khônggiống nhau tùy thuộc vào quan điểm của người thẩm định Điều quan trọng làphải đảm bảo tính nhất quán giữa xác định định dòng tiền hoạt động hàngnăm và LSCK của dự án
Tóm lại, có thể coi việc thẩm định dòng tiền là khâu quan trọng nhấttrong quá trình thẩm định tài chính DAĐT tại ngân hàng Đây là cơ sở chắcchắn nhất giúp cho ngân hàng đánh giá chính xác khả năng trả nợ gốc và lãivay của dự án
■ Thẩm định lãi suất chiết khấu
Lãi suất chiết khấu là tỷ lệ sinh lời cần thiết mà nhà đầu tư yêu cầu đốivới một dự án, là cơ sở để chiết khấu các dòng tiền trong việc xác định giá trịhiện tại ròng của dự án Về bản chất, LSCK là chi phí vốn của dự án Việc xácđịnh LSCK phù hợp ảnh hưởng rất lớn tới xác định và đánh giá các chỉ tiêuhiệu quả tài chính dự án Bởi vì, nếu xác định LSCK lớn thì chỉ tiêu giá trịhiện tại ròng, chỉ số lợi nhuận sẽ thấp, thời gian hoàn vốn sẽ kéo dài Ngượclại, nếu xác định LSCK thấp thì chỉ tiêu giá trị hiện tại ròng, chỉ số lợi nhuận
sẽ cao và thời gian hoàn vốn ngắn Vì vậy, việc xác định hợp lý LSCK là rấtquan trọng để đánh giá tương đối chính xác hiệu quả tài chính dự án Cácnguyên tắc thẩm định LSCK cần tuân theo là:
- Quan hệ giữa rủi ro và lợi tức kỳ vọng Mối quan hệ này là tương
quan thuận Mức độ rủi ro của dự án càng cao thì lợi tức kỳ vọng vào dự ánphải càng cao Nếu rủi ro của dự án đang xem xét ngang bằng với mức độ rủi
ro của các dự án do ngân hàng thực hiện cho vay trước đây thì LSCK trướcđây được xem xét cẩn trọng để chọn làm LSCK cho dự án hiện tại Nếu có sựkhác biệt thì cần phải có những điều chỉnh cần thiết đối với LSCK quá khứ đểlựa chọn một mức LSCK mới cho dự án hiện tại
Trang 29- Quan hệ giữa cơ cấu vốn đầu tư và cơ cấu vốn của doanh nghiệp.
Nhìn chung trong quá trình thẩm định tài chính dự án, người ta thường ngầmhiểu mức độ rủi ro và cơ cấu đầu tư của dự án hiện tại tương tự với doanhnghiệp Trong tình huống này, cán bộ ngân hàng hoàn toàn có thể xem xétchọn chi phí vốn bình quân gia quyền (WACC) của doanh nghiệp làm LSCKcho dự án đang xem xét
- Xem xét trong tương quan với các tài sản tài chính và các dự án
khác cùng mức độ rủi ro Tỷ lệ sinh lời tốt nhất hay chi phí cơ hội của dự án
hiện tại chính là tỷ lệ sinh lời kỳ vọng cao nhất trong số các dự án bị bỏ qua.Việc thẩm định LSCK cần được đặt trong tương quan với các tài sản tài chínhkhác có cùng mức độ rủi ro và thực hiện những điều chỉnh cần thiết để tìm rachi phí vốn của dự án mà doanh nghiệp theo đuổi
- Nguyên tắc nhất quán trong mối quan hệ giữa xác định dòng tiền
và lựa chọn LSCK Nguyên tắc này chỉ ra là, nếu dòng tiền hoạt động hoàn
toàn thuộc về các chủ sở hữu thì LSCK nên được chọn với tư cách là chi phí
cơ hội của vốn chủ sở hữu Khi dòng tiền được xác định do cả chủ nợ và chủ
sở hữu (phương thức hỗn hợp) thì LSCK nên được chọn là chi phí bình quângia quyền vốn đầu tư của dự án
Như vậy, những dự án cho vay tại ngân hàng mà ta nghiên cứu lànhững dự án được tài trợ theo phương thức hỗn hợp Bởi vậy, LSCK đượctính theo chi phí vốn bình quân gia quyền WACC:
WACC = w s k s + Wb i kb i (1-t)
ks: là chi phí vốn chủ sở hữu wbi : là tỷ trọng nguồn vốn vay thứ i
Trang 30Chỉ tiêu giá trị hiện tại ròng ( NPV)
Do tiền có giá trị về thời gian nên chúng ta không thể so sánh các dòng tiền xuất
hiện tại các mốc thời gian khác nhau mà phải quy chúng về một mốc để so sánh
Việc quy các dòng tiền về hiện tại là cơ sở để tính NPV NPV là chênh lệch giữa
tổng giá trị hiện tại của các dòng tiền thu được trong từng năm thực hiện dự án với
vốn đầu tư bỏ ra được hiện tại hóa ở mốc 0
- Mục tiêu cuốicùng của doanhnghiệp khi thựchiện đầu tư chính
- Thực tế cho thấytrong suốt thời kỳ
dự án LSCK làkhông giống nhau
Phương pháp NPVdùng chung một
Chọn dự án có:
- NPV > 0: Dự án
có lãi NPV càng
lớn càng tốt
Nếu
có nhiều hơn hai
kbi: là lãi vay của nguồn vốn vay thứ i t: là thuế suất thu nhập doanh nghiệp
■ Thẩm định, phân tích các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính dự án
Sau khi đã xem xét, phân tích dòng tiền hàng năm và dự tính lãi suấtchiết khấu sử dụng trong mỗi năm của dự án, cán bộ ngân hàng sẽ tính toáncác chỉ tiêu tài chính Các chỉ tiêu tài chính này được sử dụng kết hợp vớinhau để đưa ra được nhận định về tình hình tài chính của dự án Có rất nhiềuchỉ tiêu tài chính có thể được sử dụng trong quá trình thẩm định tài chính dự
án, nhưng những chỉ tiêu quan trọng nhất có thể kể đến là:
- Giá trị hiện tại ròng (NPV)
- Tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR), tỷ suất hoàn vốn có điều chỉnh (MIRR)
- Thời gian hoàn vốn (PP)
- Chỉ số lợi nhuận (PI)
Trang 31i: lãi suất chiết khấu
mang lại, khấu hao
TSCĐ, thu hồi giá trị
án làm gia tănggiá trị vốn chủ sởhữu bỏ ra là lớnnhất
- Đã tính đến yếu
tố giá trị tiền theothời gian
mức LSCK trongsuốt thời kỳ hoạtđộng của dự ántạo ra sự khôngchính xác
- Độ tin cậy củaphương pháp NPVphụ thuộc rất lớnvào khả năng xácđịnh LSCK
- NPV không tínhđến sự khác biệttổng vốn đầu tưcủa dự án (chỉ chobiết tổng lợi nhuận
mà không cho biết
tỷ lệ sinh lời)
- NPV không tínhđến khác biệt vềthời gian hoạtđộng của dự án
dương thì chọn
dự án có NPVdương và lớnnhất
- NPV = 0: Dự ánhòa vốn
- NPV < 0: Dự ánlỗ
Tỷ suất hoàn vốn nội bộ ( Internal rate of return - IRR)
Tỷ suất hoàn vốn nội bộ là trường hợp đặc biệt của LSCK mà tại đó NPV bằng 0
Có thể ước tính IRR
theo công thức nội
suy sau:
- Cung cấp mộtchỉ số đo lường
tỷ lệ sinh lời giúp
- Phương phápIRR chỉ quan tâmđến tỷ lệ sinh lời
- Theo phươngpháp IRR, dự ánđược chọn khi IRR
Trang 32khoảng cách giữa hai
lãi suất i1, i2 không
nên vượt quá 5%
án có tỷ lệ sinhlời cao
- Cũng giống nhưNPV, IRR đánhgiá hiệu quả tàichính dự án trên
cơ sở giá trị thờigian của tiền
- Một ưu điểm sovới NPV và IRR
đã giải quyếtđược vấn đề lựachọn các dự án
có thời gian hoạtđộng khác nhau
hàng năm của mộtđồng vốn đầu tư
mà không tính đếntổng số tiền bỏ ra
- Đối với các dự án
mà dòng tiền đổidấu nhiều lần sẽdẫn tới có nhiềukết quả IRR thoảmãn phương trìnhNPV = 0
- Phương phápIRR đã giả sử rằng
dự án có thể táiđầu tư với mức lãisuất bằng IRR
Điều này là khônghợp lý, mà lãi suấttái đầu tư thíchhợp nhất phải làchi phí vốn bìnhquân của dự án
lớn hơn hoặc bằngmức lãi suất thịtrường (mức lãisuất được dùng đểtính NPV) Đối với
dự án độc lập thìlựa chọn các dự án
có IRR ≥ chi phívốn bình quân của
dự án
- Đối với các dự
án phụ thuộc, loạitrừ lẫn nhau thìtrong các dự án cóIRR > chi phí vốnbình quân của dự
án, lựa chọn dự ánnào có IRR lớnnhất
Trang 33tibằng chi phí vốn Đây là giả thiết về tái
đầu
Chỉ số doanh lợi (
Chỉ số doanh lợi là chỉ số phản ánh khảnăn
đồng vốn đầu tư bỏ ra sẽ tạo ra bao nhiêu
đCông thức, đặc điểm Ưu điểm
PI có tính đến giátrị theo thời gian
Trang 34có điều chỉnh (MIRR)
lể tái đầu tư với mức lãi suất bằng IRR
iu tư thích hợp nhất phải là chi phí vốn
ra ra chỉ tiêu tỷ lệ thu hồi vốn nội bộ điều
ền của dự án được tái đầu tư với lãi suất
I tư tốt hơn, nên MIRR là một chỉ sốcủa dự án, so với IRR
CIF t (1 + i'ΓΓ t
(1 + MIRR) t
ền ra năm thứ t
ền vào năm thứ t
Profit index - PI)
Ig sinh lợi của dự án PI cho biết mộtồng thu nhập Thu nhập này chưa tính
không, chi phí cơhội đã bỏ qua khi
Trang 35của tiền.
- Tương tự nhưIRR, chỉ tiêu PIgiúp chủ đầu tưchọn ra đượcnhững dự án cókhả năng sinh lờicao
thuẫn với nhau
Bởi vì NPV chỉ ratổng lợi nhuậnròng của dự án,trong khi PI chỉ ralợi nhuận ròng của
dự án trên mộtđồng vốn đầu tư
thực hiện dự ánkhông được bùđắp bởi tỷ suấtsinh lời của dự án.Thường thì các dự
án có PI > 1 sẽđược lựa chọn
Thời gian hoàn vốn ( PP)
Thời gian hoàn vốn là thời gian chủ đầu tư thu hồi được số vốn đã đầu tư vào dự án
Công thức xác định:
PP = n + ( Số vốn đầu
tư còn lại cần được
thu hồi/Dòng tiền
ngay sau mốc hoàn
- Cho biết khả năng
tạo thu nhập của
doanh nghiệp từ khi
thực hiện dự án cho
đến khi thu hồi đủ vốn
đầu tư
- Đơn giản, dễtính, dễ hiểu
- Chọn được các
dự án có thờigian hoàn vốnnhanh nhất, dovậy có thể gặp ítrủi ro nhất
- Thích hợp vớinhững nhà đầu tưhạn chế về vốn
- Thời điểm để xácđịnh thời gianhoàn vốn rất mơhồ
- Dễ bỏ qua những
dự án có thu nhậpcao do chỉ chú ýtính đến dòng tiềntrong khoảng thờigian hoàn vốn
- Không tính đếngiá trị theo thờigian của tiền
- Với các dự ánđộc lập, dự ánđược lựa chọnkhi thời gianhoàn vốn của nónằm trong
khoảng thời gianhoàn vốn tiêuchuẩn (dựa trênkinh nghiệm, khả
năng dự đoán của
nhà đầu tư )
- Với các dự ánloại trừ nhau, các
Trang 36độ hoàn vốngiảm dần Dự án
có thời gian hoàn
vốn nhanh nhất
và nằm trongkhoảng thời giantiêu chuẩn sẽđược lựa chọn
Nói tóm lại, trong thực tế có nhiều phương pháp đánh giá hiệu quả tàichính dự án Mỗi phương pháp đều có những ưu, nhược điểm riêng Nhiệm
vụ của cán bộ thẩm định là phải lựa chọn được phương pháp đánh giá phùhợp với dự án để có thể đưa ra quyết định chính xác cuối cùng
■ Thẩm định kế hoạch trả nợ của dự án
Kế hoạch trả nợ của dự án được xây dựng trên cơ sở phương án nguồnvốn và điều kiện vay nợ của từng nguồn Nó được chủ đầu tư đưa ra trong giaiđoạn lập dự án, khi mà những điều kiện vay trả nợ cụ thể được khẳng địnhcòn mang tính chủ quan dựa trên những dự định Ngân hàng khi thẩm định sẽxem xét tính hợp lý của kế hoạch trả nợ này dựa trên cơ sở phân tích dòngtiền thu của dự án Nguồn thu của dự án phải đảm bảo phù hợp với kế hoạchtrả nợ ngân hàng Đồng thời, tính toán các chỉ tiêu nhằm đưa ra kỳ hạn trả nợ,đảm bảo việc thu hồi khoản nợ sao cho không lớn hơn thời hạn tồn tại của dự
án Từ đó, hai bên thỏa thuận nguồn trả nợ, hình thức trả nợ, lãi suất cho vay,thời hạn vay, thời gian ân hạn, kỳ hạn nợ Như vậy, trên cơ sở tính toán lạicác chỉ tiêu hiệu quả tài chính do chủ đầu tư cung cấp, ngân hàng tính dòngtiền vào và chi ra của dự án, kết hợp với lịch trả nợ chi tiết của đơn vị chủ đầu
tư để xem xét tính hợp lý của kế hoạch trả nợ Đây là một trong những yếu tốquan trọng, bắt buộc đối với cán bộ ngân hàng khi tiến hành thẩm định tàichính DAĐT
Trang 37■ Thẩm định rủi ro của dự án.
Trong thực tế, các DAĐT luôn tiềm ẩn những rủi ro, những dự kiến khiphân tích dự án để đưa vào tính toán đều mang tính tương lai khó có thể biếttrước được, đặc biệt là những dự án kéo dài nhiều năm Trên quan điểm củaNHTM là người cho vay vốn, các NHTM chỉ quan tâm đến rủi ro làm ảnhhưởng đến khả năng thu hồi nợ Rủi ro này phát sinh do sự thay đổi các biếnđầu vào theo hướng bất lợi: tăng vốn đầu tư ban đầu so với kế hoạch, tăng chiphí đầu vào hàng năm, giá bán sản phẩm dịch vụ đầu ra của dự án thấp hơn sovới dự kiến Với rủi ro này ngân hàng phải thực hiện các phương pháp sau:
- Thẩm định độ nhạy
Đây là phương pháp được hệ thống các ngân hàng sử dụng nhiều nhấttrong quá trình thẩm định tài chính dự án, nó đưa ra kết quả mang tính chấtđịnh lượng cụ thể tránh được những yếu tố chủ quan của các phương phápđịnh tính Phương pháp này được sử dụng để đánh giá độ vững chắc về hiệuquả tài chính của dự án Cơ sở của phương pháp này là lựa chọn các yếu tố cóảnh hưởng trực tiếp đến các chỉ tiêu tài chính như : NPV, IRR,PP.sau đó dựbáo một số tình huống bất trắc có thể xảy ra trong tương lai khi các yếu tố nàythay đổi như: chi phí đầu tư tăng, giá thành sản phẩm giảm sau đó ta khảosát tác động của những yếu tố đó đến hiệu quả đầu tư, hiệu quả của các chỉtiêu tài chính và khả năng trả nợ của dự án Nếu dự án vẫn hiệu quả trongnhiều trường hợp bất trắc phát sinh đồng thời thì đó là dự án có độ an toàncao, nên đầu tư Nếu ngược lại, cần xem xét để đề xuất kiến nghị các biệnpháp hạn chế, khắc phục thậm chí là huỷ bỏ dự án
Qua phương pháp này, cán bộ thẩm định có thể đánh giá được mức độảnh hưởng của mỗi yếu tố đến các chỉ tiêu hiệu quả tài chính, qua đó xem xétnhững chỉ tiêu nào có ảnh hưởng lớn để có biện pháp phòng ngừa phù hợp,đồng thời xác định được các dự án có độ rủi ro thấp, an toàn cao, tạo thuận lợicho các quyết định đầu tư sau này
Trang 38- Phương pháp toán xác suất
Phương pháp này được sử dụng trong phân tích, đánh giá dự án trongtrường hợp có nhiều khả năng và rủi ro Bằng việc tính kỳ vọng toán của cácbiến cố, người đầu tư có thể cân nhắc để lựa chọn phương án tối ưu trong cácphương án có thể có Tuy nhiên, việc sử dụng chỉ tiêu kỳ vọng toán của cácbiến cố không phản ánh đúng giá trị thực của các biến cố
- Phương pháp mô phỏng của Monte Carlo
Phương pháp này phân tích kết quả của dự án dưới sự tác động đồngthời của nhiều yếu tố trong các tình huống khác nhau có tính tới phân bố xácsuất và giá trị có thể có của các biến số yếu tố đó Ưu điểm của phương phápnày là xem xét đồng thời kết hợp của các yếu tố và có tính đến mối quan hệgiữa các yếu tố Tuy nhiên, đây là phương pháp khá phức tạp, để phân tíchđược theo phương pháp này đòi hỏi người phân tích phải có kinh nghiệm, kỹnăng thực hiện tốt với sự trợ giúp của máy tính, việc ước lượng về xác suấtxảy ra của các biến cố là khó Bởi vậy, sử dụng phương pháp này phải tốnnhiều chi phí và thời gian
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác thẩm định tài chính dự án
1.2.1 Các nhân tố chủ quan
Nhân tố chủ quan là những yếu tố xuất phát từ NHTM, mà ngân hàng
có thể chủ động điều chỉnh và kiểm soát được Các nhân tố này bao gồm:
■ Nhân tố con người
Nhân tố con người ở đây chính là những chủ thể trực tiếp tổ chức vàthực hiện công tác thẩm định tài chính dự án Có thể nói, thẩm định tài chínhDAĐT là một công việc rất phức tạp và hết sức nhạy cảm, không thể chỉ dựavào những công thức và biểu mẫu sẵn có Nó đòi hỏi người cán bộ thẩm định
Trang 39không những phải nắm vững những kiến thức về nghiệp vụ chuyên môn màcòn phải có những hiểu biết tổng hợp về khoa học - kinh tế - xã hội Khôngnhững vậy, trong quá trình công tác cán bộ thẩm định phải thường xuyên cậpnhật thông tin về tất cả các lĩnh vực và tích luỹ kinh nghiệm để nâng cao trì nh
độ và khả năng của mình Có như vậy mới có thể đánh giá dự án một cáchtoàn diện và chính xác
Như vậy, công tác thẩm định tài chính DAĐT ở một chừng mực nhấtđịnh mang tính chủ quan của cán bộ thẩm định Do đó, một yếu tố vô cùngquan trọng không thể thiếu được đối với người cán bộ thẩm định chính làphẩm chất đạo đức Nếu một người cán bộ có trình độ, kinh nghiệm, kiến thứctổng hợp về mọi lĩnh vực nhưng lại thiếu phẩm chất đạo đức thì cuối cùng kếtquả thẩm định cũng sẽ bị bóp méo, sai lệch thực tế Điều này dễ đưa ngânhàng đến nguy cơ mất vốn, suy giảm lợi nhuận kinh doanh
Từ những phân tích trên cho thấy, con người chính là một trong nhữngnhân tố quan trọng, quyết định đến chất lượng cũng như hiệu quả công tácthẩm định tài chính DAĐT
■ Quy trình và phương pháp thẩm định
Tại các NHTM, công tác thẩm định tài chính dự án luôn được thực hiệntheo một quy trình và phương pháp cụ thể, thống nhất Quy trình thẩm địnhtài chính DAĐT của ngân hàng là toàn bộ quá trình được bắt đầu từ khi chủđầu tư tới ngân hàng nộp các tài liệu về hồ sơ vay vốn cho đến khi ngân hàng
ra quyết định cuối cùng về việc có tài trợ cho dự án hay không Do đó, mộtquy trình thẩm định hợp lý và khoa học sẽ giúp cho cán bộ thẩm định thu thậpđược các thông tin liên quan đến dự án một cách nhanh chóng, đầy đủ vàchính xác Mặt khác, nó cũng sẽ tránh được các thủ tục phiền hà và tiết kiệmthời gian cho chủ đầu tư
Trang 40Phương pháp thẩm định chính là cách thức xử lý những thông tin thuđược liên quan đến dự án Phương pháp thẩm định mang đầy đủ nội dung đềcập đến tất cả các vấn đề tài chính có liên quan đứng trên góc độ ngân hàng.
Có nhiều phương pháp thẩm định tài chính DAĐT, việc lựa chọn phươngpháp nào cho phù hợp với dự án, với ngân hàng để đưa ra kết luận cuối cùng
về hiệu quả của dự án là hết sức cần thiết
Tóm lại, quy trình và phương pháp thẩm định khoa học, hợp lý, kháchquan là điều kiện tiên quyết đảm bảo cho hiệu quả công tác thẩm định
■ Thông tin và trang thiết bị kỹ thuật công nghệ thông tin
Nguyên liệu chính cho quá trình thẩm định dự án tại NHTM chính làyếu tố thông tin Chính vì vậy, sự kịp thời, đầy đủ và chính xác của thông tinthu được là hết sức quan trọng Thông tin trong thẩm định tài chính DAĐTthường là những thông tin tài chính có liên quan tới dự án, chủ yếu do chủđầu tư cung cấp Do vậy, những thông tin này vẫn mang tính chất chủ quan từphía người lập dự án Vì thế, để đảm bảo tính chính xác khách quan của thôngtin, cán bộ thẩm định phải thu thập từ các nguồn khác như: các phương tiệnthông tin đại chúng, qua các báo cáo, nghiên cứu, hội thảo chuyên đề về từngngành nghề, qua các dự án đầu tư cùng loại
Ngoài ra, yếu tố công nghệ cũng đóng vai trò hết sức quan trọng khôngchỉ đối với việc thu thập thông tin mà còn hỗ trợ cho việc phân tích và xử lýnhững thông tin thu được một cách nhanh chóng và chính xác
■ Công tác tổ chức điều hành
Công tác tổ chức điều hành chính là việc bố trí, sắp xếp và quy địnhnhững quyền hạn và trách nhiệm của các cá nhân, các bộ phận có liên quancũng như mối quan hệ giữa các cá nhân và bộ phận trong quá trình thẩm định
dự án Việc tổ chức điều hành công tác thẩm định tài chính dự án nếu được